Kinh đô Huế có hoàng thành của triều đình và phố xá của nhân dân, đồng thời lại có các lăng tẩm của Vua và Hoàng Hậu ở vùng đồi thượng nguông sông Hương.. Ngoài Phòng Thành là khu sinh h
Trang 1Mỹ thuật Thời Nguyễn
Sau khi lật đổ triều đình Tây Sơn vào năm 1802, Nguyễn ánh lập ra vương triều Nguyễn, đặt niên hiệu là Gia Long, đóng đô ở Phú Xuân Vua nắm mọi quyền hành một cách độc đoán , không đặt tể tướng, không lấy trạng nguyên, không lập Hoàng Hậu và không phong tước vương cho người ngoài họ Vua
Nhà nước ban hành " Luật Gia Long " Để tăng cường chuyên chế Bộ
luật này gần như sao chép của Luật nhà Thanh Vua củng cố sự độc tôn
của Nho giáo, đặt " Thập điều" giao các làng xã giảng giải cho dân,
củng cố việc thi cử để chọn người tài Để hạn chế sự nhũng lạm, nhà nước cấp lương bằng tiền và gạo cho quan lại, còn ruộng thì hưởng theo phép quân điền Nhưng chính sách đó vẫn chưa đủ vắn, nạn tham nhũng ngày càng gia tăng, đến nỗi nhân dân thời bấy giờ có câu ca dao:
" Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan "
Nạn tham nhũng ngày càng trầm trọng, dù vua đã xử phạt rất nặng hàng hoạt quan to nhưng vẫn không ngăn chặn được
Bên cạnh việc tham nhũng của quan lại thì vấn đề bóc lột của cường hào và hương lý ở nông thôn cũng không kém phần trắng trợn Ruộng
tư tăng lên rất nhiều trong khi ruộng công còn lại quá ít Cường hào và hương lý bao chiếm hết những chỗ màu mỡ còn dân thì chỉ còn lại những chỗ xương xẩu Đã thế lại vỡ đê liên tục do Nhà nước thiếu quy hoạch chung trong việc đắp đê điều Vậy nên nhân dân lại càng khốn
Trang 2khó, đói kém triền miên, nhiều nơi phải bỏ ruộng hoang đi phiêu tán
Từ tình trạng khốn đốn đó, dân đã dẫy lên những cuộc khởi nghĩa liên tục ở Bắc và Nam, lan lên cả dân tộc ít người và miền núi xã xôi Do nho giáo khủng hoảng, những nho sỹ thức thời (như Cao Bá Quát) cũng tham gia khởi nghĩa và trở thành lãnh tụ nghĩa quân ở đời Gia Long, những cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ có khoảng 90 cuộc, đời Minh Mạng có khoảng 250 cuộc, đời Thiệu Trị khoảng 50 cuộc Từ những nhìn nhận
đó đã thấy nhân dân lao động thủa bấy giờ đã phải khốn khổ và bất mãn với triều đình như thế nào
Về mặt công nghiệp, do đất nước thống nhất, hệ thống giao thông được quan tâm và do tiép xúc với phương Tây mà công nghiệp đã có bước tiến rõ rệt, tay nghề của thợ được nâng cao Các làng nghề thủ công vẫn gắn liền với nông nghiệp nhưng vẫn phát triển hơn hẳn trước Nhà nước độc quyền mua những sản phẩm và độc quyền ngoại thương, có mở rộng buôn bán với các nước trong khu vực nhưng lại đóng cửa với
phương Tây
Nhà Nguyễn cầm quyền khi phương Đông đang trì trệ ở cuối mùa
phong kiến, còn phương Tây đã bước vào CNTB và nhiều nước Châu á
đã rơi vào ách thống trị của thực dân Và nước ta cũng không phải là ngoại lệ, do mặt ngoại giao kém khéo léo, năm 1858 Pháp chính thức xâm lược nước ta Với vũ khí thô sơ và chiến thuật lạc hậu, nhà
Nguyễn đã từng bước nhượng bộ và đến năm 1885 thì chính thức ký hàng ước chấp nhận sự đô hộ của Pháp trên toàn bộ lãnh thổ nước ta,
kể từ 1885 chế độ quân chủ nhà Nguyễn đã chấm dứt về chính trị
Nhưng do Pháp cai trị nước ta theo chế độ phong kiến nửa thuộc địa
Trang 3nên dưới tính chất bù nhìn các vua nhà Nguyễn vẫn tồn tại đến tận cách mạng tháng tám năm 1945
Tình hình xã hội trên đã ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển văn hoá nghệ thuật thời Nguyễn Kinh đô Huế được xây dựng đàng hoàng to đẹp, nhưng việc xây dựng ở các làng quê có mở ra nhiều mà không lớn, không rầm rộ, được cái lan xa toả rộng Bên cạnh đó văn hoá nghệ thuật truyền thống vẫn duy trì ở các làng xã, di duệ của mỹ thuật thời Nguyễn vẫn phát triển ngay ở Huế đến tận đầu thế kỷ XX
Một trong những mặt đặc sắc của mỹ thuật thời Nguyễn là mỹ thuật cung đình Huế Thời Nguyễn là vương triều gần dân nhất nên cung đình Huế vẫn còn tồn tại đến ngày nay Mỹ thuật cung đình Huế có rất nhiều nét đặc sắc nổi trội rất đặc biệt Trước hết, chúng ta dần đi vào tìm hiểu kiến trúc kinh thành Huế
Gia Long lập vương mới và cũng xác định là lập kinh đô ở Huế cơ sở thành Phú Xuân ngày xưa và xê dịch mở rộng ra nhiều hơn Kinh đô Huế có hoàng thành của triều đình và phố xá của nhân dân, đồng thời lại có các lăng tẩm của Vua và Hoàng Hậu ở vùng đồi thượng nguông sông Hương Đây là nét mới khác với các kinh đô trước đó Và đây cũng là nghệ thuật cung đình duy nhất của Việt Nam còn lại đến nay Kinh thành Huế có vị trí rất lý tưởng cả về phong thuỷ và khí hậu Được bắt đầu xây dựng từ năm 1804 do Gia Long điều hành khởi công, nhưng vẫn giản đơn và chưa bề thế về quy mô Đến đời Minh Mạng đã quy hoạch lại rất nhiều trong hoàng thành, sửa sang cung điện
Kinh thành Huế mang nặng tính quân sự, gồm 3 vòng thành gần vuông lồng vào nhau lệch về phía trước, cùng trên một trục chính từ núi Ngự
Trang 4Bình về vuông góc với sông Hương Vòng ngoài là Phòng Thành, chu
vi chừng 10km, mặt trước trên đường trục dựng kỳ đài, xung quanh trổ
10 cửa, có hào sâu bao quanh, bên trong có trụ sở các cơ quan của triều đình Vòng giữa là Hoàng Thành trên đường trục có cửa chính Ngọ Môn, chu vi chừng 2500m, sát chân thành phía ngoài có hào sâu, ứng với các cửa có cac cầu xây gạch để ra vào, đây là nơi làm việc và sinh hoạt của triều đình và Hoàng Gia, đồng thời là nơi thờ phụng tôn
nghiêm, có nhiều điện, nhiều miếu dành riêng cho Hoàng Gia Khi thịnh nhất, trong hoàng thành có trên 100 công trình kiến trúc Mỗi quần thể kiến trúc là một sự kết hợp hài hoà giữa nhà cửa với vườn cây cảnh tạo ra cả một phong cảnh kiến trúc, nó dàn ra trải rộng, chỉ có một vài điểm đột khởi như cửa Ngọ Môn và Hiển Lâm Các, song cũng chỉ cao vừa độ, không tách mình ra khỏi xung quanh mà luôn gắn bó với toàn cảnh Ngọ Môn là cửa chính ở phía Nam của Hoàng Thành được xây dựng quy mô vào năm 1833, kiến trúc Ngọ Môn đồ sộ, hình khối vững chãi (dài 57,95m, cao 14,80m), phần dưới xây đá chắc, có 5 cửa lớn, bên trên là lầu Ngũ Phụng (5 con rồng), có 100 cột lớn đỡ bộ mái
đồ sộ được tạo hình như " năm con phượng xoè cánh " Mặt trước Ngọ
môn là hồ nước, phía sau là hồ Thái Dịch cũng có một cầu lớn dẫn vào trong, gọi là cầu Trung Đạo Hồ được thả sen, tạo nên một phong cảnh đẹp và hoành tráng
Bên cạnh đó còn có các đền miếu, là nơi thờ các vua cha, được bố trí thành hai khu vực ở phía trước (tức là mặt phía Nam) của Hoàng
Thành: Khu phía Đông có Triệu Miếu, Thái Miếu và khu phía Tây có Hương Miếu, Thế Miếu và Hiển Lâm Các
Trang 5Hiển Lâm Các là toà nhà duy nhất có cầu trúc 3 tầng, mang biểu tượng: Thiên, Địa, Nhân (Trời, đất, người) là một công trình rất đặc sắc trong tổng thể kiến trúc Huế Cao 17 m là công trình cao nhất ở đây Được tạo nên trên cơ sở bộ khung gỗ rất đẹp để đỡ các sàn và mái, 4 trục ở giữa vươn cao qua các tầng được liên kết với các hàng cột khác nhau bằng các xà ngang xà dọc các tầng đều có bộ mái dốc về 4 phía, xoè ra như một bông hoa Được xây dựng vào năm 1821 đến nay đã trên 180 năm Hiển Lâm Các vẫn đứng vững với dáng vẻ tao nhã, cân đối, nhịp nhàng, trở thành niềm kiêu hãnh của truyền thống kiến trúc Việt Nam Ngoài Phòng Thành là khu sinh hoạt của nhân dân, có phố xá và làng mạc, chủ yếu là hai bên bờ sông Hương, cũng có một số công trình Nhà nước như Nghinh lương đình, Văn miếu, Phu Văn Lâu, Đàn Nam Giao
và đặc biệt nhất là Hổ Quyền, mang đậm tính dân tộc của kiến trúc thời Nguyễn
Hổ Quyền được vua Minh Mạng cho xây vào năm 1830 ở chân đồi Long Thọ phía Nam bờ sông Hương, là nơi tổ chức các cuộc giao đấu giữa voi và hổ với chủ đích cho voi thắng hổ (voi được coi là con vật
có ích, hổ là ác thú) Công trình được tạo dựng thấp sâu dưới mặt đất để người xem đứng trên bờ cao tránh nguy hiểm Có khán đài dành cho Vua ngồi xem còn nhân dân đứng xem trên mặt tường bao quanh Công trình đã 160 năm mà nay vẫn đứng vững
Trang 6Kiến trúc của cả kinh thành Huế nói chung cũng như từng công trình cụ thể nói riêng đều là những tác phẩm nghệ thuậ Tất cả dàn ra, cân đối
mà không lặp lại, gắn bó với nhau và hoà nhập với cảnh quan để nâng lên chân giá, chỗ thì trang trọng thâm nghiêm, chỗ thì thanh toát thơ mộng… tuỳ theo từng công trình và tính chất, yêu cầu của nó Dù to lớn vẫn không đồ sộ để nạt nộ, mà giữ tỷ lệ vừa phải với con người - những nét đó rất phù hợp với điều kiện tâm lý và kinh tế của con người Việt Nam
Từng đơn nguyên kiến trúc chỉ nhấp nhỉnh các đình, đền, chùa, ở các địa phương, nhưng - như điện Thái Hoà và Thế Miếu do kết cấu theo
lối " trùng thiềm điệp ốc ", hai nhà song hành kề sát được gắn lại bởi dãy " trần mai cua " mà tạo ra một không gian thống nhất rộng cả hai
chiều ngang và dọc Hai toà nhà này, toà trong là chính điện có trần ván
gỗ treo đèn kết hoa, toà ngoài là tiền điện thông lên tận mái để lộ ra cac
bộ vì giả thủ như cánh tay giơ lên đỡ hoành và các ván liền ba đố bản chia ra các ô trang trí thi và hoạ xen nhau Giá trị của nghệ thuật kiến trúc ở đây cho thấy một trình độ cao trong việc tạo dựng những bộ khung nhà đầy sáng tạo, những tỷ lệ và hình khối của các kiến trúc cung đình vừa hoành tráng vừa gần gũi
Kiến trúc Huế có thân cao, mái ngắn hơn so với đình chùa ngoài Bắc nên có cảm giác nhẹ, không cần đến các hoa đao ở góc mái nữa Mặt trước thường lắp thêm kẻ cổ ngỗng để kéo dài mái ra cái hiên làm
không gian chuyển tiếp, khi không cần có thể bỏ mà không ảnh hưởng
gì đến cấu trúc chung
Những kiến trúc ấy bên cạnh khối hình còn được nghệ thuật trang trí bổ
Trang 7trợ cả màu và hình Các cung điện đều lợp ngói ống hoặc ngói máng
âm dương tạo thành những làn sóng đan xen nhau chạy dài từ bên này đến bên kia Những mái ngói ấy đều được tráng men ngọc màu vàng
hoặc xanh gọi là " hoàng lưu ly " hay " thanh lưu ly " làm cho cả bộ
mái rực rỡ trong ngần, thanh tao, quý phái
Các mảng tường cổ diềm và bớ nóc đắp cao lại được chia ra những ô hộc vuông và chữ nhật đan xen nhau Trên các bờ nóc, bờ dải đắp và ghép các mảng sứ thành con dao, con rồng, con lân, con phượng… Với việc tạo hình những con vật linh ấy và kỹ thuật ghép mảnh, ghép gốm, các nghệ nhân xưa đã đưa nghệ thuật trang trí kiến trúc đạt tới trình độ cao, điêu luyện và tinh xảo Men Pháp Lam cũng được đưa vào trang trí
và nhất là để làm đám mây ngũ sắc đỡ mặt trời hoặc một bầu to có hình như nâm rượu ở giữa bờ nóc Nội thất kiến trúc chính cũng phần nhiều được sơn son với nhiều hình trang trí thếp vàng, sang trọng và vui mắt
Và cùng với kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc với các tượng tròn và các bức chạm nổi, chạm lông bằng đá, bằng gỗ… phân bổ rải rác trong các cungd diện, các lăng mộ đều là những tác phẩm đạt tới các giá trị nghệ thuật cao
Kiến trúc cung đình Huê, ngoài kiến trúc kinh thành còn có lăng tẩm của các vua nhà Nguyễn cũng rất đặc sắc Theo truyền thống các vua
Lý, Trần, Lê khi mất đều được đưa về vùng quê cũ để an táng và xây lăng tẩm Với các vua nhà Nguyễn, quê gốc là ở Thanh Hoá, nhưng Huế cũng vừa là kinh đô vừa là quê hương nhà Nguyễn Các vua được
an táng ở Huế cũng là trở về với quê cha đất tổ ở thời Nguyễn mỗi vua
có một lăng mộ và tẩm thờ riêng, kết hợp với nhau thành lăng tẩm
Trang 8chiếm một khuôn viên lớn, trong đó dựng bia " Thánh đức thần công "
rất lớn để biểu dương công trạng
Kinh đô Huế nằm ở Hạ Lưu sông Hương, cũng là ở phía mặt trời mọc, dành cho người sống Thế thì thượng nguồn sông Hương nơi mặt trời lặn, sẽ là nơi dành cho người chết và lăng mộ được xây ở đó Dựa theo thuyết phong thuỷ, mỗi lăng chiếm một quả đồi, nhưng thật ra chiếm cả một quần thể đồi núi xung quanh: có núi án ở trước mặt làm bình
phong, có núi chắn ở hai bên làm tay ngai, và ngay sát trước khu lăng
phải có ngòi lạch chảy lượn " chi huyền thuỷ " từ trái sang phải Chẳng
hạn lăng Gia Long có 36 ngọn núi châu vào, gồm núi Đại Thiên Thọ ở phía trước làm tiền án, mỗi bên sườn có 14 ngọn núi dăng hàng làm tay
ngai " tả Thanh Long - hữu Bạch Hổ ", đằng sau có 4 ngọn núi làm hậu
án Cả vùng rộng lớn trong mỗi lăng được gọi là " quan phòng " coi
như rừng cấm
Lăng Gia Long rộng tới 28km2, chiếm một vùng đồi rộng với bố cục rõ ràng và ý nghĩa sâu sắc Điển hình cho các lăng tẩm ở Huế là 4 lăng của
4 vua đầu khi đất nước còn độc lập, tự chủ: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và tàn dư nghệ thuật Nguyễn là lăng Khải Định ở đầu thế kỷ XX Dựa trên mặt bằng khuôn viên lăng có thể chia ra 3 dạng khác nhau
Dạng thứ nhất là lăng Gia Long (1814 - 1820) và lăng Thiệu Trị
(1848): hai khu lăng và tẩm tách riêng ra đặt sóng đôi, cùng nhìn một hướng Mỗi khu lăng hoặc tẩm có một đường trục riêng, các kiến trúc cân đối với nhau ở hai bên trục, chạy hút về sau với độ sâu vừa phải Bên lăng có Bái đình và các hàng tượng đá voi - ngựa - quan võ - quan
Trang 9văn ở hai bên chầu vào giữa, cao to bằng người và thú thật tận cùng là bửu thành với mộ vua, ngoài ra còn Bi đình và hai trụ biểu để biểu dương công đức và uy lực của vua Bên tẩm chủ yếu là điện thờ, gồm
hai nhà gắn nhau theo kiểu " Trùng thiềm điệp ốc ", trong đó bài vị, án
thờ và đồ ngự dung lúc bình sinh Trên tổng thể chung ấy, phần cụ thể
ở mỗi lăng giải quyết theo một cách: lăng Gia Long ở bên trái, tẩm ở bên phải, Bửu thành vuông có 2 mộ đá vua và Hoàng Hậu song hành Lăng Thiệu Trị thì ở bên phải, tẩm ở bên trái, Bửu thành tròn quây lấy núi đất có mộ ngầm bên trong ở lăng Gia Long, Bi đình xây bên cạnh lăng, hai trụ biểu xây mái xà ở trên quả đồi bên kia hồ nước Trái lại, ở lăng Thiệu Trị cả Bi đình và hai trụ biểu đều ở trước Bửu thành
Dạng thứ hai là lăng Minh Mạng (1840 - 1843) và lăng Khải Định (1920 - 1931): Cả lăng và tẩm đều trên một trục, tạo độ sâu hun hút phần tẩm chen vào giữa, các kiến trúc đăng đối hai bên trục ở lăng Minh Mạng, dọc theo đường trục, các độ cao thấp uốn lượn nhịp
nhàng, tất cả trên 30 công trình, cứ hiện ra bất ngờ, luôn đổi mới Ngay
từ đầu, sau cổng lăng là Bái đình mênh mông với hai hàng tựơng trang nghiêm, tiếp đến Bi đình - trên nền cao đột khởi Từng phần cứ ngắt ra, điẻm cao và khu trũng đan xen để tôn nhau, cuối cùng vượt ra hồ nước sang khu Bửu thành tròn chứa phần mộ là cấm địa Cùng với kiến trúc, cây cao bóng cả và gương nước cứ hoà quyện, ấm cúng mà thiêng
liêng
Còn ở lăng Khải Định, tất cả cứ trườn lên sườn núi xa dần, lớp lang ngắt quãng dứt khoát, không hồ nước, không cây xanh, lớp sân trên cùng dàn ra những 4 hàng tượng, hai trụ biểu và Bi đình, để rồi chế ngự
Trang 10là điện Khải Thánh vừa là tẩm thờ, vừa là lăng mộ, còn đặt tượng đồng ngay phía trên lăng phần mộ, khu lăng này sùng bái chát liệu xi măng, trang trí ngoại thất đắp nổi nhiều hình xa lạ, nhưng các mảng tường nội thất được gắn kính sứ thành tranh phong cảnh tinh tế như vẽ và có độ mát dịu
Dạng thứ ba là lăng Tự Đức (1864 - 1867): ở đây có gò đồi cao thấp lô nhô ở về một phía và hồ nước uốn lượn rộng hẹp ở về một bên, tất cả như một viên lớn có sự công bằng mà không đăng đối, các đường đi vòng vèo mở ra những bất ngờ liên tiếp Hai phần chính là tẩm và lăng đặt cạnh nhau nhưng so le, và xen kẽ nhiều công trình dành cho người sống dạo chơi, xem hát, làm việc, nhà ăn, vườn nuôi hươu… Đặc biệt khu lăng quan tâm đến thế đăng đối để tạo thành không khí nghiêm túc,
có những kiến trúc bất ngờ quá cớ như hai trụ biểu, như toà Bi đình với
8 bia cao nhất nước (cao 4m, rộng 2m) ở đây toàn cảnh quy mô, tổng thể phong phú có nhiều cây cối các loại cũng hoà với kiến trúc Nhiều người đã nhận ra lăng Tự Đức có nhiều chất thơ, là sự thể nghiệm
thành công một kiểu mô hình lăng tẩm mà cái sống với cái chết hoà hợp, thanh thản
Trong sân Bái Đình của khu lăng mộ luôn nổi bật những tượng quan văn, quan võ, ngựa, voi và lăng Khải Định còn có nhiều tượng lính hầu Trừ tượng ở lăng Đồng Khánh (1889) đắp bằng vôi vữa có dáng mảnh gầy, còn ở các lăng khác đều bằng đá là chất liệu điêu khắc ngoài trời, được làm theo quy định chặt chẽ, dáng nghiêm túc, chú ý nghiên cứu đến từng chi tiết, có tỷ lệ hợp lý giữa các bộ phận Phần dưới bụng thú được cậy đục càng làm cho con vật rất thực Tượng ở những lăng đầu