1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ERP và TRIỂN KHAI ERP TRONG các DOANH NGHIỆP dệt MAY của VIỆT NAM NHẰM NÂNG CAO NĂNG lực CẠNH TRANH của NGÀNH dệt MAY TRONG TIẾN TRÌNH hội NHẬP KINH tế QUỐC tế

58 804 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 4,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong phiên đàm phán cuối cùng với Mỹ về việc gia nhập WTO diễn ra vào đầu tháng 5/2006, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 126/2006/QĐ-TTg nhằm chấm dứt hiệu lực của Quyết

Trang 1

http://svnckh.com.vn 1

Bé gi¸o dôc vµ §µo t¹o

Tr-êng §¹i häc Ngo¹i Th-¬ng -o0o -

C«ng tr×nh dù thi Cuéc thi Sinh viªn nghiªn cøu khoa häc tr-êng §¹i häc Ngo¹i Th-¬ng

n¨m 2006

Tªn c«ng tr×nh:

“ERP vµ triÓn khai ERP trong c¸c Doanh nghiÖp dÖt may cña ViÖt Nam nh»m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña ngµnh dÖt may trong tiÕn tr×nh héi

nhËp Kinh tÕ Quèc tÕ”

Nhãm ngµnh: XH1b

Hµ Néi, th¸ng 08 n¨m 2006

Trang 2

http://svnckh.com.vn 2

Đề cương chi tiết - (khoảng 65 trang) Bìa chính và bìa phụ (mẫu M01):

Bìa chính là tờ bìa cứng ngoài cùng có màu khác nhau theo quy định

Bìa phụ là trang đầu tiên của công trình

Đính kèm 2 trang rời M02, M03

Mục lục: tiếp ngay sau bìa phụ, ghi rõ tên các chương, mục với vị trí trang tương ứng

Không ghi quá chi tiết để khỏi chiếm nhiều trang, chỉ nên ghi đến một mục nhỏ sau một mục lớn là đủ – 2 trang

Phụ lục: là những bảng , biểu, số liệu, sơ đồ, hình vẽ, kết quả điều tra, khảo sát … có tác

dụng chứng minh, minh họa cho các nội dung của luận văn mà nếu đưa vào luận văn thì không đẹp và chiếm nhiều trang nên được đưa vào phần cuối cùng của luận văn và không tính số trang (trong công trình NCKH đưa vào phần đầu) Phụ lục này cũng có thể được đánh số thứ tự và phải đánh số trang (3 trang)

Tóm tắt công trình – 1 trang

Danh mục các từ viết tắt – 1trang

Danh mục các bảng biểu – 1 trang

Lời nói đầu – 2 trang

-Tính cấp thiết của đề tài;

-Mục đích và mục tiêu nghiên cứu;

-Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ;

-Phương pháp nghiên cứu;

-Tình hình nghiên cứu; kết quả nghiên cứu dự kiến (?), những đóng góp mới của công trình;

-Kết cấu của công trình (3 chương…)

-Lời cám ơn

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về ERP (22 trang)

1.1 ERP là gì? (7 trang)

1.1.1.Định nghĩa ERP (3 trang)

(Quá trình hình thành, Lộ trình ứng dụng tin học trong DN (tin học hoá bộ phận và tổng thể, vai trò với hệ thống quản trị DN)

1.1.2.Cấu trúc của 1 ERP (so sánh ERP khác biệt với PM kế toán, các module) (2 trang)

1.1.3.Việc triển khai ERP trong các DN trên TG (hãng lớn, các nước trong khu vực

=> bài học kinh nghiệm) (2 trang)

1.2 Thực trạng về việc áp dụng ERP của các DN VN hiện nay (DN Nói chung=> dệt may)

(10 trang)

1.2.1 Hiểu biết của các DN VN về ERP (3-4 trang)

(chưa biết, đã biết, đã áp dụng, áp dụng thành công) – các DN dệt may

1.2.2 Thuận lợi khi triển khai ERP trong mô hình quản lý của mình (2 trang) 1.2.3 Khó khăn của các DN khi triển khai ERP vào mô hình quản lý của mình (Luật pháp bất cập, lãnh đạo, đội ngũ nhân viên,…) (3 – 4trang)

1.3 Thực trạng về các nhà cung cấp – tư vấn giải pháp ERP (5 trang)

1.3.1 Tổng quan chung về các nhà cung cấp – tư vấn giải pháp ERP (số liệu thống

kê, thị trường giàu tiềm năng…) (1trang)

1.3.2 Thực trạng về các nhà cung cấp ERP trong nước (ưu và nhược điểm của sản phẩm ERP nội) (2trang)

1.3.3 Thực trạng về các nhà cung cấp ERP nước ngoài (ưu và nhược điểm của sản phẩm ERP ngoại) (2 trang)

Trang 3

http://svnckh.com.vn 3

Chương 2 Quy trình triển khai ERP trong các DN XK hàng dệt may của VN (20 trang)

2.1 Tổng quan về các DN XK hàng dệt may của VN (8 trang)

2.1.1 Tổng quan về các DNXK hàng dệt may của VN, vai trò của việc XK hàng dệt may với tình hình XK chung của cả nước và với nền kinh tế trong quá trình hội nhập (các số liệu, tỷ trọng XK…) (3 trang)

2.1.1 Tìm hiểu về các quy trình của quá trình SX & XK hàng dệt may để triển khai ERP (2 trang)

2.1.3 Thực trạng và điểm yếu (nêu một số mặt, sau đó tập trung vào khâu quản trị, nguyên nhân) DN hiện nay (DN nói chung => DN XK hàng dệt may, đặc trưng ngành nghề) (3 trang)

2.2 Các vấn đề khi triển khai ERP trong các DN XK hàng dệt may (9trang)

2.2.1 Các vấn đề cần chuẩn bị (thay đổi quản lý, lựa chọn giải pháp, chuẩn bị nhân lực, chuẩn hoá quy trình…) đặc biệt trong ngành dệt may (4 trang)

2.2.2 Các vấn đề phân tích rủi ro cho DN khi ứng dụng ERP (phát sinh từ phía DN,

từ phía NCC, phát sinh khi triển khai, do môi trường văn hoá…) (3 trang)

=> hoạch định hướng xử lý để loại trừ rủi ro (chỉ số đo???), tránh thất bại khi đưa ERP ứng dụng trong DN

2.2.3.Các vấn đề liên quan đến quản trị dự án , tư vấn, đào tạo, chuyển giao trong quá trình đưa ERP vào ứng dụng trong DN (phối hợp giữa DN - NCC - nhà tư vấn) (2 trang)

2.3 (Tác dụng sau khi triển khai ERP) Các chỉ tiêu đánh giá (KPI) nâng cao hiệu quả, năng

lực cạnh tranh trước và sau khi ứng dụng ERP& chỉ sốROI (return on investment ) (lợi tức gia tăng hoặc lợi nhuận hoàn lại) (3 trang)

Chương 3 Dự báo tình hình phát triển, đề xuất các giải pháp nhằm phát triển ERP tại các DNVN nói chung và ứng dụng trong ngành dệt may nói riêng (7 trang)

3.1 Dự báo tình hình phát triển và sự cần thiết áp dụng các giải pháp ERP với các DNVN

nói chung và với DN XK hàng dệt may nói riêng (2 trang)

3.2 Một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tốc độ triển khai ERP với cá DN VN

3.2.1 Về phía Nhà nước (chính sách chính phủ) (1 trang)

3.2.2 Về phía Doanh nghiệp (2 trang)

3.2.3 Về phía nhà cung cấp (2 trang)

Kết luận (2 trang)

-Rút ra kết luận, nêu ý nghĩa khoa học, hiệu quả kinh tế XH, phạm vi áp dụng -Dự báo xu hướng phát triển

-Giải pháp, kiến nghị đề xuất

-Các vấn đề đã được giải quyết, các vấn đề cần được nghiên cứu thêm (áp dụng trong các ngành khác)

=> Công trình ban đầu gồm khoảng 53 trang (chưa bao gồm mục lục, phụ lục, danh mục

tham khảo), trong quá trình viết sẽ chỉnh sửa, thay đổi

Danh mục tài liệu tham khảo (2-3 trang)

Tài liệu tham khảo: Tài liệu tham khảo bao gồm tất cả các tác phẩm kinh điển, giáo

trình, sách tham khảo, luật lệ, nghị quyết, thông tư, báo cáo, các bài báo … bằng các thứ tiếng khác nhau mà tác giả đã tham khảo khi nghiên cứu và có dẫn chiếu trong luận văn

Danh mục tài liệu tham khảo phải được ghi theo đúng quy định sau đây:

- Tài liệu tham khảo phải xếp riêng theo từng ngôn ngữ, theo thứ tự Việt, Anh, Pháp, Nga (đánh số liên tục) … Các tài liệu bằng tiếng nước ngoài phải giữ nguyên văn;

- Tài liệu tham khảo bằng tiếng Việt phải xếp theo thứ tự ABC của tên tác giả, bằng tiếng nước ngoài xếp theo ABC của họ tác giả Nếu tài liệu không có tên tác giả thì xếp

theo chữ cái đầu tiên của cơ quan ban hành hay phát hành ấn phẩm đó

Trang 4

http://svnckh.com.vn 4

- Nguồn tài liệu phải có các thông tin: tên tác giả hoặc cơ quan phát hành; năm xuất

bản (để trong ngoặc đơn); tên sách (in nghiêng) hoặc tên bài báo (đặt trong ngoặc kép,

không in nghiêng); nhà xuất bản, nơi xuất bản (đối với sách); tên tạp chí (in nghiêng), số

(trong ngoặc), trang … (nếu là bài báo)

Lời nói đầu

Trong quá trình hội nhập, ngành Dệt may được nước ta xác định là một trong 20 ngành Công nghiệp giữ vai trò chủ chốt của nền kinh tế, được Nhà nước dành cho những chính sách hỗ trợ, ưu đãi về nhiều mặt Tuy nhiên, trong phiên đàm phán cuối cùng với Mỹ về việc gia nhập WTO diễn ra vào đầu tháng 5/2006, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 126/2006/QĐ-TTg nhằm chấm dứt hiệu lực của Quyết định số 55/2001/QĐ-TTg (về Chiến lược phát triển và một số cơ chế chính sách hỗ trợ thực hiện Chiến lược phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2010) theo yêu cầu của Hoa Kỳ trong vòng đàm phán thứ 12 tiến trình gia nhập WTO, ngành Dệt may nước ta

đã không còn được hưởng những ưu đãi như trước và phải tự bước đi trên chính đôi chân của mình Như vậy, ngành Dệt may sẽ phải đối mặt với sức ép rất lớn của việc cạnh tranh với các mặt hàng Dệt may đến từ các Quốc gia có ngành Công nghiệp Dệt may tiên tiến trên Thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ,… Và không lâu nữa thôi, là sự cạnh tranh với tất cả các quốc gia là thành viên của WTO khi Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức này

Mặc dù được đánh giá là ngành công nghiệp chủ chốt nhưng hệ thống quản trị của ngành hiện còn rất nhiều yếu kém so với các nước trong Khu vực và trên Thế giới Vậy ngành Dệt may cần làm gì để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình?

Đây không chỉ là câu hỏi riêng đối với ngành Dệt may mà còn là câu hỏi chung cho tất cả các ngành nghề, lĩnh vực, cơ quan khi mà hệ thống quản lý chung của chúng

ta còn rất nhiều bất cập Vì vậy, học hỏi những kinh nghiệm quản lý tiên tiến trên Thế giới là yêu cầu cấp thiết hiện nay nếu chúng ta muốn tiếp thu phong cách quản lý hiện đại từ các nước này để nhanh chóng hoà mình với nền kinh tế chung của toàn cầu

Ngày nay trên Thế giới, ERP (Viết tắt của Enterprise Resource Planning tức

) đã được biết đến và sử dụng như một công cụ

quản lý hiệu quả mang lại những nguồn lợi cao cho Doanh nghiệp Có thể nói không một Doanh nghiệp lớn nào trên Thế giới lại không sử dụng ERP như một hệ thống quản trị đắc lực cho mình

Vậy ERP là gì? Vai trò của nó đối với các Doanh nghiệp như thế nào? Và với ngành Dệt may của nước ta, ERP có thể mang lại những hiệu quả gì là vấn đề mà công trình sẽ đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu

Người viết đề tài xin gửi lời cám ơn chân thành tới thầy cô, bạn bè, gia đình và những cá nhân, tổ chức có liên quan đã giúp đỡ, góp ý, động viên rất nhiệt tình để công trình có thể hoàn thành

Bản thân vấn đề là một mảng khá rộng và mới, nên chắc chắn công trình sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Người viết đề tài rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ các thầy cô, bạn bè và các chuyên gia có liên quan đến những vấn đề mà công trình nghiên cứu và tìm hiểu

Hà Nội, tháng 8/2006

Trang 5

http://svnckh.com.vn 5

Chương 1 Những vấn đề cơ bản về ERP

1.1 Khái quát chung về ERP

1.1.1 Quá trình hình thành, khái niệm về ERP

là MRP: Material Requirement Planning tức

Sau đó xuất hiện thêm nhu cầu tính toán, hoạch định các nguồn lực cho sản xuất

(gồm máy móc, thiết bị và nhân lực), phần mềm này được gọi là CRP: Capacity

Requirement Planning tức Hoạch định khả năng sản xuất

Từ giữa những năm 70, để tăng độ chính xác trong sản xuất, người ta kết hợp MRP và CRP lại, từ đó cho ra đời hệ thống mới quản lý cả lao động và chi phí là

MRP- II Manufacturing Resource Planning, tức

Đây là việc hoạch định nhu cầu vật tư gắn với từng giai đoạn trong quy trình sản xuất, theo thứ tự có cái cần trước, có cái cần sau, chứ không chỉ chung cho toàn bộ quy trình Hoạch định được chính xác có thể giảm bớt tồn kho nguyên vật liệu, giảm khả năng đọng vốn, hạn chế thiệt hại

Tuy nhiên, cả MRP và CRP đều mới chỉ hướng tới việc sản xuất, mà chưa quan tâm đến việc hoạch định nguồn vốn

Vì vậy, hệ thống phát triển hơn với việc gắn thêm phân hệ FRP - Financial

Requirement Planning dùng để hoạch định nguồn vốn FRP bao gồm việc tính toán nhu

cầu vốn: khi nào cần bao nhiêu tiền, nếu thiếu thì lấy ở đâu, nếu dư thì sẽ đầu tư vào đâu; tiếp theo là ghi nhận dòng ngân lưu và chuyển động của các nguồn tài sản, điều chỉnh kế hoạch đồng vốn để việc thực hiện kế hoạch chung không bị đình trệ

Một hệ thống đầy đủ như trên gọi là ERP - Enterprise Resource Planning tức

Trong đó:

Trang 6

http://svnckh.com.vn 6

ERP = MRP II + FRP MRP II = MRP + CRP

Để là ERP ít nhất phải có những chức năng MRP, CRP, FRP Nghĩa là hệ thống trên cơ sở đơn hàng phải tính được nhu cầu nguyên vật liệu, nhu cầu máy móc thiết bị, nhu cầu nhân lực, từ đó đề ra kế hoạch sản xuất, điều động các nguồn lực, ghi nhận chuyển động của các nguồn lực này và cuối cùng, cho phép người dùng trên cơ sở các thông tin nêu trên thực hiện các tính toán cần thiết để điều chỉnh kế hoạch, đề ra những

dự báo trong tương lai

Để hiểu hơn khái niệm về ERP chúng ta đi phân tích ý nghĩa của R và P trong

thuật ngữ ERP:

Thứ nhất, R là viết tắt của Resource (tài nguyên)

Trong kinh tế, resource là chỉ các nguồn lực (tài chính, nhân lực, công nghệ) Tuy nhiên, trong ERP, resource có nghĩa là tài nguyên, bao gồm các phần mềm, phần cứng hay dữ liệu thuộc hệ thống có thể truy cập và sử dụng được

Ứng dụng ERP vào quản trị Doanh nghiệp đòi hỏi Doanh nghiệp phải biến nguồn lực thành tài nguyên Các chỉ tiêu, số liệu về tài chính, nhân lực, công nghệ được chuyển thành các dữ liệu trong toàn bộ hệ thống thống nhất Từ đó:

• Các bộ phận của đơn vị đều có khả năng khai thác nguồn lực phục vụ cho

Doanh Nghiệp

• Việc hoạch định, xây dựng lịch trình khai thác nguồn lực có sự phối hợp nhịp

nhàng giữa các bộ phận

• Thiết lập các quy trình khai thác đạt hiệu quả cao nhất

• Cập nhật thông tin về tình trạng nguồn lực Doanh nghiệp một cách nhanh

chóng, chính xác

Để biến nguồn lực thành tài nguyên, Doanh nghiệp cần một quá trình chuẩn bị

để thay đổi văn hóa kinh doanh trong và ngoài Doanh Nghiệp, điều này đòi hỏi giữa Doanh nghiệp và nhà tư vấn phải có sự hợp tác chặt chẽ Đây là giai đoạn "chuẩn hóa

dữ liệu" Chính giai đoạn này quyết định sự thành bại của việc triển khai hệ thống ERP, chiếm phần lớn chi phí đầu tư cho ERP

Thứ hai, P là viết tắt của Planning (Hoạch định)

Trước hết, ERP tính toán và dự báo các khả năng phát sinh trong quá trình điều hành sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp như: tính chính xác kế hoạch cung ứng nguyên vật liệu cho mỗi đơn hàng dựa trên tổng nhu cầu nguyên vật liệu, tiến độ, năng suất, khả năng cung ứng Điều này cho phép Doanh nghiệp có đủ vật tư sản xuất nhưng vẫn không để lượng tồn kho quá lớn gây đọng vốn

Bên cạnh đó, ERP còn hỗ trợ lên kế hoạch trước nội dung công việc, nghiệp vụ cần trong sản xuất kinh doanh như hoạch định chính sách giá, chiết khấu, các kiểu mua hàng từ đó tính toán phương án mua nguyên liệu, tính được mô hình sản xuất tối ưu Cách này giảm thiểu sai sót trong xử lý nghiệp vụ

Mặt khác, ERP tạo ra liên kết văn phòng công ty - đơn vị thành viên, phòng ban

- phòng ban và trong nội bộ các phòng ban, hình thành quy trình, trình tự xử lý nghiệp

vụ để thành viên trong công ty tuân theo

Như vậy, với doanh nghiệ

Tóm lại, ERP là một hệ thống ứng dụng đa phân hệ (Multi Module

hoạch định khả năng sản xuất và FRP- hoạch định nguồn vốn đƣợc tích hợp toàn

Trang 7

1.1.2 Các chủ thể trong việc triển khai ERP

Để việc triển khai ERP diễn ra hiệu quả, cần có sự tham gia của các chủ thể sau:

o Nhà cung cấp hệ thống (software vendor): là người tạo ra sản phẩm ERP,

ví dụ Oracle, Exact, SAP còn gọi là hãng phần mềm

o Nhà bán lẻ với dịch vụ gia tăng (Value Added Reseller - VAR): đây là hệ thống phân phối cho hãng phần mềm Những đơn vị này trực tiếp phát triển thị trường

và bán sản phẩm (ERP) Thông thường họ làm luôn việc nghiên cứu yêu cầu, tình trạng thực tế của khách hàng và tư vấn về ERP, về lộ trình mua và triển khai, tức là cung cấp các dịch vụ gia tăng cho khách hàng

o Nhà tư vấn triển khai (Implementer): Đây là người trực tiếp triển khai ERP cho khách hàng Họ cũng thường là những người cung cấp dịch vụ hỗ trợ sau triển khai Vì vậy, trong suốt quá trình triển khai và hỗ trợ, khách hàng thường chỉ làm việc với nhà tư vấn triển khai Đa số các nhà tư vấn triển khai đều có quan hệ chặt chẽ với Hãng PM và được cập nhật thường xuyên về những thay đổi trong sản phẩm, họ thường phải vượt qua các kỳ kiểm tra thường xuyên và ngặt nghèo của hãng phần mềm

Ba chủ thể trên chúng ta gọi chung là nhà cung cấp- tư vấn

o Khách hàng: là các Doanh Nghiệp, cơ quan, tổ chức,… có nhu cầu áp dụng ERP cho hệ thống quản lý tổng thể của mình qua việc tích hợp các hệ thống phòng ban với nhau Trong phạm vi đề tài, ta xét khách hàng là các Doanh nghiệp, cụ thể là các Doanh nghiệp Dệt may

1.1.3 Cấu trúc cơ bản của một ERP

-

-ở đây cầrằ

ởdoanh

-ản phẩTuy nhiên, dù phân loạ

Trang 8

http://svnckh.com.vn 8

sau:

Lương -

Planning)

-

-Với cấu trúc như trên, ERP giúp doanh nghiệp kiểm soát, giám sát, cung cấp thông tin, và hỗ trợ ra quyết định Chức năng quan trọng nhất phân biệt ERP với các

ở dữ liệ

ới chứ

1.2 Các vấn đề cần giải quyết khi triển khai ERP trong Doanh Nghiệp

1.2.1 Các vấn đề Doanh nghiệp cần chuẩn bị cho việc triển khai ERP

Để chuẩn bị cho việc triển khai ERP hiệu quả, các Doanh nghiệp cần tiến hành các bước cơ bản sau trước khi đưa ERP vào áp dụng trong Doanh nghiệp mình:

Trước hết cần nâng cao hiệu quả quản lý bằng cách: Chuẩn hoá quy trình nghiệp

vụ và triển khai ứng dụng CNTT trong Doanh Nghiệp

a Chuẩn hoá quy trình nghiệp vụ:

Trang 9

http://svnckh.com.vn 9

Để triển khai thành công ERP, trước hết cần chuẩn hóa các quy trình hoạt động của doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp đã triển khai thành công ISO, thì việc triển khai ERP sẽ thuận lợi hơn

- Quy trình và chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ

Quy trình nghiệp vụ là chuỗi các công việc được sắp xếp theo một trật tự nhất

định để hoàn thành một nghiệp vụ Tính chất nổi bật của quy trình nghiệp vụ là tính lặp

đi lặp lại

Ví dụ, khi thực hiện xuất kho bán một lô hàng: kế toán viên viết hóa đơn xuất kho và báo cho thủ kho để tiến hành xuất kho Bất cứ lần xuất kho nào, công việc này cũng đều được lặp lại như thế Trên thực tế, có rất nhiều nghiệp vụ khác nhau và tương ứng với nó là rất nhiều quy trình nghiệp vụ khác nhau Các quy trình khác nhau có tần suất khác nhau Ví dụ như việc nhập hàng thực hiện 20 lần/ngày, tính lương thực hiện 2 lần/ tháng

Với các Doanh nghiệp nhỏ, số lượng cán bộ nhân viên ít và tần suất các nghiệp

vụ không nhiều thì các quy trình được đơn giản hóa tới mức tối đa Nhưng khi Doanh nghiệp phát triển thì số lượng nhân viên nhiều, số lượng các nghiệp vụ tăng và tần suất tăng thì việc không chuẩn hóa sẽ dẫn đến nhầm lẫn, khó kiểm soát, kém hiệu quả và gây chậm trễ

Để chuẩn hóa quy trình thì áp dụng ISO được đánh giá là giải pháp đúng đắn nhất trong điều kiện hiện nay Với ISO, việc chuẩn hóa quy trình được ban hành và phổ biến dưới dạng văn bản, có hiệu lực thi hành và có những biện pháp, chế tài đảm bảo thực hiện tốt các quy định Trên thực tế, rất nhiều Doanh nghiệp Việt Nam đã áp dụng ISO thành công trong việc chuẩn hóa các quy trình nghiệp vụ

Dưới đây là bảng sơ đồ ví dụ về việc chuẩn hoá quy trình mua hàng tại các Doanh nghiệp:

Trang 10

http://svnckh.com.vn 10

- Mối quan hệ giữa ERP và quy trình nghiệp vụ

Có rất nhiều quan niệm về mối quan hệ giữa quy trình chuẩn hóa và ERP, có thể hiểu một cách đơn giản ERP = quy trình chuẩn hóa + tin học hóa Khi Doanh nghiệp mua ERP, không có nghĩa Doanh nghiệp chỉ mua một công cụ tin học hỗ trợ quản lý,

mà còn là Doanh nghiệp “mua quy trình”

Ví dụ: Công ty FPT là một đơn vị điển hình của việc “mua quy trình” Trước khi ứng dụng ERP, FPT đã thực hiện triển khai ISO 9000 Bản thân FPT là một tập đoàn CNTT với số lượng các lập trình viên lớn nhất Việt Nam Vì vậy, FPT có thể tự phát triển hệ thống ERP riêng của mình hoặc mua sản phẩm của nước ngoài Và FPT

đã quyết định chuẩn hoá những quy trình hiện có theo quy trình chuẩn quốc tế để phát triển hơn Kết quả với hệ thống quản trị mới, FPT đã ngày càng phát triển

Nếu Doanh nghiệp đã có quy trình, thời gian triển khai ERP sẽ ngắn hơn so với các Doanh nghiệp chưa có ISO hoặc chưa chuẩn hóa quy trình

Tuy nhiên, quy trình chuẩn hóa và ERP có mối quan hệ tương hỗ với nhau Nếu quy trình đã được chuẩn hóa, việc triển khai ERP sẽ thuận lợi Ngược lại, nếu Doanh nghiệp chưa chuẩn hóa quy trình thì ERP chính là công cụ đắc lực để chuẩn hóa quy trình củaDoanh nghiệp như trường hợp của Công ty FPT

b Ứng dụng CNTT trong Doanh Nghiệp:

Lộ trình ứng dụng CNTT trong bất cứ một Doanh nghiệp nói chung nao cũng bao gồm 5 giai đoạn: đầu tư cơ sở hạ tầng, Giai đoạn sơ khai, ứng dụng ở mức tác nghiệp, mức chiến lược, và ứng dụng thương mại điện tử

i Đầu tư cơ sở hạ tầng:

Là giai đoạn Doanh nghiệp tự trang bị máy tính, thiết lập mạng cục bộ LAN, mạng diện rộng WAN, kết nối Internet tạo môi trường truyền thông giữa các phòng ban, giữa bản thân Doanh nghiệp với các đối tác

ii Giai đoạn sơ khai:

Được hiểu là dùng máy tính cho các ứng dụng đơn giản như soạn thảo văn bản, bảng tính Excel, lưu trữ văn bản, thiết lập hệ thống Email, lập lịch công tác hay ở mức cao hơn là thiết lập các trao đổi đối thoại trên mạng (Forum) Giai đoạn này tác động trực tiếp đến cá nhân từng thành viên trong công ty

iii Mức tác nghiệp:

Bắt đầu đưa các chương trình tài chính kế toán, quản lý bán hàng, quản lý nhân sự- tiền lương vào sử dụng trong từng bộ phận của đơn

vị Giai đoạn này tác động trực tiếp đến phòng ban khai thác ứng dụng

Đặc điểm lớn nhất của giai đoạn này là các ứng dụng mang tính rời rạc, hướng tới tác nghiệp

và thống kê Việc phân tích quản trị, điều hành đã

có nhưng ít và không tức thời

Trang 11

http://svnckh.com.vn 11

Đây cũng là mức áp dụng CNTT phổ biến nhất hiện nay của các Doanh nghiệp Việt Nam

iv Ứng dụng CNTT ở mức chiến lược:

Lúc này ngoài điều hành tác nghiệp, CNTT không còn là ứng dụng đơn thuần

mà là giải pháp theo mô hình quản trị giúp Doanh nghiệp thay đổi chất lượng quản lý nội tại, nâng cao năng lực điều hành, tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh của mình Đây là cách áp dụng CNTT của Doanh nghiệp các nước tiên tiến

Đặc điểm lớn nhất của giai đoạn này là CNTT tác động đến toàn bộ Doanh Nghiệp Việc điều hành được thực hiện trên hệ thống với số liệu trực tuyến và hướng tới phân tích quản trị

v Ứng dụng thương mại điện tử:

Giai đoạn này, Doanh nghiệp đã dùng công nghệ Internet để hình thành các quan hệ thương mại điện tử (TMĐT) TMĐT ở đây không đơn thuần là thiết lập Website, giới thiệu sản phẩm, nhận đơn đặt hàng, chăm sóc khách hàng qua mạng mà

là kế thừa phát huy sức mạnh trên nền tảng dữ liệu và các quy trình nghiệp vụ đã hình thành trong Doanh Nghiệp Với giai đoạn này, ERP đóng vai trò cốt lõi, không thể thiếu xét trong chiến lược dài hạn, tối thiểu là 10 năm

Tóm lại, Tin học hóa Doanh nghiệp là một quá trình phức tạp đòi hỏi nhiều nguồn lực Có làm tốt việc xây dựng lộ trình tin học hóa mới giúp Doanh nghiệp xây dựng một hệ thống thông tin thông suốt, kịp thời nhằm hỗ trợ các nhân viên, các nhà quản lý, trợ giúp ban lãnh đạo ra những quyết định quan trọng Một hệ thống thông tin thông suốt không chỉ giúp Doanh nghiệp kiểm soát tốt hoạt động của mình mà còn tăng tính cạnh tranh, đặc biệt trong nền kinh tế toàn cầu hóa hiện nay

c Phân tích rủi ro có thể phát sinh, hoạch định hướng xử lý để giảm thiểu, loại trừ rủi ro khi triển khai ERP trong Doanh Nghiệp

Trước và trong quá trình triển khai cần nghiên cứu, tìm hiểu các rủi ro có thể phát sinh từ đó đề ra hướng xử lý và giải quyết

Các rủi ro có thể gặp phải:

 Từ phía Nhà cung cấp

- Nhân viên không ổn định

- Không giới hạn bài toán từ phía khách hàng đặt ra

- Không có quá trình test sản phẩm

- Nhân viên triển khai không nắm hết tính năng của sản phẩm

- Không có quản trị phiên bản tốt

- Không có chủ nhiệm dự án tốt

 Từ phía Doanh Nghiệp

- Quy trình đề ra không rõ ràng

- Không nhất quán trong yêu cầu

- Chưa thiết lập được mối quan hệ giữa các bộ phận

- Dữ liệu không đầy đủ, không chuẩn

- Nhân viên ở các bộ phận không hợp tác với đơn vị phần mềm

- Nhân viên đòi hỏi phần mềm mới có giao diện, tiện ích như chương trình cũ

Trang 12

http://svnckh.com.vn 12

Để khắc phục những rủi ro có thể xảy ra, cần có sự đánh giá định kỳ và phối hợp triển khai đồng bộ giữa 3 bên: Nhà cung cấp - Khách hàng - Đơn vị tư vấn

1.2.2 Các bước cơ bản khi triển khai ERP

Quá trình triển khai ERP trong Doanh nghiệp gồm 4 bước cơ bản sau:

- Xây dựng chiến lược/ mục tiêu

- Đánh giá và chọn lựa giải pháp

- Triển khai trong Doanh nghiệp

- Vận hành bảo trì nâng cấp kết hợp đào tạo, chuyển giao từ phía Nhà cung cấp cho Doanh nghiệp

Bước 1 Xây dựng chiến lược/ mục tiêu

Trước hết Doanh nghiệp phải đánh giá được hệ thống quản trị và chiến lược kinh doanh của mình Việc xác định mục tiêu đúng đắn là điều quan trọng, bao gồm mục tiêu trước mắt, mục tiêu lâu dài, phạm vi triển khai, các quy trình cần được triển khai, các bước triển khai phù hợp theo từng giai đoạn Từ đó đưa ra mục tiêu cho phần mềm, giải pháp Ví dụ: Doanh nghiệp đang được vận hành như thế nào? Có những vấn đề phục vụ kinh doanh nào cần giải quyết?

Sau khi xác định được mục tiêu, Doanh nghiệp cần định nghĩa và tài liệu hóa các quy trình kinh doanh của mình trước khi triển khai ERP Một điều rất quan trọng trong quá trình này là xác định yêu cầu, bao gồm cả những thay đổi về tổ chức và cán bộ liên

Trang 13

http://svnckh.com.vn 13

quan cũng như ngân sách đầu tư dự kiến Người phụ trách thực hiện mảng công việc này có thể là lãnh đạo Doanh nghiệp kết hợp với các công ty tư vấn

Thời gian cho giai đoạn này từ 2 đến 6 tháng

Bước 2 Đánh giá và chọn lựa giải pháp

Đối với mỗi Doanh nghiệp, việc triển khai hệ thống thông tin quản lý điều hành Doanh nghiệp là một khoản đầu tư lớn, do vậy đòi hỏi sự lựa chọn đúng đắn giải pháp cũng như nhà cung cấp dịch vụ tư vấn phát triển

Thứ nhất, nhà cung cấp dịch vụ tư vấn triển khai phải đáp ứng được những tiêu chuẩn sau:

- Có kinh nghiệm trong lĩnh vực cung cấp các giải pháp và dịch vụ quản lý Doanh Nghiệp, có đội ngũ chuyên gia giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về công nghệ

- Có uy tín, đặc biệt đối với những dự án ERP lớn Trong nhiều trường hợp chuyên gia tư vấn từ nước ngoài có những kinh nghiệm quản lý quý báu sẽ mang đến cho Doanh nghiệp phương thức quản lý mới, tiên tiến

Thứ hai, các giải pháp phải thoả mãn yêu cầu:

- Phù hợp với quy mô quản lý, mục tiêu và phạm vi triển khai

- Các chức năng đáp ứng yêu cầu quản lý nghiệp vụ của Doanh nghiệp tại thời điểm hiện tại và cả trong tương lai

- Mang đến cho Doanh nghiệp một quy trình quản lý chuẩn hóa, hiện đại, tiếp cận với mô hình quản lý của quốc tế, có khả năng làm thay đổi về chất quá trình quản

lý Doanh Nghiệp, tạo cơ sở cho việc tái cấu trúc Doanh Nghiệp

- Đáp ứng được các yêu cầu đặc thù của Doanh nghiệp nói riêng và các yêu cầu quản lý đặc thù của Việt Nam nói chung

- Là các giải pháp đã được kiểm chứng qua thời gian và được khách hàng sử dụng, có tính ổn định cũng như khả năng mở rộng, nâng cấp sau này

Thời gian dành cho việc đánh giá chọn lựa giải pháp có thể từ 1 đến 6 tháng

Thời gian cho việc triển khai từ 8 tháng đến 1 hoặc nhiều năm tùy thuộc quy mô

dự án và quy mô Doanh Nghiệp

Bước 4 Vận hành, bảo trì, nâng cấp kết hợp đào tạo, chuyển giao từ phía Nhà cung cấp cho Doanh nghiệp

Hệ thống thông tin luôn là một hệ thống mở Nó được nâng cấp và mở rộng theo nhu cầu phát triển của Doanh Nghiệp Đối với mỗi hệ thống được triển khai, điều kiện căn bản để hệ thống được nghiệm thu chính là việc Doanh nghiệp có thể tự vận hành thông suốt hệ thống thông tin của mình

Trang 14

http://svnckh.com.vn 14

Một trong những vấn đề quan trọng mà nhiều Doanh nghiệp đã không chú ý đến trong quá trình vận hành là các giải pháp về an toàn hệ thống, chống sự cố, thảm họa có thể xảy ra Một khi có sự cố xuất hiện, cần có ngay giải pháp xử lý dựa trên biện pháp phòng ngừa mà nhà cung cấp đề xuất

Công tác đào tạo và chuyển giao ảnh hưởng trực tiếp đến người sử dụng cũng như nhà cung cấp dịch vụ tư vấn triển khai Vì vậy, việc đào tạo phải được tiến hành chi tiết và chuyển giao một cách đầy đủ giữa nhà cung cấp và Doanh Nghiệp, được tiến hành với cán bộ lãnh đạo, cán bộ khai thác chương trình, và chuyên viên quản trị hệ thống:

-Với cán bộ lãnh đạo:

o Đào tạo về mô hình tổ chức thông tin của hệ thống

o Quá trình xử lý thông tin trong hệ thống

o Khả năng của hệ thống chương trình

o Cách tổ chức đảm bảo thông tin cho hệ thống và các yếu tố ảnh hưởng

o Cách sử dụng và khai thác chương trình -Với cán bộ khai thác chương trình:

o Đào tạo về cách ghi chép và thu thập thông tin đầu vào cho hệ thống

o Các bộ mã dữ liệu xử lý trong hệ thống

o Quy trình cập nhật thông tin cho hệ thống đã được thay thế

o Cách sử dụng và khai thác thông tin -Với cán bộ chuyên viên quản trị hệ thống:

o Mô hình tổ chức thông tin của hệ thống

o Quy trình xử lý thông tin của hệ thống

o Khả năng của hệ thống chương trình

o Cách tổ chức đảm bảo thông tin cho hệ thống và các yếu tố ảnh hưởng

o Cách sử dụng và khai thác chương trình

o Các bộ công cụ phục vụ cho phát triển các ứng dụng add-in từ nhà cung cấp giải pháp

o Các thủ tục biện pháp an toàn và an ninh dữ liệu

o Quản trị hệ thống ví dụ: App, OS, Database, System Ngoài ra còn cần thiết lập tài liệu cho người lập trình và người sử dụng:

-Với người lập trình:

o Hồ sơ khảo sát

o Hồ sơ phân tích thiết kế

o Hồ sơ chi tiết coding

o Hồ sơ các kịch bản

o Hồ sơ thiết lập hệ thống tham số nghiệp vụ

Trang 15

http://svnckh.com.vn 15

-Với người sử dụng

o Tài liệu hướng dẫn sử dụng

o Tài liệu tham khảo cho người sử dụng

o Tài liệu quản trị hệ thống Trên đây là những bước đi cần thiết khi Doanh nghiệp muốn triển khai ERP cho

mô hình quản lý của mình

1.3 Thực trạng về các nhà cung cấp – tư vấn giải pháp ERP tại Việt Nam

1.3.1 Tổng quan về các nhà cung cấp – tƣ vấn giải pháp ERP trên Thế giới và tại Việt Nam

Trên thế giới, ERP được cung cấp bởi rất nhiều các Công ty phần mềm nổi tiếng như Oracle, SAP, QAD,… Có thể nói đây là một trong những thị trường phát triển khá nhanh và sôi động vì ngày nay, ERP được xem là một công cụ không thể thiếu cho bất

cứ hệ thống quản lý tiên tiến, hiện đại nào

Hệ thống các nhà cung cấp ERP trên Thế giới

Trang 16

http://svnckh.com.vn 16

Thị phần của các nhà cung cấp ERP trên Thế giới năm 2005

ế

Edwards, People Soft, Fourth Ship, Baan

Tuy ERP của Việt Nam đi sau Thế giới khoảng 10-15 năm, số lượng chuyên viên tư vấn có khả năng triển khai những dự án ERP quy mô lớn vẫn còn rất ít nhưng hiện nay đã có một số nhà cung cấp trong nước triển khai được những giải pháp có chất lượng, hiệu quả Những nhà phát triển phần mềm ERP nội địa tiêu biểu có các Công ty

AZ Software, Diginet, FPT, Khả Thi, Lạc Việt, Misa, Pythis với nhiều sản phẩm có chất lượng ngang sản phẩm cùng loại của những nhà cung cấp loại trung trên Thế giới

ể có thể cung cấ

Trang 17

http://svnckh.com.vn 17

1.3.2 Thực trạng về cỏc nhà cung cấp ERP nước ngoài, ưu và nhược điểm của sản phẩm ERP ngoại

a Thực trạng của cỏc nhà cung cấp giải phỏp ERP nước ngoài tại nước ta:

- Hầu hết cỏc nhà cung cấp nổi tiếng trờn Thế giới đều cú mặt tại Việt Nam: Oracle, SAP, Navision, Scala, Exact, QAD,…

- Chiếm lĩnh phần lớn thị trường Doanh nghiệp cú vốn nước ngoài hoạt động tại Việt Nam

- Đang gia tăng mạnh mẽ việc chiếm lĩnh khỏch hàng là cỏc Doanh nghiệp Việt Nam

- Được hỗ trợ rất mạnh bởi cỏc cụng ty tin học lớn như FPT, CMC

- Đang cố gắng lấp dần khoảng cỏch bằng việc bản địa hoỏ cho phự hợp với mụi trường Việt Nam

- Cú chiến lực chiếm lĩnh thị trường thụng qua cỏc chiến lược giảm giỏ (Oracle

ỏp dụng mạnh mẽ nhất)

- Bắt đầu cú sự tham gia của cỏc nhà cung cấp trong khu vực như Malaysia, Ấn

Độ, Hàn Quốc, Trung Quốc, giỏ rẻ hơn, năng động hơn,…

Tại Việt Nam, bờn cạnh những nhà cung cấp lớn như SAP, Oracle, QAD,… nhiều nhà cung cấp cỏc chương trỡnh ERP cỡ trung bỡnh như Navision, Solomon, Sun Accounting System đó cú mặt từ lõu và gia tăng ổn định trong 10 năm qua

Tuy nhiờn, những nhà cung cấp ERP hàng đầu khỏc như PeopleSoft (được Oracle mua lại gần đõy), BaaN (giờ là cụng ty con của SSA), và JD Edwards (đó được PeopleSoft mua) vẫn chưa cú dự ỏn nào triển khai tại Việt Nam

Sau đõy là một số vớ dụ về một số Doanh nghiệp tại Việt Nam được cỏc nhà cung cấp lớn trờn Thế giới cung cấp giải phỏp ERP:

Nhà cung cấp phần mềm SAP và nhà cung cấp Oracle:

Những doanh nghiệp đã triển khai ERP của SAP

Trang 18

http://svnckh.com.vn 18

Những doanh nghiệp đã triển khai ERP của Oracle

Trang 19

http://svnckh.com.vn 19

b Ƣu và nhƣợc điểm của giải pháp ERP ngoại:

ụng trong các doanh nghiệp nước có những ưu và nhược điểm sau:

Ưu điểm:

- Do là các sản phẩm của các Công ty phần mềm uy tín trên Thế giới SAP, Oracle, Baan, PeopleSoft nên có thương hiệu và sự ổn định trong quản lý, tuân theo chuẩn mực kế toán quốc tế

- Có kinh nghiệm cũng như được sự quan tâm về vốn đầu tư (được đầu tư hàng

- Đ

- Các giải pháp ERP ngoại giúp Doanh Nghiệp tiếp cận giải pháp quản lý tổng thể một cách nhanh chóng, học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của Thế giới thông qua hệ thống quản lý hiện đại, nhanh chóng, hiệu quả

Trang 20

-http://svnckh.com.vn 20

Nhược điểm:

- Với khâu tư vấn triển khai, vì là sản phẩm nước ngoài nên xuất hiện hàng rào ngôn ngữ trong trao đổi, đào tạo và vận hành doanh nghiệp do giao diện tiếng nước ngoài Sản phẩm ERP còn tương đối mới nên nhân viên triển khai của đại lý đôi khi không tìm hiểu hết tính năng sản phẩm khi chuyển giao, dẫn đến Doanh nghiệp không khai thác hết tính năng tương ứng với kinh phí đã bỏ ra

- Doanh nghiệp rất khó thẩm định tính năng đầy đủ của giải pháp ngoại trừ một

số giải pháp mang tính toàn cầu như SAP, Oracle với giá thành đầu tư cao

- Bất cứ hệ thống ERP chuẩn nào cũng không thể đưa vào áp dụng ngay cho DN Việt Nam do hệ thống tài chính kế toán đặc thù của Việt Nam hay những đặc thù khác khiến thời gian triển khai kéo dài, chi phí phát sinh lớn

1.3.3 Thực trạng về các nhà cung cấp ERP trong nước, ưu và nhược điểm của sản phẩm ERP nội

a Thực trạng của các nhà cung cấp giải pháp trong nước:

Được sự quan tâm lớn từ nhà nước, thực trạng các nhà cung cấp trong nước có nhiều điểm tích cực:

- Đã có nhiều Công ty phát triển phần mềm có định hướng phát triển sản phẩm dạng ERP

- Đã có được một vài sản phẩm chất lượng

- Các Công ty phần mềm chú trọng nhiều đến kiểm soát chất lượng trong quá trình phát triển sản phẩm

Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn nhiều điểm chưa tích cực:

- Có rất ít công ty phần mềm Việt Nam có được sản phẩm gọi là ERP

- Có sự ngộ nhận trong việc quảng bá sản phẩm theo dạng “người người làm ERP, nhà nhà làm ERP”

- Kiến thức chuyên gia chưa sâu, chất lượng ERP nội chưa cao

- Phương pháp luận triển khai chưa tốt

- Tầm cỡ Công ty nhỏ, gặp khó khăn về tái đầu tư công nghệ

- Các doanh nghiệp Phần mềm (ERP) Việt Nam chưa phát triển chi nhánh nên mới chỉ phục vụ khách hàng trong một phạm vi nhỏ Ví dụ, khu vực phía Nam chưa có chi nhánh phát triển rộng rãi ra ngoài Bắc

- Chưa chuẩn hoá được tài liệu huấn luyện, triển khai cũng như các chu trình nghiệp vụ trong sản phẩm và chuyển giao những kiến thức này cho các đối tác VAR

- Chưa xây dựng được quan hệ làm việc hai chiều giữa nhà bán lẻ (VAR) và Hãng Phần mềm., chưa có sự chuyên môn hoá cao trong công tác tổ chức, phân phối và triển khai ERP Trong các công ty phần mềm Việt Nam vẫn đang tồn tại hình thức một nửa người trong Công ty lo làm phần mềm, nửa còn lại lo đi phân phối

b Ưu và nhược điểm của giải pháp ERP nội:

Ưu điểm:

- Trước tiên, nhà cung cấp trong nước cũng chính là doanh nghiệp nên hiểu rõ những quy trình, thói quen, tập quán riêng của doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời tiếp cận được nền kỹ thuật công nghệ tiên tiến từ nước ngoài

- Thứ hai, trong các lĩnh vực tài chính kế toán, lao động, phúc lợi xã hội hay những thay đổi về luật lệ, quy định trong môi trường kinh doanh thì phần mềm Việt Nam cập nhật dễ dàng, sửa đổi nhanh chóng hơn

Trang 21

http://svnckh.com.vn 21

- Chi phí đầu tư cho ERP Việt Nam kể cả bản quyền, tư vấn cũng rẻ hơn rất nhiều (10 lần trở lên) so với phần mềm nước ngoài Hiện tại, giá các hệ thống ERP của Việt Nam chỉ bằng từ 25-30% giá thế giới

Ví dụ, Đầu tư ERP trong nước cho một đơn vị 5 người dùng chỉ mất 20.000 USD so với 300.000 USD của ERP nước ngoài Trong khi với ERP nước ngoài, doanh nghiệp khó dự toán ngân sách và thời gian dành cho hệ thống

- Giao diện tiếng Việt của các phần mềm nội địa thân thiện với đa số người dùng

Với các ưu điểm trên, hiệ

Nhược điểm:

- Các sản phẩm ERP nộ

- ERP nội chưa uyển chuyển (Ví dụ: Một doanh nghiệp có thể sẽ có thêm một công ty con trong tương lai Nhưng việc tách sổ kế toán của hai công ty, phân chia quỹ đầu tư thì ERP nội chưa đáp ứng được điều này)

- Thời gian tham gia thị trường ERP ngắ

Như vậy, với việc tìm hiểu các đặc điểm của các sản phẩm ERP nội và ERP ngoại, có thể thấy Doanh nghiệp đang đứng trước rất nhiều sự lựa chọn nhà cung cấp giải pháp cho Doanh nghiệp mình Tuy nhiên, do mỗi ngành có đặc thù riêng nên sẽ không có một giải pháp ERP chuẩn cho tất cả các ngành Việc ứng dụng ERP phải chọn cho phù hợp với từng hoạt động của Doanh Nghiệp

Yếu tố quan trọng để lựa chọn giải pháp ERP của Doanh nghiệp phụ thuộc vào

tỉ lệ chi phí/ hiệu quả (cost/benefit) Một số sản phẩm ERP của Việt Nam đã đạt được tầm trung của thế giới nhưng linh hoạt hơn các hệ thống đồng cấp của nước ngoài trong điều kiện Việt Nam Sự linh hoạt thể hiện ở chỗ giải pháp của Việt Nam tuy ít tính năng hơn nhưng được tư vấn, chuyển giao bởi chính những nhà cung cấp trong nước nên phát huy tối đa tác dụng Ngoài ra với ERP nội địa, Doanh nghiệp an tâm hơn về dịch vụ hậu mãi, bảo trì vận hành hệ thống vì nhà cung cấp cũng ở trong nước

Tóm lại, một ERP tốt cho Doanh nghiệp Việt Nam, không nhất thiết là giải pháp nội hay ngoại, mà quan trọng là ERP đó phải đạt đúng tầm của ERP về hàm lượng công nghệ và tri thức kinh doanh Trong điều kiện Việt Nam, giải pháp đó cần bám thật sát nhu cầu của Doanh nghiệp nhưng quan trọng hơn là Doanh nghiệp phải khai thác được tối đa tính năng của giải pháp

Trên đây chúng ta đã nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề cơ bản nhất về ERP: những khái quát chung, các vấn đề cần giải quyết để triển khai áp dụng ERP hiệu quả, thực trạng các nhà cung cấp tại Việt Nam Sau khi đã có những lý luận cơ bản về ERP, chúng ta đi tìm hiểu về việc triển khai ERP trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam

Sự cần thiết và những ích lợi của ERP với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam với các nước trong khu vực và trên Thế giới

Trang 22

http://svnckh.com.vn 22

Chương 2 Những vấn đề về triển khai ERP trong các Doanh nghiệp dệt may Việt

Ngành dệt may là một trong những ngành có thị trường rộng lớn, với các thị trường xuất khẩu lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản Bên cạnh đó, các doanh nghiệp đã bắt đầu khai thác thành công thị trường châu Phi; chỉ riêng trong tháng 1/2006, xuất khẩu sang thị trường này đã tăng gấp 4 lần so với cùng kỳ năm 2005 Theo đánh giá của các chuyên gia, với hơn 800 triệu dân, thị trường châu Phi được coi là thị trường mới, đầy tiềm năng

Thị trường của ngành dệt may Việt Nam

Tính đến cuối tháng 6/2006, tổng kim ngạch xuất khẩu nước ta đạt được là 18,7

tỉ đô la Mỹ, xấp xỉ 50% kế hoạch cả năm (37,75 tỉ đô la Mỹ) và tăng 25,7% so với cùng

kỳ năm ngoái Như vậy, tính bình quân mỗi tháng nước ta xuất khẩu được hơn 3 tỉ đô

la Mỹ Trong đó, hàng dệt may xuất khẩu được 2,74 tỉ đô la Mỹ, tăng 32,7% so với

cùng kỳ năm 2005 Chiếm 5,34% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước trong 6 tháng đầu năm 2006 Như vậy, so với các năm trước, ngành dệt may vẫn đứng thứ hai về kim ngạch xuất khẩu so với cả nước (sau dầu thô)

Ngành dệt may đang kêu gọi sự đầu tư của tư nhân cho chương trình tăng tốc, đầu tư trang thiết bị, công nghệ để ngành dệt may trong nước theo kịp với các nước xuất khẩu dệt may khác khi Việt Nam tham gia vào WTO Trong đó các nhà đầu tư

Trang 23

http://svnckh.com.vn 23

nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong chương trình tăng tốc này vì các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp 40% giá trị kim ngạch xuất khẩu khẩu của ngành dệt may Việt Nam

Theo định hướng phát triển nền kinh tế Quốc gia, ngành dệt may được xem là một trong 20 ngành Công nghiệp chủ chốt của nước ta với các lý do:

Thứ nhất, đây là nhóm ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh đáp ứng tốt các

tiêu chí về năng lực sản xuất, giá cả, chất lượng và thị trường, đồng thời tận dụng được lợi thế so sánh của đất nước (về lao động, tài nguyên ) và có khả năng phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ hai, đây là ngành giải quyết được nhiều việc làm, có nhu cầu thị trường

lớn, thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư phát triển (khu vực tư nhân, đầu tư nước ngoài ), đáp ứng được định hướng lấy xuất khẩu làm động lực phát triển trong giai đoạn 2006-2010 Định hướng chung cho ngành là trong 5 năm tới phải chuyển dịch theo hướng tăng giá trị gia tăng của sản phẩm, giảm dần tỷ lệ gia công, tăng cường khâu thiết kế và trình độ đội ngũ lao động, tăng cường chuyển giao công nghệ, trang thiết bị để tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trong giai đoạn hội nhập sắp tới Tiếp tục huy động nguồn vốn tư nhân và đầu tư nước ngoài để phát triển nhóm ngành

Thứ ba, xét về kim ngạch xuất khẩu dệt may hiện đang đứng thứ hai (sau dầu

khí) và được xem là ngành công nghiệp trọng điểm của Việt Nam

Vì vậy, trong giai đoạn 2006-2010, ngành sẽ được tập trung tối đa các nguồn lực nhằm đẩy mạnh sản xuất để tăng xuất khẩu và đáp ứng nhu cầu trong nước

Theo Quy hoạch điều chỉnh ngành dệt may đến năm 2015, tầm nhìn 2020 mới được Bộ Công nghiệp xem xét thì dệt may sẽ được tập trung đầu tư nhằm phát triển trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu

Nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển ngành dệt may vào khoảng 3 tỷ USD cho giai đoạn từ nay đến năm 2010; trong đó, vốn đầu tư phát triển nguyên liệu dệt khoảng 180 triệu USD; các dự án dệt nhuộm 2,275 tỷ USD; các dự án may 443 triệu USD; các trung tâm thương mại và nghiên cứu triển khai đào tạo vào khoảng hơn 200 triệu USD Nguồn vốn chính được tính đến là từ các nhà đầu tư nước ngoài, vốn vay từ các quỹ đầu tư, vốn từ quỹ đất khi di dời và một phần vốn từ thị trường chứng khoán

2.1.2 Thực trạng của các Doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay

Tất cả các Doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay đều là thành viên của Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) trong đó Tập đoàn dệt may Việt Nam (Vinatex) có hơn

60 đơn vị thành viên, sử dụng khoảng 200.000 lao động (chiếm 40% quy mô lao động toàn ngành), là Doanh nghiệp đa sở hữu, có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế trong và ngoài nước, trong đó sở hữu nhà nước giữ vai trò chủ đạo Trong tổng số 27 Doanh nghiệp dệt của cả ngành thì có 10 doanh nghiệp thuộc Tập đoàn

Vinatex có lĩnh vực kinh doanh khá đa dạng: sản xuất và kinh doanh mặt hàng công nghiệp dệt may, sản xuất và kinh doanh thương mại, dịch vụ, kinh doanh tài chính, đầu tư kinh doanh cơ sở hạ tầng, tổ chức hội chợ triển lãm, đầu tư ra nước ngoài

Vinatex cũng mở rộng quan hệ thương mại với hơn 400 công ty tại 65 nước và khu vực khác nhau Hiện tại Vinatex có kế hoạch tăng trưởng đầu tư nhằm mục đích đạt sản lượng 455 đến 555 triệu mét vải các loại và 100 triệu sản phẩm dệt kim, từ 190 đến

250 triệu sản phẩm may khác nhau vào năm 2005 và 2010 Có thể nói Tập đoàn chiếm một số lượng lớn trong tổng số lao động toàn ngành và quy mô (hầu hết các Doanh

Trang 24

a Sơ lƣợc về Tập đoàn dệt may Việt Nam (Vinatex)

Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) tiền thân là Tổng Công ty 91, tức Tổng Công ty dệt may Việt Nam, cuối năm 2005, với mục tiêu chuyển đổi về cấu trúc, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định chuyển hoạt động của đơn vị theo mô hình mẹ - convới hơn 60 công ty thành viên.Đây là sự chuyển đổi cơ bản So với mô hình tổng công ty

91 cũ có phương thức quản lý hành chính là chủ yếu thì mô hình tập đoàn kinh tế đầu

tư theo hình thức mẹ- con là chính, khắc phục những hạn chế cơ bản về tổ chức, lao động, tiền lương; về tài chính; về kế hoạch thị trường; về đầu tư; về quản lý tiêu chuẩn, định mức và quản lý môi trường

Công ty mẹ có pháp nhân đầy đủ gọi là Tập đoàn Dệt May Việt Nam, thực hiện các chức năng vừa là một công ty đầu tư vốn, vừa thực hiện kinh doanh và cung cấp các dịch vụ cho các công ty thành viên… Điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty mẹ- Tập đoàn Dệt may Việt Nam được Thủ tướng phê duyệt trong Quyết định số 158/2006/QĐ-TTg

Các công ty con là các đơn vị hoạt động theo Luật doanh nghiệp do tập đoàn đầu tư vốn ở nhiều mức độ khác nhau

Mục tiêu của tập đoàn là trở thành tập đoàn đa sở hữu hàng đầu hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực dệt may cả về quy mô sản xuất kinh doanh lẫn sức cạnh tranh sản phẩm trong khu vực Đông Nam Á Và đến năm 2010 tập đoàn sẽ có một số thương hiệu sản phẩm hàng đầu trong nước và khu vực, kim ngạch xuất khẩu trên 3 tỷ USD vào năm 2010, quy mô vốn điều lệ hơn 7 nghìn tỷ đồng

Về tổ chức sản xuất kinh doanh, tập đoàn thực hiện quản trị các công ty thành viên trên cơ sở phân nhóm sản phẩm với 8 nhóm:

Cơ cấu tổ chức của tập đoàn gồm 6 công ty đang hoạt động theo mô hình mẹ - con (Công ty Dệt may Hà Nội; Công ty Dệt Phong Phú; Công ty Dệt may miền Trung Hòa Thọ; Công ty Dệt Nam Định; Công ty May Việt Tiến; Công ty may Nhà Bè) và 6 Công ty TNHH một thành viên; 19 công ty cổ phần liên doanh Vinatex giữ trên 50%

Trang 25

tỷ đồng

Sau đây là sơ đồ cơ cấu tổ chức Bộ máy quản lý Tập đoàn dệt may Việt Nam:

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC TẬP ĐOÀN DỆT-MAY VIỆT NAM

KHỐI CƠ QUAN CHỨC NĂNG, THAM MƯU GIÚP VIỆC

1 Ban Tài chính kế toán

2 Ban Kế hoạch đầu tư

3 Ban Tổ chức lao động tiền

KHỐI SỰ NGHIỆP

1 Viện Kinh tế - Kỹ thuật Dệt- 5 Trường Cao đẳng Công

Trang 26

http://svnckh.com.vn 26

May

2 Viện Mẫu thời trang (FADIN)

3 Viện Nghiên cứu và Phát triển

cây bông

4 Trung tâm Y tế Dệt-May

nghiệp Dệt may Thời trang Hà nội

6 Trường trung học Kỹ thuật May và Thời trang 2

7 Trường trung học Kinh tế Kỹ thuật Dệt-May

KHỐI CÁC CTY HẠCH TOÁN PHỤ THUỘC

8 Cty Đầu tư Xây dựng Vinatex

DOANH NGHIỆP THÀNH VIÊN HẠCH TOÁN ĐỘC LẬP

Cty hoạt động theo mô hình

1 Cty Dệt lụa Nam Định

2 Cty Dệt 8/3

3 Cty Dệt kim Đông Xuân

4 Cty Tài chính Dệt-May

5 Cty Bông Việt Nam

6 Cty Dệt-May Đông Á

7 Cty Dệt kim Đông Phương

Trang 27

1 Cty CP Sợi Phú Bài

2 Cty CP Đầu tư Vinatex-Tan Tao

Dệt-Cty Cổ phần Tcty nắm dưới 50% vốn

1 Cty CP May Bình Minh

2 Cty CP May Hồ Gươm

3 Cty CP May Đồng Nai

4 Cty CP Dệt-May Sài Gòn

5 Cty CP May Hữu Nghị

6 Cty CP Cơ khí Dệt-May Hưng Yên

7 Cty CP May Ninh Bình

8 Cty CP May Hoà Bình

9 Cty CP Dệt kim Hoàng Thị Loan

10.Cty CP Cơ khí Dệt-May Thủ Đức

11.Cty CP Dệt-May Thành Công

12.Cty CP Dệt-May Thắng Lợi

13.Cty CP Dệt Phước Long 14.Cty CP Dệt Nha Trang 15.Cty CP May Bình Định

KHỐI CTY DO TỔNG CTY GÓP VỐN LIÊN KẾT, LIÊN DOANH

1 Cty TNHH XNK Thàng Đông 4.Cty LD TNHH CLIPSAL

Trang 28

http://svnckh.com.vn 28

2 Cty TNHH May Tân Châu

3 Trung tâm Đào tạo Dệt-May

Về khâu sản xuất, tuy sản lượng hàng năm của ngành tăng trên 10% nhưng quy

mô còn nhỏ bé, thiết bị và công nghệ khâu kéo sợi và dệt vải lạc hậu, không cung cấp được vải cho khâu may xuất khẩu Những năm qua, tuy ngành đã nhập bổ sung, thay thế 1.500 máy dệt không thoi hiện đại để nâng cấp mặt hàng dệt trên tổng số máy hiện

có là 10.500 máy, nhưng cũng chỉ đáp ứng được khoảng 15% công suất dệt

Ngoài ra, 80% nguyên, phụ liệu cung cấp cho ngành may xuất khẩu hiện nay là

từ nước ngoài Điều này cho thấy phần nào năng lực cạnh tranh hạn chế của ngành dệt Việt Nam

Về khâu phân phối, thị trường bán lẻ của Việt Nam cũng sẽ đứng trước thách thức rất lớn khi nhiều tập đoàn bán lẻ của nước ngoài thâm nhập Hiện nay, 70% sản phẩm dệt may đang được bán ở các sạp, còn lại là số lượng cửa hàng bán lẻ tự chọn của các công ty

Mặt khác, dệt may Việt Nam chưa sản xuất được những mặt hàng có giá trị cao

và chủ yếu vẫn là làm gia công, chưa tạo được bản sắc thương hiệu cũng như chưa thể xuất khẩu sản phẩm bằng chính tên tuổi của mình

Về khâu quản trị, có tới 58% số công ty Việt Nam tự công nhận là yếu kém trong quản trị doanh nghiệp Các nhà đầu tư nước ngoài sẵn sàng trả giá cao hơn 20-25% cho các Doanh nghiệp châu Á có hoạt động quản trị tốt vì đơn giản những Doanh nghiệp này có chi phí vốn rẻ hơn Một phần nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém này của các Doanh nghiệp Việt Nam, là thuộc về hệ thống pháp lý Vì tỷ lệ 58% số Doanh nghiệp Việt Nam tự nhận là yếu kém trong quản trị Doanh nghiệp do chính các Doanh nghiệp đưa ra khi so sánh hệ thống quản trị Doanh nghiệp hiện tại của mình với các quy định pháp lý hiện hành của Việt Nam Quy định của Luật Doanh nghiệp có hiệu lực từ 1/7/2006 tuy được xem là bước tiến bộ lớn về khung pháp lý cho thành lập Doanh Nghiệp, nhưng quy định về kiểm soát và quản trị Doanh nghiệp cũng mới chỉ ở mức rất cơ bản

Như vậy có thể nói, tuy Dệt may được đánh giá là một trong 20 lĩnh vực chủ chốt của nền kinh tế Việt Nam nhưng so với Thế giới và Khu vực, chúng ta vẫn đang đi sau rất nhiều Vì vậy, một trong các biện pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành Dệt may Việt Nam so với các nước trong khu vực và trên Thế giới là triển khai

áp dụng những biện pháp quản lý hiệu quả trong đó phải kể đến một công cụ đắc lực đó

là áp dụng hệ thống quản trị Doanh nghiệp ERP

Trang 29

Trước tiên chúng ta tìm hiểu khi chính thức là thành viên của WTO sẽ đem lại những cơ hội gì cho hoạt động xuất, nhập khẩu của Việt Nam đặc biệt trong lĩnh vực dệt may?

WTO là tổ chức kinh tế đa phương, nhằm thúc đẩy tự do hoá thương mại, hội nhập kinh tế trên phạm vi toàn cầu hoạt động với thiết chế tổ chức chặt chẽ, dựa trên 5 nguyên tắc:

Thương mại không phân biệt đối xử Tạo dựng một nền tảng ổn định cho phát triển thương mại

Đảm bảo thương mại ngày càng tự do thông qua đàm phán Tạo môi trường cạnh tranh ngày càng bình đẳng

Dành điều kiện đặc biệt cho các nước đang phát triển

Vì vậy, trở thành thành viên của WTO sẽ giúp Việt Nam có vị thế bình đẳng, thụ hưởng các quyền lợi của một thành viên đang phát triển trong WTO, cùng các nước đang phát triển xây dựng quy định, luật lệ của WTO, hạn chế sự áp đặt đơn phương bất bình đẳng của các nước đối với Việt nam về kinh tế, xã hội, lao động, môi trường… Ngoài ra, Việt Nam còn được tiếp cận hệ thống giải quyết tranh chấp thương mại công bằng và hiệu quả của WTO

Việt Nam là một nước đang trong quá trình Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá phải nhập khẩu nhiều thiết bị công nghệ, và nguyên liệu đầu vào của một số ngành công nghiệp có tỷ trọng lớn trong xuất khẩu như dệt may, điện tử, đồ gỗ v.v… Đồng thời, lại

là một nước công nghiệp có nhiều mặt hàng xuất khẩu có thế mạnh như gạo, cà phê, cao su, hồ tiêu, hạt điều và thuỷ sản

Cùng với việc Việt Nam chuẩn bị tham gia WTO, Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư mới được Quốc hội thông qua và bắt đầu đi vào thực tiễn từ tháng 7/2006 và việc Thủ tướng Chính phủ bỏ Quyết định số 55/2001/QĐ-TTg đối với ngành dệt may

đã đặt ngành trước những cơ hội và thách thức lớn:

a Cơ hội và thuận lợi:

* Đối với nhập khẩu:

Việc nhập khẩu hàng hoá diễn ra dễ dàng giúp hoạt động sản xuất – kinh doanh thuận lợi hơn đối với các doanh nghiệp phải nhập khẩu công nghệ và nguyên liệu đầu vào đặc biệt với dệt may là ngành phải nhập 80% nguyên liệu đầu vào

* Đối với xuất khẩu:

Với đà tăng trưởng hiện nay khi Việt Nam chính thức là thành viên WTO, khả năng xuất khẩu của Việt Nam sẽ không ngừng lớn mạnh về cả kim ngạch lẫn quy mô thị trường Vì:

+ Tham gia WTO giúp Việt Nam mở rộng xuất khẩu các mặt hàng thế mạnh như nông sản, thuỷ sản, may mặc, giầy dép, thủ công mỹ nghệ, các hàng hoá sử dụng nhiều lao động Trong đó, đáng kể là dệt may - một mặt hàng mà Việt Nam đang chịu nhiều thiệt thòi bị bó buộc bởi hạn ngạch do chưa là thành viên của WTO

Ngày đăng: 02/11/2015, 18:25

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ chung của quy trình quản trị bán hàng - ERP và TRIỂN KHAI ERP TRONG các DOANH NGHIỆP dệt MAY của VIỆT NAM NHẰM NÂNG CAO NĂNG lực CẠNH TRANH của NGÀNH dệt MAY TRONG TIẾN TRÌNH hội NHẬP KINH tế QUỐC tế
Sơ đồ chung của quy trình quản trị bán hàng (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w