Theo quan điểm này, có một số định nghĩa: - Theo quan điểm của Anh: “Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toá
Trang 1LÝ THUYẾT CHƯƠNG 2 BẢN CHẤT VÀ CHỨC NĂNG CỦA KIỂM TOÁN
Câu 1: Trình bày bản chất của kiểm toán?
Thuật ngữ "kiểm toán" thực sự mới xuất hiện và được sử dụng ở nước ta từ hơn mộtchục năm cuối thế kỷ XX Trong quá trình đó, cách hiểu và cách dùng khái niệm nàychưa được thống nhất Có thể khái quát các cách hiểu về kiểm toán theo 3 loại quanniệm chính như sau:
Quan điểm 1: Theo quan điểm này, kiểm toán được hiểu theo đúng thời cuộc của nó đó
là phát sinh cùng thời với cơ chế thị trường Theo quan điểm này, có một số định nghĩa:
- Theo quan điểm của Anh: “Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những công việc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên quan”.
- Theo quan điểm của các chuyên gia Hoa Kỳ: “Kiểm toán là một quá trình mà qua đó một người độc lập có nghiệp vụ tập hợp và đánh giá rõ ràng về thông tin có thể lượng hóa có liên quan đến một thực thể kinh tế riêng biệt nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin có thể lượng hóa và những tiêu chuẩn đã được thiết lập”.
Theo quan điểm này, khái niệm kiểm toán gồm các yếu tố cơ bản:
+ Chức năng của kiểm toán là chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến
+ Đối tượng của kiểm toán: Các bảng khai tài chính
+ Khách thể kiểm toán được xác định là thực thể kinh tế hoặc một tổ chức Như mộtcông ty, một đơn vị, một chủ sở hữu…
+ Chủ thể tiến hành kiểm toán là những kiểm toán viên độc lập, có nghiệp vụ
+ Cơ sở pháp lý tiến hành kiểm toán: Chuẩn mực hay các tiêu chuẩn chung
Trên cơ sở phân tích, chúng ta thấy, kiểm toán ở đây nghiêng về kiểm toán tài chính vớiđối tượng là các báo cáo tài chính, do kiểm toán viên độc lập tiến hành trên cơ sở cácchuẩn mực chung
Quan điểm 2: Kiểm toán được đồng nghĩa với kiểm tra kế toán, một chức năng của bản
thân kế toán, một thuộc tính cố hữu của kế toán Nội dung của hoạt động này là rà soátcác thông tin từ chứng từ kế toán đến tổng hợp cân đối kế toán
Đây là quan điểm mang tính truyền thống trong điều kiện kiểm tra chưa phát triển vàtrong cơ chế kế hoạch hóa tập trung Trong cơ chế này, Nhà nước trực tiếp lãnh đạo,kiểm tra, giám sát với mọi hoạt động kinh tế – xã hội Từ khi chuyển đổi cơ chế kinh tế,
sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước bằng kế hoạch, bằng kiểm tra trực tiếp không thểthực hiện với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, kể cả với các nhà đầu tư nướcngoài, thậm chí với các doanh nghiệp nhà nước Cách thức can thiệp của Nhà nước cũngkhông thể như cũ được nữa
Mặt khác, các nhà đầu tư, khách hàng, người lao động cũng cần có những thông tin vềtài liệu kế toán, cần biết và tránh rủi ro thường có Vì vậy, công tác kiểm tra cần đượcthực hiện rộng rãi, đa dạng song thật khoa học, khách quan, trung thực, đủ sức thuyếtphục và tạo niềm tin cho mọi người quan tâm Trong điều kiện đó, việc tách kiểm toánkhỏi những hoạt động kế toán và hình thành khoa học kiểm toán độc lập là một xuhướng phát triển tất yếu của lịch sử
Trang 2Quan điểm 3: Quan điểm hiện đại về kiểm toán.
Kiểm toán bao gồm 4 lĩnh vực chủ yếu:
- Kiểm toán về thông tin (information audit) là hướng vào việc đánh giá tính trung thực
và hợp pháp của các tài liệu, thông tin
Ví dụ: Một hóa đơn phản ánh một nghiệp vụ mua hàng với trị giá là 150 triệu thì kiểmtoán viên sẽ hướng vào việc xác minh số tiền 150 triệu ở đây là có chính xác hay không.Xem xét thông tin về nghiệp vụ kinh tế phát sinh như vậy đã chính xác hay chưa
- Kiểm toán quy tắc (kiểm toán tuân thủ – Regularity audit) hướng vào việc đánh giátình hình thực hiện các chế độ, thể lệ, luật pháp của đơn vị kiểm tra trong quá trình hoạtđộng
- Kiểm toán hiệu quả (Efficiency audit) là hướng đến việc xem xét, đánh giá mối quan
hệ giữa kết quả đạt được và chi phí về sử dụng nguồn lực để có được kết quả đó trongtừng nghiệp vụ kinh tế phát sinh Kiểm toán hiệu quả hưởng tới từng nghiệp vụ kinh tếphát sinh Một nghiệp vụ được coi là hiệu quả nếu như kết quả đạt được là tối đa với chiphí bỏ ra là tối thiểu Kiểm toán viên sẽ xem xét tính hiệu quả của việc sử dụng nguồnlực trong từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh như vậy
- Kiểm toán hiệu năng (Effectiveness audit) hướng tới đánh giá năng lực quản lý vàthường hướng tới chương trình, dự án cụ thể trên cơ sở xem xét khả năng hoàn thànhnhiệm vụ hay mục tiêu đề ra không Kiểm toán hiệu năng được đặc biệt quan tâm ở khuvực công cộng (các đơn vị, chương trình, dự án có sử dụng ngân sách Nhà nước) nơi màcác lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội được ưu tiên đặt ra hơn
Từ việc phân tích 3 quan điểm trên về kiểm toán, chúng ta có thể rút ra bản chất của kiểm toán:
- Kiểm toán là hoạt động độc lập, chức năng cơ bản của kiểm toán là xác minh, thuyếtphục để tạo niềm tin cho những người quan tâm vào những kết luận kiểm toán
- Kiểm toán thực hiện mọi hoạt động kiểm tra, kiểm soát những vấn đề liên quan đếnthực trạng tài sản, các nghiệp vụ tài chính và sự phản ánh của nó trên sổ sách kế toáncùng hiệu quả đạt được
- Nội dung trực tiếp của kiểm toán trước hết và chủ yếu là thực trạng hoạt động tàichính
- Để thực hiện chức năng của mình, đòi hỏi kiểm toán phải hình thành một hệ thốngphương pháp kỹ thuật riêng bao gồm hệ thống phương pháp kiểm toán chứng từ và hệthống phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ
- Kiểm toán được thực hiện bởi những người có trình độ chuyên sâu về kiểm toán
Từ tất cả các vấn đề được trình bày trên, chúng ta có thể rút ra khái niệm về kiểm toánnhư sau:
“Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động cần kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực”.
Trang 3Câu 2: Đối tượng nào quan tâm đến tình hình tài chính? Ai là người chuẩn bị các báo cáo tài chính cho những người sử dụng bên ngoài?
Những người quan tâm đến thông tin tài chính bao gồm:
- Một là, các cơ quan nhà nước cần có thông tin trung thực để điều tiết vĩ mô nền kinh tế
bằng hệ thống pháp luật hay chính sách kinh tế nói chung của mình với mọi thành phầnkinh tế, với mọi hoạt động xã hội
Ví dụ: NN cần thông tin chính xác về tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của các
DN vừa và nhỏ sau đó đưa ra chính sách hỗ trợ để giúp loại hình DN này phát triển
- Hai là, các nhà đầu tư cần có thông tin tin cậy để có hướng đầu tư đúng đắn, điều hành
sử dụng vốn và phân phối kết quả đầu tư
- Ba là, các nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà quản lý khác cần có thông tin trung
thực để điều hành, quản lý hoạt động kinh doanh
Đối với các nhà quản trị, họ không những chỉ cần thông tin trung thực trên bảng khai tàichính mà còn cần thông tin trung thực của từng bộ phận kinh doanh
Ví dụ: Doanh nghiệp kinh doanh 2 mặt hàng, các nhà quản trị sẽ cần thông tin trungthực về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh từng loại mặt hàng để quyết định sẽ mởrộng đầu tư vào mặt hàng nào và thu hẹp mặt hàng nào Các thông tin trung thực đó cóđược từ hoạt động kiểm toán
- Bốn là, người lao động cần có thông tin tin cậy về kết quả kinh doanh, về thực hiện
các chính sách lương và bảo hiểm…
- Năm là, khách hàng, nhà cung cấp và những người quan tâm khác cần có thông tin
trung thực để quyết định có tham gia hợp tác kinh doanh, mua bán hàng hóa cùng haykhông… Khách hàng cần thông tin trung thực để biết nguồn cung cấp hàng cho mình có
ổn định hay không, chất lượng có đảm bảo hay không… Nhà cung cấp quan tâm nhiềutới tình hình tài chính, khả năng thanh toán của doanh nghiệp để quyết định có tiếp tụccung cấp hàng hóa hay không… Những thông tin trung thực này có được qua kết quảcủa hoạt động kiểm toán
Người chuẩn bị các báo cáo tài chính cho những người sử dụng bên ngoài là các kế
toán viên hoặc kế toán trưởng
Câu 3: Phân biệt đối tượng kiểm toán và khách thể kiểm toán?
Đối tượng kiểm toán Khách thể kiểm toán Chủ thể kiểm toán
- Đối tượng trực tiếp của
kiểm toán là các bảng khai
lý hoặc 1 bộ phận, thậm chí
có thể là cá nhân.
- Khách thể của kiểm toán có thể là các xí nghiệp, các ĐVSN hoặc quản lý hay cá nhân, cũng có thể là công trình hay dự án, với sự tham gia của nhiều đơn vị kế toán hoặc 1 bộ phận của 1 đơn vị nào đó.
Chủ thể kiểm toán là những KTV độc lập, có nghiệp vụ Độc lập ở đây là khi tham gia
và hoạt động kiểm toán có thái độ độc lập hay tính độc lập về nghiệp vụ Còn trình
độ nghiệ pvụ thường được giải thích ở trình độ lựa chọn, tổng hợp bằng chứng kiểm toán, Riêng ở vương quốc Anh, KTV phải đc bổ nhiệm.
Trang 4Câu 4: Phân biệt kế toán và kiểm toán?
Khái niệm Là việc thu thập, ghi chép, phân
tích và giải thích các giao dịchtài chính
Là việc kiểm tra sổ sách kế toán và cáctài liệu bằng chứng, để chứng thực tínhhợp lý về tình hình tài chính của đơnvị
Mục tiêu Mục tiêu chính của kế toán là
cung cấp cho một công ty vớithông tin rõ ràng, đầy đủ vàđáng tin cậy về các hoạt độngkinh tế và tình trạng của tài sản
và nợ phải trả của nó
Mục tiêu chính của một cuộc kiểm toán
là để thực hiện đánh giá kỹ lưỡng các
hồ sơ tài chính và các báo cáo của công
ty và cung cấp cho một công ty với cáckhuyến nghị cải tiến dựa trên đánh giáđó
Phạm vi Kế toán chuẩn bị các bản báo
cáo về lợi nhuận, bảng cân đốicái tài khoản và các báo cáokhác theo sự hướng dẫn củacông ty kiểm toán
KTV kiểm tra sổ sách kế toán, xem xéttính khách quan và tính tuân thủ cácquy định pháp luật của chúng
Kết luận:
Kế toán cung cấp thông tin tài chính cho người sử dụng những thông tin đó, và kiểmtoán là một phương tiện để đảm bảo thông tin như vậy là đáng tin cậy và an ủi với cácquy tắc và quy định
Kiểm toán viên làm việc trên các số liệu do kế toán cung cấp và mục tiêu cuối cùng làđưa ra ý kiến đánh giá các thông tin mà kế toán đã lập ra
Câu 5: Phân biệt kiểm toán hiệu quả và kiểm toán hiệu năng Nêu ví dụ minh họa từng loại hình này??
- Xem xét kết quả đầu ra trong tương quan với
đầu vào (cố định) Đối tượng trực tiếp của
kiểm toán hiệu quả là các yếu tố, các nguồn
lực trong từng loại nghiệp vụ kinh doanh: mua
bán, sản xuất hay dịch vụ
- Thường đc thực hiện ở khách thể kiểm toán
thuộc khu vực kinh doanh
- Giúp ích trực tiếp cho việc hoạch định chính
sách và phương hướng, giải pháp cho việc
hoàn thiện hoặc cải tổ hoạt động kinh doanh
của đơn vị được kiểm toán
- Xem xét kết quả đầu ra có đạt đcnhư dự kiến hay ko Nếu có thì cácyếu tố đầu vào như thế nào
- Được đặc biệt quan tâm ở khu vựccông hơn là trong doanh nghiệp.Song cx cần và có thể ứng dụng đốivới quản lý toàn bộ doanh nghiệphoặc từng bộ phận quản lý của mọiđơn vị kiểm toán
Trang 5Câu 6: Trình bày các chức năng của kiểm toán Liên hệ tình hình thực hiện chức năng ở VN?
Kiểm toán có hai chức năng cơ bản đó là: c.năng xác minh và c.năng bày tỏ ý kiến
* Chức năng xác minh
Chức năng xác minh nhằm khẳng định mức độ trung thực của tài liệu, tính pháp lý củaviệc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các bảng khai tài chính
Chức năng xác minh được thể hiện ở hai mặt:
- Tính trung thực của các con số: Thực chất là việc kiểm toán viên đi xem xét để đi đếnkhẳng định xem các con số biểu hiện bằng tiền trên các bảng khai tài chính, trong từngnghiệp vụ cụ thể có được kế toán phản ánh và trình bày một cách chính xác hay không
Ví dụ: Số dư tiền mặt trên Bảng cân đối kế toán của đơn vị trình bày tại thời điểmcuối năm là 100 triệu, kiểm toán viên sẽ hướng vào việc xác minh xem số tiền của đơn
vị thực tế có đúng là 100 triệu hay không, tức là hướng việc xác minh vào tính trungthực của các con số
- Tính hợp thức của các biểu mẫu phản ánh tình hình tài chính: Thực chất mục đích hoạtđộng của kế toán là cung cấp thông tin về tình hình tài chính của đơn vị cho các đốitượng quan tâm Do đó, các thông tin này không những phải được trình bày một cáchtrung thực, chính xác mà còn phải được trình bày theo cách mà người đọc có thể hiểuđược Vì thế, chức năng xác minh của kiểm toán là cũng nhằm hướng tới yêu cầu này.Theo thông lệ quốc tế, chức năng xác minh được cụ thể hóa thành các mục tiêu và tùytheo đối tượng hay loại hình kiểm toán, hệ thống mục tiêu cụ thể cũng khác nhau
* Chức năng bày tỏ ý kiến
Sau quá trình thực hiện chức năng xác minh, kiểm toán viên thu được các bằng chứngkiểm toán và làm cơ sở cho việc đưa ra ý kiến nhận xét về đối tượng được kiểm toán.Chức năng bày tỏ ý kiến được hiểu là việc đưa ra kết luận về chất lượng thông tin và cảpháp lý, tư vấn qua xác minh
Sau khi kiểm toán viên đã thực hiện chức năng xác minh về tính trung thực của tài liệu(hay độ tin cậy của các thông tin kế toán) và tính pháp lý của việc thực hiện các nghiệp
vụ hay việc lập các báo cáo tài chính, kiểm toán viên sẽ đưa ra kết luận của mình về cácvấn đề đã được xác minh Tùy theo từng lĩnh vực, chức năng bày tỏ ý kiến được thểhiện khác nhau:
- Ở khu vực công cộng, chức năng bày tỏ ý kiến được thể hiện dưới hai hình thức:
+ Bày tỏ ý kiến dưới hình thức phán xử như một quan toà.
Kiểm toán thực hiện kiểm tra các tài liệu, tình hình quản lý của các tổ chức, cánhân có sử dụng ngân sách nhà nước để xác minh tính chính xác và hợp lệ của tài liệuthu, chi trong đơn vị đó Đồng thời, khi có sai phạm xảy ra, kiểm toán có quyền ra quyếtđịnh xử lý như một quan toà thông qua các phán quyết của mình
Theo hình thức này, khi đã có quyết định thì bắt buộc phải điều chỉnh theo ý kiến kếtluận của kiểm toán viên, nếu không sẽ bị xử phạt theo hình thức phán quyết của toà án.Hình thức này chỉ áp dụng đối với kiểm toán khu vực công – khu vực có sử dụng nguồnngân sách nhà nước Hình thức này được áp dụng tại Pháp và các nước Tây Âu
+ Bày tỏ ý kiến dưới hình thức tư vấn.
Đây là việc kiểm toán thực hiện kiểm tra nguồn thu và sử dụng công quỹ của cácđơn vị có sử dụng nguồn ngân sách nhà nước Sau đó đưa ra lời khuyên cụ thể trongviệc sử dụng, quản lý công quỹ
Trang 6Nếu như ở hình thức phán quyết như một quan toà, khi kiểm toán viên phát hiện
ra sai phạm hoặc những điểm yếu trong công tác quản lý nói chung và công tác tài chính
kế toán nói riêng, kiểm toán viên sẽ bắt buộc đơn vị phải sửa đổi theo ý kiến của kiểmtoán viên thì ở hình thức thứ hai, bày tỏ ý kiến dưới hình thức tư vấn, kiểm toán viên khiphát hiện ra điểm yếu sẽ kiến nghị đơn vị điều chỉnh, kiểm toán không thực hiện xử lý
mà chỉ tư vấn, đưa ra các lời khuyên cho đơn vị được kiểm toán
Hình thức này áp dụng khá phổ biến ở các nước Bắc Mỹ và nhiều nước trong khuvực Châu Á – Thái Bình Dương
Ở Việt Nam, cơ quan kiểm toán nhà nước áp dụng theo hình thức thứ hai, tức là sau khithực hiện kiểm toán, kiểm toán nhà nước sẽ đưa ý kiến tư vấn cho đơn vị điều chỉnh chứkhông cưỡng bức thi hành Việc điều chỉnh hay không là tùy thuộc đơn vị, nếu đơn vịkhông điều chỉnh, Cơ quan Kiểm toán nhà nước không có quyền trực tiếp xử phạt màchỉ có thể đệ trình lên các cấp có thẩm quyền để xử phạt
- Ở khu vực kinh doanh hoặc các dự án ngoài ngân sách nhà nước
Chức năng bày tỏ ý kiến được thực hiện chủ yếu dưới hình thức tư vấn Đây là việckiểm toán viên đưa ra các ý kiến tư vấn cho doanh nghiệp được kiểm toán về các vấn đề
mà họ quan tâm
Khác với khu vực công, chức năng bày tỏ ý kiến của kiểm toán có thể thực hiện dướihai hình thức: phán quyết như một quan toà hoặc tư vấn – điều đó tùy thuộc vào từngloại hình kiểm toán và từng điều kiện các quốc gia thì ở khu vực kinh doanh hoặc các
dự án ngoài ngân sách nhà nước, kiểm toán không có quyền phán quyết như một toà án
mà chỉ có một hình thức duy nhất là tư vấn
Ngày nay, ngoài việc tư vấn trong lĩnh vực tài chính kế toán về các vấn đề kiểm toánviên phát hiện trong quá trình kiểm toán, các công ty kiểm toán còn phát triển chứcnăng tư vấn này sang nhiều lĩnh vực chuyên sâu hơn như: tư vấn thuế, tư vấn đầu tư, tưvấn xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ…
Hầu hết các công ty kiểm toán đều có bộ phận riêng chuyên chịu trách nhiệm về mảng
tư vấn, bộ phận này gồm các nhân viên được đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực nào đó Vídụ: được đào tạo chuyên sâu về thuế sẽ đảm nhận chức năng tư vấn thuế… Và thực tế,dịch vụ tư vấn đã chiếm một tỷ lệ doanh thu khá lớn trong các công ty kiểm toán
Như vậy, chúng ta thấy, chức năng bày tỏ ý kiến chính là việc đưa ra kết luận của kiểmtoán viên về chất lượng thông tin, tính pháp lý và tư vấn qua xác minh Sản phẩm củaviệc bày tỏ ý kiến về chất lượng thông tin được thể hiện trên “Báo cáo kiểm toán” vàsản phẩm của việc đưa ra ý kiến tư vấn thể hiện trên “Thư quản lý”
Trang 7Câu 7: Trình bày ý nghĩa của kiểm toán trong nền kinh tế thị trường?
Thứ nhất, kiểm toán tạo niềm tin cho “những người quan tâm” đến tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Ngày nay, trong cơ chế thị trường, những người quan tâm không chỉ có chủ sở hữu mà
mở rộng ra rất nhiều đối tượng cần đến thông tin tài chính để phục vụ cho những mụcđích khác nhau và kiểm toán góp phần tạo niềm tin cho họ Những người quan tâm đếnthông tin tài chính bao gồm:
- Một là, các cơ quan nhà nước cần có thông tin trung thực để điều tiết vĩ mô nền kinh tếbằng hệ thống pháp luật hay chính sách kinh tế nói chung của mình với mọi thành phầnkinh tế, với mọi hoạt động xã hội
Ví dụ: Nhà nước cần thông tin chính xác về tình hình và kết quả hoạt động kinh doanhcủa các doanh nghiệp vừa và nhỏ sau đó đưa ra chính sách hỗ trợ để giúp loại hìnhdoanh nghiệp này phát triển
- Hai là, các nhà đầu tư cần có thông tin tin cậy để có hướng đầu tư đúng đắn, điều hành
sử dụng vốn và phân phối kết quả đầu tư
Trong cơ chế thị trường, do tính đa phương hóa đầu tư và đa dạng hóa các thành phầnkinh tế nên các nhà đầu tư không chỉ giới hạn ở Nhà nước như trước kia mà mở rộng racác thành phần kinh tế khác như các nhà đầu tư tư nhân và các nhà đầu tư nước ngoài.Các nhà đầu tư này cần có những thông tin trung thực để quyết định có đầu tư vào đơn
vị hay không và kiểm toán mang lại niềm tin cho họ Thông tin tài chính đã được kiểmtoán sẽ khiến các nhà đầu tư tin tưởng hơn vì nó đã được kiểm tra bởi bộ phận độc lập
- Ba là, các nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà quản lý khác cần có thông tin trungthực để điều hành, quản lý hoạt động kinh doanh
Đối với các nhà quản trị, họ không những chỉ cần thông tin trung thực trên bảng khai tàichính mà còn cần thông tin trung thực của từng bộ phận kinh doanh
- Bốn là, người lao động cần có thông tin tin cậy về kết quả kinh doanh, về thực hiệncác chính sách lương và bảo hiểm…
Người lao động cũng cần biết xem mình đang làm việc cho doanh nghiệp như thế nào,tương lai, triển vọng của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng tới cuộc sống của mình
Nếu như doanh nghiệp có lãi thì nhân viên sẽ được thưởng nhiều hơn Và ngay cả quỹlương của cán bộ công nhân viên cũng được tính căn cứ trên kết quả hoạt động kinhdoanh (doanh thu, sản lượng…), do đó, người lao động cũng cần biết những thông tintrung thực về tình hình hoạt động kinh doanh của đơn vị
- Năm là, khách hàng, nhà cung cấp và những người quan tâm khác cần có thông tintrung thực để quyết định có tham gia hợp tác kinh doanh, mua bán hàng hóa cùng haykhông…
Khách hàng cần thông tin trung thực để biết nguồn cung cấp hàng cho mình có ổn địnhhay không, chất lượng có đảm bảo hay không… Nhà cung cấp quan tâm nhiều tới tìnhhình tài chính, khả năng thanh toán của doanh nghiệp để quyết định có tiếp tục cung cấphàng hóa hay không… Những thông tin trung thực này có được qua kết quả của hoạtđộng kiểm toán
Các nhà quan tâm này không có khả năng và không cần thiết phải trực tiếp đi kiểm tratính trung thực, hợp lý của các thông tin tài chính mà kiểm toán chính là người mang lạiniềm tin cho họ
Thứ hai, kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nền nếp hoạt động tài chính kế toán nói riêng và hoạt động quản lý nói chung.
Trang 8Mọi hoạt động, đặc biệt là hoạt động tài chính, đều bao gồm những mối quan hệ đadạng, luôn biến đổi và được cấu thành bởi hàng loạt nghiệp vụ cụ thể.
Để hướng các nghiệp vụ này vào mục tiêu giải quyết tốt các mối quan hệ trên, khôngchỉ cần có định hướng đúng và thực hiện tốt mà còn cần thường xuyên soát xét việcthực hiện để hướng các nghiệp vụ vào quỹ đạo mong muốn Hoạt động tài chính lại baogồm nhiều mối quan hệ về đầu tư, về kinh doanh, về phân phối, về thanh toán Tínhphức tạp của hoạt động này càng tăng lên bởi quan hệ chặt chẽ giữa các quan hệ tàichính với lợi ích con người Trong khi đó, thông tin kế toán là sự phản ánh của hoạtđộng tài chính Ngoài việc chứa đựng những phức tạp của các quan hệ tài chính, thôngtin kế toán còn là sản phẩm của quá trình xử lý thông tin bằng phương pháp kỹ thuật rấtđặc thù Do đó, nhu cầu hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nền nếp trong quản lý tàichính càng có đòi hỏi thường xuyên và ở mức độ cao hơn
Thứ ba, kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý.
Có thể thấy đặc biệt rõ tác dụng của vai trò tư vấn này trong kiểm toán hiệu năng vàhiệu quả quản lý Vai trò này phát huy đặc biệt rõ trong các đơn vị được kiểm toánthường xuyên Trong điều kiện đó, việc tích luỹ kinh nghiệm qua thực tiễn sẽ là cơ sởcho những bài học cho tương lai Điều đó cũng có thể giải thích từ tính phức tạp và đadạng trong việc giải quyết các mối quan hệ kinh tế – xã hội trong đơn vị được kiểmtoán Đặc biệt trong những bước chuyển đổi cơ chế kinh tế, có nhiều quan hệ mới, phứctạp nảy sinh Trong cả nhận thức lẫn thực tiễn, có thể thấy rõ tính phức tạp của các quan
hệ này từ chính những đặc trưng của kinh tế thị trường:
- Lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng, công bằng xã hội, phúc lợi xã hội không còn đủ cácđiều kiện thuận lợi duy trì và phát triển trong cơ chế thị trường thuần tuý Cạnh tranh làquy luật đạt tới lợi nhuận, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại, cạnh tranh và bìnhđẳng trước pháp luật Kinh tế mở cửa, đa phương hóa, đầu tư và mở rộng, các quan hệquốc tế có lợi ích kinh tế trực tiếp song không phải mọi quan hệ này đều chỉ đơn thuần
về kinh tế… Đặc biệt trong điều kiện mới chuyển đổi cơ chế kinh tế, hệ thống pháp lýchưa hoàn chỉnh, kinh nghiệm và chuyên gia giỏi về quản lý chưa có nhiều Trong điềukiện đó, duy trì kỷ cương và bảo đảm phát triển đúng hướng và chỉ có thể có được trên
cơ sở xây dựng đồng bộ và tổ chức thực hiện tốt kiểm toán trên mọi lĩnh vực để trên cơ
sở tích luỹ kinh nghiệm từ xác minh đi đến tư vấn cho mọi lĩnh vực hoạt động
Chính vì thế mà chúng ta thấy, sản phẩm của mỗi cuộc kiểm toán không chỉ có báo cáokiểm toán trên đó trình bày ý kiến độc lập của kiểm toán viên về đối tượng kiểm toán
mà còn kèm theo thư quản lý để đưa ra các vấn đề tư vấn của kiểm toán viên để góp ýcho đơn vị hoàn thiện hơn nữa công tác tài chính kế toán nói riêng và công tác QL nóichung
Trang 9Câu 8: (CHƯƠNG 3) Phân loại kiểm toán
1 Phân loại theo đối tượng cụ thể
a) Kiểm toán báo cáo tài chính
- Khái niệm: là việc ktra và xác nhận tính trung thực và hợp lý của các báo cáo tàichính cũng như xem xét báo cáo tài chính có phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực
kế toán và các yêu cầu của pl hay k
- Đối tượng ktoan: báo cáo tài chính
- Kiểm toán tài chính cần có hệ thống chuẩn mực thống nhất làm cơ sở cho việc thựchiện kiểm toán
b) Kiểm toán tuân thủ
- Là loại kiểm toán nhằm xem xét, đánh giá bên được kiểm toán có tuân thủ các thủtục, các nguyên tắc, quy chế mà các cơ quan có thẩm quyền cấp trên or các cq chứcnăng của NN đã đề ra hay k
- Đối tượng ktoan: kiểm toán việc tuân thủ các sắc thuế, các chính sách kte, tài chính,các chế độ kế toán hiện hành
- Kiểm toán tuân thủ nghiệp vụ tạm ứng
+ đặt câu hỏi: có giấy tạm ứng k? đã thanh toán lần tạm ứng trc chưa? Thời hạnthanh toán? Quy mô tạm ứng có phù hợp vs nd nghiệp vụ k?
c) Kiểm toán hoạt động:
- Là loại kiểm toán nhằm xem xét và đánh giá tính hiệu năng và tính hiệu quả tronghoạt động của 1 đvị
- Đối tượng: hđ của đơn vị hđ của 1 nd, hđ của 1 bộ phận
2 Căn cứ vào tổ chức bộ máy
KTV: thực hiện công việc kiểm toán cụ thể
KTV chính: phụ trách 1 tổ đi kiểm toán
KTV cao cấp: thg là lãnh đạo trong 1 cơ quan kiểm toán , là ng đưa ra đg lối, chínhsách cho hđ kiểm toán
- Khách thể: là CQNN, ĐVSN, TCXH sd kinh phí NN, ĐV kinh tế NN
- Chức năng, nhiệm vụ:
+ Thẩm định dự toán của CP
+ Tư vấn giám sát các hđ của CP
+ Xác nhận tính đúng đắn, trung thực của các báo cáo tc, báo cáo quyết toán NSNN+ Kiểm toán tính tuân thủ pháp luật của CQNN
+ Kiểm toán tính kinh tế, tính hiệu quả trong quản lý sd NSNN và tài sản công
- Mô hình của thế giới: KTNN có 3 cơ chế:
+ Độc lập vs BMNN: đức, pháp…, vn
+ Trực thuộc QH: anh, mỹ, hàn, thái,…
Trang 10+ Trực thuộc CP: trung quốc
- Mô hình tc của Việt Nam
+ KTNN VN thành lập theo nđ 70/cp ngày 11/7/1994
+ Ngày 14/6/2005 QH đã thông qua luật KTNN , quyết định KTNN VN là cq chuyênmôn do QH thành lập nhưng độc lập với QH
- Đặc trưng:
+ Là cơ quan QL của NN nen tiến hành kiểm toán k thu phí
+ Tiến hành kiểm toán theo KH và mang tính bắt buộc đối với khách thể của mình + Báo cáo của KTNN có giá trị pháp lý rất cao
b) Kiểm toán độc lập
- Khái niệm: là tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp, chuyên cung cấp các dịch vụ kế toán,kiểm toán theo nhu cầu của nên kinh tế
- Chủ thể: là các kiểm toán viên độc lập
+ Về chuyên môn: tốt nghiệp ĐH (kế toán, kiểm toán, tài chính); kinh nghiệm 5 năm( or 4 năm làm kiểm toán); có chứng chỉ kiểm toán viên)
+ Về pháp lý: phải đăng ký hành nghề
+ Về đạo đức: giống KTV NN
- Khách thể: là tất cả các tổ chức, cá nhân có nhu cầu ( có thể là tất cả đơn vị hànhchính sự nghiệp, đoàn thể xã hội và tổ chức quốc tế này có nhu cầu or khi cơ quanquản lý cấp trên, cơ quan thuế or CQ TCNN yêu cầu)
- Chức năng: tiến hành mọi dịch vụ kiểm toán theo khả năng và theo nhu cầu củakhách hàng bao gồm
+ Kiểm toán báo cáo tài chính
+ Dịch vụ kế toán
+ Tư vẫn về tài chính, thuế, nợ
+ Dịch vụ khác
- Đặc trưng:
+ Tiến hành kiểm toán có thu phí theo thảo thuận vs khách hàng
+ Tiến hành mọi dịch vụ kiểm toán trên cơ sở uứng tuyển của khách hàng
+ Báo cáo của kiểm toán độc lập có giá trị pháp lý cao
- Lĩnh vực hđ
+ Kiểm toán báo cáo tài chính
+ Kiểm toán hđ
c) Kiểm toán nội bộ
- Khái niệm: là bộ phận chức năng độc lập đc thành lập ra trong 1 tổ chức nhằm phục
vụ công tác quản trị nội bộ
- Chủ thể: là các kế toán viên nội bộ ( k bắt buộc phải có chứng chỉ CPA)
- Khách thể: trong nội bộ đơn vị
- Chức năng, nhiệm vụ
+ Kiểm tra tính phù hợp, hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ để từ đó đánh giá nănglực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ chất lượng thực hiện các trách nhiệm đcgiao
+ Kiểm tra và xác nhận chất lượng, độ tin cậy của thị trg kinh tế, tài chính của báo cáotài chính báo cáo kế toán quản trị trc khi trình ký duyệt
Trang 11+ Ktra sự tuân thủ luật pháp, chính sách chế độ tài chính, kế toán, chính sách, nghịquyết, quyết định của Ban giám đốc đơn vị, các nguyên tắc hđ, quản lý vật tư, tài sản vàcác nguồn kinh phí
+ Phát hiện những sơ hở, yếu kém gian lận trong quản lý, trong bảo vệ tài sản của đơnvị; đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến, hoàn thiện hệ thống quản lý, điều hành các hđcủa đơn vị
- Mô hình tổ chức
+ Bộ phận kiểm toán nội bộ
+ Giám định viên kiểm toán
(phải đảm bảo nguyên tắc là bộ phận kiểm toán nội bộ phải chịu sự chỉ đạo, lãnh đạotrực tiếp của thủ trưởng đơn vị, độc lập vs bộ phận kế toán)
+ Kiểm toán tuân thủ
+ Kiểm toán hđ (chủ yếu)
Trang 12CHƯƠNG 4: ĐỐI TƯỢNG KIỂM TOÁN
Câu 9: Trình bày đtg kiểm toán? Nêu rõ những đặc điểm cơ bản của đtg kiểm toán? Từ đó chỉ ra những ahg của các đặc điểm này tới vc hình thành các phương pháp kiểm toán?
Đối tượng kiểm toán là thực trạng tài chính cùng hiệu quả hiệu năng của cácnghiệp vụ hay dự án cụ thể Cả thực trạng hoạt động tài chính cũng như hiệu năng, hiệuquả phải được thể hiện trong một đơn vi cụ thể ( doanh nghiệp, xí nghiệp công cộng,đơn vị sự nghiệp, cơ quan kinh tế và hành chính) hoặc một dự án một công trình cụ thể.Trong quan hệ chủ sở hữu, các đơn vị đó thuộc sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân hoặchỗn hợp Trong quan hệ phạm vi một quốc gia, các đơn vị này có thể hình thành từnguồn đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài hoặc liên doanh trong và ngoài nước…Tổng hợp các tiêu thức trên có thể phân chia các đơn vị thành các khách thể kiểm toántrong quan hệ với chủ thể kiểm toán Thông thường, khách thể kiểm toán được phânchia trong quan hệ với chủ thể kiểm toán như sau:
+) Khách thể kiểm toán nhà nước thường bao gồm tất cả các đơn vị, cá nhân có sử dụng nguồn ngân sách nhà nước như:
• Các dự án, công trình do ngân sách đầu tư
• Các doanh nghiệp nhà nước có 100% vốn ngân sách nhà nước
• Các xí nghiệp công cộng thuộc sở hữu nhà nước( 100% vốn NSNN)
• Các cơ quan kinh tế, quản lý của nhà nước và các đoàn thể xã hội
• Các cá nhân (tài khoản cá nhân) có nguồn từ NSNN…
+) Khách thể của kiểm toán độc lập thường bao gồm:
• Các doanh nghiệp và xí nghiệp tư (kể cả các công ty trách nhiệm hữu hạn)
• Các doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư nước ngoài
• Các liên doanh các tổ chức trong và ngoài nước
• Các hợp tác xã và doanh nghiệp cổ phần
• Các chương trình, dự án có nguồn kinh phí từ bên ngoài ngân sách nhà nước…
+) Khách thể của kiểm toán nội bộ có thể bao gồm:
• Các bộ phận cấu thành đơn vị
• Các hoạt động, các chương trình, dự án cụ thể trong đơn vị
• Các cá nhân trong đơn vị
Như vậy, khách thể của kiểm toán có thể là đơn vị kế toán như các xí nghiệp, cácđơn vị sự nghiệp hoặc quản lý hay cá nhân… Song khách thể của kiểm toán cũng có thể
là một công trình hay dự án… với sự tham gia của nhiều đơn vị kế toán hoặc một bộphận của một đơn vị nào đó
Mặt khác, do tính nghệ thuật của tổ chức kiểm toán nên trong thực tế, các chủ thểkiểm toán không nhất thiết bắt buộc kiểm toán tất cả các khách thể của mình: tuỳ nhucầu quản lý, khả năng kiểm toán và các quan hệ xã hội khác, luật pháp có quy định cụthể khách thể phải được kiểm toán Chẳng hạn, khách thể của kiểm toán nhà nước còntuỳ thuộc vào khả năng thực hiện kiểm toán hàng năm (thề hiện qua kế hoạch kiểmtoán), tuỳ thuộc vào hệ thống bộ máy quản lý và bộ máy kiểm toán… Theo đó ngânsách các địa phương có thể thuộc các khách thể cụ thể khác nhau theo quy định của luậtpháp và theo đó có thể một số tài khoản của cá nhân hoặc tổ chức đặc biệt không đượckiểm toán…, Khách thể của kiểm toán độc lập thường được quy định cụ thể gắn vớimức doanh số hoặc lợi tức đạt được của từng khách thể
Trang 13Ngoài ra khách thể được pháp luật quy định thuộc chủ thể kiểm toán này cũng cóthể tự nguyện mời chủ thể kiểm toán khác song không thay thế cho kiểm toán đã đượcluật pháp quy định.
Ở nước ta, khách thể kiểm toán nhà nước được quy định cụ thể trong quy địnhtrong điều 5& 6 của Luật kiểm toán nhà nước trong quy định này, giữa khách thể và đtg
cụ thể của kiểm toán đã được gắn chặt với nhau để đảm bảo tính chặt chẽ của vbpq
Khách thể bắt buộc của kiểm toán độc lập ở nước ta xác định trong NĐ như: DN
có vốn đtư nước ngoài; tổ chức có hoạt động tín dụng, ngân hàng và quỹ hỗ trợ pt; tổchính TChinh và DN kinh doanh bảo hiểm; Cty cổ phần, cty trách nhiệm hữu hạn cótham gia niêm yết và tham gia trên thị trường ck… DN nhà nước; Báo cáo quyết toánvốn đầu tư xây dựng của các dự án, và các đối tượng khác mà luật, pháp lệnh, NĐ quyđịnh
Trong mỗi lần kiểm toán, một chủ thể kiểm toán được gắn với một khách thể kiểm toán
để thực hiện một nhiệm vụ xác định được gọi là một cuộc kiểm toán Như vậy, kháiniệm “Cuộc kiểm toán” trong thực tế đã bao gồm các yếu tố xác định:
• Đối tượng kiểm toán cụ thể
• Chủ thể kiểm toán xác định
• Khách thể kiểm toán tương ứng
• Thời hạn kiểm toán cụ thể
• Cơ sở pháp lý thực hiện kiểm toán
Câu 10: Trình bày các yếu tố cấu thành đối tượng kiểm toán?
1, Thực trạng hoạt động tài chính- đtg cung của kiểm toán
HĐTC là dùng tiền để giải quyết các mqh kte trong đâu tư, trong kinh doanh, trong phân phối và thanh toán nhằm đạt tới lợi ích kte xác định
2 Tài liệu kế toán
Tài liệu kế toán là toàn bộ các chứng từ sổ sách kế toán, báo cáo kế toán, bảng biểu kếtoán
Tài liệu kế toán, trước hết là báo cáo tài chính là đối tượng trực tiếp được mọingười quan tâm , nên tài liệu này là đối tượng trực tiếp và thường xuyên của mọi cuộckiểm toán Điều đó được lý giải trước hết ở tài liệu kế toán, đặc biệt là báo cáo tài chính
vì trong cơ chế thị trường, có nhiều người quan tâm đến thông tin tổng hợp và thựctrạng tài chính của đơn vị Trong cơ chế này, tài liệu kế toán không chỉ là cơ sở để tổnghợp các chỉ tiêu ở phạm vi rộng hơn, cũng không chỉ để kiểm tra, lưu trữ tài liệu và bảoquản tài sản mà là cơ sở cho mọi người quan tâm ra quyết định về quản lý, về đầu tư, vềthanh toán, về phân phối, Mặt khác, trong cơ chế thị trường với tự do cạnh tranh, rủi
ro trong kinh doanh, trong đầu tư lớn Trong điều kiện đó, số lượng người quan tâm đếntài liệu kế toán cũng tăng lên, song quan trọng là họ quan tâm đến chất lượng của tàiliệu kế toán cũng cao hơn Ngoài ra cũng phải kể đến tính phức tạp của quá trình xử lýthông tin kế toán cũng như kết cấu của các báo cáo tài chính
Hậu quả của tình trạng này không phải mọi người quan tâm đều am hiểu được tàiliệu đó mà đôi khi chính kế toán viên cũng gặp khó khăn trong việc phản ánh các quan
hệ phức tạp, đặc biệt là những quan hệ mới phát sinh Ngay cả nội dung và phươngpháp tính một khoản mục trên các bảng cân đối kế toán cũng có thể rất nhiều quan niệmkhác nhau và mang lại kết quả khác nhau Tính phức tạp này ngày càng tăng lên do quy
mô của các khách thể kiểm tóan không ngừng mở rộng và do tính phức tạp của đối
Trang 14tượng kế toán, các hoạt động tài chính ngày càng tăng lên, nhiều bên tham gia với cácphương thức khác nhau, nhiều quan hệ kinh tế mới phát sinh thâm nhập vào hoạt độngtài chính.
Ngoài ra cũng phải kể đến sự cách biệt về chuẩn mực kế toán và các điều kiệnthực hiện nó giữa các nước, các thời kỳ dẫn tới sự nhận thức khác nhau và tổ chứckhác nhau, nhất là sự thay đổi của chế độ kế toán Tất cả những thực tế đó đòi hỏi kiểmtoán để tạo niềm tin cho mọi người quan tâm và thường xuyên hướng dẫn nghiệp vụ,củng cố nề nếp và cải tiến tổ chức để nâng cao chất lượng của tài liệu kế toán
3 Thực trạng tài sản nghiệp vụ tài chính
Trong 1 đvi kinh doanh hay sự nghiệp, tài sản đều biểu hiện dưới hình thái vật chất vớiyêu cầu về quy cách phẩm chất, bảo quản, bảo dưỡng, … khác nhau, lại được lưu trữtrên nhiều kho, bãi khác nhau với những người quan lý khác nhau
Giữa những người quản lý, cũng như giữa người quản lý và người sở hữu tài sản,
họ thực hiện theo phương hướng và xu hướng khác nhau, nhưng đều có xu hướng tăngdần sự cách biệt giữa người sở hữu với người bảo quản và sử dụng tài sản Mặt khác khisản xuất phát triển, quy mô kinh doanh mở rộng, các mối liên hệ kinh tế ngày càng đadạng phức tạp, thêm vào đó, sự phong phú thêm của khái niệm truyền thống về tài sảnđặc biệt là sự xuất hiện của các tài sản vô hình, các quan hệ vay- mua, thuê - mua, cáchậu quả của rủi ro dẫn đến thu nhập hoặc tổn thất (chi phí) bất thường về tài sản, sựthâm nhập của các quan hệ thị trường, giá cảm tỷ giá mở ra trong phạm vi quốc tế Tất
cả những yếu tố này dẫn đến khả năng thông tin kế toán Tất cả những thực tế đó đãthúc đẩy sự ra đời của kiểm toán cùng tính tất yếu phải đặt tài sản vào đối tượng củakiểm toán
Tài sản của Nhà nước, của các doanh nghiệp trong kinh doanh cũng như trongmọi lĩnh vực hoạt động khác thường xuyên vận động Quá trình vận động này được cấuthành bởi các nghiệp vụ cụ thể Các nghiệp vụ cụ thể này có thể quy về các nghiệp vụ
cơ bản như: cấp vốn – nhận vốn, vay – cho vay, cấp phát – thụ hưởng, xuất – nhập – tồnkho hoặc mua – bán – sản xuất (hoặc dịch vụ) Tuy nhiên, do đặc tính của từng loại tàisản cũng như mối quan hệ kinh tế của mỗi loại tài sản cũng khac nhau, sự đa dạng vềchủng loại nghiệp vụ cũng như đặc tính của tài sản chứa đựng trong nghiệp vụ đòi hỏiphải chia công tác kiểm toán các nghiệp vụ này thành những phần hành kiểm toán khácnhau Khác với các phần hành kế toán, phần hành kiểm toán trước hết được phân chiatrên cơ sở đầu mối quan hệ tài chính và sau nữa là vị trí và đặc điểm của từng loạinghiệp vụ
Ngoài ra có một số nghiệp vụ cơ bản về các phần hành kiểm toán và kiểm toánhoạt động bao gồm:
+ nghiệp vụ về tiền mặt ( thu, chi và tồn quỹ)
+ các nghiệp vụ về thanh toán( k phân biệt vay, nợ, phải thu, phải trả)
+ các nghiệp vụ về tài sản cố định( đtư, xd, mua sắm)
+ các nghiệp vụ về hàg hóa( bảo quản, sử dụng)
+ các nghiệp kinh doanh ( mua, bán, sx, hoặc các nghiệp vụ mang tính sự nghiệp xh,đvs các đơn vị phi kinh doanh)
+ các nghiệp vụ về tài chính
4, Hiệu quả và hiệu năng
Đối tượng mới của kiểm toán, cần xd ~ chuẩn mực cụ thể để đgiá hiệu quả và hiệu năng Ở góc độ đối tượng kiểm toán, cần nhân thức rõ hiệu quả và hiệu năng là một bộ
Trang 15phận của kiểm toán hđ và gắn liền vớ một nghiệp vụ hoặc một dự án hay chương trình
cụ thể Trước khi tiến hành kiểm toán hiệu quả và kiểm toán hiệu năng cần phải xác định các tiêu chí các chuẩn mực cụ thể và rõ ràng làm cơ sở cho quá trình kiểm toán.Đối với việc đặt ra các chuẩn mực cho tính hiệu quả thường được xác định bởi mối quan hệ giữa chi phí đầu vào và kết quả đầu ra, còn đối với hiệu năng thì luôn bao gồm các mục tiêu cụ thể của từng nghiệp vụ, từng hoạt động
Câu 11: Trình bày khái niệm, đặc điểm và các nguyên tắc của HĐTC?
Khái niệm hoạt động tài chính
Hoạt động tài chính là hoạt động dùng tiền để giải quyết các mối quan hệ kinh tế trongđầu tư, trong thanh toán trong sản xuất, trong kinh doanh và trong phân phối nhằm đạtđược một lợi ích nhất định
Tiền là biểu hiện bên ngoài của hoạt động tào chính còn nội dung bên trong là các mốiquan hệ kinh tế
Các nguyên tắc khi tiến hành hoạt động tài chính
• Hoạt động tài chính phải có mục tiêu phương án kế hoạch cụ thể
Trong việc giải quyết các mối quan hệ kinh tế có liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau,mỗi cân đối cụ thể giữa các khâu, các giai đoạn khác nhau của hoạt động này đều cónhững hiệu quả khác nhau về kinh tế và về xã hội Do đó, trong hoạt động tài chính phải
có định hướng và cụ thể hoá bằng các mục tiêu cho từng thời kỳ cụ thể, ở từng côngviệc cụ thể Hơn nữa những định hướng này cần được lượng hoá thành những cân đốikhác nhau thành những phương án cụ thể khác nhau và lựa chọn phương án tốt nhất.Trong đó đặc biệt lưu ý các tương quan giữa tiền – hiện vật, giữa mục tiêu và chi phícho việc thực hiện, giữa đầu vào và đầu ra
• Hoạt động tài chính phải đảm bảo có lợi và trên cơ sở tiết kiệm
Lợi ích là mục tiêu của hoạt động tài chính Trong kinh doanh, lợi ích này là
lợi nhuận thực hiện Trong lĩnh vực xã hội, lợi ích này là hiệu quả kinh tế, xã hội, là kếtquả thực hiện mục tiêu của chương trình, dự án cụ thể Tronh mọi trường hợp phải đảmbảo việc tiết kiệm trên từng công việc, từng khoản chi, là nhằm hướng tới lợi ích cuốicùng, lợi ích toàn cục
- Hoạt động tài chính phải đảm bảo tuân thủ pháp luật thể lệ chế độ tài chính
Giải quyết các mối quan hệ kinh tế có liên quan đến nhiều khách thể khác nhau là nộidung của hoạt động tài chính Mặt khác, các mối quan hệ giữa các bên có liên quan đãđược xác định trong pháp luật và đã được cụ thể hoá trong các chế độ tài chính cụ thể
Để giải quyết tốt các mối quan hệ kinh tế, nhất thiết phải tuân thủ các chuẩn mực đãđược xác định trong hệ thống pháp lý trong từng thời kỳ cụ thể Hoạt động tài chính vớinội dung nêu trên là đối tượng của nhiều môn học Kiểm toán chỉ quan tâm tới thựctrạng của hoạt động này, tức là xét trên bình diện hiện thực việc xử lý các quan hệ tàichính, việc bố trí, sử dụng và quản lý các nguồn lực, là hiệu quả của hoạt động tài chính,
là việc tuân thủ các chế định về tài chính
Đặc điểm của hoạt động tài chính
Hoạt động tài chính có 2 đặc điểm:
- Một là: Thực trạng hoạt động tài chính một phần được phản ánh trên các tài liệu kế
toán và một phần chưa được phản ánh trên các tài liệu kế toán, dựa vào phần được phảnánh trên tài liệu kế toán kiểm toán xây dựng ra phân hệ phương pháp kiểm toán chứng
từ để thu thập bằng chứng kiểm toán, còn phần chưa được phản ánh kiểm toán phải xây
Trang 16dựng ra một phân hệ (hệ thống) phương pháp kiểm toán để thu thập các chứng từ, đó là
hệ thống phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ
- Hai là: Do trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại tài sản diễn
ra nhiều nghiệp vụ kinh tế khác nhau biến đổi liên tục các tài sản được hình thành từnhiều nguồn vốn khác nhau, do đó trong kiểm toán, kiểm toán viên không thể tiến hànhkiểm toán toàn bộ tất cả các tài sản các nghiệp vụ, hơn nữa kiểm toán viên cũng khôngnhất thiết phải kiểm toán toàn bộ vì vậy kiểm toán đã xây dựng phương pháp kiểm toánchọn điểm hay trọng điểm hay chọn mẫu
Trang 17CHƯƠNG 5: NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN THUỘC VỀ ND KIỂM TOÁN
Câu 12: Trình bày và phân biệt các khái niệm gian lận và sai sót?
1 Khái niệm
Gian lận và sai sót đều là sai phạm
Gian lận là hành vi cố ý lừa dối, giấu diếm, xuyên tạc sự thật với mục đích tư lợi Tronglĩnh vực tài chính kế toán, gian lận có thể là sự trình bày sai lệch có chủ định các thôngtin trên báo cáo tài chính do một hay nhiều người có chủ định các thông tin trên báo cáotài chính do một hoặc nhiều người trong Ban giám đốc công ty, các nhân viên hoặc bênthứ ba thực hiện
Ví dụ: làm giả tài liệu, tham ô tài sản, giấu diếm hoặc cốtình bỏ sót kết quả cácnghiệp vụ, ghi chép nghiệp vụ không có thật, chủ định áp dụng sai chế độkếtoán
Sai sót là lỗi không cố ý, thường được hiểu là sự nhầm lẫn, bỏ sót hoặc do yếu kém vềnăng lực nên gây ra sai phạm
Ví dụ: Trong kế toán tài chính sai sót có thể là lỗi số học bỏ sót hoặc hiểu sai sựviệc một cách vô tình, áp dụng sai nguyên tắc, chế độ kế toán tài chính do thiếu nănglực
2 Các nhân tố ảnh hưởng đến gian lận, sai sót
a) Các nhân tố bên trong
- Trình độ và đao đức của các nhà quản lý
+ Cơ hội: chính là thời cơ để thực hiện hành vi gian lận Khi chức vụ càng cao trong tổchức thì càng có nhiều cơ hội thực hiện gian lận
Ví dụ: 1 người vừa làm thủ kho vừa làm kế toán hàng tồn kho hoặc giám đốc tàichính quyết định các khoản đầu tư mà k ai giám sát
+ Tính trung thực và liêm khiết: Nếu các nhà lãnh đạo thiếu trung thực và liêm khiết sẽlàm mầm mống của gian lận Sự kết hợp giữa sự xúi giục, thiếu liêm khiết và thời cơ sẽbiến thành hành vi gian lận
- Trình độ và ý thức của nhân viên
+ sự xúi giục được xem như 1 loại áp lực có thể từ phía cá nhân người thực hiện hành vigian lận hoặc bởi 1 người nào đó Chẳng hạn, do nhu cầu về tiền để trang trải 1 sốkhoản bức xúc, hoặc muốn trở nên giàu có nhanh, muốn nổi tiếng… sẽ khiến con ngườinảy sinh ý muốn gian lận hoặc ai đó xúi giục họ
+ Năng lực làm việc, lề lối là việc là NN dẫn đến sai sót: Tất nhiên, năng lực xử lý côngviệc kém, khả năng nhận biết vấn đề k nhanh nhạy sẽ làm gia tăn sai sót
+ Lương thưởng của CB CNV : Một thực tế là thực trạng gian lận và sai sót diễn ra tạinơi có hệ thống lương trả cho CNV thấp, chưa tương xứng với trình độ cũng như năngsuất họ tạo ra Điều này tạo ra tâm lý lách luật gây sai phạm để thu nguồn lợi bất chính
bù đắp cho phần lương thưởng còn hạn chế
- Cơ cấu tổ chức bộ máy
+ Công tác quản lý bị 1 người hoặc 1 nhóm ng độc quyền nắm giữ thiếu sự giám sát cóhiệu lực của Ban giám đốc hoặc hội đồng quản trị
+ Cơ cấu tổ chức của đơn vị phức tạp 1 cách khó hiểu
+ Thiếu nhiều nhân viện trong phòng kế toán trong 1 time dài
- Đặc tính của tài sản: Nếu tài sản của đơn vị kinh doanh có giá trị lớn rất dễ xảy ra tìnhtrạng gian lận do ham muốn chiếm hữu khối lượng tài sản chung đó của k chỉ nhân viên
mà còn ban lãnh đạo
Trang 18- Yếu kém của kiểm soát nội bộ và hệ thống kiểm toán: Yếu kém của kiểm soát nội bộ
và hệ thống kiểm toán thường bị bỏ qua hoặc tỏ ra bất lực trong khi thực tiễn nhưng yếukém này hoàn toàn có thể khắc phục được
- Khó khăn trong thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp:
+ Tài liệu kế toán k đầy đủ về các sự kiện và nghiệp vụ kinh tế hoặc k được cung cấpđầy đủ kịp thời
Vd: K thu thập đầy đủ được chứng từ, phát sinh chênh lệch giữa sổ và báo cáo,những nghiệp vụ ghi chép sai hoặc để ngoài sổ kế toán
+ Lưu trữ tài liệu k đày đủ về các sự kiện và nghiệp vụ kinh tế
+ có chênh lệch lớn giữa sổ kế toán của đơn vị với xác nhận của ben thứ 3 mâu thuẫngiữa các bằng chứng kiểm toán
+ Các khoản chi phí quá cao so với những dịch vụ được cung cấp
b) Các nhân tố bên ngoài
- Có sự thay đổi thường xuyên về chuyên gia tư vấn PL hoặc KTV
- Sức ép về tài chính từ nhưng nhà đầu tư hoặc cấp quản lý đơn vị
- Sức ép đối với nhan viên kế toán phải hoàn thành báo cáo trong time ngắn , phải điềuchỉnh doanh thu, chi phí, kết quả theo yêu cầu của đơn vị
- Chính sách Pl thiếu đồng bộ, hiệu quả , nhiều điểm yếu, kẽ hở
3 So sánh gian lận vs sai sót
a) Giống nhau
- Đều là những sai phạm trong lĩnh vực TC kế toán làm lệch lạc thông tin kinh tế, tàichính ; phản ánh sai thực tế, liên quan rất nhiều đến việc xác định kết quả hoạt độngcủa đơn vị
- Nhà QL nói chung và kế toán nói riêng đều phải chịu trách nhiệm về sai phạm củamình
Trang 19Câu 13: Phân tích trách nhiệm của KTV về các gian lận và sai sót?
Việc ngăn ngừa và phát hiện gian lận trước hết thuộc về trách nhiệm của Banquản trị và Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán Điều quan trọng là Ban Giám đốc, với
sự giám sát của Ban quản trị, phải đặc biệt chú ý đến việc ngăn ngừa gian lận nhằm làmgiảm bớt các cơ hội thực hiện hành vi gian lận và phát hiện gian lận qua đó thuyết phụccác cá nhân không thực hiện hành vi gian lận vì khả năng bị phát hiện và xử phạt Tráchnhiệm này bao gồm việc cam kết tạo ra văn hóa trung thực và hành vi có đạo đức mà cóthể được tăng cường bằng hoạt động giám sát tích cực của Ban quản trị Trong khi thựchiện trách nhiệm giám sát của mình, Ban quản trị phải xem xét khả năng xảy ra hành vikhống chế kiểm soát hoặc hành động gây ảnh hưởng không thích hợp đến quy trình lập
và trình bày báo cáo tài chính, ví dụ việc Ban Giám đốc cố gắng điều chỉnh kết quả kinhdoanh để các nhà phân tích hiểu không đúng về hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lờicủa đơn vị được kiểm toán
Trách nhiệm của KTV:
- Khi thực hiện kiểm toán theo các chuẩn mực kiểm toán VN, KTV chịu trách nhiệm đạtđược sự đảm bảo hợp lý rằng liệu báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, cócòn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không Do những hạn chế vốn cócủa kiểm toán, nên có rủi ro không thể tránh khỏi là KTV không phát hiện được một sốsai sót làm ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính, kể cả khi cuộc kiểm toán đãđược lập kế hoạch và thực hiện theo các chuẩn mực kiểm toán VN (xem đoạn A51Chuẩn mực kiểm toán VN số 200)
- Rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận cao hơn rủi ro có sai sót trọng yếu do nhầm lẫn
Đó là do gian lận có thể được thực hiện thông qua các mánh khóe tinh vi và được tổchức chặt chẽ nhằm che giấu hành vi gian lận, như giả mạo hồ sơ, cố ý không ghi chépcác giao dịch, hoặc cố ý cung cấp các giải trình sai cho KTV Hành động che giấu còn
có thể khó phát hiện hơn khi có sự thông đồng thực hiện hành vi gian lận Sự thôngđồng có thể làm cho KTV tin rằng bằng chứng kiểm toán là thuyết phục trong khi thực
tế đó là những bằng chứng giả Khả năng phát hiện gian lận của KTV phụ thuộc vào cácyếu tố như kỹ năng của thủ phạm, tần suất và mức độ của hành vi thao túng, mức độthông đồng, giá trị của khoản tiền bị thao túng, cấp bậc của những cá nhân có hành vigian lận Mặc dù KTV có thể xác định được các cơ hội thực hiện hành vi gian lận,nhưng rất khó để có thể xác định được các sai sót trong các lĩnh vực mà họ xem xét,như các ước tính kế toán, là do gian lận hay nhầm lẫn
Ngoài ra, rủi ro về việc KTV không phát hiện hết sai sót trọng yếu xuất phát từhành vi gian lận của Ban Giám đốc là cao hơn so với việc phát hiện sai sót do gian lậncủa nhân viên, bởi vì Ban Giám đốc thường xuyên có điều kiện trực tiếp hoặc gián tiếpthao túng việc ghi sổ kế toán, trình bày các thông tin tài chính gian lận hoặc khống chếcác thủ tục kiểm soát được thiết lập nhằm ngăn ngừa các hành vi gian lận tương tự củacác nhân viên khác
Để đạt được sự đảm bảo hợp lý, KTV phải duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệptrong suốt quá trình kiểm toán, phải cân nhắc khả năng Ban Giám đốc có thể khống chếkiểm soát và phải nhận thức được thực tế là các thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện nhầmlẫn một cách hiệu quả có thể không hiệu quả trong việc phát hiện gian lận Các quy địnhcủa chuẩn mực kiểm toán này nhằm hỗ trợ KTV trong việc xác định và đánh giá các rủi
ro có sai sót trọng yếu do gian lận và thiết lập các thủ tục nhằm phát hiện sai sót đó
Trang 20KTV và DN kiểm toán phải tuân thủ các quy định của Chuẩn mực này trong quátrình thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính.
Đơn vị được kiểm toán (khách hàng) và các bên sử dụng kết quả kiểm toán phải
có những hiểu biết cần thiết về những quy định trong Chuẩn mực này để phối hợp côngviệc với DN kiểm toán và KTV cũng như quản lý các mối quan hệ liên quan đến cácthông tin đã được kiểm toán
Câu 14: Trình bày các khái niệm trọng yếu và rủi ro?
1 Trọng yếu
Trọng yếu là thuật ngữ dùng để thực hiện tầm quan trọng của một thông tin hay một
số liệu kinh tế trong Báo cáo tài chính
Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó, hoặc thông tin đókhông chính xác không có bối cảnh cụthể, nếu dựa vào các thông tin này để xét đoán thìkhông thể chính xác hoặc sẽ rút ra những kết luận sai lầm, sai phạm trọng yếu dùng đểchỉ tầm cỡ và tính hệ trọng của các sai phạm
Đánh giá tính trọng yếu là đánh giá lượng tối đa mà KTV tin rằng ở mức đó các Báocáo tài chính có thể bị sai lệch nhưng vẫn chưa ảnh hưởng đến các quyết định của ngườisửdụng thông tin đó
Thông thường KTV khi xem xét vấn đề về qui mô của đối tượng kiểm toán thì họquan tâm tới qui mô tương đối Qui mô tương đối là mối quan hệ tương quan giữa đốitượng cần đánh giá với một số gốc Số gốc thường khác nhau trong mỗi tình huống
Ví dụ với báo cáo kết quả kinh doanh, số gốc có thể là thu nhập ròng hoặc bình quânthu nhập của mấy năm gần đây, với bảng cân đối kếtoán sốgốc có thểlà tài sản lưu độnghoặc tổng tài sản, còn với bảng lưu chuyển tiền tệ, số gốc có thể là doanh thu thuần …
Để xác minh đúng nội dung kiểm toán trên phương diện này cần quán triệt cácnguyên tắc cơ bản sau:
- Thứ nhất: quy mô trọng yếu phải được xác định Tùy đối tượng cụthểvà khách thểkiểm toán và cần có sự am hiểu về tài chính kế toán của khách thể kiểm toán
- Thứ hai: qui mô của các khoản mục, nghiệp vụ không chỉ xét về qui mô bằng con sốtuyệt đối mà phải trong tương quan với toàn bộ đối tượng kiểm toán Về định lượng đó
là những tỉ lệ của các khoản mục, nghiệp vụso với một cơ sở để tính toán như tổng sốtài sản, tổng doanh thu, lợi tức chưa tính thuế
- Thứ ba: qui mô trọng yếu còn tuỳthuộc vào từng cuộc kiểm toán có đối tượng và mụctiêu khác nhau, chẳng hạn kiểm toán tài chính hay kiểm toán hiệu quảvới chức năng xácminh hay tư vấn
Về mặt tính chất: Khái niệm trọng yếu còn gắn với tính hệ trọng của vấn đề xem xét
Một yếu tố định tính quan trọng cần xem xét đó là bản chất của khoản mục hoặcvấn đề đang được đánh giá
Các khoản mục nghiệp vụ có gian lận hoặc chứa đựng khả năng gian lận như:
- Các nghiệp vụ đấu thầu và giao thầu, giao dịch không hợp pháp
- Các nghiệp vụ thanh lý tài sản
Trang 21- Các nghiệp vụ xảy ra vào cuối kỳ quyết toán hoặc thuộc loại nghiệp vụ mới phát sinh.
- Các khoản mục, chứng từ có sửa chữa
- Các nghiệp vụ, khoản mục có sai sót hệ trọng
- Các nghiệp vụ, khoản mục phát hiện có sai sót ở qui mô lớn hoặc có chênh lệch lớnvới các kỳ trước hoặc giữa các nguồn thông tin có liên quan
- Các nghiệp vụvi phạm qui tắc kếtoán và pháp lý nói chung
- Các nghiệp vụkhoản mục có sai sót lặp lại nhiều lần
- Các nghiệp vụ, khoản mục có ảnh hưởng nghiêm trọng đến kỳsau
- Các nghiệp vụ, khoản mục là đầu mối hoặc gây hậu quả liên quan đến nhiều khoảnmục nghiệp vụ khác
2 Rủi ro
Khái niệm trọng yếu đặt ra yêu cầu xác định nội dung kiểm toán với tính nguyên tắc làkhông được bỏ sót khoản mục hay nghiệp vụcó qui mô lớn và có tính hệ trọng Vi phạmnguyên tắc này cũng có nghĩa là tạo ra rủi ro kiểm toán
- Rủi ro kiểm toán là khả năng mà KTV đưa ra ý kiến không xác đáng về đối tượngđược kiểm toán
- Chẳng hạn, KTV đưa ra ý kiến rằng báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán đãtrình bày trung thực và hợp lý xét trên các khía cạnh trọng yếu, tuy nhiên trên
- Thực tế các báo cáo đã được kiểm toán này vẫn tồn tại các sai phạm trọng yếu màKTV không phát hiện ra trong quá trình kiểm toán Loại rủi ro này luôn có thể tồn tại,ngay cả khi cuộc kiểm toán được lập kế hoạch chu đáo và thực hiện một cách thậntrọng
Rủi ro này sẽ tăng lên nếu việc lập kế hoạch kiểm toán kém và thực hiện thiếu thậntrọng Trong kiểm toán quốc tế, rủi ro được xét trong quan hệvới kế hoạch kiểm toán,rủi ro kiểm toán được hiểu là khảnăng sai sót và việc đánh giá rủi ro tiến hành qua ướctính theo tỷ lệ từ 0% đến 100% Trên thực tế, không có một chuẩn mực chính thức nào
về mức rủi ro kiểm toán có thể chấp nhận, loại trừ rằng rủi ro kiểm toán phải ở mứcthấp cho phép Tuy nhiên ngay cả 1% rủi ro cũng vẫn được xem là mức tồi
Ví dụ: Với một công ty kiểm toán lớn với 2.000 cuộc kiểm toán trong 1 năm, thì 1% rủi
ro là 20 cuộc kiểm toán tồi xảy ra trong năm đó Góc độ lý thuyết thì rủi ro kiểm toánnên nhỏ hơn 1%
Trong thực tiễn, rủi ro kiểm toán thường xảy ra do giới hạn vềquản lý, về kiểmtoán mà trực tiếp là chi phí kiểm toán và ngay cả khi chúng có khả năng đủ… Trongmối quan hệ này, rủi ro kiểm toán và chi phí kiểm toán có quan hệ nghịch với nhau
Do đối tượng kiểm toán là những thông tin được kiểm toán qua nhiều giai đoạn bằngcác bộ máy kiểm toán khác nhau nên rủi ro kiểm toán cũng được xác định tương ứngvới đối tượng kiểm toán từng loại: rủi ro tiềm tăng, rủi ro kiểm soát và rủi ro phát hiện
Rủi ro tiềm tàng - IR
Đó chính là khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu trong bản thân các đối tượngkiểm toán (chưa tính đến sự tác động của bất cứ hoạt động kiểm toán nào kể cả kiểmsoát nội bộ)
Mức độ rủi ro tiềm tàng phụ thuộc vào đặc điểm tình hình KD của khách thểkiểm toán, loại hình kinh doanh và cảnăng lực nhân viên của khách thể kiểm toán KTVkhông tạo ra và cũng không kiểm soát rủi ro tiềm tàng Họ chỉ có thể đánh giá chúng
Để đánh giá rủi ro tiềm tàng KTV có thể dựa vào nhiều nguồn thông tin khácnhau Chẳng hạn, KTV có thể dựa vào kết quả của cuộc kiểm toán năm trước, ví dụ nếu