1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quỹ hoán đổi danh mục ETF

36 722 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 703,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với sự phát triển của thị trường tài chính, các sản phẩm tài chính ngày nay càng trở nên đa dạng, được tổ chức chặt chẽ và mang đến nhiều cơ hội hơn cho các nhà đầu tư, trong đó có một sản phẩm tài chính đang được chú ý và nhắc đến nhiều hiện nay, đó là quỹ ETF. Xuất phát dựa trên tình hình này, bài nghiên cứu “Quỹ ETF và những vấn đề khi áp dụng ở Việt Nam” sẽ đưa ra các khái niệm, đặc điểm, cơ chế hoạt động vài trò cũng như sự phát triển của ETF trên thế giới và Việt Nam, từ đó đưa ra những vấn đề mà việc đưa ETF vào hoạt động ở Việt Nam đang đối mặt để hỗ trợ cho sản phẩm tài chính đặc biệt này sớm góp mặt trên thị trường tài chính Việt Nam.

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

1 Tổng quan về quỹ ETF 3

1.1 Khái niệm quỹ ETF 3

1.2 Lý do tồn tại của quỹ ETF 6

1.3 Mục tiêu hoạt động 6

1.4 Phân loại 7

1.5 Đặc điểm của quỹ ETF 9

1.6 Ưu điểm của quỹ ETF 9

1.7 Các rủi ro khi đầu tư vào quỹ ETF 11

1.8 Cơ chế hoạt động 13

1.9 Kỹ thuật mô phỏng chỉ số cơ sở của một ETF 16

1.10 Định giá chứng chỉ quỹ ETF 17

1.11 Sự khác biệt giữa quỹ ETF so với các loại quỹ truyền thống 17

1.12 Vai trò của quỹ ETF 18

2 Hoạt động quỹ ETF trên thế giới 19

2.1 Quỹ ETF nổi tiếng thế giới- SPDR 21

2.2 Đánh giá về hoạt động của ETF trên thế giới 25

3 Quỹ ETF và tiềm năng của quỹ ETF tại Việt Nam 26

3.1 Hoạt động các quỹ ETF hiện nay ở Việt Nam 26

3.2 Tiềm năng phát triển của quỹ ETF tại Việt Nam thời gian tới 30

3.3 Những vấn đề cần giải quyết để quỹ ETF vận hành hiệu quả và phát triển ở Việt Nam 32

KẾT LUẬN 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO 35

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Cùng với sự phát triển của thị trường tài chính, các sản phẩm tài chính ngày nay càng trở nên đa dạng, được tổ chức chặt chẽ và mang đến nhiều cơ hội hơn cho các nhà đầu

tư, trong đó có một sản phẩm tài chính đang được chú ý và nhắc đến nhiều hiện nay,

đó là quỹ ETF Ý tưởng về loại quỹ ETF xuất hiện từ năm 1973 bởi Ngân hàng Well Fargo và Ngân hàng Quốc gia Mỹ, hai năm sau đó, quỹ ETF đại chúng chính thức ra đời vào ngày 31/12/1975 tại thị trường Mỹ, với tổng tài sản ban đầu là 11 triệu USD, quỹ mô phỏng theo chỉ số S&P 500 Tính đến tháng 2/2014, thế giới có trên 5.000 sản phẩm liên quan đến quỹ ETF với giá trị tài sản khoảng 2.500 tỷ USD, cho thấy một sự tăng trưởng bùng nổ của ETF Không những về quy mô, sản phẩm về quỹ ETF còn

mở rộng và phát triển trên nhiều lĩnh vực khác như quỹ ETF theo ngành, quỹ ETF về hàng hóa, về trái phiếu, về hợp đồng tương lai và nhiều lớp tài sản khác Đây là loại quỹ đầu tư thụ động, theo chỉ số, nên chi phí mà quỹ phải trả thấp hơn nhiều so với các quỹ đầu tư chủ động khác Bên cạnh đó, ETF có tính minh bạch cao và nhà đầu tư

dễ dàng, nhanh chóng phản ứng nhanh với khoản đầu tư của mình so với thông tin thị trường Chính vì vậy, tiềm năng của ETF trong tương lại thực sự là rất lớn

Việt Nam đang tiến hành nghiên cứu, thử nghiệm và đưa quỹ ETF vào vận hành trong năm 2014 Tuy nhiên áp dụng vào thực tiễn trên thị trường Việt Nam, quỹ ETF thực

sự còn quá mới mẻ và có nhiều điều cần phải xem xét để có thể đưa mô hình quỹ này hoạt động Xuất phát dựa trên tình hình này, nhóm chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu

đề tài “Quỹ ETF và những vấn đề khi áp dụng ở Việt Nam” nhằm tìm hiểu về khái niệm, đặc điểm, cơ chế hoạt động vài trò cũng như sự phát triển của ETF trên thế giới

và Việt Nam, từ đó đưa ra những vấn đề mà việc đưa ETF vào hoạt động ở Việt Nam đang đối mặt để hỗ trợ cho sản phẩm tài chính đặc biệt này sớm góp mặt trên thị trường tài chính Việt Nam

Bài tiểu luận của chúng tôi có kết cấu ba phần Phần 1 là tổng quan về quỹ ETF Phần

2 nói về hoạt động của quỹ ETF trên thế giới và cuối cùng, phần 3 nêu lên những tiềm năng cũng như những vấn đề cần phải giải quyết để việc vận hàng quỹ ETF ở Việt Nam đạt hiệu quả và phát triển trong tương lai

Trang 3

1 Tổng quan về quỹ ETF

1.1 Khái niệm quỹ ETF

Quỹ hoán đổi danh mục - ETF (Exchange traded fund) là hình thức quỹ đầu tư tương

hỗ mở (open-end mutual fund) trong đó danh mục đầu tư được chọn để mô phỏng các chỉ số chứng khoán như S&P500 hay NASDAQ, của một loại hàng hóa như vàng và dầu hoặc theo một ngành nào đó ETF được giao dịch mua bán trên các sàn giao dịch trên thế giới giống như những cổ phiếu thông thường Trong thị trường sơ cấp, các nhà đâu tư, thông thường là các tổ chức lớn, đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường Họ tham gia thị trường bằng cách tự mình tạo một danh mục đầu tư giống như danh mục đầu tư của quỹ ETF đó (gọi là đơn vị đầu tư) và gửi các cổ phiếu trong danh mục cho quỹ này để đổi lấy sổ lượng chứng chỉ quỹ ETF theo tỷ lệ tương ứng Các chứng chỉ quỹ ETF này sẽ được các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức giao dịch tự do trên thị trường thứ cấp Các chứng chỉ quỹ ETF có thời điểm được bán với giá cao hơn hoặc thấp hơn giá trị thuần NAV của các cổ phiếu cơ sở Tuy nhiên, quá trình này sẽ không tồn tại được lâu nhờ khả năng trao đổi các chứng chỉ quỹ ETF lấy các cổ phiếu cơ sở trong danh mục hay ngược lại (quá trình arbitrage) của các nhà đầu tư tổ chức Nhìn chung, giá giao dịch của các ETF này thường không khác nhiều so với giá trị thuần NAV của chúng

Một định nghĩa phổ biến khác khi nói về Quỹ ETF đó là ETF là quỹ mở được hình thành từ việc tiếp nhận, hoán đổi danh mục chứng khoán cơ cấu lấy chứng chỉ quỹ Trong đó, danh mục chứng khoán cơ cấu là danh mục bao gồm các chứng khoán được thiết kế nhằm mô phỏng biến động của chỉ số tham chiếu và được công ty quản lý quỹ chấp nhận trong giao dịch hoán đổi lấy lô chứng chỉ quỹ ETF Quỹ ETF không chỉ

mô phỏng chỉ số chứng khoán mà có thể là hàng hóa hay một rổ cổ phiếu Việc hoán đổi danh mục chứng khoán cơ cấu lấy lô chứng chỉ quỹ hoặc ngược lại thường được thực hiện bởi các nhà đầu tư tổ chức, sau đó các lô chứng chỉ quỹ có thể được chia nhỏ ra và bán lại cho các nhà đầu tư khác trên sàn giao dịch

Đối với các quỹ ETF mô phỏng chỉ số, nếu có bất kỳ chỉ số nào được tạo ra thì có thể

có từng ấy loại quỹ ETF được hình thành Những quỹ ETF phổ biến nhất trên thế giới

là các quỹ ETF trên các chỉ số cổ phiếu, mô phỏng các chỉ số cổ phiếu phổ biến như

Trang 4

các chỉ số MSCI và FTSE Ở Việt Nam, quỹ ETF đầu tiên là quỹ ETF VFMVN30 mô

phỏng chỉ số VN30, bao gồm 30 công ty niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán Tp

Hồ Chí Minh (HOSE), có giá trị vốn hóa và thanh khoản lớn hàng đầu

Một số thuật ngữ liên quan đến quỹ ETF

Quỹ hoán đổi danh

Chứng chỉ quỹ ETF

Là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhà đầu tư đối với một phần vốn góp tại quỹ ETF Mệnh giá chứng chỉ quỹ ETF là 10.000 đồng

Thực hiện các hoạt động khác theo quy định của pháp luật và Hợp đồng

ký với Công ty quản lý quỹ

Chỉ số tham chiếu

Là chỉ số thị trường do Sở giao dịch chứng khoán hay các tổ chức tài chính có uy tín xây dựng trên cơ sở giá hay quy mô vốn hóa của các chứng khoán đang niêm yết tại thị trường chứng khoán đó

khoán cơ cấu

Là danh mục bao gồm các chứng khoán cơ cấu được thiết kế nhằm mô phỏng biến động của chỉ số tham chiếu và được công ty quản lý quỹ chấp nhận trong giao dịch hoán đổi lấy lô chứng chỉ quỹ ETF

Trang 5

Hoán đổi danh mục

Là việc đổi danh mục chứng khoán cơ cấu lấy lô chứng chỉ quỹ ETF và ngược lại Giao dịch này được thực hiện giữa quỹ ETF và đại lý phát hành, nhà đầu tư đáp ứng các điều kiện quy định tại điều lệ quỹ

Đại lý phát hành

(thành viên lập quỹ)

Là công ty chứng khoán, có nghiệp vụ môi giới và tự doanh, ngân hàng lưu ký đã ký hợp đồng lập quỹ ETF với công ty quản lý quỹ

Đại lý phân phối

Là các công ty chứng khoán có nghiệp vụ môi giới chứng khoán đã ký hợp đồng phân phối chứng chỉ quỹ ETF với công ty quản lý quỹ và đại

lý phát hành

Tổ chức tạo lập thị

trường quỹ ETF

Là đại lý phát hành được công ty quản lý quỹ lựa chọn để ký hợp đồng cung cấp dịch vụ tạo lập thị trường cho quỹ ETF

Tổ chức cung cấp

dịch vụ có liên quan

Là ngân hàng giám sát, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán cung cấp một hoặc một số các dịch vụ như dịch vụ quản trị quỹ đầu tư, dịch vụ đại lý chuyển nhượng, dịch vụ quan hệ khách hàng

cơ cấu

Ngày định giá Là ngày mà công ty quản lý quỹ xác định giá trị tài sản ròng của quỹ ETF theo quy định tại Luật Chứng khoán

Ngày giao dịch

hoán đổi

Là ngày định giá mà quỹ ETF, thông qua công ty quản lý quỹ, phát hành

và mua lại các lô chứng chỉ quỹ ETF từ đại lý phát hành, nhà đầu tư theo cơ chế hoán đổi danh mục

Trang 6

Thời điểm đóng sổ

lệnh

Là thời điểm cuối cùng mà đại lý phân phối, đại lý phát hành nhận lệnh giao dịch hoán đổi từ nhà đầu tư để thực hiện trong ngày giao dịch hoán đổi Thời điểm đóng sổ lệnh được quy định tại điều lệ quỹ, công bố công khai tại bản cáo bạch, bản cáo bạch tóm tắt và không được muộn quá thời điểm đóng cửa thị trường của Sở Giao dịch Chứng khoán nơi chứng chỉ quỹ ETF niêm yết

Phí phát hành

Là phí mà nhà đầu tư, đại lý phát hành phải trả cho Công ty quản lý quỹ khi mua các lô chứng chỉ quỹ trong đợt phát hành lần đầu ra công chúng hoặc thực hiện giao dịch hoán đổi danh mục chứng khoán cơ cấu lấy các

lô chứng chỉ quỹ Phí này được thu khi thực hiện giao dịch và được tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá trị giao dịch của các lô chứng chỉ quỹ

Phí mua lại

Là phí mà nhà đầu tư, đại lý phát hành phải trả cho Công ty quản lý quỹ khi thực hiện giao dịch hoán đổi các lô chứng chỉ quỹ lấy danh mục chứng khoán cơ cấu Phí này được tính theo tỷ lệ phần trăm giá trị giao dịch hoán đổi

Lợi tức quỹ

Là số lợi nhuận còn lại của quỹ ETF sau khi trừ đi các chi phí hợp lệ và được đại hội nhà đầu tư quyết định chia theo tỷ lệ sở hữu của nhà đầu

1.2 Lý do tồn tại của quỹ ETF

Tại các thị trường đang phát triển hầu hết cả nhà quản lý quỹ không có hoạt động đầu

tư hiệu quả hơn so với diễn biến của chỉ số thị trường chung, trong khi chi phí quản lý

quỹ thường tốn kém Thống kê tại thị trừong chứng khoán Mỹ cho thấy khoảng

60-80% các quỹ chỉ số không có hoạt động vượt trội hơn S&P500 Vì vậy, theo thông lệ

gần đây cổ đông thường “khoán” cho các nhà quản lý quỹ chỉ cần đạt được mức tăng

trưởng của chỉ số và chi trả một mức phí rất thấp so với mức phí áp dụng cho các quỹ

đóng

1.3 Mục tiêu hoạt động

Mục tiêu của các quỹ ETF là tăng tối đa tỷ lệ tương quan với chỉ số thị trường chung

(VN Index) hay giảm tối thiểu tỷ lệ sai số (tracking error) và thu phí quản lý trên giá

trị tài sản ròng (NAV) Tuy nhiên, cũng như các quỹ mở thì các quỹ ETF vẫn phải

thoái vốn khi cổ đông có yêu cầu thanh khoản sang tiền mặt thông qua nghiệp vụ

redemption (thanh lý), và phải có bên mua đối ứng

Trang 7

1.4 Phân loại

1.4.1 Phân loại theo cách quản lý quỹ: chủ động hay thụ động

Quỹ ETF thụ động: hầu hết các quỹ ETF hoạt động trên thế giới mô phỏng theo các chỉ số tham chiếu của một thị trường nào đó đều là quỹ ETF thụ động Các công ty quản lý quỹ không phải trực tiếp lựa chọn danh mục và can thiệp vào hoạt động mua bán chứng khoán cho quỹ mà chỉ việc thực hiện quản trị quỹ sao cho quỹ ETF mô phỏng chính xác chỉ số tham chiếu mà quỹ hướng tới Do vậy, công ty quản lý quỹ cũng sẽ không can thiệp vào điều hành quỹ kể cả trong trường hợp chỉ số tham chiếu giảm mạnh, hay nói cách khác là công ty quản lý quỹ sẽ thụ động trong việc quản trị quỹ, để sao cho quỹ được mô phỏng chính xác nhất chỉ số mà quỹ theo đuổi Quỹ ETF đầu tiên của Việt Nam là quỹ ETF VFMVN30 do công ty VFM quản lý là quỹ thụ động mô phỏng chỉ số VN30

Quỹ ETF chủ động: trong vài năm trở lại đây, loại hình quỹ ETF chủ động đã xuất hiện và được chào bán cho các nhà đầu tư Quỹ ETF chủ động được điều hành bởi một công ty quản lý quỹ với mục tiêu làm tốt hơn chỉ số tham chiếu mà quỹ hướng tới, tương tự mục tiêu của các quỹ mở hay quỹ đóng

1.4.2 Phân loại theo cấu trúc danh mục của quỹ ETF: ETF thuần túy hay ETF tổng hợp

Các nhà cung cấp sản phẩm quỹ ETF có thể sử dụng hình thức quỹ ETF thuần túy hay quỹ ETF tổng hợp để đảm bảo quỹ của họ có thể mô phỏng chính xác nhất chỉ số tham chiếu

Quỹ ETF thuần túy: quỹ dạng này sẽ sử dụng hình thức mô phỏng thuần túy, mua và

sở hữu tất cả các chứng khoán cấu thành của chỉ số tham chiếu với mục tiêu sao chép hiệu quả của chỉ số tham chiếu Hình thức này đơn giản và minh bạch Nhưng hình thức mô phỏng thuần túy thông qua việc mua và bán thành phần cấu thành nên chỉ số tham chiếu sẽ làm tốn nhiều công sức và chi phí cho quỹ, làm hạn chế mục tiêu tối thiểu hóa chi phí của quỹ (một trong những lợi thế của quỹ ETF) Ngoài ra, quỹ ETF thuần túy dễ gặp phải sai số mô phỏng lớn do chi phí cho quỹ lớn (chi phí quản trị quỹ), thuế áp dụng với quỹ, và thời gian lợi tức mà các chứng khoán cơ cấu có được

Trang 8

về đến tài khoản của quỹ ETF Chính vì những lý do trên mà các nhà quản lý quỹ đã nghĩ đến hình thức quỹ ETF tổng hợp

Điển hình của loại quỹ ETF hoạt động theo hình thức thuần túy là các quỹ ETF do iShares quản lý

Quỹ ETF Tổng Hợp: mô phỏng theo hình thức tổng hợp nhằm làm giảm chi phí và

sai số mô phỏng nhưng sẽ tăng rủi ro cho nhà đầu tư Nhiều nhà quản lý quỹ ETF ở Châu Âu sử dụng hình thức tổng hợp để hạn chế sai số mô phỏng và đạt được mục tiêu đầu tư (theo sát chỉ số tham chiếu) Các quỹ ETF tổng hợp thường ký kết một hợp đồng hoán đổi (swap) với một hay nhiều bên để có thể có danh mục bám sát được chỉ

số tham chiếu Nói cách khác, quỹ ETF tổng hợp sử dụng tiền của quỹ để mua lấy sự biến động của chỉ số tham chiếu do bên bán hợp đồng trả và bên bán được sử dụng tiền đó để mua chứng khoán khác nhằm tạo ra chênh lệch với biến động của chỉ số tham chiếu để có lợi nhuận Hiện tại, chỉ có các nhà quản lý quỹ ETF ở Châu Âu và Châu Á được phép sử dụng hình thức tổng hợp Ở Hoa Kỳ, Ủy Ban Chứng Khoán (SEC) không cho phép hình thức này hoạt động

Trong nhiều trường hợp khi các chứng khoán cơ cấu kém thanh khoản, nhiều chỉ số khó phản ánh đúng thị trường Khi đó, hình thức tổng hợp sẽ hạn chế bớt sai số mô phỏng và giúp các nhà quản lý quỹ ETF đạt được hơn mục tiêu của quỹ Đó là lý do hình thức quỹ ETF tổng hợp được lựa chọn đối với các chỉ số tham chiếu tại thị trường mới nổi hay các chỉ số tham chiếu cho các ngành nhỏ của một thị trường nào

đó

Điển hình của loại quỹ ETF hoạt động theo hình thức tổng hợp là các quỹ ETF do Deustch Bank quản lý

1.4.3 Phân loại theo hình thức mô phỏng của ETF

Do mục tiêu chính của ETF là theo sát biểu hiện của một chỉ số nào đó, nên bất kỳ chỉ

số nào được tạo ra thì sẽ có từng ấy loại ETF có thể được hình thành

+ ETF mô phỏng chỉ số cổ phiếu (ETF Equity): Đây là loại hình ETF đầu tiên trên TTCK mô phỏng chỉ số cổ phiếu Sau đó, các loại hình ETF khác lần lượt ra đời như:

Trang 9

+ ETF mô phỏng chỉ số công cụ nợ (ETF Fixed Income, mô phỏng chỉ số trái phiếu chính phủ)

+ ETF mô phỏng chỉ số hàng hóa (ETF Commodity, mô phỏng chỉ số vàng, nông sản)

+ ETF mô phỏng chỉ số tiền tệ (ETF Currency, mô phỏng chỉ số đồng tiền các nước phát triển)… Ngoài ra, có thể phân loại theo quỹ mở và quỹ ủy thác đầu tư (UIT-unit investment trust)

1.5 Đặc điểm của quỹ ETF

Quỹ ETF là một dạng quỹ lưỡng tính vừa là quỹ đóng, vừa là quỹ mở, được đầu tư theo chỉ số, cừa có những tính năng ưu việt nhằm bảo vệ nhà đầu tư của quỹ mở, vừa tạo cơ hội kin doanh cho các thành viên thị trường mà không quá phụ thuộc vào lượng tiền mặt nắm giữ, nhờ đó góp phần làm giảm những biến động của thị trường do tác động của dòng tiền Như đã đề cập bên trên chứng chỉ quỹ ETF được niêm yết và gia dịch trên thị trường thứ cấp như những cổ phiếu

1.6 Ưu điểm của quỹ ETF

Giao dịch linh hoạt (tính thanh khoản tốt)

Nhà đầu tư có thể mua bán trong giờ giao dịch như một cổ phiếu hay chứng chỉ quỹ thông thường, đặt lệnh trực tuyến, theo dõi giao dịch liên tục trong ngày Giá của chứng chỉ quỹ ETF dựa vào cung cầu thị trường tại thời điểm mua bán và thường xoay quanh giá trị tài sản ròng tham chiếu (iNAV) iNAV chỉ là giá trị tham chiếu, không phải là giá trị để xác định giá giao dịch iNAV được cập nhật thường xuyên trong suốt thời gian giao dịch của thị trường Các chứng chỉ quỹ ETF có thanh khoản tốt do được mua bán rộng rãi trên các sàn chứng khoán quốc tế Ngoài ra, các chứng chỉ quỹ ETF có thể được bán khống và dùng đòn bẩy

Chi phí thấp

Quỹ ETF là quỹ đầu tư thụ động theo chỉ số với phần lớn thời gian quỹ nắm giữ tài sản tương ứng với danh mục chứng khoán cấu thành chỉ số tham chiếu Chi phí mà quỹ phải trả thấp hơn nhiều so với chi phí của các quỹ đầu tư chủ động khác do chiến lược quản lý thụ động Vì thế, đầu tư vào quỹ ETF là một phương thức đầu tư tiết

Trang 10

kiệm chi phí cho nhà đầu tư muốn bỏ tiền vào các quỹ đầu tư Một ví dụ điển hình là quỹ ETF VFMVN30 do VFM quản lý có tổng chi phí hoạt động ước tính khoảng 0,8%/năm, trong đó chi phí quản lý quỹ là 0,65%/năm, thấp hơn nhiều so với mức chi phí hoạt động 2%-3%/năm của các quỹ đóng và mở khác trên thị trường Việt Nam

Cơ chế hoạt động của ETF cũng giúp nhà đầu tư tiết kiệm chi phí thuế

Ða dạng hóa danh mục và hạn chế rủi ro lựa chọn cổ phiếu

Do quỹ ETF được cơ cấu bởi một rổ cổ phiếu, việc nhà đầu tư nắm giữ chứng chỉ quỹ ETF sẽ gián tiếp nắm một rổ cổ phiếu có tỷ trọng giống như chỉ số mà quỹ ETF mô phỏng Trong trường hợp với quỹ ETF VFMVN30, nhà đầu tư tham gia vào quỹ sẽ gián tiếp nắm danh mục đa dạng gồm 30 công ty niêm yết lớn và có thanh khoản tốt trên HOSE

Quỹ ETF là một dạng hình quỹ chỉ số đại diện thị trường với mục tiêu mô phỏng một chỉ số nhất định chứ không phải mục tiêu đạt lợi nhuận cao hơn chỉ số đó, tức là kết quả hoạt động của quỹ ETF sẽ sát với kết quả chỉ số thị trường mà quỹ mô phỏng và

đa số các chỉ số mà quỹ ETF mô phỏng đều được thiết kế mang tính đại diện cao cho một thị trường hoặc một nhóm ngành nhất định Do đó, đầu tư vào quỹ ETF giúp giảm thiểu rủi ro phi hệ thống, tức rủi ro lựa chọn cổ phiếu

Thông tin minh bạch

Về phương diện thông tin, quỹ ETF là một trong những loại hình đầu tư có tính minh bạch cao Nhà đầu tư mua chứng chỉ quỹ đóng hoặc quỹ mở thường không thể biết được hết danh mục đầu tư của quỹ một cách liên tục Tuy nhiên, đối với quỹ ETF nhà đầu tư được biết rõ danh mục đầu tư của quỹ trước khi nhà đầu tư quyết định đầu tư vào quỹ và hàng ngày nhà đầu tư có thể theo dõi danh mục của quỹ để chủ động đưa

ra những quyết định mua bán của mình khi xét thấy thị trường thay đổi

Không bị hạn chế sở hữu

Đây là một ưu thế vượt trội của quỹ ETF trong nước, đặc biệt khi so với các quỹ ETF nước ngoài hay các quỹ nước ngoài khác Theo quy định hiện hành tại Việt Nam, nhà đầu tư trong nước và nước ngoài không bị giới hạn tỷ lệ sở hữu tại quỹ ETF như đang

bị hạn chế đối với cổ phiếu niêm yết Nhà đầu tư nước ngoài do đó có thể tiếp cận các

Trang 11

cổ phiếu tốt đã hết giới hạn sở hữu nước ngoài trên thị trường thông qua sở hữu chứng quỹ ETF nội địa

Công cụ giúp nhà đầu tư nhanh chóng gia nhập thị trường

Do quỹ ETF được giao dịch như cổ phiếu thông thường và kết quả hoạt động của quỹ gần như chỉ số tham chiếu nên quỹ ETF là một công cụ giúp nhà đầu tư trong và ngoài nước có thể đầu tư nhanh chóng vào thị trường chứng khoán hoặc vào nhóm ngành nghề nhất định trong thị trường chứng khoán Nhà đầu tư thay vì phải mất thời gian lựa chọn và mua bán nhóm cổ phiếu theo tiêu chí ưa thích thì chỉ chọn đầu tư vào một quỹ ETF mô phỏng chỉ số tương đồng với nhóm cổ phiếu đó

1.7 Các rủi ro khi đầu tư vào quỹ ETF

Rủi ro thị trường

Rủi ro này phát sinh khi giá trị các tài sản của quỹ suy giảm từng phần hay toàn bộ trong một khoảng thời gian do tác động bởi nền kinh tế hoặc những yếu tố không lường trước được Điều này sẽ tác động đến hiệu quả của các khoản đầu tư, qua đó ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của quỹ Rủi ro này mang tính hệ thống, nằm ngoài khả năng kiểm soát của công ty quản lý quỹ

Rủi ro mô phỏng chỉ số

Sai số mô phỏng là độ lệch chuẩn giữa tỷ suất sinh lợi của quỹ ETF và tỷ suất sinh lợi của chỉ số cơ sở Quỹ ETF có sai số mô phỏng càng nhỏ thì càng thu hút được nhà đầu

tư Đối với công ty quản lý quỹ ETF, chức năng chính và quan trọng nhất là duy trì sai

số mô phỏng ở mức thấp nhất có thể bằng cách cơ cấu lại danh mục của quỹ

Trong thực tế, do biến động của thị trường và nhiều yếu tố khác như các hoạt động chia, tách, sáp nhập doanh nghiệp hay phát hành cổ phiếu thưởng làm cho nhiệm vụ giảm thiểu sai số mô phỏng trở nên khó khăn hơn, đặc biệt trong điều kiện thị trường thiếu thanh khoản Hơn nữa, quỹ phải chi trả các chi phí hoạt động hoặc các chi phí liên quan đến việc mua bán chứng khoán để cân chỉnh danh mục trong quá trình hoạt động Đây là những nguyên nhân chính làm phát sinh mức sai lệnh giữa quỹ và chỉ số

Trang 12

Rủi ro quản lý danh mục mô phỏng

Hầu hết các quỹ ETF là quỹ thụ động Nghĩa là, trừ khi một cổ phiếu cụ thể bị đưa ra khỏi chỉ số tham chiếu, quỹ nói chung trong điều kiện bình thường sẽ không bán bất

kỳ một chứng khoán trong danh mục của quỹ cho dù cổ phiếu đó gặp bất lợi về tài chính hay một sự kiện doanh nghiệp nào đó Tuy nhiên, nếu một cổ phiếu nào đó bị đưa ra khỏi chỉ số tham chiếu, quỹ sẽ thực hiện bán chứng khoán đó bất kể chứng khoán đó đang có xu hướng tăng hay giảm giá trên thị trường Vì vậy, kết quả hoạt động của quỹ ETF có thể thấp hơn so với các quỹ chủ động thay đổi danh mục đầu tư tài sản để tận dụng cơ hội thị trường hoặc để giảm bớt tác động của sự suy giảm của thị trường

Rủi ro chênh lệch giá chứng chỉ quỹ và giá trị tài sản ròng (Premium/Discount risk) Giao dịch mua bán chứng chỉ quỹ trên sàn giao dịch chứng khoán (giao dịch thứ cấp)

có thể phát sinh chênh lệch giữa giá giao dịch và giá trị tài sản ròng (NAV) của quỹ Nguyên nhân có thể là do sự biến động của giá trị tài sản ròng của quỹ và/hoặc từ cung cầu chứng chỉ quỹ trên thị trường Do đó, nhà đầu tư có thể bị thiệt hại nếu mua chứng chỉ quỹ tại một thời điểm khi giá thị trường cao hơn NAV hoặc bán chứng chỉ quỹ tại một thời điểm khi giá thị trường thấp hơn NAV

Rủi ro tỷ giá đối với các quỹ ETF nước ngoài

Biểu hiện dễ thấy nhất của rủi ro này là trong trường hợp quỹ ETF được niêm yết ở thị trường nước ngoài, còn rổ chứng khoán cơ cấu được niêm yết ở thị trường trong nước Nếu đồng nội tệ bị mất giá so với ngoại tệ, NAV của quỹ ETF cũng giảm theo và nhà đầu tư phải gánh chịu mức lỗ này

Rủi ro thanh khoản

Chứng chỉ quỹ ETF được niêm yết và giao dịch thứ cấp trên sàn giao dịch chứng khoán Nhà đầu tư có thể chịu rủi ro thanh khoản chứng chỉ quỹ ETF phát sinh do một hoặc nhiều yếu tố: quy mô của quỹ ETF, cơ cấu cổ đông của quỹ ETF và các chiến lược nắm giữ của các cổ đông, nhu cầu giao dịch của các nhà đầu tư

Trang 13

Rủi ro hủy niêm yết

Trong trường hợp mức sai lệch so với chỉ số tham chiếu (tracking error) liên tục vượt quá mức sai lệch tối đa quy định hoặc không thể xác định được chỉ số tham chiếu thì quỹ có khả năng bị hủy niêm yết và bị giải thể Khi đó nhà đầu tư sở hữu chứng chỉ quỹ ETF sẽ không thể thực hiện việc mua bán trên sàn Trong thời gian đó nhà đầu từ

có thể bị thiệt hại khi nắm giữ chứng chỉ quỹ ETF

Rủi ro pháp lý

Mỗi quỹ ETF sẽ chịu ràng buộc về pháp lý của các quốc gia mà tại đó nó niêm yết hay triển khai các hoạt động đầu tư Đối với thị trường chứng khoán Việt Nam (thị trường khá mới), Chính Phủ vẫn đang trong quá trình hoàn thiện và điều chỉnh khung pháp lý cho các hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán Những điều chỉnh này có thể ảnh hưởng đến hoạt động của quỹ ETF hoạt động tại Việt Nam trong tương lai

1.8 Cơ chế hoạt động

Cơ chế hoạt động trên thị trường Sơ cấp:

Bước 1: Đại lý phát hành (thành viên lập quỹ) thông qua việc huy động tiền và danh

mục chứng khoán từ các nhà đầu tư cũng như danh mục tự doanh của mình để thực hiện việc mua đủ danh mục chứng khoán cơ cấu nhằm mục đích hoán đổi lấy chứng chỉ quỹ ETF Danh mục chứng khoán cơ cấu là danh mục bao gồm những loại chứng khoán tạo nên danh mục chứng khoán của chỉ số tham chiếu

Trang 14

Ngược lại, khi đại lý phát hành hoán đổi chứng chỉ quỹ ETF để lấy danh mục chứng khoán cơ cấu thì đại lý phát hành có thể mang danh mục chứng khoán đó ra thị trường chứng khoán bán hoặc trả lại danh mục cho nhà đầu tư cũng như bên tự doanh của đại

lý phát hành

Bước 2: Sau khi có danh mục chứng khoán cơ cấu, đại lý phát hành thực hiện hoán

đổi danh mục lấy chứng chỉ quỹ ETF do Công ty quản lý quỹ ETF phát hành, công ty quản lý quỹ sẽ thu về Tiền hoặc rổ chứng khoán cơ cấu (tùy thuộc quy định của pháp luật) Ngược lại, khi đại lý phát hành muốn lấy lại danh mục chứng khoán cơ cấu về

để bán hoặc trả lại cho nhà đầu tư hay bên tự doanh của mình, đại lý phát hành thực hiện hoán đổi chứng chỉ quỹ ETF lấy danh mục chứng khoán cơ cấu với công ty quản

lý quỹ ETF, các công ty quản lý quỹ sẽ phải mua lại các chứng chỉ quỹ đã phát hành

ra và trả lại tiền (hoặc danh mục chứng khoán cơ cấu) với giá tương ứng với giá trị tài sản ròng hiện tại của chứng chỉ quỹ ETF

Trên Thị Trường Thứ Cấp (Giao Dịch Qua Sàn)

Bước 3: Sau khi đại lý phát hành thực hiện hoán đổi danh mục lấy chứng chỉ quỹ

ETF, đại lý phát hành có thể bán các chứng chỉ quỹ ETF trên sàn giao dịch khi Quỹ

ETF niêm yết Ngược lại, đại lý phát hành có thể mua chứng chỉ quỹ ETF trên sàn

giao dịch nhằm mục đích hưởng chênh lệch giá hoặc hoán đổi chứng chỉ quỹ ETF lấy danh mục chứng khoán với công ty quản lý quỹ ETF

Trang 15

Bước 4: Trên sàn giao dịch, các nhà đầu tư thứ cấp (không mua chứng chỉ quỹ ETF

qua đại lý phát hành) có thể mua bán chứng chỉ quỹ ETF nhằm hưởng lợi từ việc tăng giá trị của danh mục chứng khoán cơ cấu hoặc từ chênh lệch của giá chứng chỉ quỹ ETF

Hình thành và duy trì danh mục đầu tư

Sau khi phát hành sơ cấp thì Công ty quản lý quỹ sẽ cầm trong tay tiền mặt hoặc là danh mục chứng khoán cơ cấu Nếu công ty quản lý quỹ thu về tiền mặt thì họ sẽ phải tiến hành đầu tư vào danh mục của quỹ Khi đó họ sẽ phải giao dịch trên thị trường chứng khoán nơi các mã trong danh mục đang được niêm yết

Danh mục của quỹ ETF luôn được xây dựng dựa trên một chỉ số tham chiếu, nhiệm vụ của cty quản lý quỹ ETF là phải đảm bảo biến động của giá trị danh mục đầu tư luôn bám sát với chỉ số tham chiếu này

Việc duy trì danh mục đầu tư được diễn ra thường xuyên bởi:

- Khi các đại lý phát hành mua thêm hoặc bán lại Chứng chỉ quỹ cho công ty quản lý quỹ > tiền bị rút ra hoặc thêm vào > Quỹ sẽ mua thêm hoặc bán ra danh mục chứng khoán của mình tương ứng

- Giá thị trường của các mã trong danh mục biến động thường xuyên > làm cho

tỷ trọng của các mã trong danh mục bị biến động > Cty quản lý quỹ phải điều chỉnh lại để đảm bảo biến động giá trị toàn danh mục phải bám sát với chỉ số tham chiếu

Trang 16

- Định kỳ (chẳng hạn 3 tháng 1 lần) thì chỉ số tham chiếu sẽ được đánh giá lại 1 lần > quỹ ETF cũng phải thay đổi lại danh mục để đảm bảo bám sát chỉ số tham chiếu

Do quỹ ETF có thể được mua bán trên cả hai thị trường như trên, giá thị trường của chứng chỉ quỹ ETF hầu như ngang bằng với giá trị tài sản ròng của quỹ ETF tại một thời điểm bất kỳ Ví dụ, khi giá thị trường đang cao hơn giá trị tài sản ròng, đại lý phát hành lập tức bán chứng chỉ quỹ trên thị trường thứ cấp và mua lại chứng chỉ quỹ thông qua việc mua danh mục chứng khoán cơ cấu và hoán đổi với công ty quản lý quỹ Như vậy, đại lý phát hành đã kiếm được lợi nhuận chênh lệch giá mà không chịu rủi ro (arbitrage) Và hoạt động này diễn ra ngược lại khi giá thị trường thấp hơn giá trị tài sản ròng của quỹ ETF tại một thời điểm bất kỳ trong phiên giao dịch

Ngoài cơ chế hoạt động của quỹ ETF như trên, các đại lý phát hành có thể được phép trở thành tổ chức tạo lập thị trường quỹ ETF nhằm tăng cường tính thanh khoản của quỹ và đáp ứng nhu cầu mua bán của các nhà đầu tư trên thị trường thứ cấp (sàn giao dịch chứng khoán)

Thanh lý Quỹ ETF

Các nhà đầu tư có thể thôi nắm giữ các chứng chỉ quỹ ETF bằng cách: Bán các chứng chỉ này trên thị trường mở, hoặc: Mua chứng chỉ quỹ ETF để tập hợp đủ 1 đơn vị đầu

tư và trao đổi lấy các cổ phiếu cơ sở trong đơn vị ETF này, khi đó các đơn vị đầu tư này sẽ bị xóa khỏi quỹ Các đơn vị đầu tư thường bao gồm từ 10.000 đến 600.000 cổ phiếu, nhưng 50.000 cổ phiếu là thông lệ Thường chỉ các nhà đầu tư tổ chức mới áp dụng hình thức này do số lượng chứng chỉ quỹ cần tập hợp để tạo ra 1 đơn vị đầu tư thường rất lớn

1.9 Kỹ thuật mô phỏng chỉ số cơ sở của một ETF

Mô phỏng dựa vào thị trường giao ngay (spot-market based replication): Việc mô phỏng được thực hiện chủ yếu bằng cách mua toàn bộ chứng khoán theo cơ cấu của chỉ số cơ sở (gọi là mô phỏng hoàn toàn – full replication) Trong trường hợp không thể mua toàn bộ chứng khoán cơ sở (có thể do chi phí quá cao hay do một số chứng khoán cơ sở không có tính thanh khoản), có thể lấy mẫu (sampling replication) hoặc

Trang 17

tối ưu hóa (optimization replication) để nắm giữ một phần danh mục chứng khoán cơ

sở sao cho vẫn đạt được mục tiêu tối thiểu hóa sai số mô phỏng của ETF Mô phỏng dựa vào giao dịch hoán đổi (swap-based replication): Một hợp đồng hoán đổi sẽ được thực hiện giữa quỹ ETF và một đối tác (thường là một ngân hàng đầu tư), theo đó, quỹ chấp nhận trả cho đối tác mức sinh lợi của rổ chứng khoán mà quỹ đang nắm giữ và nhận lại từ phía đối tác mức sinh lợi của chỉ số cơ sở Trong trường hợp này, rổ chứng khoán mà quỹ nắm giữ sẽ không bao gồm tất cả các chứng khoán của chỉ số cơ sở mà danh mục của rổ sẽ được mô tả trong hợp đồng hoán đổi

1.10 Định giá chứng chỉ quỹ ETF

Giá trị tài sản ròng (NAV) của quỹ ETF được tổ chức phát hành tính toán và công bố hàng ngày Trong phiên giao dịch, thị giá chứng chỉ quỹ có thể thay đổi liên tục do sự dao động của giá cổ phiếu trong danh mục đầu tư hay nhu cầu của nhà đầu tư Tuy nhiên, cơ chế kinh doanh chênh lệch giá (arbitrage) thường giữ thị giá chứng chỉ quỹ ETF gần với NAV của nó: Nếu giá ETF cao hơn giá trị NAV, thì người tham gia kinh doanh arbitrage có thể mua các chứng khoán cơ cấu để đổi lấy đơn vị quỹ ETF và bán

nó trên TTCK để kiếm lợi nhuận Nếu giá ETF thấp hơn giá trị NAV, thì người tham gia kinh doanh arbitrage có thể mua các đơn vị quỹ ETF trên TTCK để đổi lấy chứng khoán cơ cấu, và sau đó bán những cổ phiếu riêng lẻ trên thị trường để kiếm lợi

nhuận Cơ chế này đảm bảo giá chứng chỉ quỹ ETF liên hệ chặt chẽ với giá của các chứng khoán cơ cấu

1.11 Sự khác biệt giữa quỹ ETF so với các loại quỹ truyền thống

Hoạt động của quỹ ETF khác với các loại quỹ truyền thống ở một số khía cạnh sau:

- Quỹ ETF không bán chứng chỉ quỹ riêng lẻ trực tiếp cho nhà đầu tư, mà chỉ phát hành theo lô lớn Dự thảo Thông tư quy định một lô bao gồm tối thiểu 1.000.000 đơn vị quỹ ETF

- Nhà đầu tư không mua lô đơn vị quỹ bằng tiền, mà thay vào đó mua các lô đơn vị quỹ ETF bằng danh mục chứng khoán cơ cấu – mô phỏng theo danh mục của chỉ

số tham chiếu đã được chấp thuận Đây là hoạt động trên thị trường sơ cấp

- Sau khi mua các lô đơn vị quỹ, nhà đầu tư thường chia nhỏ ra và bán các chứng chỉ quỹ ETF trên thị trường thứ cấp Điều này cho phép các nhà đầu tư khác mua

Trang 18

các đơn vị quỹ riêng lẻ, thay vì mua lô lớn trên thị trường sơ cấp Quỹ ETF phải thực hiện chế độ công bố thông tin hàng ngày về giá trị tài sản ròng, về số lượng chứng chỉ quỹ đã phát hành và đã mua lại từ các đại lý phát hành, nhà đầu tư, đặc biệt là công bố thông tin 15 giây một lần về iNAV (giá trị tài sản ròng tham chiếu trên một đơn vị quỹ)

- Nhà đầu tư muốn bán chứng chỉ quỹ sẽ có hai sự lựa chọn: Bán chứng chỉ quỹ riêng lẻ cho các nhà đầu tư khác trên thị trường thứ cấp, Bán các lô đơn vị quỹ ngược lại cho quỹ ETF Theo quy định, quỹ ETF sẽ mua lại các lô đơn vị quỹ bằng danh mục chứng khoán cơ cấu, thay vì tiền mặt

1.12 Vai trò của quỹ ETF

Đối với thị trường chứng khoán:

- Thu hút vốn cho TTCK: Với những ưu điểm trên, ETF thu hút các nhà đầu tư, góp phần làm tăng luồng vốn rót vào TTCK, đặc biệt là từ các nhà đầu tư nước ngoài

do không bị hạn chế về tỷ lệ sở hữu khi mua chứng chỉ quỹ ETF

- Thanh khoản của TTCK được cải thiện Khi đó, tính hấp dẫn của thị trường tăng lên, thu hút thêm nguồn vốn mới cho thị trường thứ cấp, củng cố niềm tin của nhà đầu tư Từ đó, việc huy động vốn của các doanh nghiệp cũng dễ dàng hơn, kết quả kinh doanh khả quan cũng sẽ tác động tích cực trở lại với TTCK

Đối với nền kinh tế - đặc biệt là với hệ thống ngân hàng:

Góp phần xử lý nợ xấu và tình trạng sở hữu chéo tiềm ẩn nhiều rủi ro trong HTNH Khi thị trường mua bán nợ xấu chưa hình thành, quỹ ETF ra đời góp phần giải quyết vấn đề nợ xấu Ngân hàng có thể sử dụng danh mục tài sản hiện có chuyển thành lô chứng chỉ quỹ ETF, mà không nhất thiết phải bán toàn bộ tài sản thế chấp Thay vì một danh mục đầu tư chứng khoán, thì nay ngân hàng chỉ còn nắm giữ duy nhất lô chứng chỉ quỹ ETF Sau đó, các ngân hàng có thể chia nhỏ và đem giao dịch trên thị trường thứ cấp Đây là giao dịch hàng đổi hàng, nên không khiến TTCK sụt giảm, không làm tồi tệ hơn bảng cân đối kế toán của ngân hàng Khi TTCK, thị trường bất động sản khởi sắc, giá chứng khoán, bất động sản có xu hướng tăng, sẽ làm tăng giá trị tài sản bảo đảm, tài sản đầu tư, giảm nợ xấu và giảm dự phòng trích lập trong HTNH, tăng nguồn vốn khả dụng cung cấp cho nền kinh tế Qua đó, giúp cải thiện hệ

Ngày đăng: 17/07/2015, 10:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thành và duy trì danh mục đầu tư - Quỹ hoán đổi danh mục ETF
Hình th ành và duy trì danh mục đầu tư (Trang 15)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w