1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

chuyên đề: Nghị luận văn học

29 105 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 703,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kì thi THPT Quốc gia đặc biệt quan trọng đối với HS lớp 12, kết quả thi sẽ được sử dụng để xét công nhận tốt nghiệp và làm căn cứ để tuyển sinh vào các trường ĐH CĐ giáo dục nghề nghiệp Cấu trúc đề thi THPTQG môn Ngữ văn (hiện hành ) với thang điểm 10 cho một bài thi gồm hai phần là phần Đọc hiểu phần Làm văn. Trong đó: + Phần Đọc hiểu 3.0 điểm + Phần Làm văn 7.0 điểm ( Câu 1: Nghị luận xã hội viết đoạn 2.0 điểm; Câu 2: Nghị luận văn học viết bài 5.0 điểm )

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ ÔN THI THPT QUỐC GIA

Chuyên đề môn Ngữ văn:

Câu NLVH 5.0 điểm ( Trong bài tùy bút “ Người Lái đò sông Đà” )

LỜI NÓI ĐẦU

- Kì thi THPT Quốc gia đặc biệt quan trọng đối với HS lớp 12, kết quả thi sẽ

được sử dụng để xét công nhận tốt nghiệp và làm căn cứ để tuyển sinh vào các

trường ĐH- CĐ & giáo dục nghề nghiệp

- Cấu trúc đề thi THPTQG môn Ngữ văn (hiện hành ) với thang điểm 10 chomột bài thi gồm hai phần là phần Đọc hiểu & phần Làm văn Trong đó:

- Và xuất phát từ thực tế của việc dạy ôn thi THPTQG, người dạy đã xâydựng chuyên đề ôn thi với câu nghị luận văn học 5.0 điểm ( giới hạn trong phạm vi

Trang 2

bài tùy bút “ Người lái đò sông Đà” của nhà văn Nguyễn Tuân ) Cũng qua chuyên

đề giúp học sinh hình thành các năng lực như:

+ Cảm thụ về tác giả, tác phẩm, thể loại văn học

+ Viết bài nghị luận văn học đáp ứng yêu cầu thi THPTQG

+ Ứng dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống

- Nội dung chuyên đề gồm các phần:

+ Phần 1: Củng cố kiến thức cơ bản

+ Phần 2: Cấu trúc bài nghị luận văn học câu 5.0 điểm

+ Phần 3: Các dạng đề nghị luận văn học ( câu 5.0 điểm trong bài tùy bút

“ Người lái đò sông Đà” ) và hướng dẫn cách giải

Hy vọng chuyên đề sẽ đem đến cho học sinh những kiến thức kĩ năng bổ ích,giúp các em tự tin chinh phục kì thi

Trong quá trình xây dựng chuyên đề ôn thi sẽ không tránh khỏi những hạnchế, rất mong nhận được những góp ý chân thành từ đồng nghiệp để chuyên đềđược hoàn thiện hơn Trân trọng cảm ơn!

Trang 3

- Quê: làng Mọc, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân Hà Nội

- Thủa nhỏ: theo gia đình sống ở nhiều tỉnh miền Trung, sau đó về Hà Nộiviết văn làm báo

- Đến với Cách mạng tháng tám, ông tự nguyện dùng ngòi bút để phục vụhai cuộc kháng chiến của dân tộc

- Từ 1948 đến 1958 là tổng thư kí Hội Văn nghệ Việt Nam Ông là nhà vănlớn, một nghệ sỹ suốt đời đi tìm cái đẹp Là người có vị trí quan trọng & có đónggóp lớn đối với văn học Việt Nam hiện đại: thúc đẩy thể tùy bút, bút kí văn học đạttới trình độ nghệ thuật cao; làm phóng phú thêm ngôn ngữ văn học dân tộc; đemđến cho nền văn xuôi hiện đại một phong cách tài hoa & độc đáo

Trang 4

- Sau Cách mạng ông trở thành cây bút tiêu biểu luôn say sưa viết về cuộcsống mới, con người mới trong hòa bình xây dựng chủ nghĩa xã hội

- Nguyễn Tuân đã được Nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn họcnghệ thuật năm 1996

2/ Những sáng tác tiêu biểu:

- Nguyễn Tuân cầm bút từ khoảng đầu những năm 1935, nhưng nổi tiếng từ

năm 1938 với sự xuất hiện của các tác phẩm có phong cách độc đáo: “ Một chuyến đi” (Tùy bút du kí -1938), “ Vang bóng một thời” (Tập truyện ngắn -1940), “ Thiếu quê hương” (Tập tùy bút -1940), “ Chiếc lư đồng mắt cua” (Tập tùy bút 1941) ….

- Các sáng tác chính sau cách mạng của Nguyễn Tuân là: “ Đường vui” (Tập tùy bút- 1949), “ Tình chiến dịch” (Tập bút kí- 1950), “ Sông Đà” (Tập tùy bút- 1960), “ Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi” (Tập tùy bút- 1972)….

3/ Phong cách nghệ thuật:

Nguyễn Tuân có một phong cách nghệ thuật rất độc đáo và sâu sắc:

- Trước Cách mạng tháng Tám, phong cách nghệ thuật Nguyễn Tuân có thể

thâu tóm trong một chữ "ngông" Khi thể hiện phong cách này, mỗi trang viết của

Nguyễn Tuân đều muốn chứng tỏ tài hoa uyên bác Và tất cả mọi sự vật được miêu

tả dù chỉ là cái ăn cái uống thôi nhưng cũng được quan sát chủ yếu ở phươngdiện văn hoá, mĩ thuật.Trước Cách mạng tháng Tám, ông đi tìm cái đẹp của thời

xưa còn vương sót lại và ông gọi là “Vang bóng một thời”

- Sau Cách mạng tháng Tám, phong cách sáng tác Nguyễn Tuân có sựchuyển biến quan trọng, thái độ ngông nghênh khinh bạc không còn nữa mà giọngvăn chủ yếu là tin yêu đôn hậu Tiếp cận thế giới, con người thiên về phương diệnvăn hóa nghệ thuật, nghệ sĩ, nhưng giờ đây ông còn tìm thấy chất tài hoa nghệ sĩ ở

cả nhân dân đại chúng Cái đẹp, cái tài có thể tìm thấy trên mọi phương diện của

Trang 5

cuộc sống Thiên nhiên vẫn còn là những công trình thiên tạo tuyệt vời của tạo hóa,con người là những người tài hoa nghệ sĩ trong chính nghề nghiệp của mình

II/ Về tập tùy bút “ Sông Đà” & tác phẩm “ Người lái đò sông Đà”

1/ Tập tùy bút “ Sông Đà”

- Thể loại: Tùy bút (Dung lượng dài; Là thể văn ghi chép sự thật, không có hư cấu

mà tác giả lựa chọn những sự vật những con người vốn có giá trị nổi bật trong cuộcsống để viết )

- Hoàn thành & xuất bản năm 1960, đây là kết quả của chuyến đi gian nan nhưngđầy hứng khởi mà Nguyễn Tuân về với miền Tây Bắc hiểm trở Chuyến đi thoả

mãn cái khát khao “xê dịch” của nhà văn, và trong chuyến đi ấy ông đã không quên tìm kiếm “chất vàng” của cảnh sắc thiên nhiên nơi đây, rất hiểm trở gian nguy

nhưng cũng rất hùng vĩ thơ mộng làm say đắm lòng người Vẻ đẹp của con người

nơi đây được ông ví như “chất vàng mười đã qua thử lửa” họ là người dân lao

động có trí tuệ, có lòng dũng cảm và sức mạnh chế ngự thiên nhiên

- Gồm 15 bài tùy bút và một bài thơ dạng phác thảo

2/ Tác phẩm tùy bút “Người lái đò sông Đà”:

- Nội dung:

+ Tác phẩm đã giới thiệu, khẳng định & ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên sông

Đà vùng Tây Bắc của Tổ quốc Ca ngợi vẻ đẹp ông lái đò một người dân lao độngbình thường & cũng là người nghệ sỹ tài ba trong chính nghề nghệp của mình

+ Thể hiện tình yêu mến, sự gắn bó thiết tha của Nguyễn Tuân đối với đấtnước và con người Việt Nam

- Nghệ thuật:

Trang 6

+ Những ví von, so sánh, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ và đặcbiệt rất thú vị

+ Ngôn ngữ giàu chất tạo hình, phong phú, sống động, giàu hình ảnh và cósức gợi cảm cao

+ Câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu, lúc thì hối hả, gân guốc, khithì chậm rãi, trữ tình…

+ Vận dụng vốn tri thức của nhiều lĩnh vực khác nhau như điện ảnh, võthuật, âm nhạc, quân sự, thể dục thể thao…

PHẦN 2: CẤU TRÚC ( CƠ BẢN) BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC

- Mở bài:

+ Giới thiệu khái quát về tác giả & sự nghiệp sáng tác

+ Giới thiệu khái quát tác phẩm liên quan

+ Nêu & dẫn dắt vấn đề nghị luận

- Thân bài:

+ Khái quát hoàn cảnh sáng tác ( tác phẩm), xuất xứ vị trí ( đoạn trích)+ Giải thích khái niệm ( nếu có )

+ Phân tích, cảm nhận theo từng luận điểm đề ra

+ Làm rõ nội về nội dung & nghệ thuật theo định hướng của đề

+ So sánh đối chiếu ( với đối tượng khác) để thấy sự độc đáo & khác biệt

- Kết luận:

+ Thâu tóm lại vấn đề nghị luận

+ Mở rộng, đánh giá giá trị của vấn đề

+ Đánh giá thành công của nhà văn

PHẦN 3: CÁC DẠNG ĐỀ NLVH & HƯỚNG DẪN GIẢI

Trang 7

1/ Dạng đề phân tích hình tượng nhân vật:

*Đề 1: Phân tích hình tượng sông Đà trong tùy bút “ Người lái đò sông Đà”

của Nguyễn Tuân

*Hướng dẫn:

a/ Mở bài:

- Là một nhà văn tài hoa, độc đáo, Nguyễn Tuân thích miêu tả những cái gì

dữ dội, mãnh liệt hoặc đẹp một cách tuyệt đỉnh Những trang viết hay nhất của ôngthường là những trang tả đèo cao, vực sâu, thác nước …, là người yêu thiên nhiêntha thiết, ông có nhiều phát hiện tinh tế về vẻ đẹp của núi sông, cỏ cây trên đấtnước mình

- Tùy bút “Người lái đò sôngĐà” đã thể hiện đậm nét phong cách Nguyễn

Tuân

- Cảm hứng về dòng sông Đà “hung bạo và trữ tình” chảy trên trang văn của

Nguyễn Tuân, biến vùng sông nước ấy thành một hình tượng nghệ thuật đặc sắc…

b/ Thân bài:

b.1/ Khái quát: “Người lái đò sông Đà” rút từ tập tùy bút “Sông Đà” của Nguyễn

Tuân Tác phẩm là kết quả của nhiều dịp ông đến với Tây Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đặc biệt là kết quả của chuyến đi thực tế Tây Bắc năm 1958 Dòng sông Đà trong cảm nhận của nhà văn đã được nhân cách hóa như một con người có hai nét tính cách đối lập: hung bạo và trữ tình

b.2/ Phân tích:

Về nội dung:

- Sông Đà hung bạo:

+ Trước hết là ở diện mạo con sông:

~ Cảnh vách đá “đá bờ sông dựng vách thành” và những bức thành vách

đá cao chẹt chặt lấy lòng sông hẹp Cái hẹp của lòng sông tác giả tả theo đủ cách:

“Mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời”……./ Con hổ con nai có thể

Trang 8

vọt qua sông, và chỉ cần nhẹ tay thôi cũng có thể ném hòn đá từ bờ bên này qua bên kia vách… / “Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè cũng thấy lạnh…”

~ Cảnh ghềnh đá & sóng gió trên sông Đà: “Dài hàng cây số nước xô đá,

đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm …” Bằng lối viết

tài hoa, những câu văn diễn đạt theo kiểu móc xích, cấu trúc câu trùng điệp, gợi hình ảnh con sông Đà cuồng nộ, dữ dằn như lúc nào cũng muốn tiêu diệt con người

~ Cảnh những cái hút nước ở quãng Tà Mường Vát & phía dưới Sơn La:

“nước ở đây thở và kêu như cửa cống cái bị sặc”, “chỗ giếng nước sâu ặc ặc lên

…” những cái hút nước lôi tuột bè gỗ xuống hoặc hút những chiếc thuyền xuống rồi đánh chúng tan xác ở khuỷnh dưới…”

+ Tiếp đến là Âm thanh thác nước sông Đà: với nhiều cung bậc khác nhau,

có lúc như đang “oán trách”, “van xin”, “khiêu khích”, có lúc lại “giọng gằn mà chế nhạo” Thế rồi bất ngờ âm thanh được phóng to hết cỡ…

+ Cảnh đá ở lòng sông: Bằng thủ pháp nhân hóa, người đọc nhận ra từng sắc

diện người trong những hình thù đá vô tri Nguyễn Tuân đã dùng sức mạnh điêu

khắc của ngôn từ để thổi hồn vào từng thớ đá: “Cả một chân trời đá … mặt hòn nào trông cũng “ngỗ ngược”, “nhăn nhúm”, “méo mó” Những hòn đá vô tri vô

giác nhưng qua cái nhìn của Nguyễn Tuân chúng mang vẻ du côn của thiên nhiên hoang dại và hung dữ với ba trùng vi thạch trận.Trùng vi thạch trận thứ nhất: Bọn

đá đứa thì “hất hàm” đứa thì “thách thức”, “mặt nước hò la ùa vào bẻ gãy cán chèo”, sóng nước “đá trái, thúc gối vào bụng vào hông thuyền”… Trùng vi thạch trận thứ hai: Sông nước bài binh bố trận ở khắp nơi, tăng nhiều cửa tử, chỉ có một cửa sinh, đã vậy cái cửa sinh lại nằm ở phía hữu ngạn … Trùng vi thạch trận thứ ba: Sông Đà sắp đặt bên phải bên trái đều là luồng chết, luồng sống ở ngay

giữa….

Con sông Đà hung bạo, tàn ác như một “ loài thủy quái”, nó không khác gì

Trang 9

“kẻ thù số một của con người” Nhưng con sông ấy lại chính là cảnh quan thiên

nhiên hùng vĩ kỳ thú, là tiềm năng tương lai của đất nước

- Sông Đà trữ tình:

+ Dòng sông Đà không chỉ có những “dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông ” mà nó còn là “ bức tranh thủy mặc” vương vấn lòng người Từ trên tàu bay nhìn xuống “con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo …”

+ Màu nước của sông Đà thay đổi theo mùa: “Mùa xuân xanh màu ngọc bích”, khác với sông Gâm, sông Lô “màu xanh canh hến”… Mùa thu nước sông “lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa …”

+ Sông Đà còn được Nguyễn Tuân nhìn như một cố nhân với những cảnh quan hai bên bờ cực kì gợi cảm: lá non nhú trên những nương ngô…

+ Dòng sông Đà như gợi những nỗi niềm sâu thẳm trong lịch sử đất Việt: “Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa … hai bên bờ sông Đà lặng tờ như từ Lí, đời Trần, đời Lê”

Nguyễn Tuân say mê miêu tả dòng sông với tất cả sự tinh tế của cảm xúc, và bằng một tình yêu thiết tha thiên nhiên đất nước Lòng ngưỡng mộ, trân trọng, nâng niu tự hào về một dòng sông, một ngọn thác, một dòng chảy đã tạo nên những trang văn đẹp hiếm có Nguyễn Tuân xứng đáng là một cây bút tài hoa bậc nhất của nền văn học Việt Nam

Về nghệ thuật:

- Kể, tả đan xen Ngôn từ tinh tế, cảm xúc chân thật

- Phối hợp nhiều biệp pháp tu từ, nhịp điệu câu văn linh hoạt

- Vận dụng nhiều vốn kiến thức đa ngành

c/ Kết bài:

Trang 10

- Qua việc miêu tả hình tượng con sông Đà, Nguyễn Tuân đã chứng tỏ là cây bút vừa tài hoa vừa uyên bác

- Nhà văn đã phát hiện & miêu tả cảnh vật thiên nhiên Tây Bắc đem đến cho người đọc cảm nhận mới về vẻ đẹp con sông- một công trình mỹ thuật mà tạo hóa ban tặng cho con người

Đề 2: Phân tích vẻ đẹp hình tượng nhân vật ông lái đò sông Đà trong tùy bút

“Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân

a/ Mở bài: GTC tác giả, tác phẩm, nhân vật ông lái đò

b/ Thân bài:

b.1/ Về nội dung:

- Ông lái đò- người dân lao động bình thường:

+ Ông đò không tên “ông đò Lai Châu- bạn tôi, gần 70 tuổi làm nghề lái đò trên sông Đà hơn 10 năm & hơn 100 lần xuôi ngược trên sông Đà, chính tay ông giữ lái độ sáu chục lần”

+ Ngoại hình: Đầu bạc trắng, nước da ánh lên chất sừng, chất mun, cánh tay rắn chắc, cặp mắt tinh anh …

+ Là người từng trải, dạn dày kinh nghiệm sông nước, hiểu biết & thông

thạo trong nghề lái đò, “thông thạo thác ghềnh sông Đà như thông thạo lòng bàn tay mình”, ông đò đã lấy mắt và nhớ tỷ mỉ như “ đóng đinh vào tất cả những luông nước của tất cả những con thác hiểm trở"

Nguyễn Tuân đã bày tỏ sự khâm phục của mình đối với con người nơi đây,

sông Đà đối với ông lái đò ấy như “một thiên anh hùng mà ông đã thuộc cả đến dấu chấm than, chấm câu và cả những đoạn xuống dòng"

+ Ông đò nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá & thuộc tất cả quy luật phục kích của lũ đá Cuộc sống của người lái đò sông Đà là một cuộc chiến đấu

Trang 11

hàng ngày hàng giờ & ngày nào cũng phải giành những cái sống từ tay những con thác

- Ông đò – một người nghệ sỹ tài ba:

+ Là người thông minh dũng cảm, như một viên tướng tài ba, như một vịthuyền trưởng lão luyện trong những lần vượt thác sông Đà

+ Dũng cảm vượt thác băng ghềnh, đặc biệt là trong ba lần vượt thác củaông đò khi phải qua ba trùng vi thạch trận:

~ Ở trùng vi thứ nhất: Sông Đà hiện lên như “ Kẻ thù số 1” của con người,

nó nham hiểm & xảo quyệt, nhưng ông đò vẫn như người chỉ huy tỉnh táo cầm lái

~ Ở trùng vi thứ hai: Kẻ địch thay chiến thuật, chúng tăng thêm nhiều cửa

tử ( 4 cửa tử - 1 cửa sinh), ông đò đã nắm chắc binh pháp của thân sông, thần đá thuộc quy luật phục kích của lũ đá Ông"Cưỡi lên thác Sông Đà phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ", ông đò ghì cương lái phóng nhanh vào cửa sinh, lái miết một

đường chéo con thuyền lướt nhanh, bất ngờ khiến cả bọn đá thủy quân không kịptrở tay

~ Ở trùng vi thứ ba: ít cửa hơn, nhưng bên phải bên trái đều là luồng chết

cả Cái luồng sống ở ngay giữa con thác Ông đò như một người chỉ huy dày dạn

cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa, giữa đó " Vút vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được"

Người lái đò Sông Đà chính là khúc hùng ca ca ngợi con người, ca ngợi chídung của con người, ca ngợi lao động vinh quang đã đưa con người tới thắng lợihuy hoàng trước sức mạnh tựa thánh thần của dòng sông hung dữ Đấy chính là

những yếu tố làm nên chất vàng mười của nhân dân Tây Bắc và của những người

lao động nói chung

- Sau những làn vượt thác của ông đò:

Trang 12

+ Dòng sông vặn mình vào một cái bến cát có hang lạnh Sóng thác, xèo xèo tan trong trí nhớ

+ Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn tán về cá anh vũ, cá dầm xanh Chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến

thắng vừa qua

Trong Người lái đò sông Đà, con người được ví với khối vàng mười quý báu

lại chỉ là những ông lái đò nhà đò nghèo khổ, những người trên hình hài còn in hằnnhững dấu vết khắc nghiệt của công việc chở thuyền quá đỗi gian nan cực nhọc,hiểm nguy Những con người vô danh đó đã nhờ lao động, nhờ cuộc đấu tranhchinh phục thiên nhiên mà trở nên lớn lao, kì vĩ

b.2/ Về nghệ thuật:

- Nghệ thuật xây dựng nhân vật đời thường song lại rất tài hoa nghệ sỹ trongchính nghề nghiệp của mình

- Sự kết hợp tả, kể về nhân vật rất chân thực tạo ấn tượng

- Kết hợp các thủ pháp nghệ thuật ( tương phản đối lập, nhân hóa, dùng động

từ mạnh, dung kiến thức đa ngành…)

c/ Kết luận:

- Đánh giá chung về hình tượng nhân vật trong tác phẩm

- Đánh giá thành công của nhà văn trong xây dựng nhân vật

2/ Dạng đề Cảm nhận đoạn văn ( trích trong VB ):

2.1/ Đề 1 ( Cảm nhận 01 đoạn văn trích trong VB )

“Thuyền tôi trôi trên sông Đà Cảnh ven sông ở đây lặng tờ Hình như từ đời

Lí đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa Mà tịnh không một bóng người Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp

Trang 13

cỏ gianh đẫm sương đêm Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa…… Và con sông như đang như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây

cổ điển trên dòng trên”

( “Người lái đò Sông Đà” Ngữ văn 12 tập 1 - Nguyễn Tuân )

Cảm nhận về vẻ đẹp của sông Đà trong đoạn văn trên

- Vẻ đẹp trữ tình của một quãng Đà sông êm ả, hiền hòa

+ Miêu tả vẻ đẹp trữ tình thi vị, hoang dại cổ kính của dòng sông Đà

“ Cảnh ven sông lặng tờ Hình như từ đời Lí đời Trần đời Lê” Dòng sông Đà với

nhiều hình ảnh đẹp, tinh lọc sắc sảo “ Một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa”, “cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp”, “một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm”

+ Đặc biệt, nhà văn dùng cách nói so sánh, nhân hóa, điệp câu trúc “Bờ sông

hoang dại như một bờ tiền sử”, “bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa” để gợi thần thái của dòng sông, dòng sông Đà hiện lên như một sinh thể sống

mang nặng tâm trạng, cảm xúc

Trang 14

+ Những nét chấm phá rất tài hoa của nghệ thuật hội họa, điêu khắc: Gammàu nhạt tạo cảm giác trữ tình thơ mộng Không gian: tĩnh mịch, hoang vắng

(ngoại trừ thanh âm của “đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sóng”)

+ Cách phối hợp thanh điệu, nhịp điệu của câu văn cũng rất nhịp nhàng, tinh

tế, tài hoa, miêu tả vẻ đẹp hiền hòa êm ả của sông Đà một cách vô tư, khách quan

và có sự kết hợp với suy nghĩ cảm nhận của cá nhân

- Cảm xúc của du khách – nhân vật trữ tình trên sông Đà

+ Rung cảm mãnh liệt trước vẻ đẹp ngây ngất của thiên nhiên và chiêm ngưỡng

vẻ đẹp ấy bằng đôi mắt của một người nghệ sĩ tài hoa, của một người yêu

+ Nhìn cảnh ven sông lặng tờ, người nghệ sĩ liên tưởng tới quá khứ củaquãng sông để so sánh, đối chiếu, khám phá ra vẻ đẹp hoang dại, cổ tích, huyềnthoại kì thú của nó cũng như vẻ đẹp trẻ trung, tươi tắn nảy nở, sinh sôi của cảnh vậtthực tại

+ Yêu thiên nhiên nồng nàn, tha thiết, hòa nhập tâm hồn mình với thiênnhiên

+ Khát khao, mơ ước, hi vọng về một tương lai tốt đẹp cho vùng đất TâyBắc xa xôi của Tổ quốc

b.2/ Về nghệ thuật:

- Kể, tả chân thực Cảm xúc nồng nàn say đắm, chất trữ tình lắng sâu

- Phối hợp nhiều biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa, liên tưởng, điệpcấu trúc

- Nhịp văn giọng văn nhẹ nhàng uyển chuyển

Ngày đăng: 15/04/2020, 20:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w