Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế
Trang 2=1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH: KINH DOANH QUỐC TẾ
Đề tài:
MỘT SỖ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG Lực
CẠNH TRANH CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
1 mé
Sinh viên thực hiện : PHAN THANH NGA Lớp : ANH 2 - QTKD Khoa : 41
Giáo viên hướng dẫn : ThS BÙI LIÊN H À
H À NỘI - 2006
Trang 3MỤC LỤC LÒI MỚ ĐẦU Ì
C H Ư Ơ N G ì: Cơ SỞ LÝ LUẬN VẾ CẠNH TRANH VÀ NĂNG Lực CẠNH TRANH
CỦA DOANH NGHIỆP TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP 3
ì Khái niệm về cạnh tranh 3
/ Khái niệm 3
2 Các loại hình cạnh tranh 5
li Khái niệm về năng lực cạnh tranh 8
/ Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 8
2 Năng lực cạnh tranh của một ngành kinh tế 10
3 Năng lực cạnh tranh của nên kinh tế lo
4 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp li
4.1 Chất lượng sản phàm 11
4.2 Đa dạng hoa sản phẩm 12
4.3 Giá thành sản phẩm 13
4.4 Vị trí của doanh nghiệp trẽn thị trường 14
IU Một số phương thức cạnh tranh trong kinh doanh 14
ì Cạnh tranh vê sản phẩm 75
2 Cạnh tranh vé giá cả 16
3 Cạnh tranh trong thiết lập mạng lưới kênh phân phôi 17
4 Cạnh tranh thông qua các hoạt động xúc tiến quảng cáo 18
5 Cạnh tranh bằng hoạt dộng dịch vụ trước, trong và sau bán hàng 19
IV Các yếu tô tác động đèn năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 20
1 Các yêu tố khách quan 20
1.1 Môi trường chính trị, luật pháp và hệ thống chính sách kinh tế 20
1.4 Nhà cung cấp 23
2 Các yếu tố chủ quan 23
2 Ì Bộ máy quản trị doanh nghiệp 24
2.2 Trình độ của đội ngũ công nhân trong doanh nghiệp 25
2.3 Tinh hình tài chính của doanh nghiệp 26
Trang 42 Đôi tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đ ố i tượng nghiên cứu của đề tài: tập trung vào nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt N a m môi trường kinh doanh cạnh tranh và h ộ i nhập kinh tế quốc tế
Phạm v i nghiên cứu của đề tài: tập trung vào một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt N a m trong quá trình hội nhập
3 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh
- Phương pháp điểu tra, khảo sát thực tế
4 Nội dung nghiên cứu của đề tài
N ộ i dung của đề tài được cẫu thành 03 chương:
Chương ì: Cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp trong quá trình hội nhập
Chương li: Thực trạng năng lực cạnh tranh cửa các doanh nghiệp
dệt may Việt Nam
Chương HI: Một sô giải pháp nàng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong quá trình hội nhập
Trong quá trình nghiên cứu, dù đã c ố gắng và được sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Thạc sỹ Bùi Liên H à - Giảng viên Trường Đ ạ i học Ngoại thương H à N ộ i nhưng do thời gian và trình độ có hạn, đề tài có phạm v i nghiên cứu khá rộng nên khóa luận tốt nghiệp này vẫn còn nhiều thiếu sót và hạn chế E m rẫt mong nhận được những ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện hơn nữa đề tài nghiên cứu của mình
Em xin chán thành cảm ơn!
Trang 5CHƯƠNG ì: Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG Lực CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP
đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi" [3, tr.56]
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế ( O E C D ) thì cho rằng: "Cạnh trạnh là khớ năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện canh tranh quốc tế"
Cùng v ớ i sự phát triển của nền kinh t ế xã h ộ i , cạnh tranh cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau và được trình bày dưới nhiều góc độ khác nhau:
- Lý luận cạnh tranh cổ điển: M ộ t đại diện tiêu biểu cho trường phái
kinh tế học cổ điển, người được coi là "nhà tiên t r i của chủ nghĩa tự do kinh
t ế " A d a m S m i t h v ớ i học thuyết "Bàn tay vô hình" đã chủ trương t ự do cạnh tranh Ông cho rằng, cạnh tranh có thể phối hợp kinh tế một cách nhịp nhàng
có lợi cho xã hội M ặ t khác, Smith cho rằng cạnh tranh có tác dụng quan trọng
Trang 6trong việc thúc đẩy lao động và điều tiết việc phân phối tư bản một cách hợp
lý Trong tác phẩm "Của cải của các dân tộc", A d a m Smith chỉ ra rằng: "Chỉ
có thông qua t ự do cạnh tranh một cách phổ biến m ớ i xác lập được một cách phố biến sự quản lý tốt đẹp" [Ì, tr.185]
- Lý luận cạnh tranh của C.Mác: Lý luận cạnh tranh của C.Mác được
thể hiện xuyên suốt trong lý luận giá trẫ hoặc trong lý luận về tư bản và giá trẫ thặng dư Theo C.Mác, sự theo đuổi l ợ i ích riêng ấy tạo nên động lực cạnh tranh Cạnh tranh cũng gây ra sự tác động lẫn nhau, nó điều tiết sự phân phối
tư bản và các tài nguyên kinh tế - xã hội giữa các ngành sản xuất khác nhau, làm cho giá cả dao động, thúc đẩy phát triển kỹ thuật sản xuất và thay đổi kết cấu tổ chức kinh tế, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã h ộ i phát triển và nền kinh
tế - xã hội tăng trưởng Theo M á c thì cạnh tranh kinh tế là sản phẩm của nền
k i n h tế hàng hoa, là sự đối chọi giữa những người sản xuất hàng hoa dựa trên thực lực kinh tế của họ Trong điều kiện kinh tế hàng hoa, nhũng người sản xuất hàng hoa t ồ n tại độc lập, phân tán, có lợi ích riêng, cạnh tranh với nhau trên thẫ trường nhằm bảo vệ lợi ích kinh tế của mình
- Lý luận lợi thế cạnh tranh quốc gia của Mícìưieì Porter: Michael
Porter là nhà khoa học về quản lý nổi tiêng ở Mỹ, là một trong những nhân vật
có uy tín về sách lược cạnh tranh quốc tế trên thế giới ngày nay Porter đưa ra quan điểm về " l ợ i thế cạnh tranh quốc gia" Porter cho rằng, của cải nhiều hay
ít là do năng suất của sản xuất quyết đẫnh Cạnh tranh đòi h ỏ i các doanh nghiệp phải kiên trì nâng cao năng suất sản xuất ngành bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm, làm nổi bật nét đạc sắc của sản phẩm, cải tiến kỹ thuật sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất Mặt khác, k h i một nước trực tiếp tham gia cạnh tranh quốc t ế thì tiêu chuẩn về năng suất đối v ớ i m ỗ i ngành trong nước ấy không còn là tiêu chuẩn trong nước nữa m à là tiêu chuẩn quốc tế Điều đó đòi h ỏ i các doanh nghiệp trong nước chẳng những phải cạnh tranh v ớ i nhau trong nước, m à còn phải cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài
Trang 7T ó m l ạ i , chúng ta có thể hiểu cạnh tranh là quan hệ k i n h tế phản ánh mối quan hệ giữa các chủ thể trong nền kinh tế thị trường theo đuổi mục đích lợi nhuận tối đa Hay nói cách khác đây chính là sự ganh đua giữa các chủ thế nhằm giành được những điều kiện thuận l ợ i nhất cho mình đế thu được l ợ i nhuận cao nhất m à phía đối tác cạnh tranh không thể đạt được T ẫ khái n i ệ m trên đây, chúng ta thấy rằng cạnh tranh còn là một phương thức giải quyết
m â u thuẫn, lợi ích kinh tế giữa các chủ thể của nền kinh tế thị trường, các chủ thể của nền kinh tế thị trường Các chủ thể kinh tế thực hiện mục tiêu của mình, thu lợi nhuận của mình thông qua các phương thức cạnh tranh hợp pháp, các cách thức cạnh tranh của các chù thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường được nhà nước giám sát bằng luật cạnh tranh
2 Các loại hình cạnh t r a n h
Trong thực tế, cạnh tranh có thể tổn tại dưới nhiều dạng loại hình Căn
cứ vào các tiêu chí phân loại cụ thể thì sẽ có các loại hình cạnh tranh sau:
* Xét theo phạm v i ngành kinh tế, cạnh tranh được chia làm 2 loại:
- Cạnh tranh trong n ộ i bộ ngành: là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất kinh doanh một loại hàng hoa, dịch vụ Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp hoạt động kinh doanh, thậm chí
bị phá sản còn doanh nghiệp nào chiến thắng sẽ m ở rộng phạm v i hoạt động của mình trên thị trường, uy tín và vị thế của doanh nghiệp sẽ được nâng cao Cạnh tranh trong nội bộ ngành là một cuộc cạnh tranh tất yếu phải xảy ra, tất
cả đều nhằm vào mục tiêu cao nhất là lợi nhuận của doanh nghiệp Chính vì vậy, m ỗ i doanh nghiệp phải cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng lực quản lý
đế tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm qua đó t h u được l ợ i nhuận cao
- Cạnh tranh giữa các ngành: là cạnh tranh giữa các c h ủ doanh nghiệp sản xuất k i n h doanh hàng hoa dịch vụ trong các ngành k i n h tế khác nhau nhằm mục tiêu l ợ i nhuận, vị t h ế và an toàn Cạnh tranh giữa các ngành tạo ra x u hướng d i c h u y ế n của v ố n đầu tư sang các ngành k i n h
Trang 8doanh thu được l ợ i nhuận cao hơn và tất y ế u sẽ dẫn đến sự hình thành tỷ suất l ợ i nhuận bình quân
* Xét theo mức độ cạnh tranh:
- Cạnh tranh hoàn hảo:
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường m à ờ đó có rất nhiều doanh nghiệp bán sản phẩm tương tự nhau về chất lượng, quy cách, chùng loại, mẫu
mã Giá cả của sản phẩm là do cung cầu trên thị trường xác định, nhọng doanh nghiệp tham gia thị trường này không có khả năng chi phối đến giá cả Các doanh nghiệp được tự do gia nhập và rút khỏi thị trường Do đó, trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, các doanh nghiệp tham gia kinh doanh m u ố n thu được l ợ i nhuận tối đa thì không còn cách nào khác là phải tìm m ọ i biện pháp giảm chi phí đầu vào tới mức thấp nhất
Cạnh tranh hoàn hảo là trạng thái thị trường ưu việt nhất Trong thị trường này, người tiêu dùng có thể dễ dàng lựa chọn nhũng hàng hoa dịch vụ tốt nhất với mức giá hợp lý Đ ồ n g thời, các doanh nghiệp phải tìm m ọ i cách cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng L ợ i ích của xã hội luôn được bảo đảm do có sự phân bố hợp lý các nguồn tài nguyên Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay không có thị trường nào đạt được trạng thái cạnh tranh hoàn hảo
Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo là loại thị trường phố biến nhất hiện nay Sức mạnh thị trường thuộc về một số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh lớn Các doanh nghiệp trên thị trường này kinh doanh nhọng loại hàng hoa và dịch vụ khác nhau Sự khác biệt giọa nhọng loại hàng hoa và dịch vụ này
là ở nhãn hiệu Trên thị trường, có nhọng loại hàng hoa dịch vụ chất lượng như nhau song sự lựa chọn của người tiêu dùng lại căn cứ vào uy tín của nhãn hiệu sản phẩm Cạnh tranh không hoàn hảo có 2 hình thức:
- Đ ộ c quyền tập đoàn: là loại thị trường m à ở đó nhu cầu về một số loại hàng hoa và dịch vụ đều do một vài doanh nghiệp lớn đáp ứng Nhọng doanh nghiệp này rất nhạy cảm với hoạt động kinh doanh của nhau, họ phụ thuộc lẫn
Trang 9nhau trong việc định giá và số l ớ n hàng hoa bán ra Các doanh nghiệp đều muốn cung cấp hàng hoa dịch vụ với giá rẻ nhằm thu hết khách hàng song nêu
họ có ý định giảm giá xuống thấp thì sau một thời gian sẽ có doanh nghiệp khác giảm giá xuống mức thấp hơn Trong thị trường này các doanh nghiệp cũng không thể tự ý tăng giá vì nếu tăng giá trong k h i giá của các doanh nghiệp khác không tăng thì sẽ rất có hẩi, khách hàng sẽ tìm đến những doanh nghiệp cung cấp v ớ i giá rẻ hơn
- Cẩnh tranh mang tính độc quyền với mức độ rất khác nhau Số lượng doanh nghiệp tham gia kinh doanh trên thị trường này tương đ ố i lớn Sản phẩm của các doanh nghiệp là khác nhau thể hiện qua bao bì, nhãn hiệu sản phẩm, mẫu m ã , quy cách, chủng loẩi Giá cả của m ỗ i doanh nghiệp là do chính doanh nghiệp đó đặt ra tuy nhiên không thể hoàn toàn theo ý mình Mức độ cẩnh tranh ở thị trường cẩnh tranh không hoàn hảo giảm hơn so với thị trường cẩnh tranh hoàn hảo
Thị trường cẩnh tranh độc quyền là loẩi thị trường m à ở đó có một doanh nghiệp duy nhất kiểm soát hoàn toàn số lượng hàng hoa, dịch vụ bán ra trên thị trường Trên thị trường này, các doanh nghiệp không thế tự do ra nhập vì họ phải bảo đảm rất nhiều yếu tố như vốn đầu tư, công nghệ kỹ thuật giá cả trên thị trường do doanh nghiệp đặt ra, người mua phải chấp nhận giá Vì vậy, để
k i ế m được lợi nhuận t ố i đa doanh nghiệp độc quyền đã tẩo ra sự khan hiếm hàng hoa để nâng mức giá lên cao Nhiều nước trên thế giới đã ban hành luật chống độc quyền, tuy nhiên độc quyền cũng có nhiều mẩt tích cực bởi vì doanh nghiệp độc quyền có khả năng bỏ vốn lớn để nghiên cứu phát triển công nghệ hiện đẩi, m ở rộng quy m ô sản xuất do đó giảm được chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm
Trong điều kiện hiện nay, ở tất cả các nước trên thế giới hầu như không tồn tẩi trẩng thái thị trường cẩnh tranh hoàn toàn và độc quyền hoàn toàn
Ở nước ta, thị trường độc quyền chỉ t ồ n tẩi dưới dẩng ít bị cẩnh tranh như ngành xăng dầu, điện lực N h à nước ta cho phép một số doanh nghiệp
Trang 10trong nước và nước ngoài kinh doanh trong một số lĩnh vực lớn đế phá vỡ độc quyền, đảm bảo lợi ích của người tiêu dùng
l i K H Á I N I Ê M VỀ N Ă N G L ự c C Ạ N H TRANH
1 N ă n g lực cạnh tranh của doanh nghiệp
C ó thể hiểu năng lực cạnh tranh là tất cả những yếu t ố cấu thành nên các chủ thể tham gia cạnh tranh trên thị trường Khái n i ệ m nâng lực cạnh tranh có thể hiểu đồng nghĩa với khả năng cạnh tranh của m ổ i m ộ t chủ thể trên thị trường M ộ t chủ thể cạnh tranh yếu là một chủ thể không có năng lực cạnh tranh hay nói khác chủ thế đó không có đủ các yếu tố tham gia quá trình cạnh tranh trên thị trường V à ngược lại m ộ t chủ thể mạnh trong quá trình cạnh tranh là một chủ thể có năng lực cạnh tranh và có đầy đủ các yếu tố tham gia quá trình cạnh tranh
Trên các góc độ khác nhau, các nhà kinh tế có cách hiểu khác nhau về nâng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp [6, tr.45-53, tr.56-63] :
- Theo Fafchamps thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp đó có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá trị của nó trên thị trường Điều đó có nghĩa là: doanh nghiệp có khả năng sản xuất ra loại sản phẩm có chất lượng tương tự như doanh nghiệp khác nhung với chi phí thấp hơn thì được coi là có năng lực cạnh tranh
- Theo Dunning thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng cung cấp sản phẩm của chính doanh nghiệp trên thị trường khác nhau m à không phân biệt b ố trí nơi sản xuất của doanh nghiệp đó Theo cách hiểu này thì một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh là một doanh nghiệp có thể sản xuất và bán sản phẩm đó ra trên các thị trường khác nhau vẫn thu được l ợ i nhuận, không phụ thuộc vào địa điểm sản xuất sản phẩm đó
- Theo Randall thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng giành được, duy trì thị phần trên thị trường và lợi nhuận nhất định
Trang 11- Hay có quan điểm cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là trình độ công nghệ có thể sản xuất sản phẩm theo đúng yêu cầu của thị trường, đồng thời duy trì mức thu nhập thực tế của mình
Các quan điểm này tuy có nhiều điểm khác nhau và cũng chưa định nghĩa năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp một cách đầy đủ nhưng qua đó có thể thấy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phổ thuộc vào hai yếu tố là khả năng chiếm lĩnh thị trường và khả năng thu được l ợ i nhuận Hay nói cách khác, k h i doanh nghiệp thu được l ợ i nhuận và thị phần của doanh nghiệp trên thị trường sản xuất hàng hoa đó tăng lên đổng nghĩa với việc nâng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là mạnh Trong quá trình h ộ i nhập kinh tế quốc t ế thì thị trường của doanh nghiệp không chỉ gói gọn là thị trường trong nước nữa
m à bao hàm cả thị trường quốc tế (cạnh tranh k h i xuất khẩu hay cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu ngay tại thị trường nội địa) D ó đó, để nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp thường xuyên phải đối mặt với nhiều cơ h ộ i và thách thức, tác động đến các yếu tố bên trong và bên ngoài
- Theo Michael Porter, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phổ thuộc vào năng lực khai thác các thế mạnh độc đáo của mình để tạo ra sản phẩm có chi phí thấp và tính m ớ i của sản phẩm M u ố n nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp cần xác định được l ợ i t h ế của mình m ớ i có thể giành thắng l ợ i
Có hai nhóm lợi thế cạnh tranh, đó là:
(1) L ợ i t h ế về chi phí: tạo ra sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thú cạnh tranh Các yếu t ố sản xuất như m á y móc, công nghệ, v ố n và lao động thường được xem là nguồn lực để tạo l ợ i t h ế cạnh tranh
(2) L ợ i t h ế về sự khác biệt: Dựa vào sự khác biệt của sản phẩm làm tăng giá trị cho người tiêu dùng hoặc giảm chi phí sử dổng sản phẩm hoặc nâng cao tính hoàn thiện k h i sử dổng sản phẩm L ợ i t h ế này cho phép thị trường chấp nhận mức giá thậm chí cao hơn đối thủ [7, tr.87-92]
Khả năng cạnh tranh của một sản phẩm, dịch vổ phổ thuộc vào l ợ i t h ế
so sánh của nó Các quan điểm cố điển về khả năng cạnh tranh đều dựa trên
Trang 12việc so sánh các yếu t ố cấu thành nên sản phẩm như: vốn, lao động, nguyên liệu, chi phí, giá thành, giá bán, thị phần, lợi nhuận M ộ t sản phẩm được coi
là có sức cạnh tranh và có thể đứng vững k h i có mức giá thấp hơn hoặc k h i cung cấp các sản phẩm tương tự vồi chất lượng hay dịch vụ tốt hơn
2 Năng lực cạnh tranh của một ngành kinh tẽ
N g à n h k i n h t ế là một chủ thể lồn bao g ồ m các chủ thể nhỏ là các doanh nghiệp cùng hoạt động trong một lĩnh vực, nếu là ngành sản xuất thì các chù thể nhỏ này sẽ cùng sản xuất một sản phẩm
Sau k h i xem xét năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (chủ thế nhỏ trong ngành kinh tế) và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, ta có thể rút ra khái niệm về năng lực cạnh tranh của ngành kinh tế Năng lực cạnh tranh của một ngành kinh tế thực chất là khả năng cạnh tranh của một loại hình sản phẩm, dịch vụ của một đất nưồc nếu đặt trong m ố i quan hệ so sánh vồi khả năng cạnh tranh của loại sản phẩm, dịch vụ đó của nưồc khác (bao hàm cả thị trường nội địa và thị trường m à sản phẩm xuất khẩu)
Do vậy, trong một thị trường tuy thuộc vào phạm v i và tính chất của thị trường m à chủ thể cạnh tranh có thể là một ngành kinh t ế hay một doanh nghiệp trong ngành đó Trên thị trường cạnh tranh nội địa, không những có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nưồc thuộc ngành đó m à còn có sự cạnh tranh của các doanh nghiệp nưồc ngoài Trên phạm v i k h u vực và toàn cầu, sự cạnh tranh giữa các quốc giá khác nhau về thực chất là sự cạnh tranh giữa các ngành kinh tế của các nưồc đó trên cơ sở l ợ i t h ế so sánh của m ỗ i nưồc về m ỗ i loại mặt hàng
3 Năng lực cạnh tranh của nền kinh tê
Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng đạt được tốc độ tăng trưởng cao và bền vững của nền kinh tế, thể hiện ở năng lực điểu chỉnh chính sách của N h à nưồc và khả năng thích ứng linh hoạt của doanh nghiệp k h i điều kiện cạnh tranh trên thị trường trong nưồc và quốc tế thay đổi [4, tr.72]
Trang 13tố cấu thành năng lực cạnh tranh của nền kinh tế: Cho đèn
năm 1999, Diễn đàn K i n h tế T h ế giới ( W E F ) đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia trên 08 nhóm tiêu chí với 155 chỉ tiêu, vừa kết hợp điều tra mẫu từng nước, vừa tham dò ý kiến của 1.500 công ty lớn trên t h ế giới:
(Ì) Quy m ô và độ m ở của nền kinh tế
( 2 ) Trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng
(3) Sự phát triển của hệ thống ngân hàng - tài chính
(4) Trình độ phát triển của công nghệ
(5) V a i trò và hiệu lực của Chính phủ
(6) Số lượng và chất lượng lao động
(7) Khặ năng cạnh tranh của doanh nghiệp
(8) Trình độ phát triển của thể chề
4 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
K h i bàn đến vấn đề năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp người ta thường nói doanh nghiệp này có năng lực cạnh tranh tốt, doanh nghiệp k i a không có khặ năng cạnh tranh M ộ t câu hỏi đặt ra là căn cứ vào những tiêu chí nào đế đánh giá doanh nghiệp này có năng lực cạnh tranh tốt còn doanh nghiệp k i a thì ngược lại Đ ể đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường chúng ta cần căn cứ vào một số tiêu chí cụ thể Có nhiều tiêu chí để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, nhưng trong đó có 4
tiêu chí có thế ấv dụng chung cho việc đánh giá năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp, đó là chất lượng sặn phẩm, cơ cấu sặn phẩm, giá thành sặn phẩm, vị trí của doanh nghiệp trên thị trường
4.1 Chất lượng sẩn phẩm
Chất lượng sặn phẩm là yếu t ố quan trọng để đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường Do đặc điểm m ỗ i sặn phẩm sặn xuất ra có đặc trưng khác nhau nên khặ năng cạnh tranh của một doanh nghiệp hay một ngành được quyết định bằng việc chất lượng sặn phẩm sặn
Trang 14xuất ra cao hơn so với sản phẩm cùng loại của doanh nghiệp khác, của nước khác Chất lượng đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá khả năng cạnh tranh của một sản phẩm, của doanh nghiệp; quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp cũng như thị phần của doanh nghiệp trên thị trường N h ờ tăng chất lượng sản phẩm, dịch vụ m à vị t h ế của doanh nghiệp ngày càng được củng cể
và m ở rộng, uy tín, danh tiếng sẽ giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều khách hàng, tăng l ợ i nhuận, m ở rộng sản xuất và qua đó tạo điều kiện để đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm ngày càng thích ứng hơn với thị trường Đ ể i với một ngành kinh tế quểc dân thì nâng cao chất lượng sản phẩm cũng là một yếu t ể
để ngành kinh tế đó có thể cạnh tranh với sản phẩm cùng loại của nước khác trên thị trường nội địa, bạo vệ thị trường trong nước và gia tăng thị phần trên thị trường xuất khẩu sản phẩm Không những vậy, nâng cao chất lượng sản phẩm là biện pháp hữu hiệu đế kết hợp hài hoa các loại l ợ i ích của doanh nghiệp, l ợ i ích của ngành sản xuất với lợi ích của người tiêu dùng, l ợ i ích của lao động
N h ư vậy, chất lượng sản phẩm là yếu tô cạnh tranh được nhìn nhận trên quan điểm tổng hợp V à có thể thấy rằng, nâng cao chất lượng sản phẩm là giải pháp hàng đầu để nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, của ngành kinh tế, đảm bảo sự tổn tại và phát triển của doanh nghiệp và ngành hàng đó trên m ọ i thị trường trong điều kiện tự do hoa thương mại hiện nay
4.2 Đa dạng hoa sản phẩm
Trong cơ chế thị trường hiện nay, quan hệ cung cầu là quan hệ chủ yếu
q u y ế t định sự tồn tại cũng như phát triển của thị trường hàng hoa đó và là yếu
tể xác định khả năng sản xuất, tiêu thụ m ỗ i mặt hàng M ộ t sản phẩm có thể đứng vững trên thị trường thì phải được sự chấp nhận của người tiêu dùng Trong quá trình tồn tại và phát triển của thị trường luôn nảy sinh những nhu cầu mới, đặt ra những đòi h ỏ i cao hơn, khắt khe hơn hay nói cách khác là "cái mới phải tểt hơn, un việt hơn cái cũ" Đ ổ i với m ỗ i doanh nghiệp k h i tham gia
Trang 15thị trường đều chịu ảnh hưởng của yêu cầu này và để t ổ n tại, phát triển thì đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn hoàn thiện sản phẩm của mình H ơ n nữa cũng cẩn phải tìm ra những sản phẩm m ớ i thay t h ế k h i sản phẩm cũ đã trở nên lạc hậu, không còn được thị trường chốp nhận, thậm chí còn phải nhận biết cơ hội k h i sản phẩm đang ở trong giai đoạn suy thoái không chờ đến k h i thị trường từ chối sản phẩm của mình Doanh nghiệp thực sự có năng lực cạnh tranh k h i có
"mức độ đa dạng hoa sản phẩm" là tốt nhốt Mức độ đa dạng hoa sản phẩm
hay cơ cốu mặt hàng đa dạng, phong phú sẽ giúp doanh nghiệp ổn định doanh thu, tăng thị phần và phát triển một cách tốt nhốt Đ ể đa dạng hoa sản phẩm doanh nghiệp cần dựa vào l ợ i thế so sánh của mình đê sản xuốt ra những sản phẩm có chốt lượng cao, được thị trường chốp nhận, phát huy được lợi t h ế tương đối so với các doanh nghiệp khác trong nước, các doanh nghiệp của nước khác
4.3 Giá thành sản phẩm
Giá là một trong những yếu tố quan trọng trong chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp, cạnh tranh bằng giá đồng nghĩa với việc sản xuốt v ớ i chi phí thốp để bán với mức giá thốp hơn so với đối thủ cạnh tranh trên thị trường Giá của một sản phẩm trên thị trường được xác định thông qua quan hệ cung cầu Người bán và người mua thoa thuận mặc cả v ớ i nhau đế đi tới một mức siá cuối cùng m à với mức giá đó thì cả hai bẽn đều có lợi Nếu như chênh lệch về giá giữa chủ thể và đối thủ cạnh tranh lớn hơn chênh lệch về giá trị sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh thì chủ thể hay cụ thể hơn là doanh nghiệp đã đ e m lại lợi ích cho người tiêu dùng lớn hơn so với đối thủ cạnh tranh Điều đó tạo điều kiện cho sản phẩm của doanh nghiệp ngày càng có chỗ đứng trên thị trường, tức là sản phẩm của doanh nghiệp có
vị trí cạnh tranh cao Yêu cầu đặt ra đối với doanh nghiệp là phải hạ giá thành sản phẩm nhưng vẫn phải đạt chốt lượng tiêu chuẩn để sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường Các nhãn tố ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm m à
Trang 16doanh nghiệp có thể k i ể m soát được là chi phí sản xuất sản phẩm, chi phí bán hàng và chi phí lưu thông Đ ể hạ giá thành sản phẩm, doanh nghiệp cần tính toán đến các yếu tố như giảm chi phí đầu vào, tăng năng suất lao động và m ộ t
số biện pháp khác
4.4 Vị trí của doanh nghiệp trên thị trường
Vị trí của doanh nghiệp trên thị trường thể hiện bằng thị phần m à doanh nghiệp đó dành được N ế u thị phần của doanh nghiệp trên thị trường lớn hơn các đ ố i thủ cạnh tranh khác thì điều đó cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả, chiếm một vị trí ổn định trên thị trường Thị phần của doanh nghiệp có ý nghĩa quan trựng, ảnh hưởng đến doanh thu, lợi nhuận cũng như sự tổn tại và phát triển của doanh nghiệp Bẽn cạnh đó, uy tín của doanh nghiệp cũng đánh giá vị trí của doanh nghiệp trên thị trường Ngoài ba chỉ tiêu trên còn rất nhiều chỉ tiêu khác nữa đế đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trẽn thị trường Các doanh nghiệp muốn đánh giá đúng năng lực cạnh tranh của mình cũng như của các doanh nghiệp khác thì cẩn phải kết hợp các chỉ tiêu đó m ộ t cách hợp lý M ỗ i chỉ tiêu đều có những ưu nhược điểm khác nhau nên k h i kết hợp chúng sẽ bổ sung h ỗ trợ cho nhau Đánh giá đúng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mình và các đối thủ cạnh tranh là một yêu cầu tất yếu đòi h ỏ i các doanh nghiệp phải thực hiện
để từ đó giúp các doanh nghiệp có chiến lược kinh doanh tốt mang l ạ i l ợ i nhuận cao nhất và chiếm được ưu t h ế cạnh tranh trên thị trường
HI MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC CẠNH TRANH TRONG KINH DOANH
K i n h doanh trong nền kinh t ế thị trường không thể tránh k h ỏ i cạnh tranh Nếu doanh nghiệp không d á m đương đầu với sự cạnh tranh thì sẽ dẫn đến phá sản Các doanh nghiệp phải chấp nhận sự cạnh tranh, d ự báo trước sự cạnh tranh và sẵn sàng sử dụng linh hoạt các công cụ cạnh tranh của mình Bản chất của cạnh tranh trong kinh doanh là phải tạo ra ưu t h ế so với các đối thủ Đánh giá dựa trên m ỗ i doanh nghiệp khác nhau sẽ có ưu thế khác nhau,
Trang 17song nhìn chung các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau về sản phẩm, về giá cả của sản phẩm, về cách thiết lập mạng lưới kênh phân phối, về các hoạt động xúc tiến thương mại và một số hoạt động khác
1 Cạnh tranh về sản phẩm
Y ế u t ố đầu tiên quyết định đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện trước hết ở chỗ sản phẩm của doanh nghiệp có thế cạnh tranh được v ớ i sản phẩm của các doanh nghiệp khác hay không? M ỗ i doanh nghiệp đều có un t h ế khác nhau về sản phẩm Sức cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện qua chựt lượng Chựt lượng là yếu tố quan trọng nhựt m à người tiêu dùng sẽ quyết định nên lựa chọn sản phẩm của doanh nghiệp nào
Đ ể có thể cạnh tranh được về chựt lượng sản phẩm bắt buộc các doanh nghiệp phải đầu tư nghiên cứu, cải tiến công nghệ kỹ thuật sản xuựt, tạo ra sự khác
biệt thông qua tính nâng tác dụng của sản phẩm sản phẩm muốn cạnh tranh
được phải có những nét đặc sắc riêng, điều này cũng ảnh hưởng tới vị trí của sản phẩm trên thị trường Đ ả m bảo chựt lượng sản phẩm luôn là phương châm kinh doanh đổng thời là công cụ cạnh tranh hiệu quả của nhiều doanh nghiệp trên thế giới Vì vậy, việc cải tiến và nâng cao chựt lượng hàng hoa và dịch vụ
là cơ sở quan trọng nhựt quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việc nâng cao chựt lượng của sản phẩm m ớ i cũng là công cụ để cạnh tranh rựt hiệu quả Trong tình hình hiện nay, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới đang thay đổi nhanh chóng, cạnh tranh về thị trường hết sức gay gắt, để thoa m ã n nhu cầu không ngừng thay đổi của khách hàng thì biện pháp quan trọng nhựt của doanh nghiệp là phải không ngừng đổi m ớ i sản phẩm và cung cựp những dịch vụ mới Doanh nghiệp nào có nhiều sản phẩm mới và tốc độ phát triển càng nhanh thì càng có năng lực cạnh tranh
Vậy phát triển về sản phẩm m ớ i có vai trò rựt quan trọng đôi v ớ i m ọ i doanh nghiệp, việc phát triển sản phẩm m ớ i phải căn cứ vào nhu cầu của thị trường Việc doanh nghiệp đưa ra những loại sản phẩm m ớ i có phong cách độc
Trang 18đáo, chất lượng cao sẽ là điều kiện rất thuận lợi để m ở rộng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường
V ớ i hàng dệt may Việt Nam thì để có thể cạnh tranh với hàng hóa các nước trong k h u vực và trên thế giới đòi hỏi các sản phặm phải phong phú, đa dạng, mang tính thời trang cao phụ thuộc vào thời vụ Những đặc trưng đó cũng tạo nên những thuận lợi trong cạnh tranh về sản phặm
N h ư vậy, cạnh tranh về sản phặm có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công cùa các doanh nghiệp trên thị trường Trong đó cạnh tranh về chất lượng,
về chủng loại, về kiểu dáng một sản phặm là những vấn đề trọng tâm, chất lượng của sản phặm là nội dung quyết định hiệu quả của nội dung cạnh tranh Các doanh nghiệp phải thiết lập được chiến lược về sản phặm hợp lý, phải nghiên cứu t ừ khâu thiết kế, đưa vào sản xuất, tung ra thị trường đến các hoạt động hoàn thiện đổi m ớ i sản phặm, đảm bảo nâng cao chất lượng tạo uy tín trên thị trường M ẫ u m ã và kiểu dáng của sản phặm cũng là vũ khí cạnh tranh rất hiệu quả Chỉ có những sản phặm có kiểu dáng mới, ngoại hình đẹp thì mới
có sức hấp dẫn mạnh Nhất là trên thị trường quốc tế, không có những sản phặm mang phong cách độc đáo thì sẽ thiếu năng lực cạnh tranh Vì vậy, cạnh tranh về sản phặm luôn là vấn đề m à các doanh nghiệp k h i tham gia kinh doanh trên thương trường đều quan tâm
Trang 19- Chính sách định giá thấp: là chính sách định giá thấp hơn giá thị trường Chính sách này được áp dụng k h i doanh nghiệp m ớ i xâm nhập thị trường hoặc tiêu thụ k h ố i lượng sản phẩm lớn trong thời gian ngắn hoặc nhằm mục đích cạnh tranh
- Chính sách bán với giá thị trường: chính sách này được áp dụng k h i doanh nghiệp không có ý định lôi cuốn khách hàng bằng cách bán v ớ i giá thấp hơn giá của các doanh nghiệp cạnh tranh và cũng không muốn độ mất khách hàng Bán với giá thị trường sẽ không mang lại nhiều lợi nhuận song vẫn bảo đảm có lãi Đ ố i với các doanh nghiệp áp dụng chính sách này thì kiộu dáng, chủng loại sản phẩm có ý nghĩa quan trọng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, giá cả không phải là yếu tố quyết định độ thu hút khách hàng
- Chính sách bán với giá cao hơn giá thị trường: chính sách này được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp có hàng hoa và dịch vụ độc quyền, không bị cạnh tranh K i n h doanh độc quyộn thì việc định giá là không có giới hạn, bởi vì nhũng người có nhu cầu muốn mua thì giá cao bao nhiêu h ọ vẫn có thộ mua L à m như vậy vừa mở rộng được thị trường, vừa thu được lãi nhiều
3 C ạ n h t r a n h t r o n g thiết l ậ p m ạ n g lưới kênh phân phôi
T h i ế t lập mạng lưới kênh phân phối hợp lý hiệu quả sẽ là yếu t ố rất có lợi độ cạnh tranh với các doanh nghiệp khác M ộ t doanh nghiệp m à có khả năng cung cấp hàng hoa, dịch vụ đúng nơi, đúng lúc, kịp thời đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất thì sẽ tạo được lòng tin, uy tín đối với khách hàng và sẽ được khách hàng lựa chọn
Thiết lập mạng lưới kênh phân phối phải căn cứ vào đặc điộm của hàng hoa dịch vụ và yêu cầu của khách hàng C ó các cách thiết lập kênh phân phối như sau:
Trang 20Lựa chọn hình thức bán cũng là một trong những vấn đề quyết định đến hiệu quả cạnh tranh của doanh nghiệp vì nó tác động rất lớn đến tâm lý của khách hàng K i n h nghiệm kinh doanh của nhiều nước đã cho thấy, bán hàng thông qua các hình thức như gọi điện thoại (bán hàng từ xa), bán hàng qua các nhân viên tiếp thị là những hình thức rất hiệu quả
4 Cạnh tranh thông qua các hoạt động xúc tiến quảng cáo
Quảng cáo và xúc tiến bán hàng là những hoạt động nhằm giới thiệu và thông t i n cho khách hàng về các sản phẩm của doanh nghiệp, đổng thụi định hướng cho khách hàng tiêu dùng những sản phẩm đó Đây là hoạt động này không thể thiếu được trong cạnh tranh của doanh nghiệp
Quảng cáo, đó là hoạt động thông qua các phương thức tuyên truyền đế tuyên t r u y ề n một cách rộng rãi các loại hàng hoa, các thông tin dịch vụ nhằm đạt mục đích và m ở rộng ảnh hưởng và tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Tất nhiên, sự thành bại trong kinh doanh của doanh nghiệp chủ yếu tuy thuộc vào chất lượng của sản phẩm Nhưng một sản phẩm có chất lượng tốt, nếu được quảng cáo thì hiệu quả tiêu thụ sẽ lớn hơn nhiều Ngày nay trong điều kiện nền kinh tế hàng hoa phát triển, quảng cáo, giới thiệu sản phẩm g i ữ một vai trò rất quan trọng Trong điều kiện đảm bảo chất lượng hàng hoa dịch
vụ thì việc cố gắng nâng cao hiệu quả tuyên truyền quảng cáo dịch vụ cũng là biện pháp để doanh nghiệp cạnh tranh thành công trong kinh doanh Các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ cấc cách quảng cáo, dùng phương thức
gì để quảng cáo, áp dụng những kỹ sảo quảng cáo nào, lợi dụng những dịp nào
để quảng cáo sao cho mang lại hiệu quả cao nhất
Quảng cáo chính là nghệ thuật thu hút khách hàng, do đó m ỗ i doanh nghiệp cần phải:
- Khéo lợi dụng các phương tiện thông t i n đế quảng cáo rộng rãi Cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, phương tiện thông t i n cũng ngày càng nhiều, ngày càng tiên tiến N h i ề u doanh nghiệp có thế tuyên t r u y ề n , quảng cáo một cách thành công vì trước hết h ọ đã khéo léo
Trang 21trong việc lựa chọn những phương tiện thông t i n có hiệu quả, rõ ràng, chẳng hạn như quảng cáo thông qua phương tiện i n ấn, bưu điện, truyền thanh như báo, tạp trí, phát thanh, thư từ và đơn đặt hàng, danh mục hàng hoa và các bản thuyết minh D o a n h nghiệp phải biết nắm bắt các thời cơ để quảng cáo N ắ m được thời cơ thì đôi k h i có thể giành giật được thời gian đế đi trưủc một bưủc khi đối t h ủ cạnh tranh hoặc có thể giành được khách hàng để m ở rộng thị trường, hay giảm được chi phí, tiết k i ệ m được thời gian, nghĩa là nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Bên cạnh hoạt động quảng cáo, xúc tiến bán hàng và y ể m trợ bán hàng cũng là hoạt động giúp cho chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp hiệu quả hơn Những hoạt động này thường được thực hiện thông qua các triển lãm, hội chợ, cửa hàng giủi thiệu sản phẩm, thông qua việc bán thử các loại sản phẩm Nói tóm lại, việc lựa chọn hình thức quảng cáo và xúc tiến như t h ế nào phải dựa vào những nhân tố như tính năng, đặc điểm của loại hàng hoa, dịch
vụ, giá sử dụng cũng như phạm v i sử dụng và khả năng chi phí cho quảng cáo Hiệu quả của hoạt động quảng cáo và xúc tiến bán hàng sẽ ảnh hưởng rất lủn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường nói riêng và việc thực hiện các mục tiêu trong kinh doanh của doanh nghiệp nói chung trong điều kiện có nhiều doanh nghiệp cạnh tranh khác
5 Cạnh tranh bàng hoạt động dịch vụ trưủc, trong và sau bán hàng Trong nền kinh t ế thị trường phát triển, dịch vụ là một trong những khâu được các nhà kinh doanh chú ý đến nhiều nhất bởi vì người tiêu dùng sẽ lựa chọn những doanh nghiệp có những hoạt động dịch vụ thoa m ã n tốt nhất nhu cầu của họ Dịch vụ thường là những hoạt động đánh vào tâm lý người tiêu dùng rất hiệu quả Vì thế, m ỗ i doanh nghiệp muốn thu hút khách hàng,
m u ô n tạo ra ưu t h ế so vủi các doanh nghiệp khác thì phải đầu tư và hoàn thiện các hoạt động dịch vụ của mình Các hoạt động dịch vụ của doanh nghiệp có thế được thực hiện trưủc, trong và sau k h i bán hàng tuy thuộc vào loại hình kinh doanh
Trang 22N h ư vậy, các hoạt động dịch vụ cũng là công cụ cạnh tranh rất hiệu quả M ỗ i doanh nghiệp phải nghiên cứu đế tìm cho mình những cách thức phục vụ t ố i ưu để thúc đẩy hoạt động k i n h doanh của doanh nghiệp
Nói riêng đến các doanh nghiệp Việt N a m hiện nay ta thấy rằng hở đã bắt đầu chú ý đến những khâu dịch vụ b ở i vì h ở đã nhận ra rằng hoạt động dịch vụ h ỗ trợ rất đắc lực cho các hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn Chính vì vậy trong những năm gần đây, năng lực cạnh tranh của một số đoàng nghiệp ngày càng tâng thì bẽn cạnh yếu tố chất lượng sản phẩm thì hoạt động dịch vụ trước, trong và sau bán hàng cũng đóng một vai trò rất quan trởng
IV CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NĂNG Lực CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1 Các yếu tó khách quan
1.1 Môi trường chính trị, luật pháp và hệ thống chính sách kinh tế
Môi trường chính trị ổn định luôn luôn là tiền đề cho việc phát triển và
mở rộng các hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước Môi trường pháp lý là hệ thống văn bản q u y phạm pháp luật tạo ra một hành lang cho hoạt động của các doanh nghiệp, ảnh hưởng đến các hoạt động của doanh nghiệp như sản xuất kinh doanh cái gì, sản xuất bàng cách nào, bán cho ai ớ đâu, nguồn đầu vào Các doanh nghiệp phải chấp hành các quy định của pháp luật, phải thực hiện các nghĩa vụ của mình với nhà nước, với xã hội và với người lao động như thế nào là do luật pháp quy định (nghĩa vụ nộp thuế, trách nhiệm đảm bảo vệ sinh môi trường, đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp )
Các chính sách kinh tế của nhà nước, tốc độ tăng trưởng nền k i n h t ế quốc dân, tốc độ lạm phát, thu nhập bình quân trên đầu người là các yếu t ố tác động trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh từng doanh nghiệp N ế u tốc độ tăng trưởng nền kinh tế quốc dàn cao, các chính sách của Chính phủ
k h u y ế n khích các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, sự biến động tiền tệ
Trang 23là không đáng kể, lạm phát được g i ữ mức hợp lý, thu nhập bình quân đầu người tăng sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất, nâng cao khả nâng cạnh tranh của và ngược lại
1.2 Môi trường quốc tế
Thương mại quốc tế có liên quan nhiều tới các quốc gia trên t h ế giới, do vậy, môi trường kinh tế, chính trị của t h ế giới có tác động rất l ớ n đối với khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Hiện nay, xu hướng k h u vằc hoa và toàn cầu hoa nền kinh tế đang diễn
ra ngày càng mạnh mẽ, từng khu vằc thành lập nên khu vằc mậu dịch t ằ do, các công t y khác nhau trên t h ế giới cũng có sằ sáp nhập nhằm m ở rộng hoạt động và thị trường tiêu thụ Trong x u t h ế đó, việc V i ệ t N a m gia nhập các
tổ chức APEC, A F T A , W T O đã tạo điều kiện thuận l ợ i cho nền k i n h t ế nước ta nói chung và ngành dệt may nói riêng có điều kiện phát triển Bên cạnh những thuận l ợ i của quá trình h ộ i nhập kinh tế đưa l ạ i , thì quá trình hội nhập này cũng đặt ra những thách thức ảnh hưởng không nhỏ t ớ i khả nũng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung N h i ề u nước
t r ẽ n t h ế giới một mặt vẫn tích cằc tham gia h ộ i nhập, nhưng vẫn tìm m ọ i biện pháp nhằm bảo hộ cho các ngành sản xuất của mình Thông qua các biện pháp bảo hộ mậu dịch như:
- Biện pháp áp dụng hạn ngạch nhập khẩu
- Biện pháp áp dụng cấp giấy phép nhập khấu
- Á p dụng biện pháp quản lí ngoại h ố i
- Biện pháp thuế quan
Các biện pháp trên đã khiến cho cạnh tranh của các doanh nghiệp trở nên ngày càng gay gắt trên thị trường
Bên cạnh đó, hiện nay nhiều nước trên thế giới đang tăng cường đầu tư cho ngành dệt may nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu các sản phẩm dệt may Nguyên nhân của tình hình này xuất phát từ đặc điếm của ngành này là
Trang 24tạo ra được nhiều việc làm cho người lao động, yêu cầu kỹ năng không cao, vốn đầu tư không quá lớn và có điều kiện m ở rộng quan hệ quốc tế C ó thể nói đây cũng là một sức ép gia tăng áp lực cạnh tranh cho các sản phẩm dệt may của Việt Nam
1.3 Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
Sự cạnh tranh giậa các doanh nghiệp trong cùng một ngành ảnh hướng trực tiếp tới lượng cung cầu sản phẩm của m ỗ i doanh nghiệp, ảnh hưởng t ớ i giá bán, tốc độ tiêu thụ sản phẩm do vậy ảnh hưởng t ớ i hiệu quả của m ỗ i doanh nghiệp
Trong cơ chế kinh tế thị trường, sự cạnh tranh giậa các doanh nghiệp cùng sản xuất hoặc cung cấp một sản phẩm, dịch vụ cùng loại là hết sức gay gắt, nhất là các ngành nghề sản xuất kinh doanh có mức l ợ i nhuận cao Điều này buộc các doanh nghiệp phải có chính sách cạnh tranh linh hoạt (sản phẩm, giá cả, marketing ) nhằm tăng cường mở rộng chiếm lĩnh thị trường Doanh nghiệp phải biết tận dụng nhậng kẽ hở của đối phương, đánh vào nhậng yếu điểm đó để có thể làm n ố i bật nhậng ưu thế về hàng hoa, dịch vụ của mình Bên cạnh đó phải cố gắng tìm hiểu mục tiêu hiện tại và tương lai của đối thủ cạnh tranh là gì? V à đối thủ cạnh tranh đánh giá như thế nào về mục tiêu và năng lực của các đối thủ cạnh tranh của họ M ộ t đối thủ cạnh tranh m à h ọ đã tùng nổi tiếng trên thương trường thì khả năng cạnh tranh được là rất khó khăn Doanh nghiệp phải phàn tích được điểm mạnh, điểm yếu của đối t h ủ cạnh tranh để có nhậng biện pháp hợp lý trong từng điều kiện, từng hoàn cảnh Tất cả phải đều nhằm vào mục tiêu cao nhất của doanh nghiệp và l ợ i nhuận, vị thế, an toàn Ngoài ra, một yếu t ố cũng có tác động không nhỏ đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đó là tình hình kinh doanh của các đối tác trong cùng một tập đoàn kinh doanh Đây là yếu t ố thuộc môi trường vĩ
m ô của doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường m ọ i sự liên kết kinh doanh giậa các doanh nghiệp rất có lợi cho việc cạnh tranh với tập đoàn kinh tẽ khác
Trang 251.4 Nhà cung cấp
Các nguồn lực dầu vào của một doanh nghiệp được cung cấp chù yếu bởi các doanh nghiệp khác, các đơn vị kinh doanh và các cá nhân Việc đảm bảo chất lượng, số lượng cũng như giá cả các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp phụ thuộc vào tính chất của các yếu tố đó, phụ thuộc vào tính chất của người cung ứng và các hành v i của họ Nếu các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp không có sự thay thế và do các nhà độc quyền cung cấp thì việc đảm bảo yếu
tố đầu vào cùa doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào các nhà cung ứng, chi phí về các yếu tố đầu vào sẽ cao hơn bình thường nên ảnh hường tểi khả năng cạnh tranh của của doanh nghiệp Còn nếu các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp sẩn có và có thể chuyển đổi thì việc đảm báo về số lượng, chất lượng cũng như hạ chi phí về các yếu tố đầu vào là dễ dàng và không bị phụ thuộc vào người cung ứng thì sẽ có tác động tích cực đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Ngoài ra, còn một yếu tố khách quan khác ảnh hưểng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp như tình hình tài chính tiền tệ trong nưểc và nưểc ngoài cũng có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự cạnh tranh của doanh nghiệp
Nói tóm lại, các nhân tố khách quan là những nhân t ố doanh nghiệp không thể tự tạo ra và cũng không thể làm mất đi Vì vậy, để nâng cao khả năng cạnh tranh của mình, m ỗ i doanh nghiệp cần phải chấp nhận sự tồn tại của các nhân tố đó để tìm ra biện pháp hợp lý nhất, hiệu quả nhất cho hoạt động cạnh tranh của doanh nghiệp
2 Các yêu tô chủ quan
Các yếu tố chủ quan là những yếu tố xuất phát từ n ộ i tại của doanh nghiệp, thể hiện tiềm năng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 262.1 Bộ máy quản trị doanh nghiệp
Các doanh nghiệp hoạt động trong cơ c h ế thị trường, bộ m á y quản trị doanh nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng đối v ớ i sự t ồ n tại và phát triển doanh nghiệp, bộ m á y quản trị doanh nghiệp phải đồng thời thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau:
- N h i ệ m vụ đầu tiên của bộ m á y quản trị doanh nghiệp và xây dựng cho doanh nghiệp một chiến lưấc k i n h doanh và phát triển doanh nghiệp N ế u xây dựng cho doanh nghiệp m ộ t chiến lưấc k i n h doanh và phát triển doanh nghiệp N ế u xây dựng đưấc một chiến lưấc k i n h doanh và phát triển doanh nghiệp hấp lý (phù hấp v ớ i môi trường k i n h doanh, phù hấp v ớ i khả năng của doanh nghiệp) sẽ ảnh hưởng tích cức đến k h ả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, là cơ sở để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất
k i n h doanh có hiệu quả
- Xây dựng các k ế hoạch k i n h doanh, các phương án k i n h doanh và k ế hoạch hoa các hoạt động của doanh nghiệp trên cơ sở chiến lưấc kinh doanh
và phát triển doanh nghiệp đã xây dựng
- Tổ chức thực hiện các k ế hoạch, các phương án và các hoạt động sản xuất kinh doanh đã đề ra
- Tổ chức kiểm tra, đánh giá và điểu chỉnh các quá trình trên
V ớ i chức năng và nhiệm vụ vô cùng quan trọng của bộ m á y quản trị doanh nghiệp, ta có thể khẳng định rằng chất lưấng của bộ m á y quản trị quyết định rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nếu bộ m á y quản trị đưấc tổ chức với cơ cấu phù hấp với nhiệm vụ sản xuất k i n h doanh của doanh nghiệp, gọn nhẹ linh hoạt, có sự phân chia nhiệm vụ chức năng rõ ràng, có cơ chế phối hấp hành động hấp lý, với một đội ngũ quản trị viên có năng lực và tinh thần trách nhiệm cao sẽ đảm bảo cho các hoạt động sản xuất
k i n h doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao Nếu bộ m á y quản trị doanh nghiệp đưấc tổ chức hoạt động không hấp lý (quá cổng kềnh hoặc quá đơn
Trang 27giản), chức năng nhiệm vụ chồng chéo và không rõ ràng hoặc là phải kiêm nhiệm quá nhiều, sự phối hợp trong hoạt động không chật chẽ, các quản trị viên thì thiếu nâng lực và tinh thần trách nhiệm sẽ ảnh hưởng đến khả nâng cạnh tranh của doanh nghiệp, dớn đến hiệu quả sản xuất k i n h doanh của doanh nghiệp không cao
2.2 Trình độ của đội ngũ công nhân trong doanh nghiệp
Ngày nay chất lượng nguồn nhân lực đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó ảnh hướng trực tiếp tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Chúng ta có thể bỏ hàng chục triệu USD để xây dựng những nhà m á y hiện đại, nhưng nếu bộ m á y lãnh đạo điều hành kém năng lực, tập thể lao động trực tiếp sản xuất không thành thạo, trình độ tay nghề không cao thì nhà máy hoạt động không thể có hiệu quả, do vậy sẽ không có khả năng cạnh tranh hoặc sức cạnh tranh rất yếu Chất lượng, trình độ tay nghề nguồn nhân lực sẽ ảnh hướng trực tiếp tới giá trị của hàng hoa Giá trị hàng hoa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoa kết t i n h t r o n g hàng hoa đó Giá trị hàng hoa thay đổi phụ thuộc vào năng suất lao động Năng suất lao động là hiệu suất của lao động được đo bằng số lượng sản phẩm tạo ra trong một đơn vị thời gian, hoặc lượng thời gian lao động hao phí để tạo ra một đơn vị sản phẩm Năng suất lao động phụ thuộc vào trình độ
kĩ thuật của người lao động, mức trang bị kĩ thuật của nguôi lao động, phương pháp tổ chức, quản lí và các điều kiện tự nhiên
K h i chất lượng, trình độ tay nghề của nguồn nhân lực nâng cao sẽ giúp cho tăng năng suất lao động Việc tăng năng suất lao động được thế hiện ở chỗ: hao phí lao động không tăng, nhưng số sản phẩm làm ra trong một đơn vị thời gian tăng lên, do đó giá trị hàng hoa của một đơn vị giảm xuống khiến cho giá của một đơn vị hàng hoa giảm, do đó sẽ giúp tăng năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp
Trang 282.3 Tình hình tài chính của doanh nghiệp
Doanh nghiệp có khả năng tài chính mạnh thì không những đảm bảo cho các hoạt động sản xuất k i n h doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục và
ổn định m à còn giúp cho doanh nghiệp có khả năng đầu tư đổi m ớ i công nghệ
và áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nhằm giảm chi phí, nâng cao năng suất và chất lưởng sản phẩm Ngưởc lại, nếu như khả năng về tài chính của doanh nghiệp yếu kém thì doanh nghiệp không những không đảm bảo đưởc các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường m à còn không có khả năng đầu tư đổi m ớ i công nghệ, áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất do đó không nâng cao đưởc năng suất và chất lưởng sản phẩm Khả năng tài chính của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới uy tín của doanh nghiệp, tới khả năng chủ động trong sản xuất kinh doanh tới tốc độ tiêu thụ và khả nâng cạnh tranh của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới mục tiêu t ố i thiểu hoa chi phí băng cách chủ động khai thác và sử dụng tối ưu các nguồn lực đáu vào
Vì vậy tình hình tài chính của doanh nghiệp tác động rất mạnh tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp đó
2.4 Uy tín của doanh nghiệp
M ộ t yếu t ố cũng góp phần không nhỏ vào sự thành công trong kinh doanh nói chung và khả năng cạnh tranh nói riêng đố là sự tín nhiệm- hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường
Sự tín nhiệm đối v ớ i doanh nghiệp là uy tín và ảnh hưởng của doanh nghiệp trên thị trường, là vị trí và hình ảnh của doanh nghiệp trong con mắt người tiêu dùng Rất nhiều doanh nghiệp đều coi việc xây dựng uy tín là một trong những bí quyết đế kinh doanh thành công Tín nhiệm đ ố i v ớ i doanh nghiệp trên thị trường bao gồm:
- Tín nhiệm về chất lưởng sản phẩm: Sự tín nhiệm đối v ớ i sản phàm càng cao, người tiêu dùng càng tin tưởng, chỉ cần nghe nói đến sản phẩm
Trang 29mang tên nhãn hiệu đó thì không thể hoài nghi về chất lượng của sản phẩm Những sản phẩm nổi tiếng lâu đời là những sản phẩm có sự tín nhẹm về chất lượng cao
- Tín n h i ệ m về tác phong k i n h doanh của doanh nghiệp: N h ữ n g doanh nghiệp có tác phong k i n h doanh tốt, tuân t h ủ thời gian, tuân t h ủ hợp đồng, có tinh thần trách n h i ệ m cao đối với người tiêu dùng sẽ có u y tín rất cao trên thậ trường
- Tín n h i ệ m về sự phục vụ của doanh nghiệp bao g ồ m sự phục vụ về
kỹ thuật, phục vụ tiêu thụ T r o n g quá trình tiêu t h ụ hoặc sau k h i bán, nếu
d o a n h nghiệp phục vụ c h u đáo, thái độ phục vụ t ố t , làm cho người m u a hay không mua cảm thấy hài lòng Sau k h i khách m u a hàng về nhà, nếu có vấn đề thì doanh nghiệp đến tận nhà để giải quyết Tất cả những cái đó thể hiện sự tín nhiệm đối với việc phục vụ của doanh nghiệp
U y tín của doanh nghiệp càng cao thì càng có nhiều un thế trong việc
m ở rộng thậ trường tiêu thụ sản phẩm Bất cứ doanh nghiệp nào đã thành công trong kinh doanh đểu coi việc xây dựng và g i ữ gìn tín nhiệm là một nhiệm vụ
có tính chiến lược C ó g i ữ được sự tín nhiệm thì cơ hội kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thậ trường mới được nâng cao
Nói tóm l ạ i , những yếu t ố chủ quan của doanh nghiệp có tính chất quyết đậnh đến khả năng cạnh tranh trong kinh doanh
V Cơ HỘI VÀ THÁCH THỨC TRONG HỘI NHẬP Đ ố i VỚI CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM
1 C ơ hội
Trong b ố i cảnh nền kinh tế t h ế giới đang phục h ồ i m ộ t cách nhanh chóng sẽ có tác động rất tích cực đến việc thu hút đẩu tư nước ngoài vào V i ệ t Nam, trong đó có đầu tư vào ngành dệt may Tính đến thời điểm hiện nay, Việt N a m đã thiết lập quan hệ thương mại với trên 160 nước và vùng lãnh thổ
C ó thể nói đây là một cơ hội cho ngành dệt may V i ệ t N a m h ộ i nhập và phát triển Các doanh nghiệp dệt may Việt N a m đang đúng trước cơ hội phát triển
Trang 30thị trường xuất khấu hết sức to lớn như thị trường Châu  u (chủ yếu là EU), Nhật Bản, Trung Đông, Châu Á, Châu M ỹ và đặc biệt là Hoa Kỳ là thị trường
có sức mua hàng dệt may lớn lại dễ tính Sau nhiều n ă m làm ăn v ớ i các thị trường này, các sản phẩm dệt may của chúng ta đã có được chừ đứng và dần khẳng định được chất lượng và thương hiệu của mình Việc Việt Nam vừa trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương m ạ i thế giới W T O m ở ra m ộ i triển vọng tốt cho ngành dệt may trong việc thâm nhập vào các nền kinh t ế phát triển trên thế giới Đ ố i với thị trường Châu Á (các nước A S E A N ) , các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần nâng cao sức cạnh tranh đế đối phó với sản phẩm của các nước trong khối này có điều kiện xàm nhập vào thị trường Việt Nam với thuế suất thấp sau năm 2006, vì dệt may cũng là mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của các nước này Đ ố i với thị trường EU, ngành dệt may V i ệ t Nam cần nâng cao chất lượng sản phẩm để tăng sức cạnh tranh với các nước xuất khẩu hàng dệt may khác và đáp ứng được đòi hỏi cao về sàn phẩm của thị trường này
2 Thách thức
Bên cạnh những cơ hội to lớn đó, trên con đường phát triển trong thời gian tới, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đang phải đối mật với nhiều thách thức lớn, xuất phát từ cạnh tranh ngày một gay gắt hơn trong x u thế hội nhập khu vực và trên thế giới Trong k h i đó, năng lực của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay còn khiêm tốn so với một số nước trong k h u vực châu Á như Trung Quốc, Ân Đ ộ , Indonesia Việc tham gia vào tổ chức thương mại thế giới trong năm tới sẽ làm cho tính cạnh tranh giữa các hàng hóa của Việt Nam v ớ i các nước khác là hết sức gay gắt Việc thực hiện AFTA/CEFT sẽ dẫn đến việc loại bỏ hoàn toàn việc bảo hộ hàng dệt may V i ệ t Nam tại thị trường n ộ i địa trước hàng nhập khẩu của các nước Đông Nam Á Yêu cầu nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường trong bối cánh đó đặt
ra cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nhiều bài toán hết sức khó khăn
Trang 31Đ ó là làm sao để vừa phát triển m ở rộng được sản xuất, vừa nâng cấp và khai thác tối đa năng lực sản xuất hiện có L à m sao trong thời gian ngắn ( t ừ 3 đến 5 năm), các doanh nghiệp dệt may V i ệ t N a m phải đưa ra được năng lực quản lý sản xuất và tiếp thị lên ngang tầm v ớ i các nước xuất khẩu trong k h u vực để có thể cữnh tranh được về năng suất lao động, giá thành và chất lượng sản phẩm, uy tín nhãn hiệu, thiết k ế sản phẩm, giao hàng nhanh đúng
t i ế n độ và k h ả năng sản xuất được các lô hàng nhỏ Vì vậy, ngay từ bây g i ờ ngành công nghiệp dệt may V i ệ t Nam cần phải có những giải pháp cụ t h ể
để đưa ngành có đủ năng lực cữnh tranh với các nước khác trên thế giới ngay
từ bây giờ và những tiếp theo
Hiện nay, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội dệt may Đông Nam Á (AFTEX), tham gia vào Hiệp hội bông Liperpool và quan hệ Thương mữi Việt - M ỹ đã và đang diễn ra theo hướng tích cực Cùng với đường lối đối ngoữi m ở rộng, chúng ta có thể t i n tưởng rằng ngành công nghiệp dệt may Việt Nam sẽ tiếp tục phát triển mữnh
mẽ hơn nữa và trở thành một ngành kinh tế chủ lực của đất nước
Trang 32CHƯƠNG li: THỰC TRẠNG NÂNG Lực CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM
ì K H Á I Q U Á T VỀ N G À N H DỆT MAY VIỆT NAM
1 Q u á trình hình thành và phát triển của ngành dệt may Việt Nam
Ngành công nghiệp dệt may đã có ở V i ệ t N a m vào khoảng hơn m ộ t
t h ế kỷ nay Sau k h i thống nhất đất nước, cùng v ớ i việc tiếp quản toàn bộ nhà máy, xí nghiệp dệt may đã có ở m i ề n N a m trước k h i giải phóng, N h à nước cũng đã tiến hành cho xây dựng nhiều nhà máy, xí nghiệp dệt m a y trên phạm v i cả nước
N ă m 1986, Đ ẳ n g và N h à nước đề ra chủ trương cải cách m ở cửa nền
k i n h tế, chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thợ trường Đây là cơ hội phát triển cho các ngành công nghiệp trong đó có ngành dệt may Ngành dệt may thời kỳ này với quy m ô , công suất thiết bợ, trình độ công nghệ còn lạc hậu, m ớ i sản xuất được những sản phẩm có chất lượng trung bình, không có k h ả năng cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu Ngành công nghiệp dệt may Việt N a m chỉ thực sự phát triển từ n ă m 1991 trở lại đây với sự thay đổi căn bản cả về thiết bợ công nghệ lẫn nhận thức
Về quy mô của ngành, nhờ chính sách phát triển kinh tế nhiều thành
phần nên từ n ă m 1991 ngành dệt may Việt N a m đã có bước phát triển khá nhanh thể hiện qua sự lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng của các doanh nghiệp dệt may Đ ế n n ă m 2005, số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dệt may đã tăng gấp 5 - 6 lần so với 10 n ă m trước Hiện nay, cả nước có gần 108.500 cơ sở sản xuất kinh doanh các sản phẩm dệt, may trong nước và
362 doanh nghiệp đầu tư nước ngoài
Trang 33Bảng Ì: Quy mô ngành dệt may Việt Nam theo thành phần kinh tế
Loai hình sở hữu Sỏ lượng DN Tỷ trọng (%)
Nguồn: Hiệp hội dệt may Việt Nam, 2005
Khu vực tập trung nhiều cơ sở sản xuất nhất với các cụm công nghiệp dệt may đã hình thành từ lâu tại Hà Nội, Nam Định và các cụm khác mới hình thành như Dệt kim Hoàng Thị Loan, Sợi Vinh ; tiếp sau là khu vực thành phố
Hứ Chí Minh và cấc tỉnh phụ cận, với các cụm công nghiệp dệt may tập trung tại Thủ Đức, Tân Bình, Biên Hoa và các cụm mới đang hình thành tại Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu ; các cụm công nghiệp tập trung ở Huế, Đà Nang, Nha Trang [2, tr.12-13] Có thể xem xét cụ thế số lượng các doanh nghiệp ngành dệt may theo loại hình sở hữu và sản xuất sản phẩm qua bảng sau:
Bảng 2: Số lượng doanh nghiệp dệt may Việt Nam theo sản phẩm và
loại hình sở hữu
Sản phẩm Tổng Doanh nghiệp
Nhà nước
Khu vực ngoài quốc doanh
Trang 34về sắn phẩm của ngành dệt may, sản phẩm của ngành ban đầu khá giản
đơn, chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu trong nước và không có khả năng cạnh tranh v ớ i hàng ngoại nhập Trong những n ă m gần đây, sản phẩm của ngành đã đa dạng, phong phú hơn về chủng loại, về kiểu dáng và chất lượng cũng đã được nâng lên một bước Sản phẩm chính của ngành dệt may V i ệ t Nam là sợi, vải dệt thoi, dệt k i m và các sản phẩm may sẵn Trong 10 n ă m trặ lại đây cùng với sự đầu tư khá và có định hướng rõ ràng vào ngành dệt may nên năng lực sản xuất kinh doanh của ngành đã có bước tiến bộ đáng kể Năng lực sản xuất kinh doanh của ngành dệt may Việt Nam hiện nay như sau:
Bảng 3: Năng lực sản xuất ngành Dệt - May hiện nay
Nguồn: Vụ Công nghiệp - Bộ Kế hoạch và Đẩu tư năm 2005
Vê lao động của ngành, đặc điểm của ngành dệt may là ngành thu hút
nhiều lao động, góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm cho nhân dân Tính đến năm 2005, tổng số iao động ngành dệt may là hơn 2.000.000 lao động (chưa kế số lao động trồng bông nuôi tằm và hoạt động trong các ngành dịch vụ có liên quan), chiếm khoảng 2 5 % tổng số lao động công nghiệp
cả nước Ngành dệt may Việt Nam đang ngày càng phát triển nên số lượng lao động cũng vì t h ế m à tăng lên, thu nhập của người lao động cũng được cải thiện đáng kê
Về nguồn vốn đẩu tư trực tiếp nước ngoài, với đặc trưng của ngành dệt
may là đòi h ỏ i lượng vốn không quá lớn, mặt khác các doanh nghiệp dệt may
Trang 35Việt Nam có l ợ i t h ế về nhân công rẻ nên ngành dệt may t h ế giới đang có x u hướng dịch chuyển sản xuất sang các nước đang phát triển như Việt Nam Trong thời gian gần đây lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành dệt may Việt Nam cũng có sự tăng trường khá Tính đến hết tháng 12 n ă m 2005, trong ngành dệt may có hơn 360 d ự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký khoảng 2.691,94 triệu USD, vốn thực hiện là: 1.162,92
tỷ USD bằng 4 3 , 2 % tổng số vốn đãng ký, thu hút trên 12.300 lao động Trong
đó, có hơn 125 d ự án đầu tư vào ngành dệt và 237 d ự án đầu tư vào ngành may Trong 6 tháng đầu năm 2006, Bộ K ế hoỉch và Đ ầ u tư đã phê duyệt thèm
21 d ự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành dệt may Việt Nam (với 10 d ự
án ngành dệt, 9 d ự án ngành may và bắt đầu có 2 d ự án đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu dệt may với số vốn 2,15 triệu USD sản xuất gia công chỉ may) với số tống vốn đầu tư đăng ký là 73,0738 triệu USD; vốn bình quân 3,479 triệu USD/1 d ự án, trong đó d ự án có v ố n đầu tư lớn nhất là d ự án may tỉi Đ ổ n g N a i của công ty T N H H Formosa Taffeta đến từ Đài Loan, với tổng vốn đầu tư 39 triệu USD [5, tr.23]
2 V a i trò c ủ a ngành dệt may t r o n g nền k i n h tê quốc dân
Ngành còng nghiệp dệt may Việt Nam ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, được xem là một trong những ngành công nghiệp có lợi thế của Việt Nam
Một là, công nghiệp dệt may thường g i ữ vai trò chủ đỉo trong quá trình
phát triển kinh tế - xã h ộ i ở các nước đang ở giai đoỉn đầu công nghiệp hoa như Việt Nam hiện nay Nhiều nước chọn giải pháp là phát triển một số ngành công nghiệp có l ợ i thế và công nghiệp dệt may là một trong những ngành công nghiệp như vậy vì ngành này không đòi h ỏ i vốn đầu tư lớn, lao động giản đơn, lỉi có thế tổ chức nhiều loỉi quy m ô khác nhau
Hai là, dệt may là ngành cung cấp hàng tiêu dùng thiết yếu cho xã hội
Sản phẩm của ngành dệt may phục vụ cho một trong hai nhu cầu thiết yếu của con người là nhu cầu mặc Sản lượng và chất lượng sản phẩm dệt may tăng
Trang 36mạnh qua các thời kỳ và đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của người tiêu dùng trong nước về mặt hàng này
Ba là, dệt may là ngành công nghiệp có k i m ngạch xuất khau cao Bên
cạnh việc đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, hàng dệt may Việt N a m còn xuất khẩu sang thị trường hơn 60 nước trên t h ế giới N ă m 2004, k i m ngạch xuất khẩu của ngành dệt may đạt 3,68 tỷ USD, n ă m 2005 đạt 4.386 tỷ USD, n ă m 2006 d ự kiến đạt hơn 5 tỷ USD và dệt may là một trong 10 ngành kinh tế có k i m ngạch xuất khẩu l ớ n ữ Việt Nam Bằng việc xuất khẩu sản phẩm, ngành dệt may không những góp phần phát triển kinh tế m à còn mang lại cho đất nước nguồn ngoại tệ lớn
Bốn là, ngành dệt may là ngành tạo nhiều nhiều việc làm cho người lao
động Tính đến n ă m 2005, với hơn 1000 doanh nghiệp và hơn 100.000 cơ sờ nhỏ, hộ tư nhân khác, ngành dệt may đã thu hút được hơn 2.000.000 lao động Ngành còn tạo công ăn việc làm cho hàng trăm nghìn lao động trong quá trình sản xuất phụ trợ như: trổng bông, dâu, nuôi tằm, thêu đan, sản xuất và chục nghìn lao động dịch vụ khác phục vụ cho ngành
Sự phát triển của ngành công nghiệp dệt may đã và đang đóng vai trò quan trọng, tạo ra tiền đề ban đầu để thực hiện quá trình công nghiệp hoa, hiện đại hóa ữ một nước đang phát triển có xuất phát điểm thấp như Việt Nam
li THỰC TRẠNG NANG Lực CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP DỆT MAY VIỆT NAM
1 Đánh giá thực trạng sản xuất của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
1.1 Thực trạng nguồn vốn đầu tư
1.1.1 Vốn trong nước
Giai đoạn 1991 - 1995: trong giai đoạn này, nguồn v ố n đầu tư của các
doanh nghiệp dệt may còn khá khiêm tốn, đạt khoảng 1.500 tỷ đổng
Trang 37Từ năm 1996 trở lại đây, nguồn vốn đầu tư cho ngành dệt may đa tăng
lên rất nhiều so với giai đoạn trước đó Tổng vốn đầu tư trong giai đoạn này được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 4: Tổng vốn dầu tu trong nước cho ngành dệt may
Vốn đầu tư của Tổng công
ty dệt may Việt Nam (Vinatex)
Vốn tư nhân và Doanh nghiệp do địa phương quản lý
Nguồn: Bộ Kẻ hoạch và Đẩu tít & Tổng còng ty dệt may Việt Nam
Từ 1998 cùng với sự phát triển cằa nền kinh tế, nguồn vốn đầu tư cằa các doanh nghiệp dệt may đã tăng lên một cách đáng kể, đặc biệt là một số năm gần đây Năm 2001, tổng vốn đầu tư toàn ngành đạt 3200 tỷ đồng, gần bằng tổng mức đầu tư trong 3 năm 1997 - 1999, năm 2002 là 3579 tỷ đồng và năm 2004 tăng lên là 4.295 tỷ đồng Trong tổng vốn đầu tư toàn ngành, Vinatex - đơn vị chằ đạo cằa ngành dệt may Việt Nam vẫn chiếm tỷ lệ vốn khá lớn (tỷ lệ chiếm trên 50%) Mặt khác, trong giai đoạn này do nhận thức được sức tăng trướng và phát triển cằa những thị trường nhập khẩu hàng dệt may nên toàn ngành đã tập trung đầu tư một số lượng máy móc thiết bị, công
Trang 38nghệ mới để nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế
1.1.2 Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Với đặc trưng của ngành dệt may là đòi hỏi lượng vốn không lớn, công nghệ sạ dụng là những công nghệ không cần quá hiện đại, mật khác các doanh nghiệp dệt may Việt Nam có lợi thế về nhân công rẻ và ngành dệt may thế giới đang có xu hướng dịch chuyển sang các nước đang phát triển Vì vậy, trong thời gian gần đây lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành dệt may Việt Nam gia tăng nhanh chóng Tính đến hết tháng 12 năm 2005, trong ngành dệt may có hơn 360 dự án đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng số vốn đăng ký khoảng 2.691,94 triệu USD, vốn thực hiện là: 1.162,92 tỷ USD
bằng 43,2% tổng số vốn đăng ký, thu hút trên 12.300 lao động Trong đó, có
hơn 125 dự án đầu tư vào ngành dệt và 237 dự án đầu tư vào ngành may Trong 6 tháng đầu năm 2006, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phê duyệt thêm 21
dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành dệt may Việt Nam (với 10 dự án ngành dệt, 9 dự án ngành may và bắt đầu có 2 dự án đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu dệt may với số vốn 2,15 triệu USD sản xuất gia công chỉ may) với số tổng vốn đầu tư đăng ký là 73,0738 triệu USD; vốn bình quân 3,479 triệu USD/1 dự án, trong đó dự án có vốn đầu tư lớn nhất là dự án may tại Đồng Nai của công ty TNHH Formosa Taffeta đến từ Đài Loan, với tổng vốn đầu tư 39 triệu USD
1.2 Thực trạng thiết bị, công nghệ
Trong những năm qua, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã tập trung đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ đê nâng cao năng lực sản xuất của toàn ngành Trong giai đoạn 1999 - 2005, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nói chung, nhất là Tổng công ty dệt may Việt Nam đã tập trung các nguồn lực để đầu tư phát triển, đặc biệt là đầu tư cho thiết bị, công nghiệp của ngành để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới
Trang 39Tổng vốn đầu tư trong giai đoạn này của Tổng công ty đạt 1576,165 tỷ đồng, gấp hơn 3 lần so với tổng vốn đầu tư của cả thời kỳ 1991-1995 Vốn đầu tư được dùng để thay thế, đổi mới máy móc, thiết bị, công nghệ cho tất cả các khâu của quá trình sản xuất
Bảng 5: Vốn đầu tư cho thiết bị, công nghệ của Vinatex thời kỳ 1999 - 2005
Tỷ lê (%)
li Ngành
+ Kéo sợi 154,068 22,78 212,195 23,12 366,263 22,98 + Dệt thoi,
dệt kim 187,416 27,72 375,839 40,94 563.255 35,33 + Nhuừm -
công ty may) 118,791 17,57 124,141 13,52 242,932 15,24
Tổng 676,156 100 918,004 100 1.594,16 100
Nguồn: Tổng công ty dệt may Việt Nam năm 2005
Có thế thấy, trong thời gian qua, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam
đã tập trung lượng vốn khá lớn để đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị, công nghệ Do vậy, năng lực sản xuất của toàn ngành đã tăng lên mừt cách rõ rệt, từ chỗ chỉ sản xuất được các mật hàng đơn giản đến nay ngành đã sản xuất được nhiều mặt hàng cao cấp, được thị trường trong và ngoài nước chấp nhận Qua
Trang 40đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp dệt may Việt Nam ở thị trường trong nước cũng như trên thị trường thế giới
1.3 Thực trạng nguồn nhân lực
Cho đến nay, tổng số lao động ngành dệt may lên đến hơn 2 triệu lao động, chiếm 2 5 % tổng số lao động toàn ngành công nghiệp Sau khi qua dào tạo cơ bản, lao động của ngành dệt may có khả năng tiếp thu được các quy trình sản xuất và công nghệ hiện có, từng bước làm chủ được sản xuất, có khả năng làm ra các sản phỹm đạt chất lượng cao, đảm bảo đủ tiêu chuỹn để xuất khỹu Tuy nhiên, do lao động trong ngành chủ yếu là lao động phổ thông, năng suất lao động và chất lượng chưa cao Trình độ văn hoa của lao động trực tiếp sản xuất trong ngành dệt may Việt Nam được phân loại như sau:
+ Trình độ văn hoa cấp ì: chiếm 2 1 %
+ Trình độ văn hoa cấp li: chiếm 6 1 %
+ Trình độ văn hoa cấp IU: chiếm 1 4 %
+ Tốt nghiệp cấp IU: chiếm 4 %
Do trình độ văn hoa còn thấp nên việc tiếp thu khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại phức tạp gặp nhiều khó khăn Lao động trong ngành dệt may đa
số là lao động trẻ, trong số các lao động trực tiếp sản xuất thì những người trong độ tuổi 24 - 30 chiếm 4 1 % , do đó họ chưa có nhiều kinh nghiệm trong lao động sản xuất, năng lực sản xuất còn hạn chế
Đối với cán bộ quản lý, hầu hết các cán bộ quản lý đều có trình độ đại
học Đa số họ được đào tạo trong thời kỳ bao cấp nên tư duy thiếu năng động, chưa mạnh dạn sáng tạo, đổi mới, dám nghĩ, dám làm và còn nặng tư tướng ý lại Bộ máy tổ chức quản lý còn cồng kềnh, cơ chê điều hành kém hiệu quả nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của ngành
Hiện nay, nhìn chung các doanh nghiệp dệt may còn thiếu lực lượng cán bộ kỹ thuật (nếu tính theo tỷ lệ kỹ sư cần thiết trong một doanh nghiệp thì các doanh nghiệp mới chỉ đáp ứng được 1/10 nhu cầu); ngoài ra đội ngũ cán