Mối lien hệ bên trong – bên ngoài, tất nhiên – ngẫu nhiên, trực tiếp – gián tiếp,….Mỗi cặp mối lien hệ này có vai trò khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượn
Trang 1Câu 1: Tại sao nói: Khi xem xét sự vật hiện tượng phải có quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử cụ thể Liên hệ với cương vị công tác của đ/c.
(Mở đầu)
1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
+ Liên hệ là khái niệm chỉ sự phụ thuộc lẫn nhau, sự ảnh hưởng, sự tương tác
và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới hay giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính của một sự vật, hiện tượng, một quá trình
+ Liên hệ phổ biến là khái niệm nói lên rằng mọi sự vật, hiện tượng trong thế
giới (cả tự nhiên, xã hội và tư duy) dù đa dạng phong phú, nhưng đều nằm trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác
Cơ sở của mối liên hệ này là tính thống nhất vật chất của thế giới
Thế giới vật chất dù đa dạng đến đâu thì cũng đều là những hình thức tồn tại
cụ thể của vật chất nên đều sự chi phối của quy luật vật chất.
+ Tính chất của các mối liên hệ:
Tính khách quan: mối lien hệ không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con
người, chỉ phụ thuộc vào bản thân sự vật, hiện tượng Mối lien hệ là mối liên hệ vốn có của bản than sự vật, hiện tượng
Tính phổ biến: mối liên hệ tồn tại trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy; có ở
mọi lúc, mọi nơi
Trong cùng một sự vật, trong bất kỳ thời gian nào, không gian nào luôn có mối liên hệ giữa các yếu tố cấu thành nên nó
Tính đa dạng, phong phú: tùy vào góc độ xem xét mà có những mối liên hệ
khác nhau Mối lien hệ bên trong – bên ngoài, tất nhiên – ngẫu nhiên, trực tiếp – gián tiếp,….Mỗi cặp mối lien hệ này có vai trò khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng, sự phân chia các cặp mối liên hệ này cũng chỉ mang tính tương đối
Ý nghĩa phương pháp luận:
Yêu cầu phải rút ra và quán triệt nguyên tắc toàn diện Với yêu cầu đó, đòi hỏi:
- Về nhận thức: yêu cầu khi xem xét sự vật phải xem xét tất cả các mặt, các
yếu tố của nó, tuy nhiên phải có trọng tâm, trọng điểm; xem xét sự vật trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác
- Trong hoạt động thực tiễn: muốn cải tạo sự vật phải thực hiện đồng bộ
nhiều giải pháp; phải xác định, đánh giá đúng vị trí, vai trò của từng mối liên hệ đối với sự vận động, phát triển của sự vật
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện -một quan điểm phương pháp luận cơ bản trong nhận thức khoa học và trong hoạt động cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội
Quan điểm toàn diệnđòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên hệ
Trang 2tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật Đồng thời, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt các mối liên hệ, phải biết chú ý đến các mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên để hiểu rõ bản chất của sự vật và có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong sự phát triển của bản thân Trong hoạt động thực tế, theo quan điểm toàn diện, khi tác động vào sự vật, chúng ta không những phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó mà còn phải chú ý tới những mối liên hệ của sự vật ấy với các sự vật khác Đồng thời chúng ta phải biết
sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động nhằm đem lại hiệu quả cao nhất
* Nguyên lý về sự phát triển
+ Khái niệm: phát triển là quá trình vận động theo hướng đi lên từ thấp đến
cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn
+ Đặc điểm: không chỉ là sự tăng lên, giảm đi về lượng mà còn là sự nhảy
vọt về chất
+ Nguồn gốc của sự phát triển chính là sự thống nhất và đấu tranh của những
mặt đối lập bên trong sự vật quy định
+Tính chất:
Tính khách quan: phát triển của sự vật là tự than, nguồn gốc của phát triển
nằm ngay trong sự vật, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người, chỉ phụ thuộc vào mâu thuẫn bên trong sự vật
VD: Sự phát triển của xã hội loài người
Tính phổ biến: phát triển diễn ra trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy; diễn ra ở
mọi lúc, mọi nơi
Tính đa dạng, phong phú: tùy thuộc vào hình thức tồn tại cụ thể của các dạng
vật chất mà quá trình phát triển diễn ra cũng khác nhau
VD: Ở thế giới hữu cơ, phát triển thể hiện ở sự tăng trưởng, hoàn thiện hơn
khả năng thích nghi của cơ thể đối với môi trường;
Trong xã hội, phát triển thể hiên ở khả năng chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội của con người nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của chính con người
Trong tư duy, thể hiện tròn việc nhận thức trước một vấn đề hoặc trước thế giới khách quan của con người ngày càng đầy đủ, đúng đắn hơn
Ý nghĩa phương pháp luận:
- Chủ thể phải xây dựng cho mình quan điểm phát triển, tức là nhận thức sự vật, hiện tượng trong quá trình vận động, phát triển; không nhìn nhận sự vật một cách đứng im, chết cứng
- Trong hoạt động thực tiễn cần chống bảo thủ, trì trệ, ngại đổi mới… khi gặp
khó khăn, thất bại tạm thời phải biết tin tưởng vào tương lai (Tác động vào sự vật, hiện tượng bằng những biện pháp phù hợp với từng giai đoạn phát triển nhất định).
Trang 3- Nhận thức sự vật phải thấy được khuynh hướng phát triển của nó để có những phương án dự phòng, chủ động trong hoạt động
Mọi sự vật hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động và phát triển, nên
trong nhận thức và hoạt động của bản thân chúng ta phải có quan điểm phát triển.
- Điều đó có nghĩa là khi xem xét bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng phải đặt chúng trong sự vận động, sự phát triển, vạch ra xu hướng biến đổi, chuyển hoá của chúng
- Quan điểm phát triển đòi hỏi không chỉ nắm bắt những cái hiện đang tồn tại
ở sự vật, mà còn phải thấy rõ khuynh khái quát những biến đổi để vạch ra khuynh hướng biến đổi chính của sự vật
- Xem xét sự vật theo quan điểm phát triển còn phải biết phân chia quá trình phát triển của sự vật ấy thành những giai đoạn Trên cơ sở ấy để tìm ra phương pháp nhận thức và cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy sự vật tiến triển nhanh hơn hoặc kìm hãm sự phát triển của nó, tuỳ theo sự phát triển đó có lợi hay có hại đối với đời sống của con người
Quan điểm phát triển góp phần khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của chúng ta Nếu chúng ta tuyệt đối hoá nhận thức, nhất là nhận thức khoa học về sự vật hay hiện tượng nào đó thì các khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn sẽ không thể phát triển và thực tiễn sẽ dậm chân tại chỗ Chính vì thế, chúng ta cần phải tăng cường phát huy nỗ lực của bản thân trong việc hiện thực hoá quan điểm phát triển vào nhận thức và cải tạo sự vật nhằm phục vụ nhu cầu, lợi ích của chúng ta và của toàn xã hội
Quan điểm lịch sử cụ thể:
Đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, môi trường cụ thể trong đó sự vật sinh ra tồn tại và phát triển.Một luận điểm nào đó là luận điểm khoa học trong điều kiện này nhưng sẽ không phải là luận điểm khoa học trong điều kiện khác
Liên hệ: liên hệ công tác cán bộ:
- Đánh giá vấn đề: được, chưa được
- Đưa ra biện pháp thực hiện dựa theo các yêu cầu của quan điểm
Câu 2: Đ/c hãy Phân tích nguồn gốc, động lực, cách thức và khuynh hướng phát triển của sự vật trong thế giới khách quan (Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập) ý nghĩa phương pháp luận?
Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (hay còn gọi là quy luật mâu thuẫn) là hạt nhân của phép biện chứng Quy luật này chỉ ra nguồn gốc, động lực, cách thức, khuynh hướng của sự phát triển các sự vật hiện tượng
1 Khái niệm:
- Mặt đối lập là phạm trù triết học dùng để chỉ những mặt có những đặc
điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy
Trang 4Chính các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng Mâu thuẫn biện chứng tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy
- Hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng tồn tại trong sự thống nhất
với nhau Sự thống nhất của các mặt đối lập được hiểu theo ba nghĩa
+ các mặt đối lập làm tiền đề tồn tại cho nhau sự thống nhất của các mặt đối lập là sự kết hợp với nhau, sự nương tựa với nhau, đòi hỏi có nhau của các mặt đối lập,
sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề Như vậy, cũng có thể xem xét sự thống nhất của hai mặt đối lập là tính không thể tách rời của hai mặt đó
+ Các mặt đối lập ngang nhau, cân bằng nhau.Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau Với ý nghĩa
đó, "sự thống nhất của các mặt đối lập” còn bao hàm cả sự “ đồng nhất” của các mặt
đó Sự thống nhất này được hiểu là sự gắn bó ở mức độ cao nhất
Sự thống nhất của các mặt đối lập còn biểu hiện ở sự tác động ngang nhau của chúng Song đó chỉ là trạng thái vận động của mâu thuẫn ở một giai đoạn phát triển khi diễn ra sự cân bằng của các mặt đối lập Nhưng sự thống nhất chỉ là tương đối, tạm thời, thoáng qua và cũng không có sự cân bằng nào là vĩnh viễn, vì bản thân các mặt đối lập tự nó đã chứa đựng những sự khác biệt
- Tồn tại trong một thể thống nhất, hai mặt đối lập luôn tác động qua lại với
nhau, đấu tranh với nhau Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo
xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập hết sức phong phú, đa dạng, tuỳ thuộc vào tính chất, vào mối liên
hệ qua lại giữa các mặt đối lập và tuỳ điều kiện cụ thể diễn ra cuộc đấu tranh giữa chúng Không thể hiểu đấu tranh của các mặt đối lập chỉ là sự thủ tiêu lẫn nhau của các mặt đó Sự thủ tiêu lẫn nhau của các mặt đối lập chỉ là một trong những hình thức đấu tranh của các mặt đối lập
Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là 2 xu hướng tác động khác nhau của các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn Như vậy, mâu thuẫn biện chứng cũng bao hàm cả “sự thống nhất” lẫn “đấu tranh” của các mặt đối lập
2 Nội dung của quy luật mâu thuẫn
* Khái niệm:
- Mâu thuẫn biện chứng là sự tác động, sự liên hệ của các mặt đối lập trong môt thể thống nhất Những mặt đối lập là những mặt có khuynh hướng, thuộc tính biến đổi, phát triển trái ngược nhau trong cùng SV,HT hay hệ thống sv,ht
- Thống nhất của các mặt đối lập được hiểu là sự tác động liên hệ của các mặt đối lập, là điều kiện, tiền đề tồn tại cho nhau của các mặt đối lập
-Thống nhất của các mặt đối lập được hiểu theo 3 nghĩa:
+ Các mặt đối lập làm đk, tiền đề tồn tại cho nhau, không có mặt này thì không có mặt kia và ngược lại
+ Các mặt đối lập tác động ngang nhau , cân bằng nhau
Trang 5+ Giữa hai mặt đối lập có có điểm chung nhau, tương đồng nhau Do vậy trong một mức độ, một chừng mực nhất định nó có thể chuyển hóa lẫn nhau
- Đấu tranh của các mặt đối lập được hiểu là sự tác động, liên hệ theo khuynh hướng bài trừ, phủ định hay sự triển khai của các mặt đối lập
* Nội dung quy luật:
- Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có vai trò là nguồn gốc của quá trình vạn động, phát triển của sv Khi hai mặt đối lập thống nhất với nhau thì sự vật vận động từ từ, chậm chạp, mâu thuẫn chưa gay gắt Nhưng xu hướng của hai mặt đối lập là đấu tranh với nhau, đi ngược nhau Do vậy, đến một thời điểm nhất định thì cả hai mặt đối lập đều biến đổi, mâu thuẫn biến đổi Nếu mâu thuẫn được giải quyết thì >< cũ mất đi làm sự vật không còn là nó Từ sv cũ ra đời sv mới, >< mới lại xuất hiện ><mới này rồi lại được giải quyết Cứ như vậy, sv vận động, phát triển Như vậy, chính sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc của sự vận động, phát triển của sự vật
3 Ý nghĩa
+ Ý nghĩa phương pháp luận:
- ><là khách quan ,do vậy không nên né tránh ><.
- Có nhiều loại ><, chẳng hạn như >< cơ bản ( là >< quy định bản chất của
sv, nó tồn tại từ khi sv ra đời đến khi sv mất đi) và >< không cơ bản (>< không quy định bản chất của sv); >< chủ yếu ( >< nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát triển nhất định của sv) và >< không chủ yếu (>< mà việc giải quyết nó không quyết định việc giải quyết các >< khác ở giai đoạn đó của sv); >< đối kháng ( >< giữa những giai cấp, tâp đoàn người, những nhóm xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau không thể điều hòa) và >< không đối kháng ( >< giữa lực lượng, khuynh hướng xã hội có đối lập về lợi ích nhưng đó không phải là lợi ích cơ bản, mà chỉ là lợi ích cục
bộ tậm thời) Do vậy, trong hoạt động thực tiễn cần xác định đúng>< Giải quyết
>< không được chủ quan, thỏa hiệp, không nóng vội, phải xác định đúng trạng thái chín muồi của >< để lựa chọn phương án, chuẩn bị tốt lực lượng giải quyết ><
4 Liên hệ
Các vấn đề nảy sinh trong công tác: tranh chấp đất đai, công tác cán bộ, xử lý các vi phạm, vấn đề đạo đức nghề nghiệp…
- Đánh giá vấn đề: mặt được, mặt hạn chế, nguyên nhân (do cơ chế, do cán
bộ, do người dân, lãnh đạo…)
- Đề xuất giải pháp giải quyết
VD: (Thực hiện chỉ thị đánh giá phân loại Đảng viên cuối năm của các chi
bộ Đảng trong toàn quốc đều tổ chức thực hiện đánh giá và tự đánh giá Đảng viên thường kì Viêc đánh giá chất lượng Đảng viên của Đấu tranh phê bình, tự phê bình trong tập thể đơn vị và trong Đảng hiện nay ở trường học ( Là quá trình đấu tranh giữa các mặt đối lập)
- Mặt được:
Trang 6+ Đấu tranh phê bình và tự phê bình trong tập thể, trong chi bộ Đảng với mục đích là đi đến sự thống nhất
+ Đấu tranh trong Đảng góp phần thúc đấy sự phát triển của tập thể, cá nhân được phê bình được góp ý thì phải tiến bộ hơn
- Mặt hạn chế:
+ Có đồng chí khi được chi bộ phê bình, đóng góp ý kiến về công tác chuyên môn thì không chịu nhận sai sót về mình để sửa chữa từ đó làm cho mâu thuẫn giữa đồng chí đó với chi bộ trở nên gay gắt hơn khi đó mâu thuẫn sẽ chưa được giải quyết
- Nguyên nhân:
+ Có thể do chi bộ chưa đánh giá đúng về đồng chí đó ( Nguyên nhân chủ quan)
+ Có thể do đồng chí đó chưa hiểu rõ ý kiến đóng góp của chi bộ về mình nên nóng nảy phản ứng ( Nguyên nhân khách quan)
- Đề xuất giải pháp: Trong quá trình nhận xét đánh giá cần xác định đúng nguyên nhân chủ quan và khách quan để gải quyết mâu thuẫn Khi giải quyết mâu thuẫn không được chủ quan, nóng vội, chụp mũ, phải xác định đúng trạng thái, tâm
lý và tính chất sự việc để lựa chọn phương án , kế hoạch giải quyết mâu thuẫn
Câu 3: Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn Ý nghĩa
phương pháp luận?
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn
là lý luận suông”2 Như vậy, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phải được hiểu trên tinh thần biện chứng
Phạm trù Thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của
lý luận nhận thức Macxít nói riêng, chủ nghĩa Mac-Lênin nói chung
* Thực tiễn là hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử- xã
hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội
Đặc trưng của thực tiễn:
- Không phải là tất cả hoạt động của con người mà chỉ là những hoạt động vật chất – cảm tình Đó là những hoạt động mà con người phải sử dựng công cụ vật chất, lực lượng vật chất tác động vào các đối tượng vật chất để làm thay đổi chúng
- Là những hoạt động có tính lịch sử - xã hội Những hoạt động thực tiễn là hoạt động của con người, diễn ra trong xã hội với sự tham gia của đông đảo người, và trải qua những giai đoạn lịch sử phát triển nhất định
- Là hoạt động có tính mục đích – nhằm trực tiếp cải tạo tự nhiên và
xã hội phục vụ con người tiến bộ Nói lên tính mục đích, tính tự giác của hoạt động thực tiễn
Thực tiễn có 3 hình thức cơ bản:
Trang 7- Sản xuất vật chất: là những hoạt động sản xuất ra của cải vật chất nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng và trao đổi của con người;
- Hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động cải tạo các quan hệ chính trị
xã hội như đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh giai cấp
- Hoạt động thực nghiệm khoa học: tạo ra những điều kiện nhân tạo
để vận dụng thành tựu khoa học, công nghệ vào nhận thức và cải tạo thế giới
Trong đó, sản xuất vật chất là có sớm nhất, quan trọng nhất, quyết định các hình thức kia Hai hình thức kia có ảnh hưởng quan trọng đối với sản xuất vật chất
* Lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ kinh nghiệm
thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, tính quy luật của các sự vật hiện tượng trong thế giới và được biểu đạt bằng hệ thống nguyên
lý, quy luật, phạm trù
Đặc trưng của lý luận:
- có tính hệ thống, tính khái quát cao, tính logic chặt chẽ;
- Lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ những kinh nghiệm thực tiễn, phản ánh mối quan hệ bản chất, những tính quy luật của thế giới khách quan Lý luận không phải là tổng số các kinh nghiệm, là con
số cộng các kinh nghiệm; lý luận là sự chuyển biến về chất trong nhận thức thông qua sức mạnh khái quát hóa và trừu tượng hóa của tư duy
- xét về bản chất có thể phản ánh được bản chất sự vật, hiện tượng
Lý luận mang tính trừu tượng và khái quát cao, nhờ đó, nó đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, tính tất nhiên, tính quy luật của sự vật, hiện tượng thông qua các khái niệm, phạm trù, quy luật
Vai trò của thực tiễn đối với lý luận:
- Thực tiễn là cơ sở, là động lực của nhận thức
Thông qua và bằng hoạt động thực tiễn con người tác động vào sự vật làm cho sự vật bộc lộ thuộc tính, tính chất, quy luật Trên cơ sở đó có hiểu biết về chúng Thực tiễn cung cấp “vật liệu” cho nhận thức, không có thực tiễn không thể nhận thức
Thực tiễn luôn đặt ra nhu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi nhận thức phải trả lời Thực tiễn là người đặt hàng cho nhận thức phải giải quyết nhờ đó nhận thức phát triển
Thực tiễn là nơi rèn luyện giác quan của con người, tạo cơ sở cho chủ thể nhận thức hiệu quả, đúng đắn hơn
- Thực tiễn là mục đích của nhận thức:
Nhận thức của con người bị chi phối bởi nhu cầu sống, nhu cầu tồn tại; để hiểu thế giới xung quanh, để sống con người phải nhận thức
Trang 8Nhưng tri thức, kết quả của nhận thức chỉ có ý nghĩa đích thực khi được vận dụng vào thực tiễn phục vụ con người Thực tiễn là tiêu chuẩn đánh giá giá trị của tri thức – kết quả của nhận thức
- Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra sự đúng sai của nhận thức, lý luận Thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan của chân lý, thông qua thực tiễn con người có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm
Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý phải hiểu một cách biện chứng, nghĩa
là nó vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối Tuyệt đối thể hiện ở chỗ, thực tiễn ở những giai đoạn lịch sử cụ thể là tiêu chuẩn khách quan duy nhất
có thể khẳng định chân lý, bác bỏ sai lầm Tương đối thể hiện ở chỗ, bản thân thực tiễn luôn vận động, biến đổi phát triển Khi thực tiễn đổi thay thì nhận thức cũng phải thay đổi cho phù hợp
Vai trò của lý luận đối với thực tiễn:
- Lý luận đóng vai trò soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn Lý luận
có vai trò hết sức to lớn đối với hoạt động thực tiễn của con người Lý luận khoa học thông qua hoạt động thực tiễn của con người góp phần làm biến đổi thế giới khách quan và biến đổi chính thực tiễn
- Lý luận góp phần giáo dục, thuyết phục, động viên, tập hợp quần chúng nhân dân thành phong trong trào hoạt động thực tiễn của đông đảo quần chúng
- Lý luận đóng vai trò định hướng, dự báo cho hoạt động thực tiễn, giúp hoạt động thực tiễn chủ động, tự giác, giúp cho hoạt động thực tiễn bớt
mò mẫn, vòng vo, chủ động, tự giác hơn Lý luận khoa học, giúp con người xác định đúng đắn, nhu cầu, lợi ích, mục đích và tìm kiếm phương tiện phù hợp, hiệu quả
Ý nghĩa phương pháp luận:
Lý luận và thực tiễn có sự tác động biện chứng với nhau Lý luận càng cao, hiểu biết càng sâu sắc, thực tiễn càng đa dạng, phong phú Thực tiễn càng đa dạng, phong phú, sinh động bao nhiêu, càng tạo điềm kiện càng kích thức lý luận phát triển bấy nhiêu
Từ nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, phải có quan điểm thực tiễn trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Quan điểm yêu cầu:
Nhận thức sự vật phải gắn với nhu cầu thực tiễn của con người, xuất phát từ thực tiễn địa phương, ngành, đất nước Thực tiễn không chỉ là hoạt động để cải tạo thế giới, đem lại lợi ích cho con người mà còn là công cụ, phương tiện quan trọng của nhận thức Nhận thức sữ hiệu quả thiết thực hơn nếu xuất phát từ nhu cầu và đáp ứng nhu cầu của thực tiễn Không xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, đáp ứng nhu cầu thực hiện thì nhận thức, lý luận
sẽ rời vào lý thuyết suông giáo điều hoặc sẽ trở nên lạc hậu
Nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học phải gắn với hành Thực tiễn luôn vận động phát triển không ngừng, thực tiễn thay đổi, nhận
Trang 9thức và nghiên cứu lý luận cũng phải thay đổi theo nếu không sẽ rơi vào cứng nhắc, giáo điều, lạc hậu
Phải tôn trọng thực tiễn, căn cứ vào thực tiễn mà kiểm tra tính đúng đắn của nhận thức lý luận, cũng như những chủ trương, chính sách, biện pháp Những tri thức lý luận, chủ trưởng, chính sách được hình thành từ thực tiễn, từ tổng kết, kết quả kinh nghiệm thông qua tư duy của các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách Vì vậy, nó có khả năng chưa phản ánh đúng đắn thực tiễn, cần phải kiểm nghiệm qua thực tiễn mới đánh giá được chân lý, bác bỏ được sai lầm
Liên hệ: theo những yêu cầu của quan điểm
Câu 4: Mối quan hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX Sự vận dụng của Đảng ta? (Làm lại)
Lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa người lao động với kỹ năng lao động của họ với tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động và tư liệu sản xuất
- Người lao động: là chủ thể của sản xuất vật chất, luôn sáng tạo ra công cụ tác động vào đối tượng lao động để tạo ra của cải vật chất => nhân tố hàng đầu của LLSX
- Công cụ lao động là khí quan vật chất “nối dài”, “nhân lên” sức mạnh của con người trong quá trình biến đổi giới tự nhiên => là yếu tố quyết định trong tư liệu sản xuất
Quan hệ sản xuất
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất Quan hệ sản xuất do con người tạo ra nhưng nó mang tính chất khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người mà phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở một giai đoạn lịch sử nhất định
Quan hệ sản xuất bao gồm: các quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất, các quan hệ trong tổ chức, quản lý sản xuất và quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động
Quan hệ biện chứng (Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất)
- Biện chứng giữa LLSX và QHSX là mối quan hệ khách quan, vốn có của mọi quá trình sản xuất vật chất; để sản xuất vật chất, con người phải thực hiện quan
hệ song trùng này
- LLSX quyết định QHSX:
+ Lực lượng sản xuất thế nào về trình độ thì quan hệ sản xuất phải thế ấy tức
là quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
+ Khi lực lượng sản xuất biến đổi quan hệ sản xuất sớm muộn cũng phải biến đổi theo Lực lượng sản xuất quyết định cả ba mặt của quan hệ sản xuất tức là
Trang 10quyết định cả về chế độ sở hữu, cơ chế tổ chức quản lý và phương thức phõn phối sản phẩm
- QHSX tỏc động trở lại LLSX
Quan hệ sản xuất tỏc động diễn ra theo cả hai chiều hướng tớch cực và tiờu cực, điều đú phụ thuộc vào tớnh phự hợp hay khụng phự hợp của quan hệ sản xuất với thực trạng của lực lượng sản xuất
Nếu quan hệ sản xuất phự hợp với lực lượng sản xuất sẽ tạo ra tỏc động tớch cực, thỳc đẩy và tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phỏt triển
Nếu quan hệ sản xuất khụng phự hợp với trỡnh độ phỏt triển của lực lượng sản xuất thỡ nú sẽ kỡm hóm sự phỏt triển của lực lượng sản xuất Sự khụng phự hợp này thể hiện ở hai trường hợp: hoặc quan hệ sản xuất lạc hậu hơn hoặc quan hệ sản xuất tiến bộ hơn so với trỡnh độ phỏt triển của lực lượng sản xuất
í nghĩa:
- Đõy là quy luật cơ bản, phổ biến của đời sống xó hội Quy luật chỉ ra nguồn gốc và động lực cơ bản của sự vận động, phỏt triển cỏc phương thức sản xuất
Gợi ý liờn hệ (tham khảo giỏo trỡnh tr54-57)
Giai đoạn trước đổi mới (1986)
- Thực trạng LLSX: Chỳng ta vừa thoỏt khỏi cuộc chiến tranh, tần dư chế độ phong kiến cũn đang tồn tại và hậu quả chiến tranh cũn nặng nề, cơ sở vật chất cũn nghốo nàn, lạc hậu, trỡnh độ dõn trớ cũn thấp, khả năng quản lý kinh tế cũn yếu, lực lượng sản xuất chưa đồng bộ, cũn thấp kộm
- Về QHSX: chỳng ta ồ ỏt xõy dựng một quan hệ sản xuất ở trỡnh độ khụng tương xứng, cụ thế trong nụng nghiệp xõy dựng HTX cấp cao, thực hiện hai hỡnh thức sở hữu là tập thể và sở hữu Nhà nước, thực hiện sở hữu toàn dõn…
QHSX khụng phự hợp với trỡnh độ LLSX làm cản trở sự phỏt triển của lực lượng sản xuất, khụng khuyến khớch được người lao động, chưa huy động được nguồn lực trong xó hội
Giai đoạn đổi mới
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) với tinh thần đổi mới mà trớc hết là đổi mới tư duy, Đảng ta đã có những thay đổi cơ bản trong nhận thức về quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất Văn kiện Đại hội VI đã chỉ rõ: lực lợng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trờng hợp quan hệ sản xuất lạc hậu hơn mà cả trong trường hợp một số yếu
tố của quan hệ sản xuất tiến bộ hơn so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Trong quỏ trỡnh xõy dựng xó hội ở nước ta, "Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quỏn và lõu dài chớnh sỏch phỏt triển nền kinh tế hàng húa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường cú sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xó hội chủ nghĩa, đú chớnh là nền kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa"(2)