1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bàn về văn học dân gian

52 2,3K 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bàn Về Văn Học Dân Gian
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Văn Học
Thể loại bài tiểu luận
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 338,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không phải không có cơ sở khi có ý kiến cho rằng hạt nhân ban đầu của chuyện này là một thần thoại về người anh hùng văn hoá nhằm giải thích nguồn gốc hình thế của đất nước Việt.Tuy nhiê

Trang 1

Văn học dân gian Khái niệm văn học dân gian

- Văn học dân gian là một thành tố của văn hoá dân gian, tức là phôncơlo (trí tuệ nhân dân)

- Văn học dân gian còn gọi là văn học truyền miệng hoặc văn học bình dân

- Văn học dân gian là những sáng tác tập thể truyền miệng của nhân dân, ra đời từ thời viễn

cổ, phát triển qua các thời kì lịch sử, đến cả hiện nay và mai sau Văn học dân gian có những đặctrưng riêng so với văn học viết; nó cùng với văn học viết hợp thành nền văn học dân tộc

Các thể loại văn học dân gian

1 Thơ ca dân gian: tục ngữ, câu đố, ca dao, hò, vè, truyện thơ

2 Truyện dân gian: thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn

3 Sân khấu dân gian: chèo, tuồng đồ

Những đặc trưng cơ bản của văn học dân gian

1 Tính tập thể (trong sáng tạo, trong lưu truyền, trong sử dụng và cảm thụ )

2 Tính truyền miệng

3 Gắn với sinh hoạt xã hội (đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân lao động )

Giá trị và vai trò của văn học dân gian trong nền văn học dân tộc

1 Văn học dân gian là kho báu về trí tuệ, tâm hồn và thẩm mĩ cao đẹp của nhân dân

2 Văn học dân gian là ngọn nguồn, là cơ sở kết tinh của văn học dân tộc

Tát nước đầu đình

Hôm qua tát nước đầu đình,

Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.

Em được thì cho anh xin,

Hay là em để làm tin trong nhà.

Áo anh sứt chỉ đường tà,

Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu

Áo anh sứt chỉ đã lâu,

Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng.

Khâu rồi anh sẽ trả công,

Đến khi lấy chồng anh sẽ giúp cho.

Giúp cho một thúng sôi vò,

Một con lợn béo, một vò rượu tăm.

Giúp cho đôi chiếu em nằm,

Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo.

Giúp cho quan tám tiền cheo,

Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.

Lời bình

Trang 2

"Tát nước đầu đình" là bài ca dao tỏ tình của anh trai cày với cô gái thôn nữ Đã có bài "Mận hỏi Đào" Cũng có cảnh thổ lộ tình yêu một cách mộc mạc:

"Gặp đây anh lắm cổ tay,

Anh hỏi câu này, có lấy anh không?"

Bài ca dao "Tát nước đầu đình" cho thấy, anh trai cày này dễ thương hơn Gặp cô thôn nữ chắc anh đã "phải lòng" rồi, anh lấy cớ "mất áo" để bắt chuyện Sen làm gì có cành, đó chỉ là cách nói cho đậm đà Cô gái bị buộc vào một cảnh ngộ "khó xử":

"Em được thì cho anh xin

Hay là em để làm tin trong nhà"

Chiếc áo đã trở thành "cái cầu" thương nhớ! Thật là hồn nhiên, tự nhiên Cô thôn nữ chắc là

đã "Lắng nghe lời nói như ru - Chiều thu dễ khiến nét thu ngại ngùng" (Kiều) Bỏ đi sao đành, khi nghe chàng thổ lộ gia cảnh:

"Áo anh sứt chỉ đường tà,

Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu"

Cái áo đã đi trọn một vòng đời khi anh nói: "Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng" Anh đang chăn đơn gối chiếc, thiếu kẻ sửa túi nâng khăn Anh chỉ có mẹ già, "mẹ già bằng ba lần cửa",

"mẹ già như chuối ba hương - như xôi nếp mật như đường mía lau" (ca dao)

Cảnh ngộ ấy, ai nghe mà chẳng động lòng Từ chỗ gọi bằng "em", chàng trai cày chuyển sang gọi bóng gió: "cô ấy"

Chàng trai nói về chuyện "trả công", nói về chuyện "giúp cho" Rất hậu hĩnh: "một thúng xôi vò", "một con lợn béo", "một vò rượu tăm" Cũng với lời nói, đến đây, khoé mắt, đôi mày, nụ cười, mái tóc như đều biết nói, cùng tham dự vào cuộc tỏ tình Mỗi lúc một hé lộ, cánh cửa tâm tình mở rộng dần ra Từ "một" đã thành "đôi" rồi:

"Giúp em đôi chiếu em nằm

Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo"

Bài ca dao, "bức thông điệp của tình yêu" đã thấm sâu vào tâm hồn người thiếu nữ khi bên tai nàng một tiếng nói chân tình vang ngân:

"Giúp cho quan tám tiền cheo,

Quan năm tiền cưới, lại đèo buồng cau".

Các điệp từ, điệp ngữ: "giúp cho giúp cho " tạo nên ngữ điệu nồng nàn, ý vị, thiết tha, thể hiện một cách chân thành nỗi ước mơ nên vợ nên chồng mà chàng trai cày đang hướng tới

Trang 3

Cho chim khoe giọng hót Anh thợ mộc Thanh Hoa khoe tài Chàng trai cày nói chuyện bỏ quên cái áo "sứt chỉ đường tà" v.v… Trai gái làng xưa đã tỏ tình, đã giao duyên đậm đà như vậy.

Lao động, hạnh phúc lứa đôi, cuộc sống êm đềm hạnh phúc "chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa", là ước mong, khát vọng muôn đời của họ Chân thành, tế nhị của chàng trai trong tỏ tình, trong giao tiếp là một nét rất đẹp trong tâm hồn để ta trân trọng

- “Gặp đây Mận mới hỏi Đào,

Vườn Hồng đã có ai vào hay chưa? ”

“Đôi ta được gặp nhau đây,

Khác gì chim phượng gặp cây ngô đồng”

“Tình yêu làm cho trái tim biết hát”, làm cho “con mắt có đuôi”, để rồi cùng “xe chỉ luồnkim” Anh trai cày trong bài ca dao “Tát nước đầu đình” đã từ chuyện “hôm qua” mà nói chuyện

“hôm nay” và chuyện trăm năm “sau này” Chuyện hôm qua là chuyện anh mải miết làm ăn màđãng trí nên mới để…, thật chàng đáng trách mà lại rất dễ thương:

“Hôm qua tát nước đầu đình,

Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen

Em được thì cho anh xin…”

Cái cớ mà chàng trai cày bịa ra thật đậm đà, đáng yêu Cô thôn nữ mà anh gặp “xin áo”hôm nay chính là người từng “để thương, để nhớ, để sầu” cho anh đã bao lâu rồi Anh lấy cớ

“mất áo” để bắt chuyện Sen làm gì có cành, đó chỉ là một cách duyên cho đậm đà, cho tình tứ

Cô thôn nữ xinh giòn ấy đã bị buộc vào một cảnh ngộ “khó xử”:

“Em được thì cho anh xin,

Hay là em để làm tin trong nhà.”

Đã từ lâu lắm rồi, từ những ngày xửa ngày xưa, cái áo từng được trai gái yêu nhau dùng

“để làm tin trong nhà”, một chút kỷ vật của mối tình đầu đẹp:

“Anh về để áo lại đây,

Đêm khuya em đắp, gió tây lạnh lùng”

Hoặc:

“Áo xông hương của chàng vắt mắc,

Trang 4

Đêm em nằm em đắp lấy hơi”.

Chiếc áo đã trở thành “cái cầu” thương nhớ, giao duyên Thật là hồn nhiên, tự nhiên: quên

áo sau khi tát nước, chuyện mới xẩy ra hôm qua ở đầu đình Cô thôn nữ chắc là đã “lặng nghelời nói như ru - Chiều thu dễ khiến nét thu ngại ngùng” (Truyện Kiều) “Em được thì… Hay emđể…”, nhẹ nhàng thế thôi, dịu ngọt thế thôi, em bỏ đi sao đành? Ở cái tuổi hoa, tuổi nụ, cô thôn

nữ sao mà chẳng “xôn xao” trong lòng trước ánh mắt, tấm lòng đầy tin cậy của chàng trai? “Em”làm sao nỡ bỏ đi khi nghe “anh” thổ lộ gia cảnh: áo anh không rách, nó chỉ “sứt chỉ đường tà”,nhưng “áo anh sứt chỉ đã lâu”, bởi lẽ”

“Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu”

Không phải thổ lộ để cầu xin một chút thương hại Anh đã gợi lên trong lòng thiếu nữ mộttình thương Cô xúc động khi nghe anh nói Anh đang cần một người như cô để săn sóc mẹ già,cần một người đẹp đôi như “em” để xây dựng một tổ ấm gia đình Chàng trai đã đến với thiếu

nữ bằng tất cả tấm long tin yêu chân thành, chân thật, với tất cả nỗi lòng khao khát tình yêu hạnh

phúc gia đình Anh là một con người siêng năng chịu khó Anh là một đứa con hiếu thảo Anh làmột trai tơ “vợ anh chưa có” Tiếng nói của anh, gia cảnh của anh “đánh thức” trong lòng thiếu

nữ biết bao tình yêu thương “trong buổi mới lạ lùng” ấy Và cô hiểu rằng, anh không thể thiếu

cô trong cuộc đời và cô phải đến với anh bằng tất cả tấm lòng yêu thương

Cái áo “sứt chỉ đường tà” đã đi trọn “một vòng đời” khi anh nhẹ nhàng, nửa kin nửa hởnói: “Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng” “Cô ấy” là cô nào, một cách nói bóng gió dễ nghe.Chữ “cùng”là cách nói “buông”, nghĩa là cùng ăn, cùng ở, cùng nên vợ nên chồng Anh đangchăn đơn gối chiếc, thiếu kẻ sửa túi nâng khăn Anh còn mẹ già: “mẹ già bằng ba lần cửa”, “Mẹgià như chuối ba hương – Như xôi nếp mật, như đường mía lau” Từ chỗ gọi bằng “em” khi xin

áo, chàng trai cày đã chuyển sang nói bóng gió: “cô ấy” khi mượn khâu áo “sứt chỉ đường tà” “Áo anh sứt chỉ đã lâu,

Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng

Khâu rồi anh sẽ tra công,

Đến khi lấy chồng anh sẽ giúp cho”

Anh là một con người chu tất, trọn vẹn trong ứng xử Anh sống nhân hậu, tình nghĩa thuỷchung Chàng trai nói về chuyện “trả công”, nói về chuyện “giúp cho” Rất hậu hĩnh Chỉ khâucái áo sứt chỉ đường tà mà anh anh sẽ “giúp cho”: “một thúng xôi vò”, “một con lợn béo”, “một

vò rượu tăm” Cùng với lời nói, đến đây khoé mắt, đuôi mày, nụ cười, mái tóc… như đều biếtthổ lộ tâm tình, đều cùng tham dự vào cuộc tỏ tình, giao duyên mỗi lúc một hé lộ, cánh cửa tâmtình mở rộng dần ra Từ “một” đã thành “đôi” tự bao giờ rồi”

“Giúp cho đôi chiếu em nằm,

Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo”

Bài ca dao - bức thông điệp cầu hôn – đã thấm sâu vào tâm hồn thiếu nữ khi bên tai nàngmột tiếng nói chân tình ngân lên:

“Giúp cho quan tám tiền cheo,

Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.”

Trả công khâu áo bằng một lễ cưới to tát, sang trọng, có cheo cưới đàng hoàng Anh đãnói rất dễ thương một điều “rất khó nói” xưa nay Anh trai cày đã đến với thiếu nữ bằng một nỗiước mong chân thành Các điệp ngữ: “giúp cho…giúp cho…giúp cho…” tạo nên một ngữ điệu

Trang 5

nồng nàn, ý vị, thiết tha, biểu lộ một ước mơ tốt đẹp nên vợ nên chồng mà anh trai cày đanghướng tới.

Con chim khoe giọng hót Hoa thì khoe sắc khoe hương Anh thợ mộc Thanh Hoa kheo tàichạm trổ… “một đèn anh để đợi chờ nàng đây” Còn anh trai cày lại mượn chuyện bỏ quên cái

áo “sứt chỉ đường tà”… Trai gái làng quê xưa đã tỏ tình, đã giao duyên… đậm đà như vậy Laođộng, hạnh phúc lứa đôi, cuộc sống êm ấm hạnh phúc “chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”… làước mong, khát vọng muôn đời của họ “Bài ca xin áo” đâu chỉ là chuyện “Tơ tằm đã vấn thìvương – Đã trót đau díu thì thương nhau cùng”, mà còn cho thấy: cheo cưới là thuần phong mĩtục, là nét đẹp của bản sắc văn hóa dân tộc Chân thành, tế nhị… trong tỏ tình, ước mong nên vợnên chồng của anh trai cày trong bài ca dao “Tát nước đầu đình” thật đáng yêu, đáng trân trọng

Bài ca người thợ mộc

Anh là thợ mộc Thanh Hoa,

Làm cầu, làm quán, làm nhà khéo thay!

Lựa cột anh dựng đòn tay,

Bào trơn đóng bén nó ngay một bề.

Bốn cửa anh chạm bốn dê

Bốn con dê đực chầu về tổ tông,

Bốn cửa anh chạm bồn rồng,

Trên thì rồng ấp, dưới thì rồng leo.

Bốn cửa anh chạm bốn mèo,

Con thì bắt chuột, con leo xà nhà

Bốn cửa anh chạm bồn gà,

Đêm thì nó gáy, ngày ra ăn vườn.

Bốn cửa anh chạm bốn lươn,

Con thì thắt khúc, con trườn bò ra.

Bốn cửa anh chạm bốn hoa,

Trên là hoa sói, dưới là hoa sen.

Trang 6

Câu 3,4 chỉ theo đà mà nói, chứ có tài cán gì ở cái việc "bào trơn, đóng bén" Từ câu thứ năm trở đi, bằng biện pháp liệt kê, chàng thợ mộc khoe tài chạm trổ của anh Năm bức chạm convật: dê, rồng, mèo, gà, lươn Hai bức chạm cảnh: hoa và đèn Có bức chạm tứ linh: rồng, nhưng

đã được cách điệu dân gian hoá, bình dị hoá

"Trên thì rồng ấp, dưới thì rồng leo"

Con lươn có gì đáng chạm? Với tài nghệ điêu luyện, bức chạm lươn vô cùng sống động, tuyệtkhéo:

"Bốn cửa anh chạm bốn lươn

Con thì thắt khúc, con trườn bò ra"

Nghệ thuật cổ phương Đông lấy cái cân xứng làm thành một tiêu trí của cái đẹp Hội hoạ, chạm trổ, kiến trúc, thơ văn hay miêu tả cảnh vật qua bộ tứ bình: tùng, cúc, trúc, mai; xuân, hạ,thu, đông; ngư tiều, canh, mục nghệ sĩ lấy cái đối xứng, cái hài hoà làm trọng Trong bài ca daonày, các tiểu đối đã làm rõ vẻ đẹp bức chạm đầy mĩ thuật của chàng thợ mộc:

- Trên thì rồng ấp // dưới thì rồng leo.

- Con thì bắt chuột // con leo xà nhà.

- Đêm thì nó gáy // ngày ra ăn vườn.

- Con thì thắt khúc // con trườn bò ra.

- Trên là hoa sói // dưới là hoa sen.

- v.v

Cái hồn của bức chạm 5 con vật được thể hiện ở trạng thái động: " Chầu về tổ tông", "rồng ấprồng leo", "bắt chuột leo xà nhà", "gáy ra ăn vườn", "thắt khúc trườn bò ra"

Tất cả các bức chạm đều cho thấy anh thợ mộc là con một người rất tài hoa

Anh còn là một chàng trai đa tình Làm nghề thợ mộc dù giỏi đến mấy cũng thuộc vị thế tầm thường qua sự xếp đặt 4 lớp người trong xã hội phong kiến Bức chạm hoa - hoa sói , hoa sen -

là một ngầm ý: khoe tâm hồn thanh cao Chàng trai đang tỏ tình không phải là loại người vai u thịt bắp đâu nhé! Bức chạm đèn mới thật kì diệu Hai ngọn đèn cho người khéo tay hay lam hay làm - chính là cô gái - để dệt vải, để quay tơ Đèn thứ ba, để cho ai, "đọc sách ngâm thơ"? Một con người nho nhã đang tỏ tình với nàng Ngọn đèn thứ tư là ngọn đèn hạnh phúc:

"Một đèn anh để đợi chờ nàng đây".

Có thể nói bức chạm đèn rất đẹp, đẹp về mặt mĩ thuật, đẹp ở tâm tình chàng thợ "mộc", đó là một con người luôn luôn hướng về một cuộc sống lao động, êm đềm hạnh phúc của lứa đôi trong mỗi gia đình Việt Nam

Cấu trúc bài ca dao cân xứng, hài hoà Giọng điệu hồn nhiên tự tin và chân thành Chàng thợ mộc Thanh Hoa là một chàng trai tài hoa và đa tình: Anh là một con người dễ mến dễ thương

Trang 7

Với 20 câu lục bát đi liền một mạch, qua ánh mắt và nụ cười, chàng thợ mộc tài hoa và đatình mượn chuyện chạm trổ của mình để tỏ tình với cô thôn nữ.

Bốn câu đầm ấm áp với bao tình quê vơi đầy Chàng trai đã xưng danh, xưng nghề, xưngquê hương bản quán Cũng như nhiều thiếu nữ khác đã bẽn lẽn nói về mình: “Em là cô gái đồngtrinh…”, “Em là con gái kẻ Mơ…”, chàng trai thật đàng hoàng tự tin nói với cô thôn nữ:

“Anh là thợ mộc Thanh Hoa

Làm cầu, làm quán, làm nhà khéo thay!

Lựa cột anh dựng đòn tay,

Bào trơn, đóng bén nó ngay một bề.”

Tục ngữ có câu: “Thợ mộc xứ Thanh ở quanh Kinh kỳ”, hoặc: “Thợ mộc xứ Thanh ởquanh Thuận Quảng” Thợ mộc dù tài giỏi đến đâu cũng chỉ được gọi là phó cả Chỉ có thợ mộclàm cung điện vua chúa mới được gọi là thợ cả Xây cung điện thời Lê-Trịnh, thời Nguyên saunày, phần lớn là thợ mộc Thanh Hoa Câu đầu của bài ca dao này có dị bản ghi là “Anh làm thợmộc Thanh Hoa”, vì quen miệng theo đà 3 chữ “làm” trong câu ca thứ hai nên mới lầm lẫn nhưthế! Một chữ “là” biểu lộ biết bao tự hào về quê hương bản quán, về nghề nghiệp truyền thốngcủa mình Không phải là một tay “đục đẽo” tầm thường, mà anh chính là thợ mộc Thanh Hoatừng xây dựng cung điện, nổi danh tài ba Ba câu tiếp theo, anh tự khẳng định mình là một ngườilàm ăn giỏi, một thợ mộc giỏi toàn diện, nổi danh tài ba Ba câu tiếp theo, anh tự khẳng địnhmình là một người làm ăn giỏi, một thợ mộc giỏi toàn diện, biết “Làm cầu, làm quán, làm nhà”,biết “lựa cột dựng đòn tay”, biết “bào trơn đóng bén” Hai chữ “khéo thay” là tự khen, tự khoetài là để tỏ tình với cô gái mà anh đang yêu, nên rất dễ thương và được chúng ta đồng tình Vảlại, thói đời xưa nay vẫn thế “Gái tham tài, trai tham sắc” Câu 3, 4 chỉ theo đà mà nói, chứ có tàicán gì ở cái việc “bào trơn, đóng bén…” mà khoe?

Mười câu ca dao tiếp theo, bằng biện pháp liệt kê, anh thợ mộc Thanh Hoa nói với côthiếu nữ về nghệ thuật chạm trổ về những con giống Mỗi con vật được chạm trổ đều có đôi, cóđàn; con nào cũng đều mang một hình thù, một dáng vẻ khác nhau, trong trạng thái động Nghệthuật chạm trổ đạt đến trình độ cực kỳ điêu luyện, sáng tạo, đẹp mắt và hấp dẫn

Đình đền, cung điện… mới chạm rồng; vật linh thiêng trong nhóm tứ linh: long, li, quy,phượng “Long vân giao hội” v.v… là những bức thêu, bức chạm đã được nghệ thuật cổ phươngĐông quy phạm, làm biểu tượng cho cái đẹp, cho uy quyền của đế vương Anh thợ mộc ThanhHoa cũng chạm rồng, nhưng chỉ là “Trên thì rồng ấp, dưới thì rồng leo” Con rồng dưới bàn taychạm trổ của anh đã được cách điệu đậm đà màu sắc nghệ thuật dân gian, và trong một chừng

Trang 8

mực nào đó, nó gợi ra một khát vọng sống trong sinh sôi nảy nở, trong hạnh phúc tròn đầy, tươivui.

“Bốn cửa anh chạm bốn dê,

Bốn con dê đực chầu về tổ tông”

Dân gian quan niệm con quạ và con dê là hai loài vật tình nghĩa nhất Đã từng có lời catruyền tụng:

“Quạ còn mớm mồi lại,

Dê còn giữ lễ quỳ,

Khuyên ai đạo làm con,

Đọc sách nên có hiểu”

Bức chạm “Bốn con dê đực chầu về tổ tông”, biểu lộ một cách kín đáo về một tấm lòng ânnghĩa thuỷ chung, thoáng hiện chất hóm hỉnh, tinh nghịch, phong tình Sau lời giới thiệu chạmbốn con dê đực là một tiếng cười khẽ đưa duyên…

Anh khoe tài, không chỉ biết chạm dê, chạm rồng mà còn biết chạm những con vật gần gũivới đời sống dân dã, gắn bó với mọi người nơi đồng nội, trong vườn tược của mỗi gia đình chốnquê”

Bốn cửa anh chạm bốn hoa,

Trên là hoa sói, dưới là hoa sen

Bốn cửa anh chạm bốn đèn,

Một đèn dệt cửi, một đèn quay tơ

Mèo bắt chuột, gà gáy… con vật nào cũng đáng yêu, có ích, sống động, biểu tượng chođức tính chăm chỉ, cần mẫn, hay lam hay làm Bức chạm lươn thật kì lạ! Con lươn có gì màđáng chạm? Là người đồng hương của Trạng Quỳnh nên anh mới chạm lươn chăng? “Thân lươnbao quản lấm đầu” ấy đã được chàng thợ mộc Thanh Hoa chạm trổ rất bay bướm và có thần” Bốn cửa anh chạm bốn lươn,

Con thì thắt khúc, con trườn bò ra

“Thắt khúc” và “trườn bò ra” là hai nét chạm cực khéo, làm cho con vật đơn sơ, bình dịđược nghệ thuật “thổi hồn vào” Có thể nói, 5 bức chạm dê, chạm rông, chạm mèo, chạm gà,chạm lươn, bức nào cũng sống động, khéo léo, tài ba Qua những bức chạm ấy, anh thợ mộcThnh Hoa kín đáo thổ lộ với người bạn tình một nỗi ước mong về cuộc đời có âm dương, có đôilứa, có no đủ sung túc, có hoà hợp yên vui, được sống hạnh phúc trong một mái ấm gia đình dotài năng anh tự vui đắp nên

Nói ca rồi anh nói gần, anh đã làm cho thiếu nữ “Lặng nghe lời nói như ru…” Chàng thợmộc giới thiệu bức chạm hoa”

“Bốn cửa anh chạm bốn hoa,

Trên là hoa sói, dưới là hoa sen”

Có hoa thì hương thơm ngào ngạt như hoa sói Có hoa thì rực rỡ “Nhị vàng, bông trắng, láxanh - Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” như hoa sen Bức chạm này cũng gởi gắm bao nếttài hoa, thơ mộng, bởi lẽ “Lòng đời chắc nặng lắm – Hoa sói hoài không thôi” (Hoa về - HuyCận)

Sau bức chạm hoa là bức chạm đèn Mỗi cây đèn soi tỏ một nét tâm tình dưới tổ ấm giađình hạnh phúc “Một đèn dệt cửi, một đèn quay tơ” hướng về cô nàng khéo tay hay làm Cây

Trang 9

đèn thứ ba: “Một đèn đọc sách ngâm thơ” chiếu sáng một tâm hồn thanh cao nho nhã Cây đènthứ tư là “cây đèn thần”, cây đèn ước hẹn chờ mong “đèn thương nhớ ai – mà đèn không tắt”,…Lời tỏ tình thật hồn nhiên, chân tình, duyên dáng”

“Một đèn anh để đợi chờ nàng đây”

Đó là một tiếng nói yêu thương, nồng nàn, dịu ngọt, một tiếng nói có mùi thơm của hươnghoa, có ánh sáng của lửa đèn và chứa chan hy vọng về ngày mai hạnh phúc

Tóm lại, bài ca dao “Bài ca chàng thợ mộc” là một trong những bài ca dao tỏ tình haynhất, ý vị nhất Tất cả 20 câu lục bát là lời độc thoại của chàng thợ mộc về quê quán, nghiệpnghề, về tài hoa… Anh thợ mộc Thanh Hoa khoe tài để tỏ tình Con người tài hoa, đa tình ấymới đáng yêu làm sao!

Cấu trúc vần thơ, câu thơ cân xứng kết hợp với các biện pháp điệp ngữ, liệt kê làm cho lời

tỏ tình trở nên duyên dáng, hồn nhiên, dung dị như tấm lòng hồn hậu, chan chứa yêu thương vàkhát khao hạnh phúc lứa đôi của chàng thợ mộc Thanh Hoa Câu ca nào cũng ngọt ngào đằmthắm để thương để nhớ trong lòng người bao lâu nay một vẻ đẹp tình tứ, duyên dáng cân xứng,hài hoà Cuộc sống vốn thế, tình yêu vốn thế”

“Trên thì rồng ấp // dưới thì rồng leo”

“Con thì bắt chuột // con leo xà nhà”

“Đêm thì nó gáy // ngày ra ăn vườn”

“Con thì thắt khúc // con trườn bò ra”

“Trên là hoa sói // dưới là hoa sen”

“Một đèn dệt cửi // một đèn quay tơ”

“Bài ca chàng thợ mộc” còn là một bài hát ngành nghề đậm đà ý vị mang tình quê hương.Con người có bàn tay vàng ấy đã đem tài nghệ, tài hoa làm đẹp cuộc đời, xây đắp hạnh

phúc cuộc đời trong tình yêu và hy vọng:

“Một đèn anh để đợi chờ nàng đây”

Có thực tài và dám đàng hoàng đem tài hoa ra để tỏ tình, để giao duyên như chàng thợ mộc Thanh Hoa mới đáng yêu chứ

Vượt biển

Tóm tắt

"Vượt biển" là một truyện thơ dân gian Tày, Nùng, dài chừng 1.000 câu thơ Tiếng Tày, Nùnggọi là "Khảm hải" Truyện được lưu truyền rộng rãi ở vùng xung quanh hồ ba bể, tỉnh Bắc Cạn Các thầy cúng xưa nay vẫn đọc "Vượt biển" trong những buổi lễ cầu hôn, cầu mát nghe rất não nùng, ai oán Có thể tóm tắt truyện thơ "Vượt biển" như sau:

Có hai anh em nhà kia mồ côi, lúc nhỏ rất yêu thương nhau Sau khi người anh lấy vợ, rồi giàu có Người anh trở nên nhạt nhẽo và bỏ mặc em sống nghèo đói lam lũ, rách rưới Chị dâu thương tình vá áo cho đứa em chồng Lưng áo rách của em đã in những ngón tay chàm của chị dâu người anh đi làm về nhìn thấy vết tay chàm trên lưng áo em, ghen tức

"Chém đầu em treo ngọn cọ,

Chặt chân em treo ở ngọn vông".

Trang 10

Em chết đau đớn, oan khuất Linh hồn không nơi lưng tựa, bơ vơ Rồi bị các quan slay ở âm phủ bắt làm sa dạ sa đồng - phu chèo thuyền trên biển ma Mỗi lần vượt biển là phải trải qua mộthải trình dài 12 rán nước, đay thuỷ quái, mặt biển réo sôi Các sa dạ sa đồng lúc thì cất tiếng thanhãi hùng, lúc thì hối hả gọi nhau chèo gấp Lúc các slay lên bờ kéo vào chợ Đường Chu (chợ xứ

ma của Diêm Vương), sa dạ ngồi trên bờ biển than khóc, khiếp sợ nghĩ đến cảnh phải vượt biển trở lại tiếp theo

Phân tích đoạn thơ "Chèo thuyền vượt biển"

Ở dương gian, người em trải qua nhiều cái khổ: mồ côi, cô đơn, đói rách, bị anh giết chết một cách dã man và oan uổng Xuống địa ngục lại trở thành sa dạ sa đồng, phải trèo thuyền vượt qua biển dữ, biển ma Hải trình là 12 rán nước, mỗi rán nước là một cửa tử, rùng rợn vô cùng Phép liệt kê tăng cấp cùng với tiếng than khóc, tiếng biển sôi, biển réo tạo nên cảnh chết vô cùng hãi hùng! Rán thứ chín "mặt biển nước sôi gầm réo", rán thứ mười "nước trời băng băng, làm cho con thuyền "cánh dầm tung bốn góc" Rán thứ mười một "sóng đuổi sóng xô đi", v.v… Thuỷ quái, nhất là con "ngọ lồm" - quỷ biển ma - đón đường cắn xé sa dạ sa đồng Phu chèo thuyền kinh hãi, cất tiếng khóc than:

"Biển ơi, đừng giết tôi

Nước hỡi, đừng lôi lấy thuyền".

Họ gọi nhau "chèo mau lên, chèo cố" giữa biển ma mịt mù và cái chết nơi cõi âm bủa vây

Các slay - quan quân lên bờ, có người "ôm hoa", "ôm hương", có người "cầm nón", "cầm ô",

"xách giầy hoa giầy đẹp", gánh gồng bao của quý "đi lễ người" Còn các sa dạ sa đồng, hồn ma của người em bất hạnh ngồi trên bờ biển càng cảm thấy cô đơn, nghĩ đường về nhà kinh hãi:

"Chèo thuyền qua lò than, qua biển

Nhìn đường về, nước cuộn ầm rung"

Hết rán nước này qua rán nước khác, chèo thuyền đi rồi lại chèo thuyền về trên biển ma - kết cấu chuyển dịch nhằm diễn tả những kiếp người luân hồi đau khổ "Vượt biển" qua giọng đọc vàkhấn cầu của thầy cúng, ai đã một lần được nghe mới súc động trước âm điệu thê thiết não nùng,mới cảm thấy cái khủng khiếp của bể trầm luân và thương sót với những kiếp người đau khổ, bất hạnh Truyện thơ "Vượt biển" là tiếng kêu đau thương từ cõi âm vọng về cõi dương Đó là nội dung nhân đạo của nó

Tiễn dặn người yêu

Tóm tắt

"Tiễn dặn người yêu" là một truyện thơ dài 1846 câu của người Thái ở Tây Bắc nước ta Truyện kể về một mối tình chung thuỷ của lứa đôi, trải qua nhiều trắc trở đắng cay, cuối cùng cũng đoàn tụ Cốt truyện như sau:

Chàng trai nhà nghèo yêu một cô gái Hai người có bao kỷ niệm đẹp êm đềm và từng gắn bó thề nguyền:"Sông Đà cạn bằng chiếc đũa hãy quên" Anh nhờ người mối lái, lo lễ vật đến xin ở

rể, nhưng bố mẹ cô gái chê anh nghèo, không nhận lời Cô bị bố mẹ ép gả cho một người con

Trang 11

trai giàu có Cô kêu van chú thím anh chị em trong nhà, kêu van đến cả chim cu, nhưng ai cũng không giúp được, "dẫu van xin bố mẹ cũng không buông, không tha".

Người con trai nhà giàu đến ở rể Người yêu của cô đau khổ, phẫn chí bỏ nhà đi buôn, hy vọng trở nên giàu có, sẽ trở về giành lại người yêu

Trước lúc ra đi, cô trao lại người yêu chiếc đàn môi hẹn ngày tái ngộ Cô mòn mỏi chờ trông

mà người yêu đi mãi vẫn chưa về Năm tháng đã trôi qua, người con trai nhà giàu đã hết hạn "ở

rể ngoài" và được làm "rể trong" Hết hạn ở rể, cô phải về nhà chồng Cùng lúc ấy, người yêu trở

về, anh tiễn chị đi Đôi bạn tình bịn rịn, không muốn rời nhau Anh tiễn người tình trước lúc chiatay: " Không lấy được nhau thời trẻ" thì hãy lấy nhau "khi goá bụa về già"

Mấy năm sau, chị bị nhà chồng đuổi về nhà cha mẹ đẻ vì theo họ, chị không thể nào trở thành

"vợ hiền, dâu thảo" Rồi cha mẹ chị bán chị cho một nhà quan Chị đau khổ như điên như dại Gia đình nhà quan đưa chị ra chợ bán với giá bán một cuộn dong Người mua chị lại chính là người yêu cũ, nay đã trở nên giàu có và đã có vợ Chị đã quá thay đổi, anh chẳng nhận ra chị được nữa Chị đem đàn môi ra gảy Anh chợt nhận ra chị qua tiếng đàn môi não nùng Anh thu xếp cho người vợ trước trở về nhà cha mẹ mình rồi cưới chị làm vợ như lời nguyền ngày trước

Thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa

1 Đoạn thơ ghi lại tâm trạng hoảng hốt, đau khổ của cô gái Thái khi bị cha mẹ ép duyên.

- Đó là một buổi chiều, cô đang kiếm củi trên nương Cô vừa hái củi vừa nghĩ đến người yêu:

" một bó dành nhen lửa sàn hoa - Lứa sàn hoa để bạn trai xa hơ áo - Em chỉ đón chờ mồi thuốc anh yêu" Cô mơ ước "Hỡi vía anh yêu, về nhà theo nhau" Mặt trời được nhân hoá như đang đối thoại với cô gái, mặt trời "qua sàn người thương", lúc "sắp lặn", lúc "khuất mây mờ", mặt trời "không gọi không chờ", - chẳng khác nào chàng trai - người yêu của cô.

Gánh củi về nhà, cô ngạc nhiên nhìn thấy gói cà, gói xôi, gói thuốc lào Lúc đầu cô tưởng là hàng hoá của người Xá mang tới đổi bán Khi biết là sính lễ "ràng cuốn tình con", cô luống cuống hoảng sợ, đau khổ "lập cập chạy ra sân" "nát ruột gan" nghĩ về người yêu Kêu van bác trai, bác gái, chú thím, chị em dâu rể, ai cũng bảo: "Không giúp nổi cháu ơi", "không giúp được

em ơi!" Nghe chim cu khuyên giải: "Bố gả chồng cho, đừng chối cô à!".

Như một định mệnh "dầu van xin cha cũng không buông không thả", cô gái tủi thân, tủi phận, than khóc:

"Ngẫm thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa.

Bằng con chẫu chuộc thôi!"

2 Ý nghĩa, giá trị

- Đoạn thơ phản ánh tục lệ ép duyên, lên án lễ giáo phong kiến về hôn nhân đã chà đạp lên tình yêu hạnh phúc của người phụ nữ (Thái)

Trang 12

- Đoạn thơ có giá trị nhân đạo, thể hiện sự đồng cảm đối với nỗi đau khổ của người con gái

Hai anh em đến xin học ông đạo sĩ họ Lưu Thấy hai anh em chăm chỉ học hành, lại đứng đắn nên thầy quý như con Ông đạo sĩ có một cô con gái xinh đẹp tươi giòn, tuổi đã 16, 17 sinh lòng yêu mến hai chàng trai, muốn kết duyên với người anh như không thể phân biệt được người nào

là anh, người nào là em Sau đó, cô mới nghĩ ra một kế: dọn 2 bát cháo mà chỉ đặt một đôi đũa rồi mời hai anh em cung ăn Người em lễ phép nhường đôi đũa cho người anh ăn trước Cô gái xinh đẹp xin phép cha mẹ cho được lấy người anh làm chồng

Từ ngày lấy vợ, người anh hình như dồn tất cả tình yêu cho vợ nên tình cảm anh em không còn được thắm thiết như trước nữa Người em buồn tủi vô cùng Một lần đi nương về, trời đã tối, cô gái họ Lưu từ buồng ra gặp người em tưởng là chồng, vội ôm chầm lấy Người em vội kêu lên, cả hai đều xấu hổ Còn người anh thì lại nghi ngờ chị dâu và em chồng có tình ý gì nên càng hững hờ với em hơn trước

Một buổi chiều, ở nhà một mình, trống vắng, buồn tủi, cô đơn, người em đã bỏ nhà ra đi, đi mãi vào tận khu rừng âm u Trời tối mịt, người em vẫn đi Trăng đã lên Phía trước là một con suối rộng, sâu, nước xanh biếc, chẳng lội qua được Chàng ngồi bên bờ suối mà khóc, khóc mãi Sương khuya lạnh thấm vào cõi lòng cô đơn Chàng chết mà vẫn trơ trơ, biến thành một tảng đá

Thấy em bỏ nhà ra đi mãi chưa về, người anh đi tìm em Lại ngồi trước con suối, người anh rầu

rĩ than khóc, ngất đi rồi chết cứng, hoá thành một cây không cành mọc thẳng đứng bên tảng đá Người vợ lại bỏ ra đi tìm chồng, tìm em Lạ thay người lại đi theo con đường vào rừng xanh, cũng đến bờ suối, ngồi cạnh tảng đá, dưới gốc cây Nàng vô cùng đau khổ khóc than, mình gầy xác ve, chết tự lúc nào, biến thành một cây leo quấn chặt lấy cái cây không cành mọc bên tảng đá

Trong vùng, ai cũng thương tâm Một lần vua Hùng đi qua con suối ấy, nhân dân đem truyện

ba người kia kể lại cho vua nghe Vua bảo thử lấy quả ở cây không cành nghiền với lá cây leo thì một mùi thơm toả ra; nhai thử thấy thơm ngon đậm đà và nhổ vào tảng đá, lạ chưa bãi nước biến thành sắc đỏ Nhân dân đặt tên cây không cành ấy là cây cau, cây dây leo là cây trầu, lại lấytảng đá nung lên cho xốp để ăn với trầu, cau cho thơm miệng, đỏ môi

Tục ăn trầu của dân ta có từ đấy Trầu cau không thể thiếu trong lễ hội, trong cưới xin Mỗi lần khách đến chơi nhà "miếng trầu là đầu câu chuyện" làm cho tình nghĩa thêm đẹp và đằm thắm, đậm đà

Phân tích

Trang 13

1 Ý nghía

Truyện "Trầu cau" là một trong những truyện cổ tích thần kì sớm nhất ở Việt Nam Truyện đãgiải thích một cách nên thơ, cảm động, với bao tình tiết đậm đà chất trữ tình tục ăn trầu- một mĩtục dân gian, biểu hiện một nét đẹp truyền thống lâu đời giàu bản sắc của nền văn hoá Việt Nam.Đồng thời truyện còn ca ngợi tình nghĩa thắm thiết, thuỷ chung của anh em, vợ chồng trong gia đình

Cái chết của ba người-hai anh em họ Cao và cô gái họ Lưu- chỉ là một sự hoá thân kì diệu:cau

- trầu - vôi Cây cau toả bóng chở che cho hòn đá, cây trầu quấn chặt lấy thân cau Cũng như trầu với cau ăn với tí vôi làm cho miệng thơm môi đỏ Trầu cau đã gắn bó với lễ hội cổ truyền, trong thù tiếp của cộng đồng người Việt xa xưa

2 Lời bình

Dị bản thành văn của truyện "Trầu cau" xuất hiện ở thế kỷ 15 trong "Lĩnh Lam chích quái" (Truyện Cây Trầu) Nhưng như thế là rất muộn so với nội dung xã hội được phản ánh trong truyện Mằc dù các tác giả "Lĩnh Lam chích quái" có cố gắng tô điểm lại thêm đôi nét cho thích hợp với quan điểm đạo đức thời phong kiến, dị bản này vẫn bảo lưu được cái cốt lõi rất cổ của truyện kể Đó là một kiểu truyện kể về sự xung đột của hai quan điểm vì hình thái hôn nhân: mộtthuộc chế độ quần hôn (anh em lấy chung một vợ) thời mẫu hệ và một thuộc chế độ hôn nhân vàgia đình lứa đôi thời phụ hệ

Sự xung đột đó phản ánh một bước tiến xã hội và thể hiện thành tâm trong đau khổ giằng xé giữa tình anh em và tình yêu trai gái ở trong từng nhân vật của truyện Tâm trạng ấy đưa đến cái chết sầu muộn của cả ba người thật là cảm động Kiểu truyện này phổ biến khắp vùng Đông Nam Á

Nhưng cũng như ở nhiều nơi khác, truyện cổ tích thần kì Việt Nam đã lồng đề tài xã hội vào

đề tài thiên nhiên, đã kết thúc bằng đồng nhất các quan hệ tình cảm kia với sự hài hoà của thiên nhiên (trầu, cau, vôi) gợi nên niềm thương cảm gắn bó giữa những con người chân thành với nhau, cũng là một nội dung văn hoá lành mạnh của tục ăn trầu ở Việt Nam hàng ngàn năm qua

Chử Đồng Tử

Tóm tắt

Ngày xưa ở nàng Chử Xá có hai cha con Chử Cù Vân và Chử Đồng Tử, nghèo khổ, mò cua bắt ốc, chỉ có một chiếc khố chung nhau, hễ ai đi đâu thì đóng: Chử Cù Vân ốm sắp chết dặn con cứ táng trần cho cha Nhưng khi Chử Cù Vân qua đời thì Chử Đồng Tử đã lấy khố đóng chocha rồi mới chôn cất Ngày ngày Chử Đồng Tử vẫn xuống sông mò cua bắt cá kiếm sống Thuở

ấy có nàng Tiên Dung, công chúa của vua Hùng thứ ba, nhan sắc tuyệt trần, đã 17, 18 tuổi mà không chịu lấy chồng, chỉ thích chèo thuyền đi xem sông núi Một hôm, thuyền của nàng đến khúc sông làng Chử Xá, thấy cảnh sông nước bờ bãi xinh đẹp, nàng bèn ra lệnh cho thị nữ vây màn tứ vi vào một nơi có bóng mát để tắm Không ngờ nơi đó Chử Đồng Tử đang náu mình dưới cát Tiên Dung giội nước một lúc, nàng giật mình thấy một chàng trai trồi lên Nàng hỏi

Trang 14

duyên cớ thì Chử Đồng Tử nói vì không có quần áo, thấy thuyền quan quân thì sợ nên phải vùi mình xuống cát để ẩn.

Tiên Dung nói với Chử Đồng Tử : "Tôi đã nguyện không lấy chồng, nay duyên trời run rủi, lại gặp chàng chốn này mới biết cưỡng không được với trời" Nàng sai thị nữ đem áo quần cho Chử Đồng Tử và sửa soạn tiệc hoa "Chử Đồng Tử bối rối chối từ, Tiên Dung nói: "Thiếp với chàng là tự trời xe duyên, việc gì mà từ chối!" Hai người nên vợ nên chồng từ đấy

Vua Hùng được tin giận lắm, ra lệnh cho quân quan, người hầu của Tiên Dung phải về kinh

đô Nàng sợ cha, đành cùng chồng ở lại làm ăn Mấy năm sau, cuộc sống trở nên thịnh vượng Nàng để chồng ra biển tìm vật lạ đem về đổi lấy các thứ khác Chử Đồng Tử lên đường Đến một nơi núi non hữu tình, thấy cái am nhỏ, chàng leo lên núi, may thay gặp sư Phật Quang Thấy

Chử Đồng Tử là người chân thật, sư Phật Quang truyền cho phép lạ, hơn một năm sau thành tài

Chử Đồng Tử xuống núi trở về nhà, lạy tạ nhà sư và được Phật Quang ban cho một cái gậy, một nón có phép mầu nhiệm biến hoá Chử Đồng Tử đem phép mầu truyền lại cho Tiên Dung rồi hai

vợ chồng du ngoạn cảnh sông núi Có lần trời tối giữa đường, hai vợ chồng cắm cái gậy xuống đất, úp nón lên đầu gậy, hai người tựa vào nhau dưới nón mà ngủ Nửa đêm tỉnh giấc, hai vợ chồng thấy mình đang sống trong một cung điện tráng lệ Tin lạ ấy bay đến tai vua Hùng Vua

cả giận, ngỡ là Chử Đồng Tử và Tiên Dung làm phản bèn sai quân quan đi đánh dẹp Binh mã triều đình chưa qua sông thì trời tối phải dừng lại Đêm ấy, Tiên Dung và Chử Đồng Tử cùng bay lên trời Mưa to, gió lớn, cung điện cũng biến mất Về sau, bãi ấy gọi là bãi Tự Nhiên, đầm

ấy gọi là đầm Nhất Dạ Nghe nói, thời nước ta bị tàu đô hộ, Chử Đồng Tử đã cưỡi rồng xuống giúp Triệu Việt Vương một cái vuốt rồng cắm lên mũ đầu mâu Nhờ thế mà quân ta phản công,chém được tường giặc Lương là Dương Sằn, khôi phục lại đất nước

Ý nghĩa

- Chử Đồng Tử " là một truyện cổ tích thần kì, có nhiều dị bản đậm sắc thần kỳ"

Nó cũng thuộc đề tài về những kẻ hèn mọn "lấy tiên, lấy công chúa được kể qua nhiều truyện cổ tích thần kì Truyện "Chử Đồng Tử" cũng vậy Chử Đồng Tử mò cua, bắt cá, nghèo khổ, một cái khố cũng không có, nhưng rất hiếu thảo, chân thật Hạnh phúc cầm tay rồi mà chàng vẫn bối rối, muốn chối từ Với Tiên Dung thì nàng "gặp" và lấy Chử Đồng Tử là do

"duyên trời run rủi", là " tự trời xe duyên" Qua đó, ta thấy truyện Chử Đồng Tử nói lên quan niệm của nhân dân ta về vấn đề hôn nhân là do duyên số, đồng thời thể hiện ước mơ tự do và dân chủ trong tình yêu, trong xây dựng hạnh phúc lứa đôi Tiên Dung đã chủ động kết duyên với

Chử Đồng Tử vượt qua lễ giáo và đẳng cấp, vượt qua mọi thử thách để bảo vệ hạnh phúc

Tình tiết Chử Đồng Tử cưỡi rồng xuống hạ thế giúp Triệu Việt Vương chiếc vuốt rồng linh nghiệm để quân ta chém được tướng giặc là Dương Sằn, Tổ quốc được giải phóng, đã làm chotruyện cổ tích này thêm vị truyền thuyết thể hiện sâu sắc lòng yêu nước của nhân dân ta Con người Việt Nam dù đi đâu làm đâu cũng nhớ về cội nguồn, tìm mọi cách để giúp nước Chử Đồng Tử và Tiên Dung đã sống và hành động như vậy

Nhà sư Phật quang, cái nón và chiếc gậy nhiệm màu, cung điện tự mọc lên, tự mất đi, Chử Đồng Tử và Tiên Dung bay lên trời, Chử Đồng Tử giúp Triệu Quang Phục cái vuốt rồng đó là

Trang 15

yếu tố hoang đường, kì diệu làm cho truyện cổ tích này vô cùng hấp dẫn Các địa danh: làng Chử Xá, bãi Tự Nhiên, đầm Nhất Dạ nay vẫn còn đó, làm cho truyện cổ tích "Chử Đồng Tử" tuy mang màu sắc hư ảo, thần kì mà như thật, có thật Rất thú vị về những tên người, tên đất ấy.

Thời thơ ấu nghèo khổ của chàng mồ côi làng Chử Xá:

Chặng đường này gồm các chi tiết sau:

- Hai cha con Chử Đồng Tử nghèo đến phải chung nhau chiếc khố ,hễ ai đi đâu thì đóng (1)

- Cha chết vì thương cha nên Chư Đồng Tử đóng khố cho cha rồi mới chôn.Mình chịu cảnh trần truồng (2)

- Chử Đồng Tử sống mồ côi,dầm mình trong nước, đánh cá đổi gạo để sống qua ngày (3)

Hai chi tiết (1) và (3) xác định bản chất của nhân vật : đây là người lao động ,nghèo khổ ,sớm chiụ cảnh mồ côi Người mồ côi là kiểu loại nhân vật phổ biến nhất của thể loại truyên cổ tích.Nằm trong kiểu loại chung ấy ,nét riêng về hoàn cảnh suốt thân và cảnh ngộ sống của nhân vật Chử Đồng Tử là mức độ tột cùng của sự nghèo khổ Không phải không có cơ sở khi có ý kiến cho rằng hạt nhân ban đầu của chuyện này là một thần thoại về người anh hùng văn hoá nhằm giải thích nguồn gốc hình thế của đất nước Việt.Tuy nhiên ,nói chung thần thoại không quan tâm đến y phục của nhân vật.Chi tiết về sự thiếu thốn quá mức tối thiểu của nhân vật được sáng tạo theo yêu cầu của thể loại truyện cổ tích đã nói lên tình trạng sống khốn khổ của người lao động thời phong kiến.Hơn nữa,từ cách kể của truyện,hiện tượng ấy có nguyên nhân xã hội-giai cấp của nó : rồi đây,khi nghe đến cảnh công chúa dạo chơi trên sông , đám đông thuyền theohầu hạ “làm rợp cả mặt nước”, đến thái độ dận dữ của nhà vua biểu hiện sự kỳ thị đẳng cấp đến nghiệt ngã (1) người nghe kể truyện hẳn sẽ hiểu rằng sự khốn khó của tầng lớp kia là do sự đầy

đủ đến dư thừa của tầng lớp này gây ra

Đáng chú ý hơn là chi tiết (2) xác định đặc điểm nổi trội nhất của nhân vật về phương diện đạo đức :lòng hiếu thảo biểu lộ trong một hoàn cảnh ít nhiều mang tính chất của khách quan Khái niệm “hiếu đễ” có thể định danh rất muộn nhờ vay mượn một ngoại lai mang đậm màu sắcnho giáo có phần lý tính khô khan.Nhưng lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ đã là truyền

Trang 16

thống vốn có từ lâu của người Việt Tình cảm thiêng liêng và tư nhiên ấy ,cách cư xử cần phải

có nơi những đứa con biết yêu thương cha mẹ đã thành đề tài ,nội dung của bao câu ca dao ,baoi câu tục ngữ Tuy nhiên,cùng thể hiện truyền thống ấy của dân tộc ,truyện Chử Đồng Tử vẫn có cách thể hiện của riêng mình hết sức đặc sắc Cả hai nhân vật đều làm trái ý cha ,thế thì cô công chúa thì bị cha giận cho là bất hiếu ,còn chàng đánh cá được nhân dân coi là tấm gương hiếu thảo Dân gian lại “đem” cô công chúa “bất hiếu” kia “làm phần thưởng” chàng trai hiếu thảo này Đó là cách nhân gian đối lập hai quan niệm đạo đức của hai giai cấp ,đối lập thứ đạo lý nhogiáo ngoại lai với thứ đạo lý dân gian –dân tộc-bản địa Bằng cách đó,truyện phê phán đạo lý cứng nhắc theo khuôn phép của giai cấp thống trị và đề cao thứ đạo lý-tình cảm tự nhiên đầy tính nhân bản cuả người Việt Nam đang tủm tỉm nụ cười hóm hỉnh ,hồn hậu Và truyện Chử Đồng Tử trước hết là truyện cổ tích về chàng đánh cá do hiếu thảo mà sau được hưởng hạnh phúc

Cuộc gặp gỡ giữa Chử Đồng Tử với công chúa Tiên Dung:

Nội dung chặng này kể hai sự việc sau:

- Giới thiệu nhân vật Tiên Dung

- Thái độ và hành động của Tiên Dung trong cuộc gạp gỡ bất ngờ của chàng trai lạ

Riêng ở chặng này ,nhân vật Tiên Dung đóng vai trò chính ,quả quyết và chủ động ngay trong những tình thế bất ngờ và bất thường nhất.Trong kho tàng truyện cổ tích các dân tộc trên thế giới phổ biến kiểu chuyện kể về “chàng trai (hoặc cô gái) nghèo,nhờ tài năng và đức hạnh vềsau lấy được công chúa (hoặc hoàng tử ,vua) và được hưởng hạnh phúc” Có thể xếp Chử Đồng

Tử vào kiểu chuyện này Tuy vậy ,so với những truyện cùng hệ thống đề tài ,Chử Đồng Tử vẫn

có nét riêng Có thể kể ra một số chi tiết thấy ở đây mà không thấy lặp lại ở bất cứ chuyện nào khác : đó là cái ý “nguyện không lấy chồng”,chỉ thích sống tự do của công chúa (nét tính cách này ít nhiều mang màu sắc cá tính Đây là điểm “rất lạ” trong thế giới nhân vật cổ tích),là thái

độ ban đầu sợ hãi từ chối của chàng ngư phủ không mảnh khố che thân trước ngôi vị phò mã chẳng cầu mà đến bất ngờ Nhưng có lẽ điều chỉ xẩy ra duy nhất ở chuyện cổ tích này là cái tình thế thật không bình thường diễn ra cuộc kỳ ngộ của đôi trai gái Ở đây có tình yêu xuất phát từ đạo lý ,từ sự kính trọng một tấm gương về chữ hiếu Ở đây còn có tình yêu nảy nở tự nhiên trước vẻ đẹp hình hài và tâm hồn giữa một người con gái và một người con trai Đó là tính nhân bản sâu sắc của truyện.Những chi tiết không hề lặp lại trong thể loại truyện cổ tích nói chung,chỉthấy có ở truyện Chử Đồng Tử đó cho phép ta nghĩ đến nguồn gốc truyền thuyết của truyện cổ tích này.Nếu như bảo Tiên Dung có bản lĩnh,thái độ mạnh dạn,chủ động trong tình yêu và hôn nhân,trong giải quyết quan hệ tình với hiếu thì điều ấy vẫn không hề mâu thuẫn với nhận thức rằng đây là nhân vật tuy có nguồn gốc truyền thuyết nay đã cổ tích hoá để thực hiện chức năng thể loại mới : làm “phần thưởng” cho chàng trai lao động và hiếu thảo ở làng Chử Xá.Và,như thế,ta bỗng nhận ra sâu sắc hơn những nét đẹp đẽ, đáng quý của mối kỳ duyên Chử Đồng Tử- Tiên Dung : đây là cuộc gặp gữ ngẫu nhiên mà tất yếu giữa những con người đều không hề bận tâm đến những ràng buộc khắt khe của lề thói xã hội,của thứ luân lý đang thống trị thời đại.Một tình yêu nảy nở hồn nhiên giữa đất trời,sông nước phóng khoáng chỉ có thể là tình yêu nơi những tâm hồn khỏe khoắn yêu đời,ham sống

Trang 17

Chử Đồng Tử và Tiên Dung cùng nhân dân lao động ,biến một vùng sông nứơc hoang vu thành nơi xóm làng đông đúc.Hai người học được phép tiên rồi bay về trời.

Chặng này kể tiếp về những gì xảy ra với hai nhân vật kể từ sau hôn nhân.Có ba sự kiện tạo thành ba chi tiết chủ yếu sau:

- Hai người không hề về triều đình ở lại cùng nhân dân “ làm ăn ngày một thịnh vượng,dần dần thành một xóm “

- Hai người học được phép tiên ,vứt bỏ toàn bộ tài sản đi tìm nơi thanh vắng để ở

- Hai người nửa đêm bay về trời,nền thành cũ của họ còn để lại hoá thành bãi Tự nhiên và đầmNhất Dạ

Chi tiết (1) xây dựng Chử Đồng Tử từ một chàng trai làm nghề đánh bắt cá ( ngư nghiệp ) trởthành một người có công bảo ban giúp dân làm ăn sản xuất,cải tạo vùng đất bãi ven sông tahnhf những xóm làng đông vui,thịnh vượng ( nông nghiệp ).Về mặt địa lý,”dải đất rìa châu thổ sông Hồng cho đến thế kỷ XVII-XVIII trong thực tế vẫn còn là những bãi lầy ,thưa thớt một số làng xóm định cư trên những gò đất cao,hoặc là những đất nền được đắp lên “.Như vậy là bằng hình tượng nghệ thuật truyện Chử Đồng Tử phản ánh công cuộc lao động vật lộn gian khổ với thiên nhiên của nhiều thế hệ người Việt để chinh phục,cải tạo vùng đầm lầy mênh mông,trải dài suốt vùng rìa châu thổ sông Hồng từ cửa sông (đổ ra biển ) chạy lên vùng Hà Nội ngày nay.Những thành tựu lớn lao của nhiều thế hệ ấy được truyện dân gian kết tinh vào hình tượng nhân vật ChửĐồng Tử cùng vợ là công chúa Tiên Dung.Từ một chàng trai sống bằng nghề đánh bắt cá ven sông (chặng 1) Chử Đồng Tử trở thành một vị thủ lĩnh đã điều khiển nhân dân lao động,cải tạo một vùng lầy thụt ven sông thành nơi xóm làng định cư sung túc ( chặng 3 ) là một sự phát triển hợp lý của hình tượng nhân vật văn học dân gian.Người cầm đầu một cong cuộc lớn lao như thế phải là người suốt đời gắn bó với môi trường,với đối tượng của lao động( tức vùng đầm lầy ),amhiểu nó,và nhất là phải có uy tín đối với dân chúng.Chử Đồng Tử là nhân vật hội đủ các yêu cầu ấy.Từ đời cha ông,mặc dù gian nan thiếu thốn,nhà họ Chử vẫn sống gắn bó với miền đất này : Thuở nhỏ Chử Đồng Tử sống bằng nghề đánh bắt cá nên hiểu rõ từng khúc sông,bãi lầy,chàng làngười con có hiều với cha nên chắc chắn được nhân dân yêu mến,kính trọng,vợ chàng là một công chúa và dù thế nào đi nữa chàng vẫn là một vị phò mã - điều này toạ nên uy tín xã hội cho chàng.Có thể diễn đạt nội dung cơ bản của truyện theo một cách khác : Truyện kể về cuộc đời một vị anh hùng văn hóa- anh hùng chinh phục đầm lầy và chúng ta cảm nhận được rằng truyện Chử Đồng Tử hình thành như kết quả của cả quá trình giao thoa,chuyển hoá lâu dài giữa thần thoại với truyện cổ tích ( có trải qua giai đoạn là truyền thuyết lịch sử ) Ở dạng phát triển hoàn chỉnh ( dạng cổ tích ) , hình tượng Chử Đồng Tử - Tiên Dung quả có phần như có tài liệu đã nói,phản ánh ước mơ của nhân dân thời phong kiến muốn có những vị chủ làng tài năng đức độ Dấu vết thần thoại còn sót lại ở truyện cổ tích này sẽ còn lộ ra lần nữa ở chi tiết (3) : giải thích

sự tạo thành đầm Nhất Dạ và bãi Tự Nhiên như là kết quả của một phép kỳ diệu có pha chút ảnhhưởng của Đạo giáo là điều dễ hiểu,bởi lẽ văn hoá phương Bắc,trong đó có tôn giáo,sớm thâm nhập nước ta ngay từ thời Bắc thuộc.Có điều người bình dân Việt Nam tiếp thu ảnh hưởng cảu Đạo giáo mà ít quan tâm đến khía cạnh lý thuyết triết học của nó như tầng lớp trí thức và tầng

Trang 18

lớp quý tộc.Họ bắt gặp ở Đạo giáo cái phần khuyến khích con người sống một cách tích

cực,phấn đấu cho hạnh phúc ở ngay kiếp này.Cái phần mà người bình dân muốn hướng đến ấy cũng là để chống lại những ràng buộc khắt khe của Nho giáo.Những con người ưa sống phóng khoáng,tự do,khắt khao hạnh phúc,tình yêu,biết tận hưởng lạc thú lành mạnh của cuộc đời như Chử Đồng Tử,Tiên Dung sẽ tìm được suy tôn là “ Chử Đạo tổ “ (ông tổ của Đạo giáo Việt Nam)thì cả hai vợ chồng chàng vẫn là biểu tượng cho ước mơ của những người nông dân Việt Nam ( chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp kết hợp với ngư nghiệp ) đã nỗ lực dựng nên những xóm làng rải rác suốt vùng rìa châu thổ sông Hồng ngay từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc chi tiếtnửa đêm hai người biến mất khỏi vòng vây của quân triều đình rất có ý nghĩa : sử dụng mô típ “ hoá thân “ ,truyện biểu lộ thái độ phản kháng của nhân dân đối với chế độ phong kiến ngay từ thuở manh nha

Đời sau đã suy tôn Chử Đồng Tử lên hàng bốn vị thánh bất tử của Việt Nam.Cũng đời sau đã dựng những ngôi đền tưởng nhớ công lao giúp dân,cứu nước của vợ chồng Chử Đồng Tử,tiêu biểu nhất là đền thờ ở thôn Đa Hoà,xã Bình Minh,huyện Khoái Châu,tỉnh Hưng Yên và đền Dạ Trạch ở ngay trên vùng đầm Nhất Dạ khi xưa Ở những nơi này,trên bàn thờ,ngoài tượng vợ chồng Chử Đồng Tử còn có bức tượng gỗ tạc hình con cá chép tục gọi là Bế ngư thuyền quang

và trên nóc đền cũng không thể thiếu tượng đôi long ngư ( cá chép đầu đã hoá rồng ).Những tác phẩm nghệ thuật ấy gợi nhớ câu chuyện về cuộc đời người anh hùng ngư nghiệp kiêm nông nghiệp thuở xưa.Truyện kể truyền miệng là sự minh giải bằng ngôn ngữ từ cho sự có mặt của những bức tượng nói trên

Cả việc Chử Đồng Tử được đặt lên hàng bốn vị thánh bất tử trong tín ngưỡng nhân gian,cả sự tồn tại của những tác phẩm điêu khắc hình cá,cả sự lưu truyền qua không gian,thời gian câu chuyện cổ tích về người đánh cá mồ côi,có lòng hiếu thảo,lấy được công chúa ,tất cả đểu là cách tự ghi chép lịch sử,tự thể hiện sức mạnh và lòng yêu nước của những người Việt Nam sinh sống bằng nông nghiệp và ngư nghiệp,nối đời khai hoang lấn bãi,làm ăn và đánh giặc trên khắp vùng đồng bằng sông Hồng

Baì 17197

Về tuyện cổ tíchChử Đồng Tử,có ý kiến cho rằng :

Cuộc hôn nhân Tiên Dung-Chử Đồng Tử là cuộc hôn nhân đẹp của những con người có những phẩm chất cao quý,mơ ước được sống cuộc đời tự do phóng khoáng giữa nhân dân,giữa đất trời

Ý kiến của anh chị ra sao?

Gợi ý làm bài:

Chữ Đồng Tử là truyện cổ tích thần kỳ tiêu biểu trong kho tang truyện dân gian ở nước ta.Sự

ly kỳ,hấp dẫn của câu truyện cổ ơ đây là cuộc hôn nhân giữa anh chàng mồ côi Chử Đồng Tử

và công chúa Tiên Dung

Đây là dạng đề phân tích,kết hợp phát biểu cảm nghĩ riêng của người viết về cuộc hôn nhân Tiên Dung-Chử Đồng Tử,cũng chính là nét dẹp độc đáo của tác phẩm.Do đó,phải trên cơ sở phân tích hai nhân vật Chử Đồng Tử và Tiên Dung(chủ yếu phẩm chất cao quý, ước mơ về cuộcđời tự do,phóng khoáng giữa đất trời,giữa nhân dân)và cuộc hôn nhân giữa hai người,người viết

Trang 19

nêu lên suy nghĩ,cảm xúc của minh.Cụ thể,lưu ý trình bầy:

1 Những con người có phẩm chất cao quý:

- Bố chết,con cứ tang bố,còn cái khố con cứ dữ mà dùng

Cù Vân chết,Chử Đồng Tử không nỡ để cha trần truồng,lấy khố đóng cho cha,rồi mới chôn Chư Đồng Tư dã không nghe lời cha dặn,nhưng vẫn là người con chí hiếu.Tấm long yêu thương,hiếu thảo ấy là phẩm chất cao quý ở chàng

- Tiên Dung:Nàng xinh đẹp.Là con vua,Tiên Dung dược sống trong nhung lụa,ngà ngọc.Song, nàng lai thích hoà nhập cùng thiên nhiên, đất trời,tuổi đã mười bẩy,mười tám ma không chịu lấy chồng,chỉ thích chèo thuyền đi theo sông núi.Con vua,nhưng sống phóng khoáng ,tự do:Thấy bãisong rộng rãi ,lại có lác đác bụi cây lớn toả bong mát êm dịu,Tiên Dung lấy làm ưa thích,ra lệnh cho thuyền ghé vào,rồi chọn 1 chỗ có bóng mát ,sai thị nữ chăng màn tứ vi để tắm…

2 Cuộc hôn nhân đẹp,hợp tự nhiên của hai người có phẩm chất cao quý:

- Cuộc hôn nhân chủ động giữa những người dám sống và dám yêu,nhất là với Tiên

Dung.Nàng chấp nhận lấy Chử Đồng Tử là chấp nhận từ bỏ thân phận cao sang của mình và chấp nhận cuộc sống lao động nghèo khổ của người dân thường.Truyện kể rằng,khi thấy đám binh lính và thị nư của Tiên Dung,Chư Đồng Tử vì không có khố mặc nên sợ hãi vội vứt vó vào bụi,chạy lên bãi,bới cát vùi mình xuống ,rồi lấy cát phủ lên.Khi bị Tiên Dung phát hiện trong bãitắm của nàng,Chử Đồng Tử càng sợ hơn Thế nhưng ,nàng đã nói với chàng : Tôi đã nguyện không lấy chồng ,nay duyên trời run rủi ,lại gặp chàng chốn này ,mới biết không cưỡng lại với trời rồi nhất quyết lấy Chử Đồng Tử làm chồng.Mặc Chử Đồng Tử có đồng ý hay không ,Tiên Dung đã sai người đưa quần áo cho Chử Đồng Tử mặc và sai tì nữ sửa soạn tiệc hoa.Thuyết phục được Đồng Tử ,Tiên Dung tổ chức tiệc hoa ngay trong ngày hôm ấy Các tình tiết đó chính

tỏ Tiên Dung là người cương quyết chủ động tìm kiếm hạnh phúccủa mình và cuộc hôn nhân của người là hợp với tụ nhiên (mà thei lời Tiên Dung là không cưỡng được với trời) !

Một vài điều cần biết về chuyện cổ tích

1 Cổ tích là tích cũ, chuyện xa xưa, ra đời khi xã hội có áp bức, bóc lột Cổ tích kể về những truyện mang yếu tố hoang đường, sự tích kì lạ về con người, hoặc thế giới muôn loài, chứa đựng triết lý nhân sinh sâu sắc.

Trang 20

2 Người ta chia truyện cổ tích thành 3 loại:

- Truyện cổ tích loài vật (Quạ và Công; Con thỏ tinh khôn )

- Truyện cổ tích thần kỳ (Chử Đồng Tử, Cây khế…)

- Truyện cổ tích sinh hoạt (Chàng ngốc, Cái cân thuỷ tinh )

3 Cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, giàu và nghèo, thống trị và bị thống trị, chính nghĩa và

phi nghĩa Các bài học về ở hiền gặp lành, ác giả ác báo, tham thì thâm rất dễ bắt gặp trong truyện cổ tích Cổ tích nêu cao khát vọng về tự do và hạnh phúc, công bằng ở đời.

Một số bài tập

Baì 17199

Nhà văn Pháp Anatole France (1844-1924) có nhận xét :

Các truyện cổ tích thì vô lý và trẻ con Nếu chúng không vô lý thì chúng đã không hấp dẫn.

Qua việc phân tích truyện cổ tích Làm theo vợ dặn,hãy làm sáng tỏ nhận định trên

nhiên,phân tích tác phẩm ở đây theo hướng làm sáng tỏ một nhận định có trước,chứ không phải

là phân tích một tác phẩm truyện cổ tích thuần tuý

Dàn bài chi tiết :

1.Giải thích ý kiến của nhà văn A.France về truyện cổ tích

- Ý kiến của nhà văn A.France đã khái quát một đặc trưng chung của thể loại này Đó là tất cả các truyện cổ tích,dù ở đâu đi nữa,cũng đều là sáng tác nghệ thuật của nhân dân Đã là sáng tác nghệ thuật thì bao giờ cũng có sự hư cấu,bịa đặt.Vả lại,truyện cổ tích được nhân dân lao động sáng tạo ra nhằm gửi gắm ước mơ,nguyện vọng của mình,hay đúc kết những kinh nghiệm,bài học ở đời.Như vậy,dù là chuyện bịa,nhưng tính chân thực của nó không hề giảm đi.Những điều nhân dân gửi gắm,nhắn nhủ chứ không phải là bản thân câu chuỵên được kể mới là mục đích của sáng tác

- Những câu chuyện càng ly kỳ,hay có nhiều nét cường điệu,phóng đại thì càng hấp dẫn người nghe và được truyền tụng từ đời này sang đời khác.Vì thế,nghe kể truyện cổ tích,người nghe không cần phải lý giải sự hợp lý hay không của các sự kiện,tình tiết Điều đó có nghĩa,những truyện cổ tích nào càng vô lý,càng có vẻ trẻ con bao nhiêu thì sức hấp dẫn của nó lớn bấy nhiêu

Trang 21

2.Phân tích truyện cổ tích làm theo vợ dặn để sáng tỏ ý kiến của nhà văn A.France:

a Làm theo vợ dặn là một chuỗi liên kết các sự việc “vô lý” xoay quanh anh chàng ngốc:

- Anh đi buôn vịt gà nhưng không phân biệt được L “vịt trời” và “vịt nhà”.Hậu quả là bị bọn trẻ chăn trâu lừa:Ngốc ta ngồi tại bờ đầm canh chừng bầy vịt [vịt trời].Chưa quá trưa,anh đã lội xuống nước để lùa vịt về,thì bầy vịt nhác thấy bóng người ,bay vụt lên trời,một chốc mất

biến.Ngốc ta tưng hửng , đành trở về,kể lại với vợ

- Ngốc đi buôn lợn “Rút kinh nghiệm” của lần buôn vịt,theo lời vợ dạn ,anh giơ gậy lên dứ vào mấy con lợn.Mấy con lợn thấy vậy sợ quá nhẩy tót ra ngoài rặc,rồi chạy vào bụi mất cả.ngốclãnh đủ hậu quả :Người hàng lợn bèn nắm lấy áo anh bắt vạ.Có bao nhiêu tiền vốn mang đi ,anh phải lấy ra đền

- Ngốc đi buôn nồi đất.Nhớ lời vợ dặn lần mất lợn,Ngốc đàng hoàng đi giữa đường,chẳng thèm tránh bầy trâu.Bầy trâu húc cho vỡ cả gánh nồi đất

- Ngốc lại đi buôn vôi đá mới nung.Lần trước làm vỡ nồi đất vợ dậngpwj phải những con vật thì tránh đi.Lần này trông thấy con chuột chết giữa đường ,Ngốc lẩm bẩm :Chà chà,có con vật này nằm cản đường ta ,ta phải tránh nó mới được.Anh ta lội xuống ruộng nước để tránh

chuột,vôi đá xôi lên sùng sục,bèn vứt cả quang gánh mà chạy

- Bốn lần đi buôn thất bại,hết sạch tiền vợ,Ngốc chuyển sang ăn trộm Lẻn vào nhà người ,lấyđược một số tiền,anh ngốc đem đếm,thấy có mấy đồng xèng,bèn tìm chủ nhà bảo đổi.Lần này ,Ngốc chẳng những không kiếm được gì về cho vợ mà còn phải hoảng hốt chạy tháo thân

- Ngốc đi ăn trộm lần thứ hai để kiếm ít ngạo về ăn theo lời vợ dặn Không tìm ra ngạo chỉ cóthóc, Ngốc, hẳn là sợ trái lời vợ,thấy có cối xay gần đó, anh bèn đổ thóc vào xay.Chủ nhà nghe thấy tiếng động rượt chàng ngốc chạy chí chết

- Lần thứ ba đi ăn trộm Nhớ lời vợ dặn,thấy gì lấy nấy ,Ngốc ta nhặt nhanh đủ thứ ở sân nhà người đem về.Về nhà,vợ thắp đèn lên xem thì hoá ra toàn là chổi cùn ,rế rách , đò ghế ,gỗ

vụn,cào tre,cuốc gẫy,lại còn có cả một nồi nước giải

- Theo lời vợ ,Ngốc chuyển sang “nghề” đi xin.Gặp một người sang trọng ,vừa mới mở miệng đã bị hai tên lính theo hầu quan đã bước tới quất cho mấy roi, anh ba chân bốn cảng chạy

về nhà.Hoá ra người ấy là một ông quan

- Lần sau, cũng theo lời vợ dặn , đi xin phải đến nơi đông người , Ngốc vào một đám

ma.Giữa bao nhiêu là tiếng khóc,Ngốc ta ngửa tay xin ăn nên còn bị mắng đuổi là còn may

- Lần kế tiếp, Ngốc đi xon gặp đám rước dâu, theo lời vợ dặn , anh ta ô hô ít câu mong người

ta cho ăn nên bị một trận đòn đau

Ngốc cứ “rút kinh nghiệm” lần trước cho lần sau nhưng hậu quả bao giờ cũng tai hại

hơn.Cuối cùng ,trông thấy hai con trâu dữ đang húc nhau chí tử, chàng Ngốc nhớ lời vợ dặn, anh

Trang 22

chạy vào cố sức vỗ về hai con vật ,miệng nói “dĩ hoà vi quý” để chúng húc cho thủng bụng.

b Ý nghĩa của câu chuyện “vô lý” và “trẻ thơ” về chàng ngốc:

- Rõ ràng Làm theo vợ dặn là câu chuyện của những sự vô lý, chẳng hề có trên đời sống Song, nhân dân xưa kia đã không xem đó là câu chuyện có thật Trái lại, mỗi khi nghe kể chuyện, ai nấy đều cười Tiếng cười ấy vang lên mỗi lúc một nhiều hơn ,vì sự lười biếng ,ngốc nghếch của một con người Đúng , không hề có một câu chuyện có thật kiểu làm theo vợ dặn , cũng có một anh như chàng ngốc Nhưng ,trên đời này, từ xưa đến nay , đâu hiếm những chồng lười biếng ,cũng chẳng hiếm những người chỉ biết làm theo người khác một cách máy móc , không

hề suy nghĩ

- Như vậy , ở truyện cổ tích Làm theo vợ dặn sự vố lý đầy dẫy từ lúc bắt đầu cho đến khi kết truyện đã hàm chứa những cái lý mà nhân dân ta muốn gửi gắm và cùng với sự ngờ nghệch , ngốc nghếch hơn cả “trẻ thơ” của chàng ngốc đã khiến câu truyện trở lên hấp dẫn , được người đời vẫn thường kể đi kể lại ”Qua những hành động của anh ta ,người đọc tưởng như dáng điệu một con người hoảng hồn buồn rầu , ngơ ngác, vì không hiểu sao mình toàn gặp phải những chuyện như vậy ,mặc dù luôn luôn “làm theo vợ dặn” (Tràn Gia Linh)

Bài ca chàng Đam Săn

vợ anh Đang sống trong yên vui giàu có, Đam Săn lại lên đường đi bắt Nữ thần Mặt Trời để có

"hai vợ lẽ vợ thật đẹp” Cuộc cầu hôn thất bại, anh trở lại quê nhà, bị chết lún giữa rừng của bàSun Y Rít Đam Săn chết, cháu Đam Săn ra đời, lại theo tục "nối dây" đi tiếp hành trình của cậu chàng, dấn thân vào cuộc chiến đấu mới

Giảng văn

Đi bắt nữ thần Mặt Trời

1 Xuất xứ và ý tưởng chủ đạo

Đoạn trích "Đam Săn đi bắt nữ thần Mặt Trời" nằm trong chương 7 "Bài ca chàng Đam Săn"

Trang 23

Đoạn sử thi này nói lên khát vọng và dũng khí, lòng quả cảm của người anh hùng Đam Săn

được bộ tộc ngưỡng mộ

2 Hình ảnh dũng sĩ Đam Săn

- Khát vọng phi thường Là một tù trưởng giàu có và hùng mạnh: "Trăm chiêng núp anh đã

có Trăm chiêng bằng anh đã có Trăm con voi anh đã có " Nhiều nồi đồng, lợn dê đầy sân

"Tiếng tăm anh vang đến thần núi", ai cũng phải khen anh là "gan dạ, anh dũng", không hề lùi trước bất cứ địch thủ nào! Đam Săn đi bắt nữ thần Mặt Trời vì nàng là "người đẹp nhất", "bắp chân nàng tròn, váy nàng đẹp tuyệt vời" Đi bắt nữ thần Mặt Trời mới thành một tù trưởng "hết sức giàu mạnh trên đời không ai bì kịp" Khi đến vương quốc của nữ thần Mặt Trời, Đam Săn đã nói với người đẹp: "Tôi muốn có hai vợ lẽ, tôi muốn có một người vợ thật đẹp và tôi hứa với nàng tôi sẽ mang nàng xuống trần lập một gia đình chung với Hơ Nhí và Hơ Bhí" Người tù trưởng phải có khát vọng phi thường như vậy mới tiêu biểu cho phẩm chất cao đẹp của cộng đồng bộ tộc xa xưa

- Dũng khí quả cảm vô song

Lên đường với con tuấn mã, tay cầm lao, gươm dắt thắt lưng, khoác áo màu đen màu trắng, mang theo bùa ngải "sẽ giúp tôi thắng!" Đừng đi đầy tê giác, hùm thiêng, cọp dữ, đã cắm chông, đã cắm bẫy, nước đầy đỉa, cây đầy sên, bò cạp giữa đường, rết trên ngọn cây xương người và xương trâu đầy rừng! Nhưng quyết tâm của Đam Săn không hề nao núng: "Mặc kệ!

để tôi kiếm một nối đi Tôi sẽ tới chỗ tôi muốn! Gặp hùm tôi sẽ giết hùm"

Đam Săn ra đi từ lúc gà gáy Chàng vượt qua rừng âm u, núi rậm chân và tay bị cỏ tranh, mây

"cắt nát" Đến ranh giới giữa trời và đất, Đam Săn đã "chặt một sườn núi ném xuống bùn làm con đường" để vượt qua và tiến lên Chàng dũng sĩ vô cùng ngạc nhiên trước cái nhà của nữ thần: cầu thang nhà là chiếc cầu vồng, cối và chày giã gạo đều bằng vàng, sân nhà đầy voi, trongnhà đầy chiêng núp Tôi tớ trai và gái đi lại đông như mây Đam Săn thì được người nhà của nữ thần ngắm nghía như nhìn một "thần linh danh tiếng" Còn nữ thần Mặt Trời thay hai lần váy mới "nhấp nháy như chớp sáng" Tóc chải bóng buông dài Dáng đi thướt tha "như chim diều bay, như phượng hoàng liệng, như nước chảy êm đềm" Cổ nàng "đẹp như cổ con công" Nàng

là dòng dõi nhà "Trời và Đất" Với tưởng tượng kì diệu, tác giả sử thi đã miêu tả hành trình của

Đam Săn và hình ảnh nữ thần Mặt Trời để ca ngợi dũng khí, lòng quả cảm và khát vọng về côngdanh, hạnh phúc của người dũng sĩ lỗi lạc

Cuộc cầu hôn không thành, Đan Săn lên ngựa trở về Thần ánh sáng đã làm cho đất nhão ra Chàng dũng sĩ đã chết trong tư thế lẫm liệt Mặc dù vậy, Đam Săn là tù trưởng duy nhất đi tới được vương quốc nữ thần Mặt Trời Người Ê đê xưa và nay vô cùng tự hào về hành trình của

Đam Săn Cách giải thích hiện tượng tự nhiên, Mặt Trời và ánh sáng của người Ê đê xa xưa rất

kì diệu

Đoạn Đam Săn đi bắt nữ thần Mặt Trời là đoạn hay nhất tràng lệ nhất, bi tráng nhất trong sử

Trang 24

thi "Bài ca chàng Đam Săn" Nghệ thuật phóng đại và so sánh được sử dụng trong miêu tả và chuyện kể rất thần tình, đầy ấn tượng.

1 Để làm tốt bài văn,học sinh cần nắm vững những kỹ năng phân tích một vật trong tác phẩm

tự sự.Tuy nhiên, ở đây là Đam San,nhân vật chính của một tác phẩm sử thi.Do đó,phải hiểu rõ đạc trưng của thể loại sử thi,nhất à những đặc trưng của hình tượng anh hùng trong tác phẩm:

- Sử thi là những sáng tác tự sự miêu tả các sự kiện quan trọng,có ý nghĩa quyết định đối với đời sống tư tưởng và vận mệnh của một cộng đồng,dân tộc và nhân dân.Tác phẩm được sáng tácnhằm mục đích biểu hiện ý thức cộng đồng của nhân dân,dân tộc đối với quá khứ vẻ vang của mình.Chính vì thế,nội dung của sử thi bao giờ cũng là các sụ kiện mang tính toàn dân,toàn dân tộc,không phải là những câu chuyện riêng tư,ca nhân

- Sử thi tập trung xây dựng hình tượng nhân vật anh hùng, tức là người đại diện cho sức mạnhcủa cộng đồng,của dân tộc Ở Đam San,người anh hùng là hiện thân của một tù trưởng giàu mạnh,có tài năng vẻ đẹp,lập nên nhiều chiến công phi thường.Phẩm chất của Đam San cũng nhưcác anh hùng khác ở các tác phẩm sử thi là phẩm chất của dân tộc,bộ lạc,của nhân dân.Họ mang tầm cỡ và vẻ đẹp dân tộc.Nói cách khác,khi xây dựng hình tượng anh hùng,sử thi nhằm đề cao,thậm chí phóng đại,sức mạnh cộng đồng trong các cuộc chiến tranh hay quá trình dựng xây đất nước

- Do yêu cấu biểu hiện y thức cộng đồng,sức mạnh dân tộc,nghệ thuật của sử thi có những đặctrưng riêng biệt so với các thể loại tự sự khác Đó là lối trần thuật khoan thai,trầm tĩnh,mang sắc thái ngợi ca,khoa trương,cường điệu

2 Trên cơ sở hiểu biết về thể loại sử thi và tác phẩm Đam San,có thể phân tích hình tượng người anh hùng Đam San,mà cụ thể là đoạn trích Đi bắt Nữ thần Mặt Trời,theo các ý sau :

- Đam San là người anh hùng có sức mạnh phi thường.Sức mạnh ấy có thể làm lay trời chuyển đất,khiến thần linh phải kiêng dè.Trên đường đi bắt Nữ thần Mặt Trời,chàng đã chặt mộtsườn núi,ném xuống bùn làm con đường để vựơt qua ranh giới giữa trời và đất Đam San còn giết tê giác dưới vực thẳm,giết hùm trong núi cao,giết quạ diều trong cây trồng,giết ma quỷ trên các đường đi.Hành động ấy quả chưa từng có.Sức mạnh ấy quả phi phàm

- Đam San mang vẻ đẹp kỳ diệu ở diện mạo và thân hình.Chàng vừa mềm

mại,dẻo dai,lại vừa tươi tắn,nhanh nhẹn.Ngay cả trang phục,tư thế của chàng cũng rất đẹp

Trang 25

( Chàng khoác màu đen màu trắng.Tay cầm lao.Gươm giắt thắt lưng; đầu mang khăn xếp;vai mang túi da ) Nếu Asin trong Iliát của Home “ từ đầu đến chân đuề ngời lên một niềm vinh quang chói lọi “ ( Bêlinxki) thì trong bộ tộc của Đam San ai cũng ngưỡng vọng chàng : Người nhà đi lại từ nhà sau ra nhà trước nhìn Đam San như một thần linh Điều này là lẽ đương nhiên

vì cả Asin và Đam San “ không đại diện cho bản thân mà đại diện cho nhân dân, được miêu tả như là đại diện của nhân dân “ ( Bêlinxki )

- Nổi bật nhất ở Đam San là lòng quả cảm.Chàng từng chống lại tục nối dây,dám bắt trời thay đổi ý định và cuối cùng là đi chinh phục cả Nữ thần Đam San hầu như không sợ bất kỳ trở lực nào.Chàng bạt đồi,san núi,phát rẫy,giết mãnh thú,hạ kẻ thù với lòng quả cảm Ở đâu và baogiờ, Đam San cũng là người đứng hàng đầu,tạo nên các kỳ tích chưa từng có

- Đam San luôn mang một khát vọng không cùng.Có những thử thách,chàng biết thật to lớn,nhưng vẫn quyết tâm thực hiện.Bằng chứng là khi nghe Đam Pắc Quây khuyên can : Xương người đầy bìa rừng,xương trâu bò đầy núi.Chỗ ấy đã chết biết bao tù trưởng khoẻ mạnh và cương quyết Đất trong rừng là đất đen nhão như nước.Nhiều tù trưởng đã chết lún trong đất lỏng ấy Nhất định không để anh vào rừng của trời,rừng đầy chông gai,nhiều đến nỗi con sóc cónhày vào thì thân đã bị đâm thủng trước lúc chân sở tới đất “ thì Đam San vẫn một mực thực hiện ý định của mình :

- Mặc kệ ! Để tôi kiếm một lối đi.Tôi sẽ đi tới chỗ tôi muốn ! Gặp hùm tôi sẽ giết hùm

Không ai ngăn cản được ý định của Đam San.Hành động đi bắt Nữ thần Mặt Trời là đỉnh cao trong khát vọng chinh phục thiên nhiên của Đam San Đến khi phải gục ngã trong rừng sáp đen,khát vọng của Đam San không tắt.Chàng hoài thai để tiếp tục thực hiện khát vọng của mình.Do đó,hành động mang tính cách liều lĩnh với ước vọng ngây thơ của Đam San không khiến chàng đối lập với bộ tộc của mình.Trái lại,nó ngời sáng lý tưởng của cả bộ tộc nên chàng tái sinh để trở thành tù trưởng mới

- Đam San là người anh hùng của bộ tộc,người đại diện cho cả cộng đồng nên tất cả câu chuyện trong bản sử thi đều xoay quanh chàng, đều góp phần tôn vinh,ca ngợi Đam San.Vì thế,hình tượng anh hùng Đam San đậm chất phi thường,trở thành vẻ đẹp hoành tráng, đời

đời.Hình tượng nghệ thuật Đam San là biểu hiện tập trung nhất cho đặc trưng thể loại sư thi ở tác phẩm này

Baì 17195

Tóm tắt tác phẩm sử thi Đam San và xác định vị trí,giá trị của đoạn trích Đi bắt nữ thần mặt trời?

Gợi ý làm bài :

1 Đam San là thiên sử nổi tiếng của dân tộc Ê Đê ở nước ta.Tác phẩm này có tên đầy đủ là Bài

ca Đam San ( tiếng Ê Đê : Klei khan Y Đam San).Từ năm 1929,một dich giả người Pháp tên là Léopold Sabatier đã dịch sang tiếng Pháp và xuất bản ở Paris.Đam San có 8 hồi,kể về những chiến công oanh liệt và khát vọng tự do của một tù trưởng cùng tên

Theo tập tục hôn nhân cổ của người Êđê,tục “ nối dây “ , Đam San buộc phải lấy cả hai chị

Trang 26

em Hơ Nhí và Hơ Bhí,mặc dù chàng đã có người yêu Đam San là chàng trai tài giỏi.Chàng đánhthắng các tù trưởng Mơtao Gơrư và Mơtao Mơxây - những người đã âm mưu cướp vợ và hạ uy tín của Đam San,cướp được vô số của cải,gia súc ,bắt nhiều nô lệ và trở thành một tù trưởng hùng mạnh nhất vùng.Song, Đam San còn muốn giàu mạnh hơn nữa,trên đời không ai bì kịp, đi đến đâu tre a lê phải cúi xuống,tre mơ rô phải khô Chàng chặt cây thần,quyết định cưỡi ngựa lên trời,bắt nữ thần Mặt Trời về làm vợ.Thế nhưng,vì hành động này cả người và ngựa của Đam San bị lún xuống bùn,chết ngập trong rừng sáp đen.Hồn của chàng đầu thai vào người chị ruột của minh để làm chồng dòng họ Hơ Nhí,tiếp tục con đường của mình.

2 Đoạn trích Đi bắt Nữ thần Mặt Trời thuộc hồi 7 của sử thi Đam San Đây là một trong nhữngtrường đoạn hay nhất của tác phẩm.Sự việc bắt đầu sau khi Đam San đánh bại nhiều tù trưởng hung ác,chặt gãy cây thần smuk,khai phá nương rẫy rộng lớn,danh tiếng của chàng vang động cảchốn thần linh.Song, Đam San không thoả mãn.chàng quyết dịnh di băt Nữ thần Mặt Trời nhằm đạt được ước mơ vĩ đại:chinh phục thiên nhiên,mở rộng buôn làng,tạo nên sức mạnh chưa từng

có ở cộng đồng mình Đoạn trích đi bắt Nữ thần Mặt Trời tập trung thể hiện ở mức cao nhất những khát vọng to lớn mà Đam San đuổi trong suốt cuộc đời đấu tranh ngoan cường và không

2 Tóm tắt

Thuở ấy, khi đất trời còn hỗn mang, bỗng "mưa dầm mưa dãi" nước ngập mênh mông, 50 ngày sau mới rút hết Tự nhiên mọc lên một cây xanh có 90 cành, có một cành cao trọc trời, biếnthành ông Thu Tha, Bà Thu Thiên Hai Thần truyền lệnh làm ra Đất, Trời và Vạn vật Sau đó, nắng dữ dội suốt 12 năm liền, mặt đất xơ xác Thần Pồng Pêu ao ước một trận mưa lớn Tức thì mưa to gió lớn suốt chín, mười ngày đêm; hạt mưa to bằng quả bưởi, nước lại ngập bao la Bẩy tháng sau nước rút cạn, có một cây si khổng lồ mọc lên tua tủa 1919 cành Trời sai con Sâu Gang khoét ruỗng ruột cây si Cây đổ, mỗi cành hoá ra một bản mường:

Nên Mường Bi, Mường Lỗ "

Có một cành si lại hoá ra Mụ Dạ Dần; mụ đẻ ra hai cái trứng kì dị, nở ra cun Bướm Bạc và cun Bướm Bờ Vừa mới nở, cun Bướm Bạc đã ăn hết 9 chõ cơm; cun Bướm Bờ ăn hết 5 chõ

Ngày đăng: 26/09/2013, 23:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w