1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề lý luận về nguồn gốc đổi mới và chuyển giao đổi mới trong doanh nghiệp dịch vụ ví dụ

18 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 90,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguồn gốc chức năng trả lời cho câu hỏi: Đổi mới bắt nguồn từ đâu? Chúng bắt nguồn từ bên trong hay bên ngoài doanh nghiệp? Chính xác từ bộ phận nào trong công ty. Trong một công ty, có năm nguồn gốc chức năng của đổi mới.

Trang 1

Đề tài:

Một số vấn đề lý luận về nguồn gốc đổi mới và chuyển giao đổi mới trong

doanh nghiệp dịch vụ Ví dụ

Trang 2

I Một số lý luận về nguồn gốc đổi mới và chuyển giao đổi mới trong doanh nghiệp

1.1 Một số lý luận về nguồn gốc đổi mới

1.1.1 Nguồn gốc chức năng của đổi mới

Nguồn gốc chức năng trả lời cho câu hỏi: Đổi mới bắt nguồn từ đâu? Chúng bắt nguồn từ bên trong hay bên ngoài doanh nghiệp? Chính xác từ bộ phận nào trong công ty Trong một công ty, có năm nguồn gốc chức năng của đổi mới

Hình 1.1: Nguồn gốc chức năng của đổi mới

 Các phòng ban chức năng trong chuỗi giá trị bên trong của công ty

Đối thủ Ngành liên

quan

Nhà cung cấp

R&D Sản xuất Marketing Khách

hàng

Viện nghiên cứu công và tư

Trường đại học

Quốc gia 1

Thay đổi công nghệ

Kỳ vọng của khách hàng Quy trình gỡ bỏ điều tiết

Toàn cầu hoá

Chính trị/Luật pháp

Xã hội/Nhân khẩu

Trang 3

 Chuỗi giá trị gia tăng của nhà cung cấp, khách hàng và nhà đổi mới phụ bên ngoài công ty

 Các trường đại học, các chính phủ và các phòng thí nghiệm tư nhân

 Đối thủ cạnh tranh và các ngành liên quan

 Các quốc gia và khu vực khác

a Các phòng ban chức năng trong chuỗi giá trị bên trong của công ty

Bất kỳ một bộ phận chức năng nào trong chuỗi giá trị của công ty đều

có thể là nguồn gốc của đổi mới Ví dụ, một ý tưởng có thể được đưa ra và phát triển trong bộ phận R&D, sau đó bản thiết kế được chuyển tới bộ phận sản xuất để tiến hành sản xuất, định giá, xúc tiến thương mại và định vị trên thị trường Những ý tưởng này có thể về loại thành phần và số lượng các thành phần được sử dụng trong thiết kế; về các khái niệm cốt lõi làm cơ sở để phát triển từng thành phần; và về mối quan hệ giữa các thành phần Một số công ty đổi mới như 3M, Merek và Intel dành phần trăm lớn trong doanh thu hàng năm của họ và R&D để đưa ta các ý tưởng đổi mới Nhưng những ý tưởng đối mới không phải lúc nào cũng bắt nguồn từ bộ phận R&D Trong khi thực hiện các hoạt động gia tăng giá trị, bộ phận sản xuất, marketing và dịch vụ khách hàng cũng có cơ hội để đổi mới Với một số ngành, chi phí thấp và sự khác biệt trong sản phẩm chủ yếu xuất phát từ những đổi mới trong

bộ phận sản xuất Những đổi mới này còn được gọi là đổi mới quy trình – phương pháp mới, kỹ thuật mới, nguyên liệu đầu vào mới, loại thiết bị sử dụng mới và các cơ chế luồng thông tin mới được sử dụng để sản xuất một sản phẩm hoặc cung cấp một dịch vụ

Trong bộ phận marketing, một ý tưởng mới có thể được đưa vào chiến dịch quảng cáo nhằm thay đổi nhận thức của khách hàng về một sản phẩm và

do đó làm khác biệt sản phẩm đó với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh Một chiến dịch như vật cũng có thể góp phần nâng cao mức độ nhận diện thương hiệu, tạo ra sự khác biệt hơn nữa so với các sản phẩm khác Trong quá

Trang 4

để giành được một sản phẩm tiêu chuẩn Những ý tưởng mới liên quan đến việc định vị một sản phẩm mới về tài chính từ bộ phận tài chính có thể tạo ra chi phí vốn thấp hơn và do đó giúp giảm chi phí cho sản phẩm mới

b Nhà cung cấp, khách hàng và nhà đổi mới phụ

Von Hippel đã chỉ ra rằng nhà sản xuất không phải luôn luôn là nguồn gốc của đổi mới Nhà cung cấp, khách hàng, những nhà đổi mới phụ, nhà tài trợ, nhà phân phối và bất kỳ chủ thể nào hưởng lợi từ một đổi mới đều có thể

là nguồn gốc của đổi mới đó Những lợi ích này có thể là lợi ích về mặt kinh

tế hoặc lợi ích về mặt chiến lược Chúng ta sẽ nghiên cứu trường hợp của nhà cung cấp, khách hàng và nhà đổi mới phụ để thấy được điều này

Nhà cung cấp linh kiện C cho các công ty sản xuất có thể tiến hành hai bước đổi mới chiến lược để gia tăng doanh số bán C Trước hết, họ có thể phát minh ra một sản phẩm mới sử dụng linh kiện C làm nguyên liệu đầu vào Hai là, một nhà cung cấp cũng có thể phát triển một sản phẩm B khác, là sản phẩm bổ sung cho thành phần C Theo đó khách hàng có thể tăng nhu cầu mua link kiện C Ví dụ, nhà sản xuất bộ vi xử lý cho mày tính có thể cung cấp miễn phí các phần mềm Khi đó, sẽ có nhiều phần mềm được cài đặt cho máy tính cá nhân, càng nhiều máy tính được bán và do đó công ty sẽ nhận được nhiều đơn đặt hàng bộ vi xử lý hơn

Các khách hàng cần cài đặt một số tính năng đặc biệt vào sản phẩm, dịch vụ họ đang sử dụng có thể được đáp ứng yêu cầu Nếu đây là những tính năng mà các khách hàng khác cũng có thể sử dụng được thì các doanh nghiệp

sẽ hợp nhất những đặc tính này vào sản phẩm, dịch vụ của họ

Nhà đổi mới phụ là một công ty mà sản phẩm, dịch vụ của họ có vai trò quyết định đối với sự thành công của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp lại không nắm quyền kiểm soát hoặc không có quyền kiểm soát trực tiếp Để xây dựng được sản phẩm, dịch vụ bổ sung hiệu quả, nhà đổi mới phụ phải có hiểu biết sâu sắc về một số khía cạnh của sản phẩm, dịch vụ chính Đây là cơ hội

để đổi mới sản phẩm, dịch vụ Đổi mới này cso thể diễn ra theo ba cách Một

Trang 5

là, giống như nhà cung cấp, nhà đổi mới phụ có thể tiến hành đổi mới sản phẩm dịch vụ chính để bán được nhiều sản phẩm, dịch vụ bổ sung hơn Hai

là, tương tự như khách hàng, nhà đổi mới phụ có thể bổ sung thêm một số đặc tính mới cho sản phẩm, dịch vụ chính để có thể phát triển sản phẩm, dịch vụ

bổ sung dễ dàng hơn Ba là, nhà đối mới phụ có thể nhận ra rằng bằng cách

bổ sung thêm tính năng cho sản phẩm, dịch vụ chính, sản phẩm và dịch vụ bổ sung của họ có thể hoạt động hiệu quả và bán ra nhiều lợi nhuận hơn

c Trường đại học, chính phủ và các viện nghiên cứu tư nhân

Các nghiên cứ khoa học cơ bản vẫn được tiến hành dù không hướng tới một sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể nào (nghĩa là, nghiên cứu được thực hiện

để có được tri thức khoa học và vì lợi ích của tri thức), đó có thể là một nguồn gốc của đổi mới mà công ty có thể thương mại hoá Nghiên cứu có thể được tiến hành trong các trường đại học, các viện nghiên cứu của chính phủ, các ngành công nghiệp liên quan hoặc các công ty đối thủ DNA, mạng Internet, khoa học hạt nhân đều là những nghiên cứu cơ bản do các trường đại học, các viện nghiên cứu của chính phủ hoặc tư nhân tiến hành Thông thường các kết quả nghiên cứu này đều được phổ biến rộng rãi trên các tạp chí khoa học hoặc hội thảo khoa học nên các cá nhân, tổ chức đều dễ dàng tiếp cận Nếu một công ty tin rằng một trong số các kết quả này chứa đầy hứa hẹn, công ty có thể tiến hành nghiên cứu sâu hơn với mục tiêu ứng dụng cụ thể, và đó chính là nghiên cứu ứng dụng

Nghiên cứu do các trường đại học, chính phủ hoặc viện nghiên cứu tư nhân tiến hành không dừng lại ở bước cơ bản Nó được mở rộng sang nghiên cứu ứng dụng Các ví dụ phổ biến gồm có máy vi tính, mạng toàn cầu, năng lực hạt nhân Một lần nữa, để nắm bắt được lợi thế từ các kết quả nghiên cứu

và phát triển do các tổ chức nghiên cứu này tiến hàng, một công ty cần phải thực hiện các nghiên cứu liên quan và xây dựng năng lực tiếp nhận

d Hiệu ứng lan toả từ các đối thủ cạnh tranh

Trang 6

Khi một công ty hưởng lợi từ những kết quả nghiên cứu của bộ phận R&D của một công ty khác, công ty đó được cho là đang hưởng lợi từ hiệu ứng lan toả Các hiệu ứng lan toả có thể là bất cứ gì từ tri thức khoa học cơ bản cho đến các ý tưởng quảng cáo, cả hai hiệu ứng này đều cần rất nhiều vốn

để phát triển Ngày nay, với công nghệ hiện đại cùng với đội ngũ những nhà khoa học, kỹ sư giỏi đã giúp các công ty ngày càng hưởng lợi nhiều từ hiệu ứng lan toả Một công ty về công nghệ lớn như Microsoft mà hầu hết các sản phẩm phần mềm chiếm thị phần lớn trên thị trường của Microsoft đều không phải do công ty phát minh ra Hiệu ứng lan toả phụ thuộc vào mức độ tri thức khoa hoặc hoặc phát minh được bảo vệ khỏi những công ty sao chép – phụ thuộc vào cơ chế chuyển nhượng của nó Cơ chế chuyển nhượng phụ thuộc vào sự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tính hàm ẩn và số lượng của tri thức đó Bản quyền được bảo vệ chặt chẽ hơn bằng sáng chế, và bằng sáng chế trong ngành được bảo vệ chặt chẽ hơn trong ngành chất bán dẫn Tri thức càng mang tính hàm ẩn và càng quan trọng thì đổi mới càng khó sao chép

Các nghiên cứu của một công ty đôi khi có thể dễ dàng bị sao chép, nhưng vẫn có nhiều công ty tiến hành hoạt động R&D là bởi khả năng tiếp nhận hiệu ứng lan toả của một công ty phụ thuộc vào lượng tri thức liên quan

mà công ty đó sở hữu, có nghĩa là phụ thuộc vào năng lực tiếp nhận của công

ty Một cách để hình thành năng lực này là tiến hành các nghiên cứu liên quan Mặt khác, những công ty đầu tiên phát minh và thương mại hoá một đổi mới luôn có được những lợi thế nhất định, ngay cả khi đổi mới đó dễ dàng bị sao chép Khi một đổi mới bị sao chép, nhà đổi mới rất có thể đã thu được nhiều lợi nhuận hoặc đã chuyển sang khai thác đổi mới tiếp theo

e Các quốc gia và khu vực khác

Các khu vực, quốc gia khác nhau sẽ có những thế mạnh khác nhau để đổi mới sản phẩm dịch vụ Nói cách khác sẽ có những khu vực, quốc gia thực hiện một số loại hình đổi mới tốt hơn các quốc gia, khu vực khác Nước Mỹ dẫn đầu thế giới về sản phẩm, công nghệ sinh học, phần mềm, điện ảnh, giải

Trang 7

trí truyền hình Đức thống trị thế giới về các dụng cụ máy móc và háo học Italy đi đầu về các loại giầy, đặc biệt là giầy da Những ví dụ này cho thấy rằng các quốc gia khác nhau vó thể là nguồn gốc của đổi mới tốt hơn một số quốc gia khác

1.1.2 Nguồn gốc hoàn cảnh của đổi mới

Cho tới lúc này chúng ta đã tìm hiểu về nguồn gốc mà một công ty có thể hướng tới để tìm kiếm đổi mới và cũng ít nhiều đề cập đến khi nào và trong hoàn cảnh nào thì đổi mới xuất hiện Tiếp theo sẽ là một số nguồn gốc của đổi mới như vậy

a Các hoạt động được lên kế hoạch của công ty

Một số đổi mới xuất phát từ các hoạt động được lên kế hoạch của công

ty Đây là điều mà rất nhiều người liên tưởng tới khi họ nghĩ về đổi mới Một nhà sản xuất đầu tư vào hoạt động R&D và các hoạt động khác và từ đó xuất hiện các ý tưởng mới, các ý tưởng này được nuôi dưỡng và phát triển thành sản phẩm, dịch vụ mới Một khách hàng trong quá trình sử dụng sản phẩm dịch vụ thường bổ sung thêm những ý kiến để dễ sử dụng hơn Một nhà đối mới phụ đưa một số tính năng mới vào sản phẩm dịch vụ để thúc đẩy việc sử dụng sản phẩm bổ sung của công ty Trong quá trình tiến hành nghiên cứu, các trường đại học và các viện nghiên cứu của chính phủ tìm ra những công nghệ đột phá (như DNA và bóng bán dẫn) mà các công ty có thể dựa vào đó

để tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới

b Các sự kiện bất ngờ

Trong quá trình tiến hành các hoạt động được lên kế hoạch, các sự kiện bất ngờ, như một thất bại, có thể là nguồn gốc lý tưởng của đổi mới Ví dụ, vào những năm 1930, IBM đã phát triển máy kế toán hiện đại đầu tiên dành riêng cho ngành ngân hàng Nhưng các ngân hàng lại không mua thiết bị mới

đó IBM liền chuyển hướng sang thư viện Công cộng New York, thư viện này

Trang 8

tại thời điểm đó, có ngân sách dư dả hơn các ngân hàng, nên đã mua và đưa vào sử dụng thiết bị này

c Thay đổi: Sự phá huỷ mang tính sáng tạo

Các gián đoạn công nghệ, các quy định và dỡ bỏ điều tiết của chính phủ, toàn cầu hoá, sự thay đổi trong kỳ vọng của khách hàng và các thay đổi

vĩ mô, xã hội hoặc dân số cũng là nguồn gốc của đổi mới Công nghệ sinh học, web, sợi cáp quang, điện ảnh số, modern cáp, bộ xử lý song song lớn và

ô tô điện đều là các gián đoạn của các công nghệ có hiệu quả vượt trội so với công nghệ cũ Chúng cũng làm cho một số năng lực trở nên lỗi thời Schumpeter đã gọi những thay đổi mà qua đó đổi mới công nghệ đã phá huỷ một trật tự cũ này là sự phá huỷ mang tính sáng tạo

1.2 Chuyển giao đổi mới

Nắm bắt được nguồn gốc của đổi mới là một vấn đề Để chuyển giao thành công một đổi mới giữa các bộ phận chức năng, các tổ chức và quốc gia lại là một chuyện khác Một số tài liệu đã sử dụng từ “đổi mới” thay vì công nghệ, để nhấn mạnh một sự thật là cả tri thức công nghệ và tri thức thị trường đều liên quan đến quá trình chuyển giao

1.2.1 Chuyển giao đổi mới giữa các bộ phận chức năng và các tổ chức

Không cần biết nguồn gốc của đổi mới là gì, công ty nào muốn khai thác đổi mới đó đều phải đối mặt với việc chuyển giao đổi mới Ví dụ, nếu ý tưởng ở bộ phận R&D trong công ty đưa ra, nguyên mẫu đầu tiên hoặc bản thiết kế chi tiết phải được chuyển tới bộ phận sản xuất Nếu ý tưởng xuất phát

từ một trường đại học, công ty phải chuyển ý tưởng đó tới các bộ phận chức năng của mình Hiệu quả của một chuyển giao như vậy phụ thuộc vào bốn nhân tố sau:

Trang 9

Hiệu quả chuyển giao

Bản chất của đổi mới:

- Mức độ ẩn hoặc hiện

- Mức độ đột phá

- Mức độ phức tạp

Sự khác biệt về

văn hoá giữa các

tổ chức

Thời điểm:

- Khi nào

- Bao lâu

Khả năng tiếp nhận và khả năng chuyển giao + Kinh nghiệm

Hình 1.2: Các nhân tố quyết định chuyển giao đổi mới

a Năng lực tiếp nhận và năng lực chuyển giao

Việc tiếp thu một tri thức mới cần phải có các tri thức liên quan, hiệu quả chuyển giao một công nghệ từ chủ thể này tới chủ thể khác phụ thuộc vào mức độ tri thức liên quan mà chủ thể tiếp nhận có để cho phép chủ thể này tiếp nhận tri thức được chuyển giao Hãy xem xét quá trình chuyển giao một thiết kế từ bộ phận R&D tới bộ phận sản xuất Nhóm sản xuất có tham gia tư vấn và đóng góp vào quá trình thiết kế của bộ phận R&D không? Nhóm sản xuất có nắm vững những điểm đặc trưng của thiết kế không? Trong một số doanh nghiệp, bộ phận sản xuất cùng làm việc với bộ phận R&D trong quá trình thiết kế nên việc chuyển giao giữa hai bộ phận diễn ra rất suôn sẻ, hiệu quả Nếu việc chuyển giao là từ công ty này tới công ty khác thì các câu hỏi đặt ra cũng tương tự Trước khi việc chuyển giao diễn ra, công ty tiếp nhận có tiến hành nghiên cứu về các công nghệ liên quan không? Công ty có được những cá nhân kết nối thông tin hiệu quả để thực hiện việc chuyển giao giữa

Trang 10

hai công ty không? Năng lực tiếp nhận không chỉ giới hạn ở tri thức mà còn phụ thuộc vào các tài sản bổ sung phù hợp mà doanh nghiệp có Để thực hiện thành công vai trò của mình, tổ chức chuyển giao cần có năng lực chuyển giao nhất định Tổ chức đó phải có khả năng trình bày, phân tích rõ ràng về đổi mới

b Khác biệt về văn hoá

Văn hoá trong một tổ chức là “một hệ thống các giá trị được chia sẻ (điều gì là quan trọng) và niềm tin (cách mọi việc diễn ra) mà tương tác với con người trong tổ chức đó, các cơ cấu và hệ thống trong tổ chức để hình thành các hành vi chuẩn mực (cách chúng ta thực hiện các công việc xung quanh” Tuỳ thuộc vào mức độ ảnh hưởng, chi phối của văn hoá doanh nghiệp mà có thể tồn tại các tiểu văn hoá (văn hoá nhóm) trong một doanh nghiệp Những tiểu văn hoá đó có thể tác động đến quá trình chuyển giao công nghệ trong doanh nghiệp Nếu bộ phận sản xuất coi bộ phận R&D là

“những nhà khoa học viển vông” trong khi bộ phận R&D cũng không mấy coi trọng bộ phận sản xuất thì khả năng hợp tác giữa hai bộ phận thường sẽ thấp hơn so với khi họ coi nhau là đối tác trong đổi mới

Sự khác nhau về văn hoá giữa tổ chức chuyển giao và tổ chức tiếp nhận

có thể gây khó khăn cho việc chuyển giao

c Bản chất của đổi mới

Hiệu quả chuyển giao một đổi mới cũng phụ thuộc vào bản chất của đổi mới đó, cụ thể là đổi mới đó mang tính tuần tự hay đột phá, phức tạp hay đơn giản, mức độ hàm ẩn của tri thức cơ sở, và là đổi mới thuộc nhóm chế biến khối hay đổi mới dựa vào tri thức Đổi mới càng phức tạp, số lượng tri thức phải chuyển giao càng nhiều, và do đó việc chuyển giao càng gặp khó khăn Nếu đổi mới mang tính đột phá về mặt tổ chức thì doanh nghiệp chuyển giao

có thể thậm chí không biết được cái mà mình muốn chuyển giao là gì và doanhg nghiệp tiếp nhận có thể không có khả năng để tiếp nhận đổi mới đó Tri thức dễ dàng chuyển giao như thế nào còn phụ thuộc vào mức độ ẩn của

Ngày đăng: 23/04/2021, 21:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w