1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dệt may trong quá trình hội nhập.pdf

29 306 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dệt May Trong Quá Trình Hội Nhập
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Bài Luận
Năm xuất bản 2025
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 419,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dệt may trong quá trình hội nhập

Trang 1

MỤC LỤC Lời mở đầu

Nội dung

I Lý luận chung

1 Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

1.1 Tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam

1.2 Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam

1.3 Quan điểm của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

2 Khả năng cạnh tranh

2.1 Khái niệm cạnh tranh

2.2 Cạnh tranh dưới các góc độ tiếp cận

3 Các tiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh của một ngành công nghiệp Việt Nam

trong quá trình hội nhập

3.1 Năng suất lao động

1 Tổng quan về ngành dệt may Việt Nam

1.1 Ngành dệt may thế giới hiện nay

1.2 Thực trạng của hàng dệt may Việt Nam

2 Các tiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam

III Những biện pháp đánh giá khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Viẹt

Nam

1 Giải pháp từ phía nhà nước

2 Giải pháp từ phía doanh nghiệp

Trang 2

2.1 Đẩy mạnh việc mở rộng thị trường xuất khẩu

2.2 Thực hiện chiến lược tăng tốc đầu tư

2.3 Đào tạo phát triển về nguồn nhân lực

2.4 Nâng cao khả năng cạnh tranh

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Lời mở đầu

Ngày nay, xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển đã ngày càng trở thành xu

thế lớn đòi, bức xúc của các quốc gia, dân tộc vì sự phát triển kinh tế giữa các

nước Thế giới đang xây dựng nền kinh tế với những chính sách hợp tác, hội nhập

sâu rộng, trong đó chú trọng đến tăng cường sức cạnh tranh cho các nền kinh tế

Đảng và nhà nước ta đã có những chủ trương, đường lối để phát triển nền

kinh tế quốc dân.Ngay trong nghị quyết số 07-NQ/ FW của bộ chính trị đã khảng

định rõ “hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, vừa

không ít thách thức, do đó cần tỉnh táo, khôn khéo và linh hoạt trong việc sử lý tính

hai mặt của hội nhập tuỳ theo đối tượng, vấn đề, trường hợp, thời điểm cụ thể…”

Do đó để có thể hội nhập, tiếp cận với thế giới thì bên cạnh sự nỗ lực của doanh

nghiệp trong việc nâng cao sức cạnh tranh quốc tế thì việc tăng sức cạnh tranh của

toàn hệ thống ngành hàng cũng hết sức quan trọng Có thể nói một ngành hàng

trong toàn bộ các ngành hàng là cực kỳ quan trọng, nó không chỉ là động lực thúc

Trang 3

đẩy sản xuất mà nó còn giúp cho doanh nghiệp có thể đứng vững được trên thị

trường

Như chúng ta đã biết, dệt may là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực

của nước ta Trong điều kiện hội nhập hiện nay của nước ta thì dệt may phải cạnh

tranh bình đẳng với các nước trong khu vực và trên thé giới Điều đó đặt ra câu hỏi

cho các nhà sản xuất cũng như các nhà quản lý là phải làm sao để nâng cao năng

lực cạnh tranh? Làm sao để có thể cạnh tranh và cạnh tranh được ngay cả với

“người láng giềng hùng mạnh” để có thể tồn tại và phát triển trên thị trường thế

giới? Có thể nói đây đang là vấn đề bức xúc nhất hiện nay đối với ngành dệt may

của ta Xuất phát từ sự nhận thức rõ về tầm quan trọng về khả năng cạnh tranh của

ngành dệt may trong tiến trình hội nhập hiện nay của nước ta Em đã chọn đề tài

này, mục đích bài viết của Em không chỉ muốn tìm hiểu về thực trạng của dệt may

nước ta mà Em còn muốn tìm hiểu xem ngành dệt may nước ta đã, đang và sẽ làm

gì để có thể cạnh tranh được với thị trường quốc tế

Nội Dung

I LÝ LUẬN CHUNG

1 Xu hướng hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam

Ngày nay, xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển đã ngày càng trở thành xu

thế lớn phản ánh những đòi hỏi, bức xúc của các quốc gia, dân tộc vì sự phát

triển kinh tế giữa các nước Khi toàn cầu hoá về kinh tế trở thành một xu hướng

khách quan thì yêu cầu về hội nhập kinh tế quốc tế càng trở nên cấp bách Quốc

gia nào không thực hiện hội nhập kinh tế tức là đã tự loai mình ra ngoài lề của

sự phát triển

1.1.Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

Trang 4

Có thể nói, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam thực sự bắt đầu

cùng với sự nghiệp đổi mới, được Đại Hội VI khởi xướng Đồng thời tung bước

tiến hành tự do hoá các hoạt động kinh tế, mở cửa thị trường và tham gia vào

các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới Quá trình tham gia hội nhập kinh tế khu

vực và quốc tế của Việt Nam là một quá trình mang tính chủ động, xuất phát từ

việc thừa nhận các lợi ích to lớn do hội nhập kinh tế – thương mại khu vực và

quốc tế mang lại

- Từ năm 1993 đến nay Việt Nam đã khai thông quan hệ với các tổ chức tài

chính tiền tệ quốc tế như IMF, WB, ADB

- Ngày 25-7-1995, Việt Nam gia nhập ASEAN đồng thời từ ngày 1-1-1996

chúng ta bắt đầu thực hiện nghĩa vụ và các cam kết trong chương trình ưu đãi

thuế quan có hiệu lực chung ( CEPT ) của AFTA

- Tháng 3-1996, Nước ta tham gia diễn đàn hợp tác A- Âu (ASEM ) với tư

cách là thành viên chính thức của diễn đàn hợp tác kinh tế Châu A Thái Bình

Dương ( APEC )

- Việt Nam tích cực đàm phán để ra nhập WTO (tổ chức thương mại thế giới )

Bên cạnh việc tham gia liên kết kinh tế song phương và đa phương như đã nêu ở

trên Trong nhiều năm qua Việt Nam cũng đồng thời tham gia vào các liên kết

kinh tế tiểu vùng như : lưu vực sông Mê Kông mở rộng ( GMS ) Hành lang

đông tây ( WEC ) Tam giác phát triển Việt Nam- Lào- Campuchia…

Như vậy hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam là một tiến trình từng bước

từ thấp đến cao, diễn ra trên cả phương diện đơn phương, song phương và đa

phương lồng ghép các phạm vi tiểu vùng, khu vuực, liên khu vực và toàn cầu,

diễn ra trên hầu hết các lĩnh vực gồm hàng hoá, dịch vụ, đầu tư, sở hữu trí tuệ

1.2 Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam

Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo cơ hội để các nhà sản xuất kinh doanh Việt

Nam mở rộng quan hệ, tiếp cận phương thức quản lý tiên tiến, tiếp thu khoa học

công nghệ mới của quốc tế, dám đương đầu với cạnh tranh Đồng thời cũng sẽ

Trang 5

thúc ép các doanh nghiệp trong nước phải tiến hành đổi mới, xoá bỏ tính ỷ lạ

vào sự bảo hộ của nhà nước, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanhvà

thúc đẩy sản xuất phát triển

- Các cơ hội thuận lợi chủ yếu là:

Thứ nhất: Có thể tiếp cận được các thị trường rộng lớn hơn với những ưu

đãi thương mại (giảm thuế quan và phi thúê quan, quy chế MFN, NT, GSP ) để

tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ và cung ứng được nguồn nguyên nhiên liệu, thiết bị

với giá cạnh tranh

Thứ hai: Cơ hội tiếp thu công nghệ mới, phương thức quản lý tiên tiến để

nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh

Thứ ba: Cơ hội cho việc phát triển quan hệ đối tác với nước ngoài

Thứ tư: khả năng tiếp cận tốt hơn các nguồn tài chính, tín dụng đa dạng cả

trong lẫn ngoài nước để tăng đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh

Thứ năm: Thông qua cọ sát, cạnh tranh, học hỏi và tích luỹ kinh nghiệm tri

thức rèn luyện nâng cao trình độ, năng lực của đội ngũ nhân lực

Thứ sáu: Nhìn chung các doanh nghiệp được hưởng nhiều lợi ích quan

trọng từ quá trình tự do hoá và cải thiệ môi truờng đầu tư, kinh doanh theo

hướng thuận lợi và cạnh tranh bình đẳng

- Các thách thức rủi ro chính bao gồm:

Thứ nhất: Nguy cơ phá sản hoặc chuyển đổi sản xuất kinh doanh do năng

lực cạnh tranh thua kém Bởi vì cạnh tranh trong điều kiện hết sức khó khăn, cả

từ phía bản thân các doanh nghiệp lẫn từ phía nhà nước

Thứ hai: Phải chịu nhiều phí tổn hơn về giao dịch, tư vấn, tiếp thị, quảng

cáo, đào tạo

Thứ ba: Có nhiều rủi ro khi hoạt động trên thị trường nước ngoài, nhất là

không hiểu rõ các chính sách, luật lệ, thủ tục và cách thức làm ăn tại thị trường

đó và các đối tác nước ngoài

Trang 6

Tóm lại hội nhập kinh tế (HNKT) là cần thiết và tất yếu để phát triển

trong một thế giới toàn cầu hoá đây là quá trình đan xen của những cơ hội và

thách thức Các doanh nghiệp cần nhận thức rõ về quá trình này nắm bắt các

cam kết và lộ trình hội nhập để chuẩn bị một cách chủ động

1.3 Quan điểm của đảng về hội nhập kinh tế quốc tế

Đại hội lần thứ VII của đảng đã xác định nhiệm vụ “ mở rộng quan hệ đối

ngoại, chủ trương tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố và nâng cao

vị thế nước ta trên trường quốc tế’’ Ngày 18 tháng 11 năm 1996, Bộ chính trị

đã ra nghị quyết về kinh tế đối ngoại nhằm chỉ đạo việc thực hiện nhiệm vụ

quan trọng này Đại hội lần thứ IX của đảng đã khẳng định chủ trương “Phát

huy cao nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập

kinh tế quốc tế để phát triển nhanh có hiệu quả và bền vững’’

2 Khả năng cạnh tranh

Ngày nay nhu cầu nâng cao hơn nữa hiệu quả và sức cạnh tranh của sản

phẩm của doanh nghiệp và của nền kinh tế đang là một vấn đề cấp bách Đặc

biệt trong quá trình hội nhập và hợp tác quốc tế, vấn đề cạnh tranh trên trường

quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam đang đặt ra những vấn đề nóng hổi

2.1 Định nghĩa cạnh tranh

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về cạnh tranh, song nhìn chung, cạnh

tranh được hiểu là: sự chạy đua hay ghanh đua của các thành viên của một thị

trường hàng hoá, sản phẩm cụ thể nhằm mục đích lôi kéo về phía mình ngày

càng nhiều khách hàng, thị trường và thị phần của một thị trường

2.2 Khả nâng cạnh tranh dưới các góc độ tiếp cận

Cạnh tranh là một hiện tượng xã hội hết sức phức tạp và đòi hỏi cần phải

được làm sáng tỏ ở nhiều tầng tiếp cận khác nhau và chính điều này đã lý giải

tính không thống nhất trong các định nghĩa về cạnh tranh

- Diễn đàn kinh tế thế giới (WEC) khi tiếp cận cạnh tranh với tính cách là

năng lực của một quốc gia là: khả năng đạt và duy trì được mức tăng trưởng

Trang 7

cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh

tế khác (WEF,1997) Diễn đàn kinh tế thế giới cũng đưa ra các yếu tố xác định

năng lực cạnh tranh của một quốc gia và phân chia thành 8 nhóm chính

- Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), đã chọn định nghĩa về cạnh

tranh kết hợp cả với các doanh nghiệp, ngành, quốc gia như sau “khả năng của

các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu

nhập cao hơn trong đIũu kiện cạnh tranh quốc tế’’

- Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng Thống Mỹ sử dụng định nghĩa

cạnh tranh đối với một quốc gia như sau “cạnh tranh đối với một quốc gia là

mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản

xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường quốc tế,

đồng thời duy trì và mở rộng thu nhập thực tế của nhân dân nước đó”

- Nếu nhìn từ phía các chủ thể doanh nghiệp, “cạnh tranh là phương thức giải

quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết

định của người tiêu dùng”

3 Các tiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh của một ngành công nghiệp

Việt Nam trong quá trình hội nhập

Để đánh giá sức cạnh ttranh của sản phẩm và mức độ sẵn sàng hội nhập

KTQT Ngành công nghiệp nói riêng và các ngành khác nói chung phải xem

Trang 8

xét, đánh giá xem mình có những mặt mạnh nào để từ đó có những phương án,

biện pháp khắc phục những mặt yếu và phát triển những mặt mạnh đó

3.1 Năng suất chất lượng sản phẩm

Mặc dù ttrong thời gian qua, các doanh nghiệp Việt Nam đã bắt đầu chú

trọng đến năng suất, chất lượng và một số các sản phẩm hàng hoá đã bắt đầu

chiếm lĩnh thị trường trong nước và có mức tăng truởng xuất khẩu ngày càng

cao, song theo đánh giá sơ bộ kết quả điều tra cho thấy

- Trình độ công nghệ, máy móc thiết bị:

Hầu hết các cơ sở sản xuất được điều tra chỉ ở mức trung bình, thậm chí công

nghệ ở nhiều doanh nghiệp sản xuất được đánh giá là lạc hậu (nhiều máy móc

có từ 20-30 năm trước và chưa được cải tiến ), có nguy cơ bị tụt hậu tiếp nếu

không sớm đổi mới Bên cạnh đó việc bố chí mặt bằng, nhà xưởng bất hợp lý và

lãng phí, vệ sinh công cộng kém Tình hình này khiến ta khó lòng tạo ra những

sản phẩm có chất lượng cao và khả năng cạnh tranh thắng lợi ngay trong thị

trường nội địa của mình chứ chưa nói đến thị trường thế giới

- Về nguồn nhân lực:

Chưa đáp ứng được sự phát triển hiện tại và tương lai Mặc dù là một nước có

nguồn lao động dồi dào với khoảng gần 40tr lao động nhưng chưa thực sự là

nguồn lao động có sức mạnh Chúng ta mới có khoảng 17.8% lao động được

qua đào tạo, chỉ có khoảng 4000 công nhân bậc cao trong số 2.5tr, 36% công

nhân kỹ thuật được đào tạo theo hệ tiêu chuẩn quốc gia, 39.4% được đào tạo

ngắn hạn , 24.7% chưa qua đào tạo

- Về sử dụng nguyên liệu nhập khẩu:

Tuy mức độ có khác nhau tuỳ theo đặc điểm riêng của từng ngành sản suất,

nhưng là thực tế khá phổ biến trong tất cả các sản phẩm Nhiều nguyên phụ liệu

chưa có nguồn thay thế trong nước vẫn phải nhập khẩu

- Về mẫu mã, kiểu cách, bao bì sản phẩm:

Trang 9

Hầu hết các sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng được yêu

cầu về mẫu mã, kiểu cách của sản phẩm, với những mẫu mã đơn điệu, không

nổi bật, không hấp dẫn người tiêu dùng Cộng thêm vào đó là chương trình

quảng cáo sản phẩm của các doanh nghiệp chưa thực sự có sức thuyết phuc Đó

cũng là nguyên nhân rất quan trọng khiến sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam

còn khó có khả năng cạnh tranh so với các sản phẩm từ bên ngoài

- Về chất lượng sản phẩm:

Càng hoạt động trong môi trường cạnh tranh, chất lượng càng cần thiết vì nó là

một nhân tố chủ yếu để doanh nghiệp thắng hay thua trong điều kiện kinh tế thị

trường Chất lượng sản phẩm sẽ khặng định uy tín của doanh nghiệp trên thương

trường Ngày nay khách hàng ngày càng đòi hỏi cao về chất lượng sản phẩm

hàng hoá và dịch vụ , và điều kiện đảm bảo chất lượng sản phẩm Do đó chất

lượng sản phẩm được coi là yếu tố quyết định sự sống còn đối với doanh nghiệp

Việt Nam trong môi trường cạnh tranh toàn cầu

Nói tóm lại năng suất chất lượng sản phẩm là sự tối đa hoá về mặt giá trị

của sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp Nó tạo ra giá trị đích thực

để nâng cao năng lực canh tranh của doanh nghiệp – vấn đề quyết định đối với

các doanh nghiệp Việt Nam trong tiến trình hội nhập ngày càng tiến gần

3.2 Tăng trưởng

- Quy mô : Còn rất nhỏ, bình quân số vốn chia đều cho các doanh nghiệp thì

mới chỉ có 22 tỷ đồng tương đương với 1.6tr USD Trong số hơn 5000 doanh

nghiệp nhà nước (DNNN) thì có khoảng 64% là vốn dưới 5 tỷ đồng (hơn

300000USD), 25% vốn dưới 10 tỷ đồng, 21% có vốn trên 10 tỷ đồng

- Tốc độ: Trước 1998, tốc độ tăng trưởng bình quân của DNNN liên tục đạt

13% năm, song 1999 còn 8-9% Hiệu quả làm ăn theo đánh giá chung chỉ có

40% là có hiệu quả, số liên tục thua lỗ là 29% ( chủ yếu là các DNNN nhỏ

thuộc địa phương quản lý), còn lại là lúc được lúc thua Mức tăng giá trị sản

lượng hàng năm 2000 của các DNNN chỉ đạt 11-12%, trong khi doanh nghệp

Trang 10

ngoài quốc doanh là 14%, và của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

khoảng 20%

3.3 Về thị trường

Có thể nói tiềm năng thị trường trong nước còn khá lớn đối với các sản

phẩm công nghiệp Hiện nay, mặc dầu mức độ bảo hộ vẫn còn đáng kể, nhưng

các sản phẩm công nghiệp đang phải chịu sự cạnh tranh gay gắt của các sản

phẩm sản xuất từ Trung Quốc và từ một số nước trong khu vực Tuy nhiên hầu

hết các doanh nghiệp đều có mạng lưới tiêu thụ từ hai cấp trở lên với các kênh

tiêu thụ trực tiếp và gián tiếp rộng khắp và khá thuận lợi ở trong nước, nhưng

công tác tiếp cận để mở rộng thị truờng vẫn còn hạn chế, mạng lưới tiêu thụ ra

thị trường xuất khẩu còn hạn chế

3.4 Giá cả

Chính sách giá cả hợp lý có thể giúp doanh nghiệp chiến thăng trong cạnh

tranh, giữ vững được thị trường, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm, không

ngừng nâng cao doanh thu Ngược lại, chính sách giá cả không hợp lý sẽ làm

cho sản phẩm của doanh nghiệp bị ứ đọng, không bán được số vốn không quay

vòng được

II THỰC TRẠNG VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA HÀNG DỆT

MAY VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP

1 Tổng quan về ngành dệt may

Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có những nước lớn và những nước nhỏ

cùng tồn tại thì toàn cầu hoá là sự phát triển trong mối tương trợ lẫn nhau giữa

những nhân tố đối nghịch như giữa kẻ mạnh và kẻ yếu, giữa các nước phát triển

và các nước đang phát triển Nói cách khác, toàn cầu hoá ở các nước đang phát

triển giống như quá trình vươn ra thế giới từ một điểm xuất phát thấp, với vị thế

yếu kém

1.1 Hàng dệt may thế giới và chỗ đứng của dệt may Việt nam

- Thị trường Mỹ:

Trang 11

Mỹ là một trong những nước có sức tiêu thụ may mặc lớn nhất thế giới Do

những tác động của xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới và sự chuyển dịch

cơ cấu kinh tế Mỹ, ngành may mặc của nước này đang mất dần lợi thế so sánh

Các nhà kinh tế dự đoán ngành may gia công Mỹ sẽ không còn tồn tại trong

vòng 10 năm tới Ngành may gia công sẽ nhường chỗ cho các ngành may hàng

cao cấp với các nhãn hiệu nổi tiếng và nhân công có tay nghề cao Vì thế có thể

đánh giá Mỹ là mảnh đất lý tưởng và là thị trường đầy tiềm năng đối với các

nước sản suất và xuất khẩu hàng dệt may công nghiệp trong đó có Việt Nam

Mỗi năm thị trường này nhập khẩu trên dưới 60 tỷ USD hàng dệt may Các nhà

cung cấp chính các sản phẩm này cho thị trường Mỹ là Trung Quốc, Mêhicô,

Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, ASEAN…

Có thể nói Mỹ là thị trường có sức chi phối lớn đối với sản phẩm dệt may

Việt Nam Nhưng hàng hoá của ta khi thâm nhập vào vẫn bị khống chế bởi hạn

ngạch Tỷ trọng kim ngạch hàng dệt may của ta xuất khẩu sang Mỹ có xu hướng

giảm dần Năm 1998 là 8.4% , năm 1999 là 5.8% và năm 2001 chỉ còn 4.4%

trong tổng kim ngạch xuất khẩu Riêng đối với hàng dệt may thị trường Mỹ chủ

yếu nhập khẩu trực tiếp (mua đứt bán đoạn), trong khi phần lớn giá trị xuất

khẩu hàng may mặc của Việt Nam lại thực hiện bằng phương pháp gia công nên

hiệu quả xuất khẩu chưa cao So với các mặt hàng xuất khẩu cùng loại của các

quốc gia khác thì tính cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam còn hạn chế cả về

giá cả và chất lượng Theo đánh giá chung của các chuyên gia kinh tế và các nhà

quản lý thhì hiện tại sức cạnh tranh của hàng may mặc Việt Nam trên thị trường

Mỹ còn yếu kém về nhiều mặt

- Thị trường EU:

EU là thị trường rộng lớn gồm 15 quốc gia với khoảng hơn 375tr người tiêu

dùng, nên nhu cầu về hàng hoá rất đa dạng, phong phú Đặc biệt, với mặt hàng

dệt may là mặt hàng có tính mùa vụ và thời trang cao thì nhu cầu càng đa dạng

Đối với mặt hàng dệt may thì khách hàng EU rất quan tâm đến chất lượng và

Trang 12

thời trang EU là nơi hội tụ những kinh đô thời trang thế giới, nên họ đòi hỏi

khắt khe về kiểu dáng và mẫu mốt Người tiêu dùng EU có sở thích và thói quen

sử dụng hàng của những hãng nổi tiếng thế giới vì họ cho rằng, những nhãn hiệu

này gắn với chất lượng và uy tín lâu đời nên sử dụng nhiều mặt hàng này

Những sản phẩm của các nhà sản xuất ít danh tiếng hay những nhãn hiệu ít

người biết đến sẽ rất khó tiêu thụ trên thị trường này

Về phía mình hàng dệt may Việt Nam đã ít nhiều tạo cho mình được chỗ

đứng ban đầu và tạo đà cho sự thâm nhập về sau Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt

may của Việt Nam đem lại từ thị trường này cũng không ngừng tăng, bình quân

tăng 40% năm Năm 2001, tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành đạt 2 tỷ

USD, chiếm 13.25% tổng giá trị xuất khẩu cả nước, năm 2002 đạt 2.7 tỷ USD

Trong đó kim ngạch xuất khẩu mang lại từ thị trường EU chiếm gần 30%

Những kết quả đạt được của ngành dệt may trong việc tiếp cận với thị

trường EU là không thể phủ nhận Song các sản phẩm dệt may Việt Nam có mặt

tại thị trường EU phần lớn là ở các hình thức: gia công cho đối tác nước ngoài

Lợi nhuận đem lại từ việc gia công chỉ chiếm khoảng 30% so với việc sản xuất,

xuất khẩu trực tiếp

- Bên cạnh những khó khăn thách thức của hàng dệt may Việt Nam khi thâm

nhập vào thị trường Mỹ và EU thì hàng dệt may Việt Nam phải cạnh tranh hết

sức khốc liệt với hàng dệt may Trung Quốc So sánh lợi thế của hàng dệt may

Việt Nam với Trung Quốc, thì hàng của ta không chỉ yếu thế về chi phí sản

xuất, nguyên phụ liệu, hiệu suát lao động mà còn ở tất cả các yếu tố khác như:

môi trường kinh doanh trong nước, cơ cấu ngành nghề Theo thống kê của bộ

thương mại, Trung Quốc là nước xuất khẩu sản phẩm dệt may chính ở Đông

Nam A Hàng xuất khẩu nước này vượt xa hàng Việt Nam

1.2 Thực trạng hàng dệt may Việt Nam hiện nay

1.2.1 Quá trình phát triển của ngành dệt may Việt Nam

Trang 13

- Ngành dệt may là một trong những ngành công nghiệp có lịch sử phát

triển lâu đời ở Việt Nam Đặc biệt, ngành sợi dệt có từ lâu và phát triển mạnh

trong thời kỳ Thực dân Pháp xâm lược

- Năm 1889, nhà máy dệt đầu tiên tại Việt Nam được Pháp xây dựng tại

Nam Định

- Năm 1975, sau khi Miền Nam thống nhất, các doanh nghiệp dệt may

quy mô lớn của Miền Nam được quốc hữu hoá và được đưa vào hệ thống bao

cấp

- Trong nền kinh tế kế hoặch, mối quan hệ giữa các doanh nghiệp dệt và

nhuộm và may rất thân thiết Tuy nhiên, mối quan hệ khăng khít cùng việc chia

sẻ thông tin giữa các doanh nghiệp khác ngành đã có sự thay đổi lớn từ sau khi

có hiệp định thương mại gia công uỷ thác

- Từ sau khi thực hiện chính sách đổi mới, đặc biệt bước vào thập kỷ 90

của thế kỷ 20, ngành dệt may Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể

Vào đầu những năm 90, các nước Đông Nam A như : Đài Loan, Hàn Quốc,

Nhật Bản trở thành những nước nhập khẩu hàng dệt may chủ yếu của Việt Nam

Từ năm 1993 khi hiệp định thương mại giữa Việt Nam và EU được ký kết, quy

định hạn nghạch xuất khẩu sang EU thì xuất khẩu hàng dệt may tăng nhanh

Xem xét sự thay đổi của tổng giá trị sản lượng hàng dệt may từ năm 1995 đến

năm 1999 cho thấy, trong 5 năm, tổng giá trị sản lượng tăng khoảng 57%, như

vậy tỷ lệ tăng truởng thực tế bình quân khoảng 12% năm

So với các ngành khác, về lĩnh vực xuất khẩu, ngành dệt may cũng đã phát

triển rất nhanh và được coi là ngành xuất khẩu mũi nhọn trong thập niên 90

Năm 1995 mặt hàng dệt may đã vượt lên hàng thuỷ sản, tiếp đến vượt dầu thô

vào năm 1997 và đang chiếm vị trí dẫn đầu trong lĩnh vực xuất khẩu Như vậy,

so với các ngành khác thì ngành dệt may vẫn là ngành xuất khẩu chủ yếu có tốc

độ tăng trưởng cao Hiệp hội quốc tế các nước xuất khẩu hàng dệt may ITCB

kết nạp Việt Nam là một thành viên chính thức từ năm 2001, là điều kiện thuận

Trang 14

lợi để Việt Nam phát triển ngành dệt may, cũng là sức mạnh lớn của ngành dệt

may Việt Nam Theo đánh giá chung so với hơn 100 nước xuất khẩu hàng dệt

may thì Việt Nam đứng thứ 4 tại thị truờng Nhật Bản, đứng thứ 16 tại thị trường

EU

1.2.2 Thực trạng của ngành dệt may Việt Nam hiện nay

- Thuận lợi:

Dệt may là ngành kinh tế quan trọng, đã chứng tỏ là ngành công nghiệp mũi

nhọn trong nền kinh tế nước ta Ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ 2 sau

ngành dầu khí , xuất khẩu toàn ngành dệt may 2002: 2.7 tỷ USD tăng hơn 20 lần

so với năm 1991 Giá trị sản xuất ngành may tăng bình quân 25% năm, ngành

dệt tăng 5-6% năm, tốc độ tăng trưởng giá trị sản suất của toàn ngành dệt may

khoảng 12-12.5% năm Thấp hơn giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp

(13.5% năm) Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đã có mặt ở

gần 100 nước và khu vực lãnh thổ của thế giới Theo số liệu thống kê, đến nay

cả nước có khoảng 822 doanh nghiệp dệt may, trong đó doanh nghiệp quốc

doanh là 231 và doanh nghiệp ngoài quốc doanh là 221 và có năng lực như sau:

+ về thiết bị: có 1.050.000 cọc kéo sợi, 14.000 máy dệt vải, 450 máy dệt kim

và 190.000 máy may

+ Về lao động: Thu hút khoảng 1.600.000 lao động, chiếm khoảng 25% lực

lượng lao động công nghiệp

+ Về thu hút đầu tư nước ngoài:Tính đến nay có khoảng 180 dự án sợi-

dệt-nhuộm- đan len- may mặc còn hiệu lực với số vốn đăng ký đạt gần 1.85 tỷ USD

Trong đó, có khoảng 130 dự án đi vào hoạt động, tạo việc làm cho trên 50.000

lao động trực tiếp và hàng ngàn lao động gián tiếp Các doanh

nghiệp đầu tư nước ngoài đã chiếm trên 30% giá trị sản lượng hàng dệt và trên

25% giá trị sản lượng hàng may mặc của cả nước

Lợi thế của ngành dệt may nước ta, đặc biệt là ngành may xuất khẩu đang có

nhiều lợi thế cần phải nhanh chóng tận dụng thời cơ đó để khai thác So với các

Ngày đăng: 25/10/2012, 16:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w