1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Báo cáo ngoại khóa Qũy hóa đổi danh mục ETF

33 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 632,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thời gian gần đây, các quỹ đầu tư ETF (ExchangeTraded Fund) liên tục được nhắc đến như một sức mạnh mới của các nhà đầu tư nước ngoài. Là một loại hình quỹ mở, tuy nhiên quỹ ETF thừa hưởng những đặc tính tốt nhất của cả quỹ mở và quỹ đóng, đồng thời loại bỏ những hạn chế của hai quỹ này. Qũy ETF không những đem lại lợi ích đến các nhà đầu tư vì những đặc điểm của quỹ mà còn đem lại những thuận lợi cho nền kinh tế bởi quỹ ETF là một công cụ hiệu quả để xử lý nợ xấu và sỡ hữu chéo; công cụ phòng chống khủng hoảng, thay đổi hành vi và văn hóa đầu tư cũng như thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài… Bên cạnh đó, quỹ ETF cũng chứa đựng nhiều rủi ro như rủi ro khác biệt giá trước khi niêm yết, rủi ro hệ thống đối với chỉ số mục tiêu, sai số trong mô phỏng hay tình trạng chênh lệch giá… Trên thế giới, quỹ ETF đã không còn xa lạ với nhiều quốc gia, khu vực nhưng vẫn còn là một “ẩn số” mới đối với Việt Nam để có thể sử dụng quỹ ETF một cách hiệu quả, giảm thiểu được những rủi ro có thể xảy ra. Và chứng chỉ quỹ ETF đầu tiên của Việt Nam VFMVN30 được VFM công bố đã giao dịch vào tháng 092014. Đây là “bước ngoặt” cho thị trường chứng khoán ở Việt Nam. Qũy ETF đặt ra những cơ hội và thách thức đối với Việt Nam. Trên đây là những lý do mà nhóm chúng tôi chọn đề tài “QUỸ HOÁN ĐỔI DANH MỤC ETF” để làm Bài báo cáo ngoại khóa 2014.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

hành vi và văn hóa đầu tư cũng như thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài… Bên

cạnh đó, quỹ ETF cũng chứa đựng nhiều rủi ro như rủi ro khác biệt giá trước khi niêmyết, rủi ro hệ thống đối với chỉ số mục tiêu, sai số trong mô phỏng hay tình trạng chênhlệch giá…

Trên thế giới, quỹ ETF đã không còn xa lạ với nhiều quốc gia, khu vực nhưngvẫn còn là một “ẩn số” mới đối với Việt Nam để có thể sử dụng quỹ ETF một cáchhiệu quả, giảm thiểu được những rủi ro có thể xảy ra

Và chứng chỉ quỹ ETF đầu tiên của Việt Nam VFMVN30 được VFM công bố

đã giao dịch vào tháng 09/2014 Đây là “bước ngoặt” cho thị trường chứng khoán ởViệt Nam Qũy ETF đặt ra những cơ hội và thách thức đối với Việt Nam

Trên đây là những lý do mà nhóm chúng tôi chọn đề tài “QUỸ HOÁN ĐỔIDANH MỤC ETF” để làm Bài báo cáo ngoại khóa 2014

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô, quý diễn giả đã đem đến những buổi sinh hoạt bổ ích và chia sẻ tài liệu để chúng tôi hoàn thành bài báo cáo này!

Trang 3

I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ QUỸ HOÁN ĐỔI DANH MỤC ETF

1 Lịch sử hình thành và phát triển

Quỹ ETF manh nha ra đời vào năm 1989 khi một quỹ có tên là IndexParticipation Shares, mô phỏng theo chỉ số S&P 500 được ra đời và giao dịch trên sànchứng khoán Mỹ và sàn Philadelphia Tuy nhiên, quỹ này đã dừng hoạt động khi bịkiện bởi một sàn giao dịch khác là sàn Chicago vì sai luật

Một sản phẩm tương tự khác, có tên Toronto Index Participation Shares, ra đờingay sau đó vào năm 1990, giao dịch trên sàn Toronto Quỹ này mô phỏng chỉ số TSE

100 và ngày càng có thanh khoản Do sự phổ biến của loại hình sản phẩm này, các sàngiao dịch chứng khoán, trong đó có sàn chứng khoán Mỹ đã xây dựng một sản phẩmkhông vi phậm luật của Ủy Ban Chứng Khoán Mỹ SEC

Năm 1993, một sản phẩm thỏa mãn luật của SEC được ra đời dưới hình thứcchứng chỉ lưu ký mô phỏng theo chỉ số S&P500 được đặt tên là SPDR Sản phẩm này

là sản phẩm quỹ ETF lớn nhất trên thế giới sau đó Năm 1995, một sản phẩm khácđược thiết kế cho các cổ phiếu có vốn hóa trung bình Midcap SPDR được chào bán racông chúng và giao dịch

Năm 1998, State Street Global Advisors giới thiệu và chào bán ra công chúngmột tổ hợp các quỹ ETF mô phỏng 9 ngành nghề của S&P 500 Cùng năm đó, một quỹETF khác mô phỏng chỉ số Dow Jones cũng được giới thiệu

Năm 1999, ở Hồng Kông cũng xuất hiện Tracker Fund- một quỹ ETF

Từ năm 2000 trở đi, một loạt các công ty quản lý quỹ lớn trên thế giới nhưEurope’s Euro STOXX 50- Châu Âu, Barclays Global investors, Blackrock, vàVanguard đã tung ra một loạt các sản phẩm quỹ ETF để tham gia vào thị trường quỹETF mới mẻ và đầy tiềm năng

Trang 4

Source: Deutsche Bank AG

Số lượng Quỹ ETF niêm yết và tài sản không ngừng tăng trưởng

2 Khái niệm ETF

Quỹ hoán đổi danh mục (Exchange-Traded Fund), gọi tắt là quỹ ETF, là quỹ

mở được hình thành từ việc tiếp nhận, hoán đổi danh mục chứng khoán cơ cấu lấychứng chỉ quỹ Trong đó, danh mục chứng khoán cơ cấu là danh mục bao gồm cácchứng khoán được thiết kế nhằm mô phỏng biến động của chỉ số tham chiếu và đượccông ty quản lý quỹ chấp nhận trong giao dịch hoán đổi lấy lô chứng chỉ quỹ ETF

Quỹ ETF không chỉ mô phỏng chỉ số chứng khoán mà có thể là hàng hóa haymột rổ cổ phiếu Việc hoán đổi danh mục chứng khoán cơ cấu lấy lô chứng chỉ quỹhoặc ngược lại thường được thực hiện bởi các nhà đầu tư tổ chức, sau đó các lô chứngchỉ quỹ có thể được chia nhỏ ra và bán lại cho các nhà đầu tư khác trên sàn giao dịch

Trang 5

3 Một số khái niệm khác

 Chỉ số tham chiếu: là chỉ số chứng khoán do SGDCK tại Việt Nam xây dựng

 Danh mục chứng khoán cơ cấu (PDF): là danh mục bao gồm các chứngkhoán cơ cấu được công ty quản lý quỹ chấp nhận trong giao dịch hoán đổi

 Lô chứng chỉ quỹ ETF: đơn vị dùng để giao dịch hoán đổi tại thị trường sơcấp Một lô ETF phải có tối thiểu phải bằng 100.000 chứng chỉ quỹ ETF

 iNAV: là giá trị tài sản ròng trên một chứng chỉ quỹ ETF được xác định trongphiên giao dịch và được cập nhật 15 giây một lần

 Tracking Errors: Chênh lệch giữa biến động giá trị TS ròng của Quỹ so vớibiến động của chỉ số tham chiếu

 Giá trị tài sản ròng của quỹ: tổng tài sản của quỹ - (tổng nợ + các chi phí liênquan)

 Giá trị tài sản ròng trên một đơn vị quỹ: giá trị tài sản ròng / (chia) số lượngETF đã phát hành

 Giá của ETF

+ TT sơ cấp: giá trị tài sản ròng trên một đơn vị quỹ

+ TT thứ cấp: cung cầu trên thị trường

ETF Cổ phiếu Qũy chỉ số

Trang 6

Ví dụ minh họa về CU, PDF.

4 So sánh ETF, quỹ đóng và quỹ mở

Trang 7

II ĐẶC ĐIỂM CỦA QUỸ ETF

1 Ưu điểm:

1.1 Đối với nhà đầu tư

Quỹ ETF có tính minh bạch cao hơn cả quỹ đóng và quỹ mở Cụ thể danh

mục cơ cấu của quỹ ETF được công bố hàng ngày Danh mục này về cơ bản cũngchính là danh mục đầu tư của quỹ; giá trị tài sản ròng tham chiếu iNAV được công bố

Trang 8

theo thời gian thực, giúp nhà đầu tư dễ ra các quyết định đầu tư; giá trị tài sảnròng NAV được công bố hàng ngày; số lượng chứng chỉ quỹ phát hành/mua lại;

Dễ tiếp cận, phù hợp với nhiều loại hình nhà đầu tư (ưu điểm giống như quỹ

đóng, quỹ mở): Với cơ chế giao dịch của quỹ đóng, đơn vị giao dịch nhỏ phù hợp vớinhà đầu tư nhỏ lẻ Trong khi đó, với cơ chế giao dịch lô lớn của quỹ mở, sản phẩm nàyphù hợp với nhà đầu tư lớn;

Cơ chế giao dịch linh hoạt, tiện ích (ưu điểm giống như quỹ đóng): Chứng chỉ

quỹ ETF niêm yết, vì vậy có thể áp dụng nhiều loại lệnh giao dịch khác nhau như khigiao dịch cổ phiếu Nhà đầu tư có thể sử dụng hệ thống giao dịch trực tuyến, hoặc sửdụng các dịch vụ tài chính khác như giao dịch ký quỹ đối với chứng chỉ quỹ ETF;

Tính thanh khoản (ưu điểm của cả quỹ đóng, quỹ mở): Chứng chỉ quỹ ETF

được niêm yết, vì vậy được giao dịch hàng ngày với mức giá không quá chênh lệch sovới giá trị tài sản ròng;

Danh mục đầu tư được đa dạng hóa Là công cụ phòng ngừa rủi ro hiệu quả;

Chi phí quản lý thấp Quỹ ETF là loại hình quỹ thụ động, quản lý theo danh

mục chỉ số đã được xác định sẵn, tiết giảm chi phí phân tích, chi phí đầu tư, chi phígiao dịch Nhìn chung, tỷ lệ chi phí hoạt động của quỹ thấp hơn nhiều so với quỹđóng, quỹ mở truyền thống

1.2 Đối với nền kinh tế.

Thứ nhất, quỹ ETF chứng khoán có thể là một công cụ hiệu quả để xử lý nợ xấu

và sỡ hữu chéo Cụ thể, quỹ ETF và quỹ bất động sản đã từng được Chính phủ Nhật

Bản chú trọng sử dụng trong giai đoạn 2001-2006 nhằm mục đích xử lý nợ xấu và sởhữu chéo tại các tập đoàn công nghiệp lớn của Nhật Bản

Trang 9

Trong giai đoạn phát triển nóng thập kỷ 70-80, nhiều tập đoàn công nghiệp củaNhật Bản thành lập ngân hàng Các ngân hàng này nắm giữ cổ phiếu của các công tycon trực thuộc tập đoàn (sở hữu chéo) Nhiều ngân hàng cũng cấp tín dụng với tài sảnbảo đảm là cổ phiếu niêm yết, hoặc bất động sản.

Thập kỷ 90, nền kinh tế Nhật Bản gặp nhiều khó khăn, TTCK sụt giảm, dẫn tớigiá trị các cổ phiếu nằm trong danh mục đầu tư của các Ngân hàng hoặc các cổ phiếu,bất động sản là tài sản bảo đảm cũng giảm mạnh Điều này làm ảnh hưởng tới bảngcân đối của hệ thống ngân hàng, làm giảm tỷ lệ an toàn vốn, giảm năng lực cung tíndụng của cả hệ thống ngân hàng nói chung

Để tháo gỡ tình trạng này, Chính phủ Nhật Bản cho phép hình thành các quỹETF và các quỹ đầu tư bất động sản, thực chất là việc chứng khoán hóa các tài sản (nợxấu, sở hữu chéo) trong hệ thống ngân hàng Các ngân hàng đưa cổ phiếu trong danhmục đầu tư vào các quỹ ETF, đưa các hạng mục bất động sản vào các quỹ đầu tư bấtđộng sản (REITS) Đổi lại, các ngân hàng nhận các chứng chỉ quỹ ETF và chứng chỉquỹ đầu tư bất động sản (REITS), đều là các sản phẩm niêm yết, thanh khoản cao vàkhông nằm trong danh mục các tài sản bị loại trừ khi tính chỉ tiêu an toàn vốn theochuẩn Basel

Điều này cải thiện đáng kể chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng, làm sạchbảng cân đối kế toán của các tổ chức này; tăng tỷ lệ an toàn tài chính, làm giảm nợxấu, giảm dự phòng trích lập, từ đó làm tăng khả năng cung tín dụng của cả hệ thốngngân hàng

Những nỗ lực của Chính phủ Nhật Bản đã đạt được những thành tựu quantrọng, giá trị tài sản của các quỹ ETF tăng mạnh qua các năm, góp phần xử lý một khốilượng lớn tài sản đọng trong hệ thống ngân hàng Cụ thể 11,528 tỷ USD (năm 2001);32,517 tỷ USD (2002); 38,378 tỷ USD (2003); 40,335 tỷ USD (2004); 47,987 tỷ USD(2005) và 53,340 tỷ USD (2006)

Trang 10

Thứ hai, quỹ ETF còn là công cụ phòng chống khủng hoảng Điển hình là sự ra

đời và can thiệp của Chính quyền Hồng Kông nhằm chống đầu cơ tiền tệ trong giaiđoạn khủng hoảng tài chính ở châu Á Nhà đầu cơ nước ngoài giữ vị thế bán hợp đồngtương lai chỉ số trong giai đoạn 1997-1998, gây áp lực khiến TTCK HồngKông HSI sụt giảm mạnh, dẫn tới Chính quyền Hồng Kông phải mua danh mục chứngkhoán cấu thành chỉ số HSI nhằm chặn đà giảm của chỉ số, hạn chế đầu cơ phái sinh

và đầu cơ tỷ giá của giới đầu cơ nước ngoài Tới tháng 12/1998, trên cơ sở danh mụcchứng khoán nắm giữ, Chính quyền Hồng Kông thành lập quỹ ETF TraHK (Trackerfund) quản lý bởi State Street Global Advisors Asia (chi tiết tại Phụ lục 2) Mặc dùviệc can thiệp của Hồng Kông vào TTCK vẫn đang là một chủ đề gây nhiều tranh cãi,tuy nhiên, hiệu quả của quỹ ETF TraHK trong việc ngăn ngừa khủng hoảng ở HồngKông là một sự thành công không thể phủ nhận

Thứ ba, tăng tính hấp dẫn cho TTCK, đặc biệt là thị trường thứ cấp Tạo ra

sản phẩm đầu tư minh bạch, cơ chế giao dịch linh hoạt, đa dạng hóa rủi ro và đượcquản lý chuyên nghiệp; giúp TTCK thu hút thêm nhà đầu tư mới, dòng vốn mới trênthị trường thứ cấp, tạo sự lan tỏa dễ thu hút thêm nguồn vốn cho nền kinh tế qua thịtrường sơ cấp

Thứ tư, thay đổi hành vi và văn hóa đầu tư Thay vì thực hiện đầu tư vào từng

mã chứng khoán riêng biệt, đòi hỏi nhiều thời gian để phân tích thị trường và thờiđiểm giao dịch Điều này ngày càng trở nên khó khăn hơn khi số lượng cổ phiếu niêmyết ngày một nhiều hơn, thậm chí lên tới hàng nghìn mã cổ phiếu Với sản phẩm quỹETF, nhà đầu tư sẽ đầu tư vào một rổ chỉ số, dễ theo dõi và phù hợp với các nhà đầu tưnhỏ lẻ, không chuyên nghiệp hoặc các nhà đầu tư nước ngoài, các nhà đầu tư tổ chức(quỹ hưu trí, quỹ bảo hiểm) Ngoài ra, việc đầu tư vào rổ chứng khoán (đầu tư theo chỉsổ) cũng hạn chế hiện tượng thị trường bị lạm dụng, thao túng

Thứ năm, thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, đặc biệt do cơ chế quỹ mở,

nhà đầu tư nước ngoài không bị hạn chế sở hữu số lượng chứng chỉ quỹ nắm giữ Tuy

Trang 11

nhiên, việc nhà đầu tư nước ngoài khi nhận lại danh mục cơ cấu, thì sẽ phải bán ra nếuvượt tỷ lệ sở hữu, sẽ vẫn giúp duy trì việc quản lý tỷ lệ sở hữu tại các tổ chức pháthành.

2 Rủi ro

Rủi ro thị trường Rủi ro này phát sinh khi giá trị các tài sản của quỹ suy giảm

từng phần hay toàn bộ trong một khoảng thời gian do tác động bởi nền kinh tế hoặcnhững yếu tố không lường trước được Điều này sẽ tác động đến hiệu quả của cáckhoản đầu tư, qua đó ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của quỹ Rủi ro này mang tính

hệ thống, nằm ngoài khả năng kiểm soát của công ty quản lý quỹ

Rủi ro mô phỏng chỉ số Sai số mô phỏng là độ lệch chuẩn giữa tỷ suất sinh lợi

của quỹ ETF và tỷ suất sinh lợi của chỉ số cơ sở Quỹ ETF có sai số mô phỏng càngnhỏ thì càng thu hút được nhà đầu tư Đối với công ty quản lý quỹ ETF, chức năngchính và quan trọng nhất là duy trì sai số mô phỏng ở mức thấp nhất có thể bằng cách

cơ cấu lại danh mục của quỹ

Trong thực tế, do biến động của thị trường và nhiều yếu tố khác như các hoạtđộng chia, tách, sáp nhập doanh nghiệp hay phát hành cổ phiếu thưởng làm cho nhiệm

vụ giảm thiểu sai số mô phỏng trở nên khó khăn hơn, đặc biệt trong điều kiện thịtrường thiếu thanh khoản Hơn nữa, quỹ phải chi trả các chi phí hoạt động hoặc các chiphí liên quan đến việc mua bán chứng khoán để cân chỉnh danh mục trong quá trìnhhoạt động Đây là những nguyên nhân chính làm phát sinh mức sai lệnh giữa quỹ vàchỉ số

Rủi ro quản lý danh mục mô phỏng Hầu hết các quỹ ETF là quỹ thụ động.

Nghĩa là, trừ khi một cổ phiếu cụ thể bị đưa ra khỏi chỉ số tham chiếu, quỹ nói chungtrong điều kiện bình thường sẽ không bán bất kỳ một chứng khoán trong danh mục củaquỹ cho dù cổ phiếu đó gặp bất lợi về tài chính hay một sự kiện doanh nghiệp nào đó.Tuy nhiên, nếu một cổ phiếu nào đó bị đưa ra khỏi chỉ số tham chiếu, quỹ sẽ thực hiệnbán chứng khoán đó bất kể chứng khoán đó đang có xu hướng tăng hay giảm giá trên

Trang 12

thị trường Vì vậy, kết quả hoạt động của quỹ ETF có thể thấp hơn so với các quỹ chủđộng thay đổi danh mục đầu tư tài sản để tận dụng cơ hội thị trường hoặc để giảm bớttác động của sự suy giảm của thị trường.

Rủi ro chênh lệch giá chứng chỉ quỹ và giá trị tài sản ròng (Premium/Discount risk) Giao dịch mua bán chứng chỉ quỹ trên sàn giao dịch chứng

khoán (giao dịch thứ cấp) có thể phát sinh chênh lệch giữa giá giao dịch và giá trị tàisản ròng (NAV) của quỹ Nguyên nhân có thể là do sự biến động của giá trị tài sảnròng của quỹ và/hoặc từ cung cầu chứng chỉ quỹ trên thị trường Do đó, nhà đầu tư cóthể bị thiệt hại nếu mua chứng chỉ quỹ tại một thời điểm khi giá thị trường cao hơnNAV hoặc bán chứng chỉ quỹ tại một thời điểm khi giá thị trường thấp hơn NAV

Rủi ro tỷ giá đối với các quỹ ETF nước ngoài Biểu hiện dễ thấy nhất của rủi

ro này là trong trường hợp quỹ ETF được niêm yết ở thị trường nước ngoài, còn rổchứng khoán cơ cấu được niêm yết ở thị trường trong nước Nếu đồng nội tệ bị mất giá

so với ngoại tệ, NAV của quỹ ETF cũng giảm theo và nhà đầu tư phải gánh chịu mức

lỗ này

Rủi ro thanh khoản Chứng chỉ quỹ ETF được niêm yết và giao dịch thứ cấp

trên sàn giao dịch chứng khoán Nhà đầu tư có thể chịu rủi ro thanh khoản chứng chỉquỹ ETF phát sinh do một hoặc nhiều yếu tố: quy mô của quỹ ETF, cơ cấu cổ đông củaquỹ ETF và các chiến lược nắm giữ của các cổ đông, nhu cầu giao dịch của các nhàđầu tư

Rủi ro hủy niêm yết Trong trường hợp mức sai lệch so với chỉ số tham chiếu

(tracking error) liên tục vượt quá mức sai lệch tối đa quy định hoặc không thể xác địnhđược chỉ số tham chiếu thì quỹ có khả năng bị hủy niêm yết và bị giải thể Khi đó nhàđầu tư sở hữu chứng chỉ quỹ ETF sẽ không thể thực hiện việc mua bán trên sàn Trongthời gian đó nhà đầu từ có thể bị thiệt hại khi nắm giữ chứng chỉ quỹ ETF

Rủi ro pháp lý Mỗi quỹ ETF sẽ chịu ràng buộc về pháp lý của các quốc gia mà

tại đó nó niêm yết hay triển khai các hoạt động đầu tư Đối với thị trường chứng khoán

Trang 13

Việt Nam (thị trường khá mới), Chính Phủ vẫn đang trong quá trình hoàn thiện và điềuchỉnh khung pháp lý cho các hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán.Những điều chỉnh này có thể ảnh hưởng đến hoạt động của quỹ ETF hoạt động tại ViệtNam trong tương lai

3 Các chủ thể tham gia thị trường ETF

Công ty quản lý quỹ: xây dựng danh mục đầu tư mô phỏng theo chỉ số cơ sở,phát hành và mua lại ETF

Thành viên lập quỹ (AP): tham gia giao dịch tại thị trường sơ cấp và thứ cấpcho chính mình, môi giới giao dịch (sơ cấp và thứ cấp) cho các nhà đầu tư khác

Tổ chức tạo lập thị trường (LP): cung cấp thanh khoản cho thị trường bằng cáchyết các mức giá chào mua và chào bán theo quy định

Ngân hàng giám sát: lưu ký các danh mục đầu tư của quỹ, chuyển giao và tiếpnhận danh mục chứng khoán cơ cấu (CKCC) vào quỹ trong giao dịch hoạt động hoánđổi, cung cấp dịch vụ quản trị quỹ (tính giá trị NAV, …)

Thị trường liên kết chứng khoán (TTLKCK): đăng ký, lưu ký, thanh toán bù trừETF, tổ chức và quản lý hệ thống vay và cho vay chứng khoán

Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK): niêm yết/ hủy niêm yết, tính toán iNAV,công bố thông tin của công ty quản lý quỹ, giám sát các giao dịch

4 Cơ chế phát hành – mua lại ETF (thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp).

Trang 14

Hoạt động của quỹ ETF được thực hiện thông qua hai thị trường với cơ chế cơbản như sau:

4.1 Trên Thị Trường Sơ Cấp

Bước 1: Thành viên lập quỹ thông qua việc huy động tiền và danh mục chứngkhoán từ các nhà đầu tư cũng như danh mục tự doanh của mình để thực hiện việc mua

đủ danh mục chứng khoán cơ cấu nhằm mục đích hoán đổi lấy chứng chỉ quỹ ETF.Danh mục chứng khoán cơ cấu là danh mục bao gồm những loại chứng khoán tạo nêndanh mục chứng khoán của chỉ số tham chiếu

Ngược lại, khi thành viên lập quỹ hoán đổi chứng chỉ quỹ ETF để lấy danh mụcchứng khoán cơ cấu thì thành viên lập quỹ có thể mang danh mục chứng khoán đó rathị trường chứng khoán bán hoặc trả lại danh mục cho nhà đầu tư cũng như bên tựdoanh của thành viên lập quỹ

Bước 2: Sau khi có danh mục chứng khoán cơ cấu, thành viên lập quỹ thực hiệnhoán đổi danh mục lấy chứng chỉ quỹ ETF Ngược lại, khi thành viên lập quỹ muốnlấy danh mục chứng khoán cơ cấu về để bán hoặc trả lại cho nhà đầu tư hay bên tự

Trang 15

Thanh toán bù trừ

Thanh toán bù trừdoanh của mình, thành viên lập quỹ thực hiện hoán đổi chứng chỉ quỹ ETF lấy danh

mục chứng khoán cơ cấu với công ty quản lý quỹ ETF

4.2 Trên Thị Trường Thứ Cấp - Giao Dịch Qua Sàn

Bước 3: Sau khi thành viên lập quỹ thực hiện hoán đổi danh mục lấy chứng chỉquỹ ETF, thành viên lập quỹ có thể bán các chứng chỉ quỹ ETF trên sàn giao dịch khi

Quỹ ETF niêm yết Ngược lại, thành viên lập quỹ có thể mua chứng chỉ quỹ ETF trên

sàn giao dịch nhằm mục đích hưởng chênh lệch giá hoặc hoán đổi chứng chỉ quỹ ETF

lấy danh mục chứng khoán với công ty quản lý quỹ ETF

Bước 4: Trên sàn giao dịch, các nhà đầu tư thứ cấp (không mua chứng chỉ quỹETF qua thành viên lập quỹ) có thể mua bán chứng chỉ quỹ ETF nhằm hưởng lợi từ

việc tăng giá trị của danh mục chứng khoán cơ cấu hoặc từ chênh lệch của giá chứng

Trang 16

5 Chu kỳ thanh toán

5.1 Thanh toán đối với Giao Dịch Sơ Cấp

Bước 1: Nhà đầu tư có đủ danh mục chứng khoán cơ cấu/lô chứng chỉ quỹ ETFđặt lệnh thông qua Thành viên lập quỹ/Đại lý phân phối đồng thời nộp tiền chênh lệch(nếu có) vào tài khoản phong tỏa của quỹ ETF tại ngân hàng giám sát

Bước 2: Đại lý phân phối gửi lệnh đến Thành viên lập quỹ (trường hợp đại lýphân phối không phải là thành viên lập quỹ)

Bước 3: Thành viên lập quỹ gửi lệnh giao dịch hoán đổi đến đại lý chuyểnnhượng

Bước 4: Đối với những lệnh giao dịch hợp lệ Đại lý chuyển nhượng sẽ phânbổ/rút chứng chỉ ETF vào/từ tài khoản lưu ký của nhà đầu tư

5.2 Thanh toán đối với giao dịch thứ cấp-Sở giao dịch Chứng khoán

Giao dịch chứng chỉ quỹ ETF tại Sở giao dịch chứng khoán sẽ được thực hiệntương tự như việc mua bán các cổ phiếu thông thường

6 G

iao dịch Arbitrage.

Ngày đăng: 04/04/2020, 15:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w