Truyền thống ấy vừa mang tính đặc thù - bản địa của một vùng đất, không tách rời những đặc điểm chung của truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam; trong tiến trình hình thành văn hóa Huế
Trang 1HUẾ LĂNG TẨM
THẮNG CẢNH- KIẾN TRÚC - MỸ THUẬT
&
CÁC TRIỀU ĐẠI
PHONG KIẾN NHÀ NGUYỄN
Trang 2GIỚI THIỆU SƠ NÉT VỀ CỐ
ĐÔ HUẾ
và là tỉnh lị của tỉnh Thừa Thiên-Huế TP Huế là một trong những trung tâm kinh tế, văn hố, du lịch, khoa học, y tế chuyên sâu, giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao của miền trung và cả nước Là kinh đơ của Việt
Nam dưới triều Nguyễn, Huế cĩ nhiều đền
chùa, thành quách, lăng tẩm, kiến trúc gắn liền với cảnh quan thiên nhiên.
Trang 3HUẾ VỚI LĂNG TẨM ĐỀN ĐÀI
sơng Hương
Kinh thành Huế năm 1875
Chợ Đơng BaĐiện Thái Hịa
Trang 4Địa lý
Thành phố Huế tọa lạc hai bên bờ dòng sông Hương (Huế)
liên kết ngoài sông Hương Huế nằm ở phía bắc đèo Hải Vân, cách Đà Nẵng 112km.
Thành phố Huế có toạ độ địa lý 16-16,80 vĩ bắc và 107,8-108,20
kinh đông Phía Bắc và phía Tây giáp huyện Hương Trà , phía Nam giáp thị xã Hương Thuỷ, phía Đông giáp thị xã
Hương Thuỷ và huyện Phú Vang
Diện tích tự nhiên 83.3 km2, dân số trung bình năm 2003 ước
là 350.400 người, chiếm 1,5% về diện tích và 1,5% về dân số
so với cả nước.
Huế cách biển Thuận An 12 km, cách sân bay quốc tế Phú Bài
15 km, cách Cảng nước sâu Chân Mây 50 km Mật độ dân số gần 4200 người/km2.
Khí hậu
Mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8, trời nóng nực oi bức, nhiệt
độ có khi lên tới 35-40 độ C Tháng 8 đến tháng 1 là mùa mưa, trong đó từ tháng 10 trở đi là mùa bão lụt, nhiệt độ trung bình
20 độ C, có khi xuống thấp đến 9 độ C Mùa xuân kéo dài từ tháng 1 đến cuối tháng 2.
Trang 5Văn hóa Huế
Thuận Hóa - Phú Xuân -Huế có một quá trình lịch sử hình thành và phát triển
khoảng gần 7 thế kỷ (tính từ năm 1306) Trong khoảng thời gian khá dài ấy Huế đã tích hợp được những giá trị vật chất và tinh thần quý báu để tạo nên một truyền thống văn hóa Huế Truyền thống ấy vừa mang tính đặc thù - bản địa của một vùng đất, không tách rời những đặc điểm chung của truyền
thống văn hóa dân tộc Việt Nam; trong tiến trình hình thành văn hóa Huế có
sự tác động của văn hóa Đông Sơn do các lớp cư dân từ phía Bắc mang vào trước thế kỷ 2 và sau thế kỷ 13 hỗn dung với thành phần văn hóa Sa Huỳnht
ạo nên nền văn hóa Việt - Chăm Trong quá trình phát triển, chuyển biến có ảnh hưởng của các luồng văn hóa khác các nước trong khu vực
Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ, phương Tây
Văn hóa Huế được tạo nên bởi sự đặc sắc về tinh thần, đa dạng về loại hình,
phong phú và độc đáo về nội dung, được thể hiện rất phong phú trên nhiều lĩnh vực như: văn học, âm nhạc, sân khấu, mỹ thuật, phong tục tập quán, lễ hội, lề lối ứng xử, ăn - mặc - ở, phong cách giao tiếp, phong cách sống
Kiến trúc
Kiến trúc ở Huế phong phú và đa dạng: có kiến trúc cung đình và kiến trúc
dân gian, kiến trúc tôn giáo và kiến trúc đền miếu, kiến trúc truyền thống và kiến trúc hiện đại Những công trình kiến trúc công phu, đồ sộ nhất chính là Quần thể di tích Cố đô Huế hay Quần thể di tích Huế Đó là những
di tích lịch sử - văn hóa do triều Nguyễn chủ trương xây dựng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20 trên địa bàn kinh đô Huế xưa; nay thuộc phạm vi thành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế, Việt Nam.
Trang 6Nghệ thuật tuồng ở Huế
Phát triển sớm từ thế kỷ 17 dưới thời các chúa Nguyễn Đến triều
Nguyễn, tuồng được xem là quốc kịch và triều đình Huế đã tạo điều kiện thuận lợi cho tuồng phát triển Trong Đại Nội Huế có nhà hát
Duyệt Thị Đường, Tĩnh Quang Viện, Thông Minh Đường Tại
Khiêm Lăng, có Minh Khiêm Đường Thời Minh Mạng đã thành lập
Thanh Bình Thự làm nơi dạy diễn viên tuồng Thời Minh Tự Đức đã thành lập Ban Hiệu Thư chuyên nhuận sắc, chỉnh lý, hiệu đính và sáng tác tuồng.
Bài chi tiết: Tuồng Huế
về cấu trúc, ca từ và phong cách biểu diễn Đi liền với ca Huế là dàn nhạc Huế với bộ ngũ tuyệt Tranh, Tỳ, Nhị, Nguyệt, Tam, xen với Bầu, Sáo và bộ gõ trống Huế, sanh loan, sanh tiền.
Kỹ thuật đàn và hát Ca Huế đặc biệt tinh tế nhưng Ca Huế lại mang
đậm sắc thái địa phương, phát sinh từ tiếng nói, giọng nói của người Huế nên gần gũi với Hò Huế, Lý Huế; là chiếc cầu nối giữa nhạc cung đình và âm nhạc dân gian.
Trang 7Lễ nhạc cung đình Huế
Bắt nguồn từ 8 loại lễ nhạc cung đình thời Lê là giao nhạc,
miếu nhạc, ngũ tự nhạc, cửu nhật nguyệt giao trùng nhạc, đại triều nhạc, thường triều nhạc, đại yến cửu tấu nhạc, cung
trung nhạc, đến triều Nguyễn lễ nhạc cung đình Việt Nam đã phát triển thành hai loại hình Đại nhạc và Nhã nhạc (tiểu nhạc) với một hệ thống các bài bản lớn.
Với trên 15 vở múa lớn, từ múa tế lễ, múa chúc
tụng, múa tiếp sứ, múa yến tiệc, múa trình diễn tích tuồng Nhiều vở múa có tính hoành tráng, quy mô diễn viên đông, phô diễn được vẻ đẹp rộn ràng, lấp lánh và kỹ thuật, kỹ xảo của múa hát cung đình Việt Nam thể hiện được sự phát triển nâng cao múa hát
cổ truyền của người Việt.
Trang 8Mỹ thuật, mỹ nghệ Huế
Với những kiểu thức trang trí bắt nguồn từ những mẫu mực của
Trung Hoa, các nghệ nhân Việt Nam đã tạo nên một bản sắc nghệ thuật trang trí với những nét độc đáo mang cá tính Huế Nghệ thuật trang trí mỹ thuật Huế còn tiếp thu những tinh hoa của nghệ thuật Chăm, đặc biệt là tiếp thu nghệ thuật trang trí Tây Phương Trang trí cung đình Huế còn tiếp nhận và nâng cao nghệ thuật dân gian Việt Nam Nhiều loại hình thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam như chạm khắc gỗ, cẩn xà cừ, cẩn tam khí ngũ khí, sơn son thếp vàng, chạm khắc xương và ngọc ngà, khảm sành sứ, làm vàng bạc, dệt, thêu, đan đã được các tượng cục triều Nguyễn nâng lên thành những nghệ thuật tinh xảo, sang trọng Về hội họa nhiều họa sĩ nổi tiếng về tranh thủy mặc sơn thủy, trúc lan, tranh gương, các ấn
phẩm nhất thi nhất họa đặc sắc Đặc biệt, từ Huế xuất hiện người họa sĩ vẽ tranh sơn dầu đầu tiên ở Việt Nam là họa sĩ Lê Văn Miên [24] (1870-1912) Về điêu khắc, cố đô Huế đã đánh dấu một thời kỳ phát triển mới, thể hiện bằng các tác phẩm điêu khắc trên đá, trên đồng, trên gỗ Trong điêu khắc gỗ, phần khắc chạm gỗ trang trí với những bức chạm nổi, chạm lộng trên các chi tiết công trình kiến trúc đạt đến sự tinh xảo và có tính thẩm mỹ cao Về mỹ thuật ứng dụng, ngoài việc nâng cao các loại hình thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam, Huế còn một thời sản xuất đồ mỹ nghệ
pháp lam cao cấp.
Trang 9Lễ hội Huế
Có hai loại lễ hội: lễ hội cung đình và lễ hội dân gian Lễ hội cung
đình phản ánh sinh hoạt lễ nghi của triều Nguyễn, phần lớn chỉ chú trọng về "lễ" hơn "hội" Lễ hội dân gian gồm nhiều loại rất phong phú, tiêu biểu như: lễ hội Huệ Nam ở điện Hòn Chén hay còn gọi là
lễ rước sắc nữ thần Thiên y A na theo tín ngưỡng của người
Chăm pa , lễ hội tưởng niệm các vị khai sinh các ngành nghề
truyền thống, lễ hội tưởng nhớ các vị khai canh thành lập làng
Trong những dịp tế lễ, nhiều sinh hoạt văn hóa bổ ích như đua
thuyền, kéo co, đấu vật còn được tổ chức và thu hút đông người xem.
[Ẩm thực Huế
Huế còn lưu giữ trên 1000 món ăn nấu theo lối Huế, có cả những
món ăn ngự thiện của các vua triều Nguyễn Bản thực đơn ngự
thiện có trên vài chục món thuộc loại cao lương mỹ vị, được chuẩn
bị và tổ chức rất công phu, tỷ mỷ, cầu kỳ Các món ăn dân dã rất phổ biến trong quần chúng với bản thực đơn phong phú hàng trăm món được chế biến khéo léo, hương vị quyến rũ, màu sắc hấp
dẫn, coi trọng phần chất hơn lượng; nghệ thuật bày biện các món
ăn đẹp mắt, nghệ thuật thưởng thức tinh tế.
Trang 10Festival Huế
Tổ chức lần đầu tiên vào năm 2000, đến nay
Festival Huế tổ chức được 6 lần (2000, 2002, 2004,
2006, 2008, 2010) Đây là sự kiện văn hóa lớn có quy
mô quốc gia và tầm cỡ quốc tế, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của người dân Huế Là điều kiện quan trọng để xây dựng Huế thành thành phố Festival của
Việt Nam.
Thương Mại
Huế có nhiều trung tâm thương mại lớn và nổi tiếng toạ
lạc ở hai bên bờ sông Hương như: Chợ Đông Ba, chợ Tây Lộc, chợ An Cựu, chợ Bến Ngự, siêu thị Thuận
Thành, Trường Tiền Plaza(siêu thị Co.op mart), Phong Phú Plaza(Big C).
Giáo dục
Đại học Huế, tiền thân là Viện Đại học Huế
(1957-1975), có lịch sử 50 năm phát triển và tồn tại Đây là nơi đào tạo nhân lực cho miền Trung và cả Việt Nam Đại học Huế bao gồm:
Trang 111 Kiến trúc kinh đô Huế:
Trang 12Bản đồ
kinh thành Huê
Phòng thành Hoàng thành Tử cấm thành
Trang 13KINH THÀNH HUẾ NHÌN TỪ HƯỚNG ĐÔNG BẮC
Trang 14CỬA NGỌ MÔN
Trang 15Ngọ Môn (tên chữ Hán : 午門 ) là cổng chính phía nam của Hoàng thành Huế Hiện nay là một trong những di tích kiến trúc thời Nguyễn trong quần thể di tích cố đô Huế
Ngọ Môn, có nghĩa đen là Cổng giữa trưa hay Cổng xoay về hướng Ngọ,
là cổng lớn nhất trong 4 cổng chính của Hoàng thành Huế
Trước kia tại vị trí này là Nam Khuyết Đài , xây dựng đầu thời
Gia Long Trên đài này có điện Càn Nguyên, hai bên có hai cửa là
Tả Đoan Môn và Hữu Đoan Môn Đến năm Minh Mạng 14 (1833) khi triều Nguyễn tổ chức qui hoạch lại toàn bộ mặt bằng kiến trúc Hoàng thành, Nam Khuyết Đài bị giải thể hoàn toàn để lấy chỗ xây dựng Ngọ Môn Về mặt từ nguyên, Ngọ Môn có nghĩa là chiếc cổng xây mặt về hướng Ngọ Hướng này, theo quan niệm của địa lý phong thủy
phương Đông là hướng Nam Hướng của Ngọ Môn cũng như toàn bộ Kinh thành Huế trên thực tế là hướng càn - tốn (tây bắc - đông nam) nhưng vẫn được xem là hướng Ngọ (hướng nam) Theo Dịch học
hướng nam là hướng dành cho bậc vua Chúa để “nhi thính thiên hạ, hướng minh nhi trị” ( chữ Hán : 而聽天下 , 向明而治 , tạm dịch:
hướng về ánh sáng để nghe thiên hạ và cai trị thiên hạ một cách
sáng suốt).
Trang 16KIếN TRÚC
Về mặt kiến trúc Ngọ Môn có dáng dấp tương tự Thiên An môn ở Cố cung Bắc Kinh
nhưng vẫn thể hiện rõ phong cách kiến trúc dân tộc Việt Nam Ngọ Môn có hai hần chính
là: đài - cổng và lầu Ngũ Phụng.
Phần đài - cổng
Có bình diện hình chữ U vuông góc, đáy dài 57,77m, cạnh bên dài 27,06m
Đài được xây bằng gạch đá kết hợp với các thanh dầm chịu lực bằng đồng thau.
Đài cao gần 5m, diện tích chiếm đất hơn 1560m2 (kể cả phần trong lòng chữ U) Thân đài trổ 5 lối đi Lối chính giữa là Ngọ Môn, chỉ dành cho vua đi Hai lối bên là Tả Giáp Môn và Hữu Giáp Môn, dành cho quan văn, võ theo cùng trong đoàn Ngự đạo.Hai lối đi bên ngoài cùng nằm ở hai cánh chữ U là Tả Dịch Môn và Hữu Dịch Môn, dành cho binh lính và voi
ngựa theo hầu.
Lầu Ngũ phụng
là phần lầu đặt ở phía trên đài - cổng Ngoài phần thân đài, lầu còn được tôn cao bởi một
hệ thống nền cao 1,15m cũng chạy suốt thân đài hình chữ U Lầu có hai tầng, kết cấu bộ khung hoàn toàn bằng gỗ lim với chẳn 100 cây cột Mái tầng dưới nối liền nhau, chạy vòng quanh để che cho phần hồi lang Mái tầng trên chia thành 9 bộ, với rất nhiều hình chim phụng trang trí ở phần bờ nóc, bờ quyết, khiến tòa lầu trông rất nhẹ nhàng, thanh thoát Bộ mái chính giữa của lầu Ngũ Phụng lợp ngói lưu ly màu vàng, tám bộ còn lại lợp ngói lưu ly
màu xanh.
Trang 17S ki n ự ệ
Ngọ Môn cũng là nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng Nơi đây ngày xưa vẫn thường diễn ra các lễ lạc quan trọng nhất của triều Nguyễn như lễ Ban sóc (ban lịch mới), Truyền Lô (tuyên đọc tên tiến sĩ tân khoa) Ngày 30 tháng 8 năm 1945 , tại Ngọ Môn, vua
Bảo Đại , vị vua cuối cùng của Việt Nam, đã thoái vị và trao chính
quyền lại cho chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Hư hỏng trong Trận Mậu Thân 1968
Năm 1968,sau trận đánh Mậu Thân,Ngọ Môn bị hư hỏng rất nặng.Mãi đến năm 1970,Ngọ Môn cùng một số công trình khác(cũng bị hư hỏng) được sửa chữa lớn.
Trang 18KỲ ĐÀI
Trang 19Kỳ ĐÀI
Kỳ Đài ( kinh thành Huế , còn gọi là Cột cờ Cố đô Huế ) là di tích kiến trúc thời Nguyễn nằm chính giữa mặt nam của kinh thành Huế thuộc phạm vi pháo đài Nam Chánh cũng là nơi treo cờ của triều đình.
Kỳ Đài được xây dựng vào năm Gia Long thứ 6 (1807) cùng thời gian xây dựng kinh thành Đến thời Minh Mạng , Kỳ Ðài được tu sửa vào các năm 1829, 1831
và 1840
Kỳ Đài gồm hai phần: đài cờ và cột cờ.
Đài cờ gồm ba tầng hình chóp cụt chữ nhật chồng lên nhau Tầng thứ nhất cao hơn 5,5 m, tầng giữa cao khoảng 6 m, tầng trên cùng cao hơn 6 m Tổng cộng của ba tầng đài cao khoảng 17,5 m Từ mặt đất lên tầng dưới bằng một lối đi nhỏ ở phía trái
Kỳ Ðài, tầng dưới thông với tầng giữa bằng một cửa vòm rộng 4 m, tầng giữa thông với tầng trên cùng cũng bằng một cửa vòm rộng 2 m Ðỉnh mỗi tầng có xây một hệ thống lan can cao 1 m được trang trí bằng gạch hoa đúc rỗng Nền ba tầng lát gạch vuông và gạch vồ, có hệ thống thoát nước mưa xuống dưới Trước đây còn có hai chòi canh và tám khẩu đại bác.
Cột cờ nguyên xưa làm bằng gỗ, gồm hai tầng, cao gần 30 m Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), cột cờ được thay bằng một cây cột gỗ dài hơn 32 m Đến năm Thành Thái
thứ 16 (1904), cột cờ này bị một cơn bão lớn quật gãy, nên sau phải đổi làm bằng ống gang Năm 1947, khi quân Pháp tái chiếm Huế, cột cờ lại bị pháo bắn gãy một lần nữa Năm 1948, cột cờ bằng bê tông cốt sắt với tổng chiều cao 37 m hiện nay mới được xây dựng
Trang 20Chức năng
Thời Nguyễn , trong tất cả các dịp lễ tiết, chầu mừng, tuần du cho đến việc cấp báo đều có hiệu cờ Trên đỉnh cột cờ còn đặt một trạm quan sát gọi là Vọng Đẩu Thỉnh thoảng, lính canh phải trèo lên Vọng Đẩu dùng kính Thiên lý quan sát ngoài bờ biển.
Ngày 23/8 / 1945 , sau khi Bảo Đại thoái vị, lá cờ đỏ sao vàng của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thay thế cho lá cờ hình quẻ ly của triều đình Nguyễn [4] Trong Sự kiện Tết Mậu Thân năm 1968, 8 giờ sáng ngày 31/1 / 1968 quân giải phóng miền Nam chiếm được kỳ đài và lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam
được kéo lên trong 26 ngày đêm Đến ngày 24/2 / 1968 ,
đại đội Hắc Báo , thuộc sư đoàn bộ binh 1
Quân lực Việt Nam Cộng Hòa chiếm lại kỳ đài và xé lá cờ này xuống.
Ngày 26/3 / 1975 , sau khi giành thắng lợi trong
Chiến dịch Huế - Đà Nẵng , lá cờ dài 12 m, rộng 8 m của
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lại được kéo lên Kỳ Đài
Trang 21Điện Thái Hòa
Trang 22Điện Thái Hoà (hoàng thành Huế)
Điện Thái hoà là cung điện nằm trong khu vực Đại Nội của kinh thành
Huế , là nơi đăng quang của 13 vua triều Nguyễn từ Gia Long đến
Bảo Đại Trong chế độ phong kiến cung điện này được coi là trung
tâm của đất nước.
Xây dựng và trùng tu
Quá trình xây dựng và trùng tu điện Thái Hòa được chia làm 3 thời kỳ chính; mỗi thời kỳ đều có những thay đổi lớn, cải tiến về kiến trúc và trang trí Vua Gia Long khởi công xây dựng vào ngày
21 tháng 2 năm 1805 và hoàn thành vào tháng 10 cùng năm Năm 1833 khi vua Minh Mạng quy hoạch lại hệ thống kiến trúc cung đình ở
Đại Nội , trong đó có việc cho dời điện về mé nam và làm lại đồ sộ và lộng lẫy hơn Năm 1923 dưới thời vua Khải Định để chuẩn bị cho lễ Tứ tuần Đại khánh tiết của nhà vua (mừng vua tròn 40 tuổi) diễn ra vào năm 1924, điện Thái Hoà đã được "đại gia trùng kiến".
Qua các đợt trùng tu lớn nói trên và nhiều lần trùng tu sửa chữa nhỏ
khác dưới thời vua Thành Thái, Bảo Đại và trong thời gian gần đây (vào năm 1960, 1970, 1981, 1985 và 1992) điện Thái Hòa đã ít nhiều có thay đổi, vẻ cổ kính ngày xưa đã giảm đi một phần Tuy nhiên, cốt
cách cơ bản của nó thì vẫn còn được bảo lưu, nhất là phần kết cấu kiến trúc và trang trí mỹ thuật.
Trang 23Chức năng
Điện Thái Hòa là biểu trưng quyền lực của
Hoàng triều Nguyễn Điện, cùng với sân chầu, là địa điểm được dùng cho các buổi triều nghi quan trọng của triều đình như: lễ Đăng Quang, sinh nhật vua, những buổi đón tiếp sứ thần chính thức và các buổi đại triều được tổ
chức 2 lần vào ngày mồng 1 và 15 âm lịch hàng tháng Vào những dịp này, nhà vua ngồi uy nghiêm trên ngai
vàng Chỉ các quan Tứ trụ và những hoàng thân quốc
thích của nhà vua mới được phép vào điện diện kiến
Các quan khác có mặt đông đủ và đứng xếp hàng ở sân Đại triều theo cấp bậc và thứ hạng từ nhất phẩm đến cửu phẩm, quan văn đứng bên trái, quan võ đứng bên phải Tất cả các vị trí đều được đánh dấu trên hai dãy đá đặt trước sân chầu.
Trang 24Kiến trúc
Cung điện được xây theo lối trùng thiềm điệp ốc và được chống đỡ bằng 80 cột gỗ lim được sơn thếp và trang trí hình rồng vờn mây - một biểu tượng về sự gặp gỡ giữa hoàng đế và quần thần đúng như chức năng vốn có của ngôi điện Nhà trước và nhà sau của điện
được nối với nhau bằng một hệ thống trần vỏ cua Hệ thống vì kèo nóc nhà sau tương đối đơn giản, chỉ làm theo kiểu "vì kèo cánh ác", nhưng hệ thống vì kèo nóc nhà trước thì thuộc loại vì kèo "chồng
rường - giả thủ" được cấu trúc tinh xảo Toàn bộ hệ thống vì kèo,
rường cột, xuyên trến ở đây đều liên kết với nhau một cách chặt chẽ bằng hệ thống mộng mẹo chắc chắn Mái điện lợp ngói hoàng lưu ly, nhưng không phải là một dải liên kết mà được chia làm ba tầng
chồng mí lên nhau theo thứ tự từ cao xuống thấp, gọi là mái "chồng diêm", mục đích là để tránh đi sự nặng nề của một tòa nhà quá lớn đồng thời để tôn cao ngôi điện bằng cách tạo ra ảo giác chiều cao cho tòa nhà Giữa hai tầng mái trên là dải cổ diêm chạy quanh bốn mặt của tòa nhà Dải cổ diêm được phân khoảng ra thành từng ô hộc
để trang trí hình vẽ và thơ văn trên những tấm pháp lam (đồng tráng men nhiều màu) theo lối nhất thi nhất họa.
Trang 25Trang trí
Trang trí cũng như kiến trúc của điện Thái Hòa nói chung, có một
khái niệm đặc biệt đáng chú ý là con số 5, và nhất là con số 9 Hai con số này chẳng những xuất hiện ở trang trí nội ngoại thất của tòa nhà mà còn ở trên các bậc thềm của điện Từ phía Đại Cung Môn
của Tử Cấm Thành đi ra điện Thái Hòa, vua phải bước lên một hệ thống bậc thềm ở tầng nền dưới là 9 cấp và ở tầng nền trên là 5 cấp Trước mặt điện số bậc cấp bước lên Đệ nhị Bái đình và Đệ nhất Bái đình cộng lại là 9 Tiếp đó, hệ thống bậc thềm ở nền điện cũng có 5 cấp Đứng ở sân Đại triều nhìn vào hay từ phía Tử Cấm Thành nhìn
ra người ta đều thấy trên mỗi mái điện đều được đắp nổi 9 con rồng
ở trong các tư thế khác nhau: lưỡng long chầu hổ phù đội bầu rượu, lưỡng long chầu mặt nhật, hồi long (rồng quay đầu lại), rồng ngang v.v…Ở nội điện cũng thế, từ ngai vàng, bửu tán, các mặt diềm gỗ chung quanh cho đến mỗi mặt của ba tầng bệ mỗi nơi đều trang trí một bộ 9 con rồng Ngày nay, Điện Thái Hoà trở thành một điểm du lịch nổi tiếng.
Trang 26NGỰ THƯ PHÒNG
Trang 27CỬA HIỂN NHƠN
Trang 28C a Hi n Nh n ử ể ơ
Hoàng Thành và Tử Cấm Thành được gọi chung là Đại Nội Hoàng Thành có 4 cửa:
1 Cửa Ngọ Môn (phía Nam, trông
ra đường 23 tháng 8)
2 Cửa Hòa Bình (Bắc, trước dành cho vua đi chơi, trông ra đường Đặng Thái Thân)
3 Cửa Chương Đức (Tây, trước dành cho phái nữ, trông ra đường
Lê Huân)
4 Cửa Hiển Nhơn (Đông, trước dành cho phái nam, trông ra đường Đoàn Thị Điểm)
Trang 29Cửu Đỉnh
Cửu Đỉnh của
nhà Nguyễn là chín cái đỉnh bằng đồng , mỗi đỉnh
có một tên riêng ứng với một thuỵ hiệu của mỗi vị
hoàng đế của
triều Nguyễn Chúng được dùng làm biểu tượng cho sự giàu đẹp, thống nhất của đất nước
và ước mơ triều đại mãi vững bền [1]
Trang 30Cửu vị thần công
Cửu vị thần công là tên gọi 9
khẩu thần công được các nghệ nhân Huế đúc dưới thời vua Gia Long 9 khẩu thần công được đánh giá là một trong những tác phẩm nghệ thuật bằng đồng có giá trị cao Cửu
vị thần công xưa được đặt dưới chân Hoàng Thành , trước cửa Ngọ Môn – kinh thành Huế
Đến đời vua Khải Định, chúng được dời ra tại vị trí như ngày nay.
Trang 31Duy t Th ệ ị Đườ ng (hoàng
Duyệt Thị Đường (Duyệt: xem xét
để phân biệt điều phải trái; Thị: xem; Đường: ngôi nhà) là một nhà
hát dành cho vua, hoàng thân quốc thích, các quan đại thần và là nơi biễu diễn các vở tuồng dành cho quan khách, sứ thần thưởng thức Tuồng biễu diễn trong Duyệt Thị Đường là các vở tuồng cung đình Đây được xem là nhà hát cổ nhất của ngành sân khấu Việt Nam
Trang 321 Kiến trúc kinh đô Huế:
- Một số lăng tẩm: Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức, Khải Định…
Trang 33 Lăng Tự Đức là một quần thể
công trình kiến trúc, trong đó có nơi chôn cất vua Tự Đức tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thượng, tổng
Cư Chánh (cũ), nay là thôn Thượng Ba, xã Thủy Xuân, thành phố Huế Lúc mới xây dựng, lăng
có tên là Vạn Niên Cơ, sau cuộc
nổi loạn Chày Vôi, Tự Đức bèn
đổi tên thành Khiêm Cung Sau
khi Tự Đức mất, lăng được đổi tên
thành Khiêm Lăng.
Lăng Tự Đức có kiến trúc cầu kỳ, phong cảnh sơn thủy hữu tình và
là một trong những lăng tẩm đẹp nhất của vua chúa nhà Nguyễn
Lăng Tự Đức
(Thủy Biều, tp Huế)
Trang 34Cung An Đị nh
Cung An Định tọa lạc
bên bờ sông An Cựu, xưa thuộc phường Đệ Bát - Thị xã Huế, nay tại số 97 đường Phan Đình Phùng ,
Thành phố Huế là cung điện riêng của vua
Khải Định từ khi còn là
thái tử đến khi làm vua, sau này được Vĩnh Thuỵ
thừa kế và từng sống ở đây sau khi thoái vị.
Trang 35Chùa Thiên Mụ
Chùa Thiên Mụ (� 天姥 )
hay còn gọi là chùa Linh
Mụ là một ngôi chùa nằm
trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế
khoảng 5km về phía tây Chùa Thiên Mụ chính thức khởi lập năm
Tân Sửu ( 1601 ), đời chúa Tiên Nguyễn Hoàng -vị chúa Nguyễn đầu tiên ở Đàng Trong Đây có thể nói là ngôi chùa cổ nhất của Huế.
Trang 36 Lăng Minh Mạng còn gọi
là Hiếu lăng (do vua
Thiệu Trị cho xây dựng), nằm trên núi Cẩm Khê, gần ngã ba Bằng Lãng là nơi hội lưu của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch hợp thành sông Hương , cách cố đô Huế 12 km Lăng Minh Mạng được xây dựng từ năm 1840
đến năm 1843 thì hoàn thành, huy động tới mười nghìn thợ và lính.
Lăng Minh Mạng
(Hương Thọ, Hương Trà)
Trang 37lạc trên triền núi
Châu Ê) bên ngoài kinh thành Huế.