Con người là loài động vật duy nhất quan tâm đến quá khứ, nguồn gốc của mình. Từ khi có nhận thức, ta đã ý thức được loài người có quá khứ và mong muốn tìm hiểu nguồn gốc do đâu mà loài người xuất hiện. Do đó, chúng ta đặt ra những câu hỏi và luôn tìm cách lý giải phù hợp nhất về chúng.
Trang 1KHOA LỊCH SỬ
- -TIỂU LUẬN
CƠ SỞ KHẢO CỔ HỌC
ĐỀ TÀI:
NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Văn Quảng Sinh viên thực hiện: Trần Anh Thư
Mã sinh viên: 19T6021012 Lớp: Lịch sử
Huế, tháng 10/2019
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Con người là loài động vật duy nhất quan tâm đến quá khứ, nguồn gốc của mình Từ khi có nhận thức, ta đã ý thức được loài người có quá khứ và mong muốn tìm hiểu nguồn gốc do đâu mà loài người xuất hiện Do đó, chúng ta đặt ra những câu hỏi và luôn tìm cách lý giải phù hợp nhất về chúng
Con người là gì?
Nguồn gốc loài người có từ đâu?
Từ trước tới nay đã có nhiều công trình, tác giả nghiên cứu những vấn đề liên quan đến nguồn gốc loài người Các công trình ấy đã đạt được nhiều thành tựu nhưng vẫn chưa nghiên cứu toàn diện và lý giải có cơ sở hơn về nguồn gốc loài người xuất hiện Hiện vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau liên quan đến phương pháp luận và quan điểm trong việc nghiên cứu nguồn gốc loài người, nguyên nhân và động lực trong việc chuyển biến từ vượn thành người Các vấn đề về nguồn gốc loài người đã, đang và vẫn sẽ được giải quyết tuỳ thuộc vào trình độ văn hoá và tri thức của từng cộng đồng người, của từng dân tộc và từng thời đại, gắn liền với tính cách mạng trong khoa học
Bài tiểu luận này tập trung chủ yếu vào những quan niệm khác nhau về nguồn gốc loài người trong từng thời kì, đồng thời tìm hiểu một số nguyên nhân
và động lực của quá trình chuyển biến từ vượn thành người Bằng cách tổng hợp một số những nghiên cứu về nguồn gốc loài người trên phạm vi toàn thế thế giới, những nội dung trong tiểu luận hướng tới sự khái quát về những nhận thức con người đã biết trong hành trình tìm lại nguồn gốc loài người, đồng thời đóng góp phong phú thêm cho đề tài nghiên cứu
Trang 4NỘI DUNG
Chương 1: NHỮNG QUAN ĐIỂM KHÁC NHAU VỀ NGUỒN GỐC
LOÀI NGƯỜI 1.1: Quan điểm duy tâm
Từ xa xưa đã có những huyền thoại khác nhau giải thích về nguồn gốc loài người Ở các nền văn minh lớn, nguồn gốc loại người càng được kể lại chi tiết hơn trong những câu chuyện truyền miệng với nhiều yếu tố bí ẩn, huyền ảo Những huyền thoại, truyền thuyết, câu chuyện có yếu tố tôn giáo lý giải về nguồn gốc con người hay dân tộc của họ Các dân tộc lại có các câu chuyện riêng, số lượng những lý giải về nguồn gốc con người rất nhiều và đôi lúc lại có nhiều sự tương đồng với nhau
1.1.1: Truyền thuyết, thần thoại
Huyền thoại là những câu chuyện được lưu truyền trong dân gian, do sự tưởng tượng của con người, đưa ra những lời giải thích về thiên nhiên, lịch sử vũ trụ, nhân loại, nguồn gốc của con người, thường đặt trọng tâm vào vai trò của những đấng tâm linh được tạo thành theo trí tưởng tượng của con người
Trên thế giới, những huyền thoại và truyền thuyết về nguồn gốc loài người khá phong phú, hầu hết do một thực thể siêu nhiên sáng tạo nên:
- Ở Hy Lạp - Các sinh vật được 2 anh em Epimetheus trao tặng vật từ các
vị thần, Prometheus dùng bùn để tạo ra con người đầu tiên dựa theo hình dáng của họ
Trang 5- Ở Trung Quốc - Nữ Oa dùng bùn vàng nặn ra người và thổi vào đó sự
sống, ban cho họ trí khôn và khả năng phát triển giống nòi
- Ở Ấn Độ - Thần Hanuma đã dùng đất sét tạo ra người trên bàn xoay đồ
gốm
Ngoại trừ do sự sáng tạo của 1 đấng tạo hoá, nguồn gốc loài người còn được kể lại rằng, con người được sinh ra từ một tạo vật vốn có sẵn, như cây cỏ, động vật hoá thành người, hay do những sự kiện có tầm ảnh hưởng đến vận mệnh của quốc gia, dân tộc như motif Sự hủy diệt, Đại hồng thuỷ, v.v
- Theo thần thoại Philippines, vị thần cai quản bầu trời Bathala gieo hạt
giống xuống biển mọc thành bụi trúc cao hơn, bên trong bước ra một người nam một người nữ có vóc dáng như các vị thần
- Trang Tử cho rằng: “Loài sâu rễ tre sinh ra loài báo, báo sinh ra ngựa,
ngựa sinh ra người”
- Trong thần thoại Úc, con người là thằn lằn, trong thần thoại Mỹ, con
người là sói, hải ly, vượn
1.1.2: Tôn giáo
Từ các nhận thức cổ đại, tôn giáo ra đời như một hình thái ý thức xã hội, một phạm trù lịch sử với những giáo lý, hệ thống thần thánh có tổ chức hơn Các tôn giáo khác nhau cũng đưa ra nhiều cách lý giải khác biệt về sự xuất hiện của loài người:
- Thiên Chúa giáo - sự sáng tạo của Chúa: Đến ngày thứ 6, Chúa từ hình
tượng của mình tạo ra người đàn ông là Adam và lấy xương sườn của Adam để tạo thành người đàn bà Eva
- Đạo Hồi: Con người do thánh Alla sinh ra.
- Ấn Độ giáo: Con người do thần Brahma tạo nên.
- Phật giáo: Con người được tạo thành từ 4 yếu tố của tự nhiên: địa, thuỷ,
hoả, phong
Trang 6Nhưng những lý giải này chưa có sự thoả đáng do dựa vào quan điểm đa thần, duy tâm linh, không được kiểm chứng hay được chứng minh rằng nó có thật Tuy vậy, trong các huyền thoại, chúng ta vẫn thấy có gì đó trùng hợp với sự tiến hoá
1.2: Quan điểm duy vật
1.2.1: Quan điểm của các nhà khoa học theo Thuyết tiến
hóa
Tư duy duy vật đã được hình thành từ những năm đầu Công nguyên Nhưng đến thời đại Phục hưng, sau khi quyền lực của Thiên Chúa giáo bị suy giảm, các triết gia phương Tây mới bắt đầu có lối thoát trong suy nghĩ Theo sự phát triển và tiến bộ của khoa học kỹ thuật, những nhà duy vật tiến bộ phản đối những tư tưởng duy tâm Các nhà khoa học cho rằng, sự ra đời của con người là kết quả của cả quá trình tiến hoá liên tục, lâu dài và phức tạp của thế giới sinh vật Từ thế kỉ XVIII, nhiều công trình khoa học đã tạo ra những bước ngoặt liên tiếp trong việc lý giải nguồn gốc loài người, đặt biệt, sự ra đời phát triển của học thuyết Tiến hoá đã có tầm ảnh hưởng đặt biệt quan trọng đến nhận thức thời kì này Tiêu biểu cho quan điểm của học thuyết này các nhà khoa học K Linnaeus, J.B.Lamarck, C.Darwin
- Carl Linnaeus (1707 - 1779) - nhà sinh vật học người Thuỵ Điển,
người đặt nền móng cho danh pháp hiện đại
Ông cho rằng, con người là kết quả tiến hoá nội tại trong thế giới tự nhiên, ông là là người đầu tiên tiến hành phân loại động vật và xếp con người vào bảng phân loại sinh giới Năm 1758, trong tác phẩm “Hệ thống tự nhiên” (Systema Natura), ông xếp loại người vào bộ Linh trưởng chung với khỉ vượn, vượn cáo Ông cũng đã đặt tên Homo cho giống người, bao gồm 2 loài Homo Sapiens và Homo Troglodytes Linnaeus và các nhà khoa học khác cùng thời đã coi các loài vượn lớn là các họ hàng gần nhất của loài người dựa trên các nét tương đồng về hình thái và giải phẫu
Trang 7- Jean Baptiste de Lamarck (1744 - 1829) - nhà sinh học người Pháp đã
công bố những học thuyết tiến hoá đầu tiên, sáng lập nên giả thuyết tiến hoá sinh học xảy ra và diễn biến theo các quy luật tự nhiên
Năm 1809, ông công bố tác phẩm “Triết học động vật” vạch rõ các động vật cao đẳng phát sinh từ các động vật hạ đẳng, đồng thời cho rằng, loài người có nguồn gốc từ động vật (loài vượn người) Ông là một trong những người đầu tiên
có được những bằng chứng chứng minh các loài sinh vật có thể biến đổi dưới tác động của môi trường chứ không phải các loài là bất biến Theo Lamarck, từ 1 loài tổ tiên ban đầu do môi trường thay đổi theo những hướng khác nhau nên lâu ngày, các sinh vật sẽ “tập luyện” để thích ứng với các môi trường mới và do vậy
mà hình thành nên những loài khác nhau Ông thấy được các loài bị biến đổi dưới tác động của môi trường nhưng những cơ chế Lamarck đưa ra để giải thích cho những biến đổi đó lại không có cơ sở khoa học và cần thêm nhiều bằng chứng khoa học để chứng minh nguồn gốc động vật của con người
- Charles Darwin (1809 - 1882) – một nhà sinh vật học người Anh, là
người đáng chú ý nhất trong việc giải thích nguồn gốc loài người theo Thuyết tiến hoá
Ông là người đầu tiên thu thập được rất nhiều bằng chứng về tiến hoá và thực sự tạo ra bước ngoặt vĩ đại trong tư duy nghiên cứu về nguồn gốc loài người
Năm 1859, Darwin công bố công trình “Nguồn gốc các loài “ giải thích sự hình thành các loài từ một tổ tiên chung bằng cơ chế chọn lọc tự nhiên Trình bày quan điểm của ông trong các tác phẩm “Nguồn gốc các loài bằng con đường chọn lọc tự nhiên” và “Nguồn gốc loài người và chọn lọc giới tính”, ông cho rằng, các loài trên Trái Đất đều được tiến hoá từ một tổ tiên chung, giống như các cành trên một cây đều được bắt nguồn từ một gốc, các nhánh con trên một cành của “Cây tiến hoá” đều có chung một nhánh (loài tổ tiên gần nhất), nhiều nhánh khác nhau lại có chung nhánh lớn hơn (loài tổ tiên xa hơn) Bên cạnh những nhánh tươi tốt đại diện cho các loài đang sinh sống, cũng có rất nhiều những cành
Trang 8đã chết tương ứng với những loài bị diệt chủng Từ đó, ông đưa ra Thuyết tiến hoá và chứng minh rằng loài người đã phát sinh từ giống vượn người hoá thạch
đã bị tiêu diệt, ông cho rằng, có sự tiến hóa của những loài mới từ loài trước đó
và người hiện đại cùng vượn có tổ tiên chung
Quan điểm của ông trong thời kì này được xem là một cuộc cách mạng trong việc nhận thức về thế giới loài người Tuy nhiên, do sự hạn chế về mặt tư liệu nghiên cứu mà ông vẫn chưa chỉ ra được việc con người bắt nguồn từ loài vượn hoá thạch nào mà chỉ lý giải nguyên nhân của quá trình tiến hoá từ vượn thành người là do quá trình chọn lọc tự nhiên
1.2.2: Quan điểm của K.Marx và F.Engels
Với sự kế thừa và phát triển quan điểm giải thích về nguồn gốc loài người của các nhà khoa học trước đó và sự ra đời của chủ nghĩa Marx, vấn đề loài người có sự giải quyết đúng đắn, khoa học hơn
Trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, Marx và Engels dựa vào tài liệu của sinh vật học và các kết quả nghiên cứu khoa học xã hội, học thuyết về tự nhiên và xã hội để giải quyết vấn đề hình thành con người Marx và Engels đồng tình với quan điểm của Darwin khi cho rằng con người có nguồn gốc từ một loài vượn người, sự ra đời của con người trước hết là do chọn lọc tự nhiên, tuy nhiên đó không phải là yếu tố duy nhất Marx và Engels khắc phục những hạn chế còn lại của Darwin và chứng minh một cách thuyết phục nguyên nhân và động lực của sự chuyển biến từ vượn thành người là do lao động, ngay trong chuyển biến cơ thể
1.2.3: Quan điểm của các nhà khoa học hiện nay
Ngày nay, các nhà khoa học đã và đang không ngừng thu thập những bằng chứng về nguồn gốc loài người, không những thế còn chứng minh được loài nào trong số các loài sinh vật hiện đang tồn tại có họ hàng gần gũi nhất với loài
Trang 9người Với việc phát hiện liên tục các nghiên cứu hoá thạch và liên tục cải tiến phương pháp nghiên cứu, sự hiểu biết của con người về nguồn gốc của mình càng trở nên sâu sắc, tuy còn nhiều tranh cãi, nhưng con người đã có thể phác thảo các manh mối về nguồn gốc và sự phát triển loài người Những nghiên cứu
về hệ thống học sinh học kết hợp với các nghiên cứu về cổ sinh vật học không những giúp chúng ta vẽ được được cây chủng loại phát sinh loài người (sơ đồ hoá mối quan hệ tiến hoá giữa loài người với những loài họ hàng) mà còn có thể chỉ ra những đặc điểm nào trên cơ thể con người được hình thành trước tiến hoá, đặc điểm nào mới xuất hiện
Các bằng chứng hoá thạch cho thấy, người và các loài linh trưởng châu Phi (tinh tinh) có chia sẻ chung nguồn gốc tổ tiên (cách đây khoảng 5-7 triệu năm) Trong những nghiên cứu về hơn 5 triệu năm trước, các nhà khoa học tìm thấy được nhiều hơn nữa các loài vượn cổ, phân bố ở khắp nơi trên thế giới, nhưng những bằng chứng này vẫn khó để khẳng định rằng chúng là tổ tiên của loài người
Đến nay, chúng ta có thể xác định được có sự rẽ nhánh của loài vượn cổ đến sự phát triển thành người hiện đại ngày nay
- Năm 1924, “hoá thạch bé Taung” cho ta những bằng chứng mới về một
loài vượn người phương Nam Con người đã tìm ra những hoá thạch về dấu chân
có niên đại cách đây khoảng 3,7 triệu năm với nhiều khả năng của loài Australopothecus afarensis Hoá thạch khảo cổ nổi tiếng nhất của loài này là
“Lucy” - phát hiện vào 1974 ở Ethiopia, đã cho thấy hàng loạt đặc điểm thích nghi với cách đi hai chân, 1 bàn chân giống người, xương chậu ngắn, xương đùi
có góc hướng vào trong cho một sải chân cử động mượt mà hơn
- Các nghiên cứu chỉ ra, loài sớm nhất trong chi Homo là loài Homo
habilis, có từ 2,4 triệu năm trước, trong chi Homo đã phát hiện ít nhất 8 loài khác nhau, trong đó chỉ còn con người hiện đại còn tồn tại Homo habilis không phải loài đầu tiên sử dụng các công cụ, nhưng tiêu biểu cho việc biết được sử dụng các công cụ bằng đá
Trang 10- Cách đây 1,8 triệu năm, loài Homo erectus xuất hiện Đây là một trong
những loài người thành công nhất mọi thời đại Họ sống trên Trái Đất lâu hơn gấp 8 lần so với loài người chúng ta Họ là những người đầu tiên biết nấu thức ăn bằng lửa, và di cư xa về phía Đông như Trung Quốc và Indonesia, thậm chí đến đảo Flores, nơi một đột biến di truyền sẽ thu nhỏ họ thành người Homo floresiensis với niên đại cách ngày nay 10 vạn năm (nghiên cứu năm 2004)
- 70 vạn năm trước, nhóm người Homo erectus tại châu Phi tách thành
một loài người mới, với bộ não lớn gần bằng chúng ta, tạo ra các công cụ tiên tiến hơn, một số di cư đến Siberia, một số đến châu Âu, tạo thành người Neanderthal (Homo neanderthalensis)
- Sau đó, cũng tại châu Phi, một nhánh mới lại được tách ra, nhánh của
người hiện đại, Homo sapiens, cách ngày nay 20 vạn năm Sự xuất hiện loài Homo sapiens là bước nhảy vọt thứ hai sau bước nhảy vọt từ vượn thành người Homo habilis Di cốt của họ đã được tìm thấy ở hầu khắp các lục địa Sự phát hiện các di cốt hóa thạch cùng với công cụ lao động của các dạng người nói trên không những đã cung cấp cho chúng ta những bằng chứng khoa học không thể chối cãi được về nguồn gốc động vật của loài người, mà còn giúp ta thấy rõ cả quá trình hình thành loài người với những niên đại ngày càng được xác định chính xác hơn
Về không gian, hiện nay có nhiều giả thuyết về địa điểm phát sinh loài người Một giả thuyết mang tên “Xa mãi Châu Phi” cho rằng loài người, Homo sapiens được hình thành từ loài Homo Erectus ở châu Phi, sau đó phát tán ở sang các châu lục khác Một giả thuyết khác cho rằng loài Homo erectus di cư từ châu Phi sang các châu lục khác, rồi từ nhiều nơi khác nhau, loài Homo erectus tiến hoá thành Homo sapiens Đông Nam Á cũng được xem như là cái nôi phát sinh
ra loài người
1.2.4: Quan điểm về người ngoài hành tinh
Lại có giả thuyết cho rằng, loài người không đến từ Trái Đất
Trang 11Ellis Silver, một nhà tiến sĩ sinh vật học đã ra đời cuốn sách mang tên Humans Are Not From Earth (Loài người không tới từ Trái Đất) đăng trên blog Pharyngula
Trong đó ông cho rằng loài người có thể đã được sinh ra ở một hành tinh khác và "được đưa tới" Trái Đất, nơi có điều kiện thuận lợi hơn để tiến hóa thành sinh vật vượt trội như ngày nay Như vậy con người có thể không phải là sinh vật
"bản địa" như nhiều sinh vật khác Ông chỉ ra rằng trong bộ gen hiện nay, có tới
145 gen "ngoài hành tinh" vì không tới từ tổ tiên của chúng ta, chúng ta có nhiều gen lạ Con người còn có những đặc điểm sinh học khác khiến nó trở nên tách biệt với các loại sinh vật khác trên Trái Đất và con người không tiến hóa theo phần còn lại "Con người được cho là loài sinh vật phát triển bậc nhất trên Trái Đất Tuy nhiên, đáng ngạc nhiên là chúng ta vẫn không phù hợp và được trang bị kém khi đối mặt với môi trường Trái Đất" Tiến sĩ đưa ra giải thuyết rằng, tổ tiên loài người đã có thể đã tới Trái Đất nhờ thiên thạch hoặc sao chổi cách đây khoảng 60.000 - 200.000 năm nhưng chưa tiến hóa hoàn thiện như loài người ngày nay Sau đó chủng người Neanderthal đã lai giống với các loài khác, có thể
từ Alpha Centauri - hệ sao gần nhất với Hệ Mặt Trời của chúng ta, nằm cách mặt trời 4,37 năm ánh sáng để con người có thể vượt trội và thích nghi tốt hơn trên Trái Đất
Như vậy, con người đã lai tạo với người ngoài hành tinh Những bằng chứng khảo cổ từ các nền văn minh lớn trên Trái Đất như Peru, Ấn Độ, Trung Quốc và Bolivia chỉ sự tồn tại của một giống người ưu việt từ ngoài Trái Đất giúp đỡ loài người như Kim tự tháp, chữ viết, các phép tính chính xác của người
Ai Cập cổ đại