1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề cương ôn tập triết học Cao học Kinh tế quốc dân

17 494 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 157,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề cương ôn tập triết học Cao học Kinh tế quốc dânCâu 1: Thông qua một số triết gia tiêu biểu của khuynh hướng duy vật anh (chị) hãy làm rõ những tư tưởng biện chứng của triết học Hy Lạp la mã cổ đại.Câu 2: Tại sao nói mối quan hệ giữa đức tin và lý tính là vấn đề trung tâm của triết học Tây Âu thời trung cổ Câu 3: Bằng những kiến thức triết học anh (chị) hãy làm rõ đặc điểm triết học thời kỳ phục hưng ở Tây Âu. Câu 4: Anh (chị) hãy làm rõ vấn đề nhận thức luận và phương pháp luận là một trong những trọng tâm của thiết học Tây Âu thời cận đại.Câu 5: Từ lập trường triết học duy vật biện chứng anh (chị) hãy đánh giá về chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoiơbắc.Câu 6: Anh (chị) hãy trình bày triết lý của Phật giáo về thế giới và con người.Câu 7: Triết học Trung Hoa cổ đại:+ Khổng tử+ Lão Tử+ Pháp GiaCâu 8. Vấn đề con người trong triết học Mác Lênin và ở nước ta hiện nayCâu 9. Thống nhất nguyên tắc giữa lý luận và thực tiển trong triết học Mác Lênin (nhận định của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc cao nhất của chủ nghĩa Mác Lênin)Câu 10. Chủ nghĩa duy vật Mác Lênin cơ sở lý luận của thế giới quan khoa học

Trang 1

Ôn tập

Câu 1: Thông qua một số triết gia tiêu biểu của khuynh hướng duy vật anh (chị) hãy làm rõ những tư tưởng biện chứng của triết học Hy Lạp la mã cổ đại

Câu 2: Tại sao nói mối quan hệ giữa đức tin và lý tính là vấn đề trung tâm của triết học Tây Âu thời trung cổ

Câu 3: Bằng những kiến thức triết học anh (chị) hãy làm rõ đặc điểm triết học thời kỳ phục hưng ở Tây Âu

Câu 4: Anh (chị) hãy làm rõ vấn đề nhận thức luận và phương pháp luận là một trong những trọng tâm của thiết học Tây Âu thời cận đại

Câu 5: Từ lập trường triết học duy vật biện chứng anh (chị) hãy đánh giá về chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoi-ơ-bắc

Câu 6: Anh (chị) hãy trình bày triết lý của Phật giáo về thế giới và con người

Câu 7: Triết học Trung Hoa cổ đại:

+ Khổng tử

+ Lão Tử

+ Pháp Gia

Câu 8 Vấn đề con người trong triết học Mác - Lênin và ở nước ta hiện nay

Câu 9 Thống nhất nguyên tắc giữa lý luận và thực tiển trong triết học Mác - Lênin (nhận định của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc cao nhất của chủ nghĩa Mác - Lênin)

Câu 10 Chủ nghĩa duy vật Mác - Lênin cơ sở lý luận của thế giới quan khoa học

Câu 1: Thông qua một số triết gia tiêu biểu của khuynh hướng duy vật anh (chị) hãy làm rõ những tư tưởng biện chứng của triết học Hy lạp - La Mã cổ đại.

Đất nước Hy lạp ở vào vị trí rất thuận lợi về tầi nguyên, khí hậu, đất đai, đặc biệt có đường biên giới biển bao quanh do vậy rất thuận lợi trong việc bang giao với các nước khác (tiếp nhận, thừa kế những tri thức, tài nguyên của các nước khác) Quan hệ Hàng - Tiền là quan hệ đượ hình thành sớm nhất ở Hy lạp, là nội lực kinh tế để yểm trợ cho sự lớn mạnh của giai cấp chủ nô Hy lạp là nước đầu tiên thực hiện chế độ liên bang Hy lạp là đất nước của sử thi, thần thoại (1/3 kho sử thi của thế giới) Hy lạp còn là đất nước của tôn giáo, do đó sinh hoạt tôn giáo là một bộ phạn quan trọng hình thành nên các tri thức về tôn giáo (trở thành một bộ phận trong triết học đầu tiên)

Tư tưởng biện chứng trong triết học của một số triết gia khuynh hướng duy vật

Hy lạp - La mã cổ đại.

Trong thời kỳ sơ khai của triết học, cùng với cuộc đấu tranh giữa quan điểm duy vật và duy tâm về bản thể luận, còn có cuộc đấu tranh giữa quan điểm biện chứng với quan điểm siêu hình về bản tính thế giới

1 Hêraclít (540 - 475 TCN) coi bản nguyên của thế giới là lửa và khẳng định bản tính thế giới là "mọi thứ đều trôi qua" Tính đặc thù của tư tưởng này chính là ông thừa nhận sự thống nhất mâu thuẩn của vận động và đứng im, sinh thành và hiện hữu ở Hêraclít vận động

và đứng im là một sự thống nhất của các mặt đối lập, giống như đấu tranh và hài hoà, chúng không tồn tại thiếu nhau và thể hiện ra thông qua nhau Ông vừa thừa nhận dòng sông luôn chảy mặt triết họcời thường xuyên và liên tục biến đổi, vừa thừa nhận không có cái gì ổn định

và bất biến hơn là dòng sông luôn chảy và mặt trời thường xuyên chiếu sáng Nói cách khác, tính biến đổi của dòng sông không loại trừ sự đứng im và tính xác định của dòng sông không loại trừ sự vận động (chảy) của nó Hêraclít nói rõ hơn "khi biến đổi, nó đứng im" (nghỉ ngơi)

Từ đó ta suy ra rằng chính Hêraclít là người nói về cái hài hoà trong đấu tranh, thống nhất

Trang 2

trong phân đôi, bất biến trong biến đổi, đồng nhất trong khác biệt, vĩnh cửu trong nhất thời Khái niệm triết học co bản của tư tưởng về bản tính thế giới của Hêraclít là Logos Thuật ngữ này làm nên nội dung cốt lõi của phép biện chứng Hêraclít

Theo ông , trước hết Logos là sự thống nhất của mọi cái hiện hữu Thống nhất ở đây có nghĩa là sự đồng nhất của cái đa dạng, là sự hài hoà giữa các mặt đối lập Vốn là tư tưởng cơ bản trong phép biện chứng, ông thường sử dụng tư tưởng này với tính kiê đinh và nhất quán Ông phê phán các tiền bối như Hêxiốt, Pitago, Xênôphan… không hiểu sự thống nhất ông cho rằng ngày và đêm, thiện và ác không phải là một, đó là điều ai cũng hiểu Nhưng ngày và đêm, thiện và ác, cũng như mội đối lập tạo nên một chỉnh thể thống nhất thì là điều ít ai hiểu Đương nhêi dễ hiểu rằng các kiểu đối lập trên là nối tiếp nhau, tạo ra tính chu kỳ và tính lặp lại nhất định Nhưng người ta, theo Hêraclít không hiểu được rằng bản thân tính chu kỳ và tính lặp lại đó được quy định bởi sự thống nhất, sự hoà hợp, sự hài hoà giữa các mặt đối lập, tức bởi "logos" phổ biến Nói tới sự thống nhất của các mặt đối lập, Hêraclít chỉ muốn nói rằng các mặt đối lập giả định với nhau nhưng và không thể có được nếu thiếu nhau chứ không phải

là sự trùng hợp tuyệt đối: chẳng hạn không thể biết quý sức khoẻ nếu không biết đối lập của

nó là bệnh Hêraclít nói rằng "Bệnh tật làm cho sức khoẻ trở nên quý giá, ngọt ngào" Thứ hai

là quan hệ giữa Logos chủ quan và logos khách quan, tức là khả năng thống nhất giữa chúng Hêraclít đã giải quyết vấn đề một cách khẳng định Ông cho rằng tư duy vốn có sở mọi người

và Logos thế giới con người (củ quan) có khả năng phù hợp với Logos thế giới (khách quan), mặc dù điều đó không diễn ra thường xuyên và hoàn toàn không phải ở mọi người Khả năng

ấy suy ra rằng việc nhận thức Logos của thế giới bên ngoài là có thể đựơc Con đường đạt tới khả năng ấy the Hêraclít là bằng sự nỗ lực của bản thân và quan hệ với Logos thế giới bên ngoài

Đóng góp cơ bản của Hêraclít trong lịch sử phép biện chứng là cách trình bày đầu tiên

về quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Ông đã cố thể hiện bản chất mâu thuẫn của các sự vật trong ogos" chủ quan và chỉ ra sự thống nhất biện chứng của nhận thức và biện chứng của thế giới

Đối lập với biện chứng của Hêraclít là phép biện chứng "phủ định" của trường phái Êlê, với chủ trương vạn vật bất biến, không sinh thành, không diệt vong với hai đại biểu lớn là Páctêmít (khoảng cuối thế kỷ VI đầu thế kỷ V TCN) và Dênôn (khoảng 490 - 430 TCN) Vấn

đề lớn trong triết học Páctêmít là quan hệ giữa tồn tại và hư vô, tồn tại và tư duy, vận động và đứng im Cuộc tranh luận giữa Hêraclít với Páctêmít là cuộc tranh luận giữa một người xem sự vật trong vận động với một người xem sự vật trong trạng thái yên tĩnh Tư tưởng triết học của Páctêmít thể hiện ở ba luận điểm: coi vận động, biến đổi là hư ảo, bác bỏ quan điểm không gian rỗng thuần tuý; coi tồn tại và tư duy đồng nhất với nhau vừa như quá trình, vừa như kết quả Tư duy là tư duy chỉ khi nào có vật thể, và vật thể là vật thể hiện hữu chỉ khi nào ta tư duy được với tính cách nó có như một hiện thể đặc trưng coi thế giới không có sinh thành, xuất hiện và diệt vong Dênôn đã cụ thể hoá và phát triển nguyên lý "vạn vật đồng nhất thể" và vạn vật bất biến bằng phương pháp trưng dẫn chứng lý và nghịch lý Ông đã đặt ra quan hệ giữa vận động và đứng im, giữa liên tục và gián đoạn, giữa hữu hạn và vô hạn, song ông chưa

có điều kiện để bàn tới tính biện chứng theo cách nhìn hiện đại về các mối quan hệ ấy Mặt tích cực của nhà biện chứng theo nghĩa cũ này là các nghịch lý (aporia) của ông thực sự kích thích tư duy, khuyến khích tinh thần hoài nghi, tranh luận đi tới chân lý

Vào thời cực thịnh của triết học, tư tưởng biện chứng được thể hiện trong tư tưởng của Xôcrát (469 - 399 TCN) Ông trình bày quan điểm của mình chỉ bằng lời nói, dưới hình thức hội hoạ hay tranh luận, theo phương pháp đặc biệt, đặc trưng cho ông; đó là phương pháp Xocrát, phương pháp này có bốn bước

+ Mỉa mai là thủ pháp phản biện bằng cách nêu hàng lạot câu hỏi có tính chất mỉa mai nhằm dồn người đối thoại vào thế mâu thuẫn, thừa nhận những khiếm khuyết trong lập luận của mình, từ đó thừa nhận chân lý

Trang 3

+ Đỡ đẻ với nghĩa là người thầy, người dẫn dắt không bỏ mặc người đang đối thoại với mình (học trò chẳng hạn) ở tình trạng không lối thoát mà chủ động nêu ra những vấn đề mới, giúp họ đạt tới chân lý Việc đó giống như bác sĩ giúp người mẹ sinh ra đứa con

+ Quy nạp là quá trình đi phân tích những hành vi riêng lẻ đến khái quát để nắm bắt bản chất con người và đời sống xã hội

+ Xác định Hay định nghĩa là bước cuối cùng của tiếp cận chân lý: gọi đúng tên sự vật, chỉ ra đúng bản chất của nó, xác định đúng những chuẩn mực hành vi đạo đức, tiến tới xây dựng một khoa học về cái thiện phổ quát, giúp con người sống hạnh phúc, hợp lý trí

Tư tưởng biện chứng của triết học duy vật cổ đại Hy lạp - La mã ra đời sớm nhất trong lịch sử, được đánh giá cao và được nhiều nhà triết học sau này tiếp thu, phát triển Tuy nhiên, phép biện chứng ở giai đoạn nay là "phép biện chứng khách quan tự phát" có nghĩa là khi phát triển các yếu tố của phép biện chứng trên thực tế, các nhà triết học Hy lạp về chủ quan đã không ý thức được nó, đã không tự giác xây dựng thành hệ thống Khi phản ánh tính chất biện chứng tự hiên xã hội và tư duy, phép biện chứng tự phát đó đã tồn tại dưới hai hình thức: phép biện chứng khẳng định và phép biện chứng phủ định…

Câu 5: Từ lập trường triết học duy vật Anh (Chị) hãy đánh giá về CNDV chủ nghĩa duy vật nhân bản của Phoi-ơ-Bắc.

Lút-vích Phơ Bách (28/7/1804 - 1872) nhà duy vật nổi tiếng của triết học cổ điển Đức, một trong những bậc tiền bối của triết học Mác Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình luật

sư nổi tiếng, theo học ở trường đại học tổng hợp Béclin, tham gia phái Hêghen trẻ về sau ông tách khỏi phái Hêghen trẻ và trở thành người phê phán Hêghen và bắt đầu xây dựng học thuyết duy vật Các tác phẩm triết học lớn của ông là: "Phê phán triết học Hêghen" năm 1839, "Bàn

về sự chết" năm 1840, "Bản chất của đạo thiên chúa" năm 1841, "Đề cương cho sự cải cách triết học " năm 1842, "những nguyên lí cơ bản của triết học tương lai" năm 1843, "Bản chất của tôn giáo" năm 1845 Trong đó nổi bật nhất là triết học duy vật nhân bản, tức học thuyết về con người, ở đó Phơ - Bách đã hoàn thành lập luận cho những quan điểm duy vật của ông, và đánh một đòn quan trọng vào triết học duy tâm của Hêghen, vào chủ nghĩa duy tâm nói chung, những tác phẩm của ông đã đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành chủ nghĩa vô thần và trong quá trình đấu tranh phê phán tôn giáo Phơ Bách dẫn câu nói nổi tiếng của Gơ-tơ: "Ai có khoa học… người đó không cần tôn giáo" Trong học thuyết của mình mặc dù có vai trò rất to lớn đối với nền triết học nhân loại và trong cuộc đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái của tôn giáo Đặc biệt triết học nhân bản của ông góp phần quan trong trong việc khẳng định

về nguồn gốc, bản tính của con người, tu vậy thiếu sót của ông trong học thuyết nhân bản đó là khong thừa nhận mặt xã hội của con người

Theo đánh giá của Mác, Phơ bách là nhà triết học duy vật khá triệt để trong tự nhiên, sông vẫn là nhà triết học siêu hình Ông cho rằng giới tự nhiên tồn tại khách quan và nó là cái nôi của loài người, tự nhiên thống nhất ở tính vật chất, tự nhiên phong phú, đa dạng nhưng cũng chỉ là biểu hiện của vật chất

Tính nhân bản trong triết học nhân bản của Phơ Bách.

Sở dĩ được gọi là triết học nhân bản bởi vì: ông cho rằng triết học của ông xuất phát từ con người và lấy con người làm trung tâm

Con người trong triết học Phơ Bách là con người bằng xương bằng thịt, nó tồn tại trong không gian và thời gian, nó có năng lực tư duy và óc quan sát, mục đích của ông là chống lại duy tâm và tôn giáo, vì con người của chủ nghĩa duy tâm là con người tinh thần, con người của tôn giáo là con người khinh chê thân xác, coi thân xác là sự bẩn thỉu

Con người trong triết học của ông là con người thống nhất giữa cơ thể với tư duy, trong

đó cơ thể là nền tảng của tư duy Như vậy ông đã đem quan điểm duy vật của mình vào giải quyết con người, không chỉ vậy ông còn giải quyết vấn đề tư duy con người do đâu mà có, ông khẳng định tư duy của con người có được là do con người có một cơ quan tổ chức vật chất cao

đó là bộ óc Tuy nhiên quan điểm duy vật này không phải là duy vật biện chứng mà nó đứng

Trang 4

trên quan điểm sinh học vì ông ta khẳng định rằng trung tâm của triết học, vấn đề cơ bản của triết học là nghiên cứu về mối quan hệ giữa các nghành sinh học

Con người trong triết học của Phoi-ơ-bắc còn có bản tính cộng đồng (duy vật trực quan) ở đây ông đã loé lên một quan điểm, đó là hoàn cảnh sống và điều kiện sống ảnh hưởng đến tư duy của con người (điều này sau này được Mác phát triển thành tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội) Ông nói: "kẻ ở trong lều tranh sẽ suy nghĩ khác kẻ ở trong lâu đài, ở trong cung điện", ông đã thấy được nhân tố kinh tế ảnh hưởng đến tư duy con người: "đói nghèo trong thân xác thì nghèo nàn trong trí óc"

Phơ bách cho rằng con người có 3 đặc trưng, đó là: lí tính ; ý chí ; tình cảm Như vậy thì con người trong quan điểm của ông đã thiếu đi mặt rất quan trọng, mặt tạo nên tính người

-mà sau này Mác đã chỉ ra đó là mặt xã hội của con người

Ông còn cho rằng con người còn có bản tính túng thiếu (điều này hết sức vô lí) Như vậy ông đã xem con người với tư cách là một cá thể người chứ không phải là một con người

xã hội Tuy vậy chúng ta cũng phải thấy những điểm cần lưu tâm đó là: mặc dù con người của Phoi - ơ - bắc chỉ là một sinh vật hữu tình, đau khổ và túng thiếu, mặc dù nó là sản phẩm của

tự nhiên tồn tại một cách thụ động nhưng nó vẫn biểu hiện một khía cạnh nào đó của thực tế

xã hội lúc bấy giờ đó là nó thể hiện nguyện vọng của giai cấp Tư sản Đức lúc bấy giờ là muốn đấu tranh để giải phóng con người với tư cách là cá nhân thoát ra khỏi những ràng buộc của phong kiến do vậy ở khía cạnh xã hội con người của ông phản ánh nguyện vọng của giai cấp

Tư sản

Con người trong triết học của Phơ bách là con người phi lịch sử, phi giai cấp đứng trên các quan hệ xã hội, vì vậy đó là con người không hiện thực và con người kiểu như vậy thì không cần đến Phoi-ơ-bắc giải quyết, mà chủ nghĩa duy tâm, các nhà duy vật trước đó đã giải quyết, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật Pháp

Như vậy nếu CNDV ở Phoi-ơ-bắc là một bước tiến lên của CNDV thì Phoi-ơ-bắc lại tiếp tục "say rượu" (duy tâm) trong lịch sử và xã hội Qua đó có thể khẳng định rằng vấn đề con người trong Phoi-ơ-bắc vẫn là vấn đề bỏ ngõ, mang tính duy tâm rộng mở

Con người trong Phoi-ơ-bắc là con người không hoạt động thực tiễn vì vậy lí luận của ông chỉ

là lí luận suông Do không hiểu rõ bản chất của con người một cách khoa học, Phoi-ơ-bắc đã lấy tình yêu thương của con người làm bản chất của con người và xem đó là động lực để gắn kết con người lại với nhau cuối cùng ông ta đã tạo ra một tôn giáo mới đó là "tôn giáo tình yêu" ở đó mọi người được tôn trọng nhau, thay nhau làm "Chúa" của nhau

Phoi-ơ-bắc là nhà triết học duy vật sog trong triết học của ông đã không áp dụng một cách đến cùng chủ nghĩa duy vật Nhìn chung các quan điểm củ ông về con người cũng có nhiều điểm hợp lí nhất định: Thứ nhất nó thể hiện quan điểm duy vật khi khẳng định con người cũng như xã hội loài người là sản phẩm của tự nhiên Thứ hai, ông đề cao tính cá thể của mỗi người điều này thể hiện nguyện vọng của giai cấp Tư sản Đức lúc bấy giờ muốn đấu tranh đòi giải phóng nhân cách cá nhân con người khỏi mọi hệ thống giáo lí, trật tự xã hội hà khắc của nước Đức phong kiến quý tộc Tuy nhiên hạn chế của Phơ bách là ở chổ ông không nhận thấy được bản chất xã hội của con người, cũng như vai trò hoạt động của con người trong nhận thức và cải tạo thế giới, mực dù đôi khi ông có nhắc đến sự hoạt động của con người, tuy vậy con người trong triết học của ông là con người phi lịch sử, phi giai cấp, phi dân tộc và vì thế cực kì trừu tượng chứ không cụ thể Ông phê phán tôn giáo nhưng thực tế ông chỉ phê phán thiên chúa giáo mà thôi, còn tôn giáo nói chung, theo ông vẫn cần thiết đối với đời sống con người

Tóm lại CNDV của Phoi-ơ-bắc chưa thật sự là duy vật đó là triết lí của một nhà duy vật nhưng duy tam trong giải quyết con người Vì vậy trong quan điểm về lịch sử, xã hội con người trong triết học của ông được xếp đồng hàng với các nhà duy tâm và ông là nhà triết học tiêu biểu nhất trong quan niệm, đánh giá về duy vật về tự nhiên nhưng duy tâm về xã hội

Trang 5

Câu 6: Anh (chị) hãy trình bày triết lý của Phật giáo về thế giới và con người.

Phật giáo là một trong những tôn giáo lớn trên thế giới, với khoảng 350 triệu tín đồ, tập trung chủ yếu ở các nước ĐNA Ra đời vào giữa thế kỷ VI TCN ở vùng bắc Ấn Độ (nay thuộc Nepal) Người sáng lập ra đạo phật là Si-đa-ta, sau khi thành phật ông có tên là Thích-ca-mâu-ni Kinh điển phật giáo hiện nay rất đồ sộ, gồm ba bộ phận gọi là Tam Tạng, gồm: Tạng kinh (ghi lại những thuyết pháp của Thích-ca-mâu-ni), Tạng luật (ghi lại giáo điều, giới luật), Tạng luận (là những tác phẩm bình chú giải thích về kinh phật) Tư tưởng chính học cơ bản của Phật giáo nguyên thủy chủ yếu nói về thế giới quan và nhân sinh quan của Phật Thích-ca-mâu-ni

- Về thế giới quan: khác với đạo Bàlamôn, quan điểm luân hồi của đạo phật không

phải là một vòng luẫn quẩn mà thoát ra khỏi cái vòng đó, trở thành giác ngộ ở cõi nát bàn Phật giáo không thừa nhận có đấng sáng tạo, nghĩa là thế giới chúng ta kể thế giới vật chất và tinh thần không do ai sáng tạo ra hết, các sự vật hiện tượng chỉ là sự kết hợp của vật chất và danh Nó được thể hiện ở các quan điểm chính sau đây:

+ Duyên khởi: vạn vật đều do nhân duyên mà có Nhân duyên là nguyên nhân và điều kiện Duyên giúp cho nhân biến thành quả Phật giáo cho rằng mọi sự vật, hiện tượng đều do nhân duyên hòa hợp mà thành Duyên khởi từ tâm mà ra, tâm là cội nguồn của vạn vật Phật giáo nguyên thủy chủ trương vô tạo giả tức không có vị thần tối cao nào tạo ra thế giới Quan niệm vô tạo giả gắn liền với quan niệm vô ngã, vô thường

+ Vô ngã: không có một thực thể tối thượng tồn tại vĩnh hằng Trong thế giới, vạn vật

và con người được cấu tạo từ các yếu tố sắc như đất, nước, lửa, gió và danh, tức tinh thần như thụ, tưởng, hành, thức chứ không có đại ngã và tiểu ngã

+ Vô thường: không có cái gì trường tồn và vĩnh cửu cả.Trong thế giới, sự xuất hiện của vạn vật là kết quả hội tụ tạm thời giữa sắc và danh, khi sắc và danh tan ra, chúng sẽ mất đi Điều này có nghĩa là vạn vật luôn nằm trong chu trình sinh - trụ - dị - diệt, chúng luôn bị cuốn vào dòng biến hóa hư ảo, vô cùng theo luật nhân quả

Như vậy, thế giới quan của Phật giáo nguyên thủy mang tính vô thần, nhị nguyên luận ngả về phía duy tâm chủ quan và có chứa những tư tưởng biện chứng chất phác Thế giới quan chỉ là điều kiện, còn triết lý Phật giáo nằm trong Nhân sinh quan

- Về nhân sinh quan: là nội dung chủ yếu của triết lý Phật giáo nguyên thủy, được

trình bày trong thuyết Tứ diệu đế (bốn chân lý tuyệt diệu, linh thiêng) với bốn bộ phận là: khổ

đế, nhân đế, diệt đế và đạo đế Nhân sinh quan đầy tính nhân bản, duy tâm chủ quan, không tưởng và thần bí Triết lý của Phật giáo là cái khổ và mục đích của Phật giáo là giải khổ Cái quan trọng của đạo phật là giải thích được vì sao con người ta khổ Theo đạo Phật người ta khổ vì không nhận thức được biến hóa hợp hợp tan tan ở trong vũ trụ Tóm lại do không biết được rằng mọi cái đều vô thường nên nghĩ rằng mọi cái là thường, từ đó nãy sinh ra lòng tham, lòng khát, nên phải tìm cách để thỏa mãn Chính ham muốn đó đã dẫn con người khỗ từ kiếp này sang kiếp khác, gọi là luân hồi, và kết quả của kiếp trước là nguyên nhân của kiếp sau gọi là nghiệp báo Nếu không tin, không hướng thiện…ngày càng sa vào vòng tội lỗi thì nghiệp báo càng khốc liệt Để giải thoát con người khỏi kiếp nạn trầm luân đó thì đạo Phật đã đưa ra Tứ diệu đế, để làm rõ nguồn gốc, nguyên nhân, con đường giải thoát khỏi khổ

+ Khổ đế: là lý luận về những nỗi khổ rõ ràng ở thế gian Theo Phật có 8 nỗi khổ là sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, sở cầu bất đắt, oán tăng hội và ngũ uẩn

+ Tập đế: là lý luận về những nguyên nhân dẫn đến nỗi khổ nơi cuộc sống con người Phật giáo cho rằng con người còn chìm đắm trong bể khổ khi không thoát ra khỏi dòng sông luân hồi Mà luân hồi là do nghiệp tạo ra Sở dĩ có nghiệp là do lòng ham muốn, tham lam, ngu dốt và si mê, được gọi là Tam độc (tham, sân, si) gây ra Nhân đế còn được diễn giải trong thuyết Thập nhị nhân duyên gồm vô minh, hành, thức, danh - sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão - tử Trong 12 nguyên nhân trên, vô minh là nguyên nhân thâu tóm tất cả, vì vậy diệt trừ vô minh là diệt trừ tận gốc sự đau khổ nhân sinh

Trang 6

+ Diệt đế: là lý luận về khả năng tiêu diệt được nỗi khổ nơi cuộc sống để đạt đến niết bàn Khi vô minh được khắc phục thì tam độc biến mất, luân hồi chấm dứt, niết bàn sẽ xuất hiện Diệt đế bộc lộ tinh thần lạc quan của PG vì nó vạch ra cái hiện tại đen tối, xấu xa của mình, để cải đổi, kiến tạo lại nó thành một cuộc sống tốt đẹp hơn PG thể hiện khát vọng nhân bản, muốn hướng con người đến cõi hạnh phúc “tuyệt đối”, muốn hướng khát vọng chân chính của con người

+ Đạo đế: là lý luận về con đường diệt khổ, giải thoát Nó thể hiện nội dung cơ bản trong thuyết Bát chính đạo, khi đã đạt được bát chính đạo thì thực hiện được chân lý vô nhân ngã, nghĩa là không có người và cũng không có ta, đưa chúng sinh đến nát bàn, đó là: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tấn, chính niệm, chính định Bát chính đạo là suy nghĩ, nói năng và hành động đúng đắn… về thực chất, thực hành bát chính đạo là khắc phục tam độc bằng cách thực hiện tam học gồm: giới, định và tuệ Trong

đó, tham được khắc phục bằng định, si được khắc phục bằng tuệ

Phật giáo khuyên chúng sinh thực hành Ngũ giới, rèn luyện Tứ đẳng…, Phật giáo phản đối chế độ đẳng cấp, tố cáo xã hội bất công, đòi bình đẳng công bằng xã hội, khuyên chúng sinh luôn suy nghĩ về điều thiện và làm điều thiện Như vậy, nhân sinh quan của Phật giáo nguyên thủy mang tính nhân bản sâu sắc nhưng cũng chứa đầy tính chất duy tâm chủ quan

Câu 5: Tư tưởng cơ bản của triết học Khổng Tử

Khổng Tử (551 - 479 TCN) người sáng lập nho giáo Khổng Tử tên thật là Khổng Khâu, tên chữ là Khổng Ni, sinh ở Khúc Phụ nước Lỗ Gia đình ông thuộc loại nghèo Ông ham học thích nghiên cứu thi, thư, lễ, nhạc đời trước Khổng Tử là nhà tư tưởng lớn, có ảnh hưởng tới văn hoá Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam Tài liệu chủ yếu để nghiên cứu Khổng

Tử là cuốn Luận ngữ, ghi lại lời của Khổng Tử và học trò Hiện nay Lỗ luận ngữ được xem là bản chính Trong cuộc đời của Khổng Tử có 4 điều cấm kỵ:

+ Không ra vào suy nghĩ trống rỗng, Trung Quốc coi Khổng Tử là cha đẻ của chủ nghĩa thực dụng, là chủ nghĩa bàn đến những cái có ích cho cuộc sống của con người

+ Không nghiêm ngặt trong phán đoán của mình, không bảo thủ trong nhận xét của mình

+ Không biểu thị thái độ ngoan cố

+ Không nghĩ về bản thân mình

Về tư tưởng của Khổng Tử:

1 Tư tưởng về bản thể luận và biến dịch

Trước hết, Khổng Tử khẳng định: "Thiên, địa, vạn vật nhất thể", tức trời đất, vạn vật trong vũ trụ là một thể thống nhất, giao hoà với nhau

Giao hoà thể hiện ở chỗ: chúng tự sinh thành, tự vận động, tự biến hoá không ngừng nghỉ theo đạo, tức là có tính quy luật Sự vận động, biến đổi đó là do sự tương tác giữa âm và dương trong một thể thống nhất và có quy luật thể hiện ở chỗ: cái lực vô hình mạnh mẽ làm cho dương phát triển cực độ và hoá ra âm, và âm đến cực độ hoá ra dương Và cái giữ cho âm

- dương, trời - đất trung hoà đó là đạo; đoạ là huyền bí, là linh diệu, nó lan toả khắp trong vũ trụ nên không ai có thể cưỡng được đạo mà phải chấp nhận đạo Vì thế, cái cao nhất, quyết định nhất là thiên mạnh, cái sẽ quyết định sự vận động, biến đổi, diệt vong của thiên địa, vạn vật

Khổng Tử tin vào mạnh trời:

+ Trời là đấng chúa tể, có nhân cách, ý chí, tình cảm Ông nói: "Mắc tội với trời, không còn cầu khẩn gì được nữa"; "Ta dối ai, dối trời chăng?"; "Trời sinh đức ở nơi ta"; trời có nói gì đâu, mà bốn mùa đều vận hành, trăm vật đều sinh trưởng"

+ Đạo có thi hành được hay không là do thiên mệnh Bản thân ông kế thừa đạo nhà Chu cũng do mệnh trời Khi bị vây khốn ở Khuông, ông nói: "Trời mà muốn dứt bỏ cái văn hoá

Trang 7

này thì ta đây không được dự vào cái văn hoá ấy Trời mà chưa muốn dứt bỏ cái văn hoá ấy, thì người nước Khuông làm gì được ta"

+ Trời và người có tác dụng tương hỗ với nhau, tức hiện tượng tự nhiên có ảnh hưởng đến đoạ đức con người và ngược lại đạo đức con người cũng có ảnh hưởng đến các hiện tượng

tự nhiên Kinh Thư nói: "Đứng đắn thì mưa phải thời; yên ổn thì nắng phải thời; mưu trí thì lạnh phải thời; thánh minh thì gió phải thời" "Ngông cuồng thì mưa luôn; tiếm loạn thì nắng luôn; nóng nảy thì lạnh luôn; u mê thì gió luôn"

+ Ông nói với Tử Hạ: " Sinh tử hữu mạng, phú quý tại thiên", ông cho rằng không hiểu mạnh trời thì không phải là người quân tử, hay nói cách khác là người quân tử thì phải tuân theo mạnh trời

Ông còn cho rằng đã là người quân tử thì không chỉ mạnh trời mà còn phải sợ bậc đại nhân, tức là sợ chử tín, sợ cái uy và phải biết nghe lời thánh hiền

Ngoài mạnh trời theo ông con người còn chịu sự chi phối của quỷ thần, là lực lượng linh thiêng cần phải tránh xa Quỷ thần là do khí thiêng trời đất tạo ra, tai ta không nghe thấy, mắt

ta không nhận thấy nhưng nó tồn tại bên cạnh chúng ta Chúng ta phải kính cẩn quỷ thần nhưng phải tránh xa bằng cách không nên bàn luận, không nên sùng bái quỷ thần Đối với quỷ thần, sống chết, ông có thái độ kính nhi viễn chi: " Chưa biết thờ người, sao biết thờ quỷ",

"Chưa biết cái sống, làm sao biết cái chết"

Tóm lại, quan điểm bản thể luận và biên dịch của khổng tử có mâu thuẩn: một mặt ông thừa nhận thế giới là một chỉnh thể luôn vận động, biến hoá do sức mạnh âm - dương mang lại, điều đó cho thấy trong triết học của ông có tư tưởng duy vật và tư tưởng biện chứng Nhưng khi giải thích về nguồn gốc của âm - dương thì ông phải biện dẫn đến thiên mạnh, quỷ thần, điều nay về sau đã bị các học nho khuyếch đại lên và giai cấp thống trị lợi dụng để mị dân

2 Quan niệm của Khổng Tử vè chính trị - đạo đức

Khổng Tử nói: " Tôi chưa thấy ai yêu đức như yêu sắc đẹp của phụ nữ", " lấy thiện báo

ác là người ngu xuẩn vì khi đó lấy gì báo thiện", " người quân tử nghĩ về đạo chứ không nghĩ

về ăn uống", " đối với con người lòng nhân ái quan trọng hơn nước với lửa, tôi thấy có người chết vì nước với lửa chứ chưa ai chết vì lòng nhân ái", "ở đời lễ vật cao nhất mà mọi người giành cho nhau đó là lòng bao dung"

Toàn bộ những quan niệm về tư tưởng - chính trị - đạo đức - xã hội của Khổng Tử là nhằm giải quyết những vấn đề bức bách của thời kỳ Xuân Thu, giải quyết những mối quan hệ

đã bị suy vị, tha hoá thời đó

Với Khổng Tử, xã hội là một thể các mối quan hệ giữa người với người, giữa gia đình và xã hội, giữa trời và người Nhưng cái lõi, cái trung tâm của quan hệ xã hội là đạo đức

Và đường lối của Khổng Tử là đúc trị Đạo đức là gốc, là đường lối của chính trị và chính trị được thực hiện bằng đạo đức, cái điều chỉnh quan hệ xã hội là đạo đức, ông viết: "lấy đạo đức

để làm chính trị, ví như sao bắc thần ở yên một chỗ mà mọi sao khác đều hướng về nó" Chính

vì thế, những người làm chính trị phải là những người có đạo đức và phải luôn trao dồi đạo đức, tu thân theo: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín

Chính trị là thủ đoạn của giai cấp, vấn đề là mục đích của thủ đoạn là gì cho nên người làm chính trị phải là người có nhân

Chữ nhân

Chữ nhân thể hiện ở chỗ: Với gia đình, người làm chính trị phải thể hiện được là người chủ hoà thuận, phải là người tề gia, sau đó mới có thể trị quốc, bình thiên hạ

Chữ nhân là hạt nhân cơ bản trong đức của Khổng Tử, đó là đức của trời đất, là gốc của điều nghĩa, điều trí, điều tín, điều dũng; tóm lại là gốc của người quân tử Ngoài ra nhân là cái quyết định mối quan hệ giữa con người với con người Vì thế mà nhân trong triết học của Khổng Tử là đa nghĩa, đa dạng và tuỳ vào từng trường hợp cụ thể mà được hiểu khác nhau Song hiểu theo cách nào thì nhân vẫn là cái gốc của đạo đức, của xã hội

Trang 8

Theo Khổng Tử: Sữa mình theo lễ là nhân, yêu người là nhân, nói ít thì gần với điều nhân Còn những người thích ăn mặc trau chuốt, ăn nói sắc sảo là ít có đức nhân Nhưng có lẽ, điều quan trọng là điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người, cái gì mình muốn lập thì cũng lập cho người khác, cái gì mình muốn đạt thì cũng mong cho người khác thành đạt Như vậy là nhân của Khổng Tử đối lập với cái ích kỷ, đây là quan niệm có những giá trị nhất định

và quan niệm này phảng phất trong Phật giáo sau này

Theo ông nhân quy định động cơ của người làm việc Trước hết phải làm những việc khó khăn rồi mới nghĩ đến hưởng thụ, thu hoạch Về mặt nhận thức: có nhân là người có trí vì có trí mới phân biệt đâu là thiện, là ác và người có nhân phải có dũng để dám nhận ra sai lầm của mình

Tuy nhiên trong quan niệm về chữ nhân của Khổng Tử có điểm mâu thuẫn: ông rất đề cao chữ nhân nhưng với ông chữ nhân chỉ giành cho những người quân tử, còn kẻ tiểu nhân không có nhân Ông nói: "người quân tử có khi phạm vào điều bất nhân nhưng chưa hề có kẻ tiểu dân có nhân"

Có thể nói nhân là cái trở thành học thuyết nhân trị, đức trị trong Khổng Tử nhưng để nhân trị đi vào đời sống hiện thực thì Khổng Tử đề ra tư tưởng chính danh

Học thuyết chính danh:

Sự vật tồn tại khách quan, để biểu hiện nó phải dùng ngôn ngữ Cái ngôn ngữ để biểu hiện đó là danh Danh đối lập với thực Danh có nội hàm Sự luôn thay đổi nên nội hàm của danh cũng luôn thay đổi Nhưng ngôn ngữ lại có tính ổn định nên danh thường lạc hậu hơn hiện thực, không thay đổi kịp so với hiện thực tất xã hội có biến loạn

Theo Khổng Tử, xã hội loạn lạc là do danh không chính, tức danh không phù hợp với thực, từ đó làm cho kỷ cương phép tắc đảo lộn Ông nói: "chính sự là làm cho mọi việc ngay thẳng, công minh" Mỗi người đều có một địa vị, bổn phận nhất định, và tương ứng với nó là một danh nhất định Mỗi danh đều có những tiêu chuẩn riêng Người nào mang danh nào phải thực hiện những tiêu chuẩn của danh đó nếu không phải gọi bằng danh khác "Chính là làm cho mọi việc ngay thẳng" Chính danh là vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, cha cho ra cha, con cho

ra con ( Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử) Ông nói: "Nếu danh không chính thì lời không thuận; lời không thuận thì việc không thành; việc không thành thì lễ nhạc không rõ ràng được;

lễ nhạc không rõ ràng thì hình phạt không trúng; hình phạt không trúng thì dân không biết làm

ăn ra sao" Chính vì vậy, nếu được mời tham gia chính sự Khổng Tử "ắt phải chính danh trước đã" Ông viết sách Xuân Thu nhằm tuyên truyền học thuyết chính danh

Chính danh là phải tôn trọng tôn ti trật tự, cái mà Nho giáo gọi là luân Trong Ngũ luân (vua-tôi, cha-con, anh-em, bạn-bè, quân-thần, phụ-tử, phu-phụ, huynh-đệ, bằng-hữu) có ba mối quan hệ cơ bản, tam cương ( quân vi thần cương, phụ vi tử cương, phụ vi thê cương) Mỗi quan hệ có những tiêu chuẩn riêng, chẳng hạn quân nhân thần trung, phu từ tử hiếu, phu xướng phụ tòng Trong năm mối quan hệ trên, Khổng Tử chú trọng hai mối quan hệ: vua-tôi, cha-con

+ Vua-tôi Khổng Tử chủ trưởng dùng đức trị, tức người thống trị, tự lấy đạo đức của mình để cảm hoá người bị trị làm cho họ không chống lại, ông phản đối hình, chính (pháp trị) Ông nói: "Nếu lấy hình và chính mà trị thì dân không dám làm nhưng biết hổ thẹn mà còn không dám làm"

Theo ông, đối với dân, lòng tin là quan trọng nhất, sau mới đến lương thực, và sau nữa mới đến binh lực Nhà cầm quyền phải giúp cho dân giàu có Khi đã giàu rồi thì nhà cầm quyền phải giáo hoá dân

Tôi đối với vua phải trung(trung thành, hết lòng, thành tâm)

+ Cha-con Cha từ, con hiếu

Hiếu ở ông chủ yếu được xét trên góc độ tâm Hiếu không chỉ phụng dưỡng người đã sinh ra mình, mà phải có lòng thành kính, hiếu kông phải nhất nhất theo cha mẹ mà phận làm con thấy cha mẹ lầm lỗi phải can gián một cách nhẹ nhàng

Trang 9

Ông nói: "Chỉ xét cái đáng theo mà theo mới gọi là trung, hiếu" Quân có nhân thì thần mới trung; phụ có từ thì tử mới hiếu Đó là quan hệ hai chiều mà ít người để ý

Thực ra trong học thuyết chính danh, Khổng Tử vẫn trọng danh hơn thực, trọng xưa hơn nay, từ đó ông đã gạt bỏ nhiều giá trị đạo đức mang tính nhân loại

3 Quan niệm của Khổng Tử về Giáo dục:

Theo Khổng Tử để xây dựng một xã hội thái bình thì có 03 việc lớn cần phải làm:

- Làm cho dân đông

- làm cho dân trí

- Dạy cho dân biết lễ nghĩa

Có thể thấy, trong Khổng Tử đường lối chính trị chi phối giáo dục; dạy cho người ta biết, người ta hiểu có hiệu quả gấp mấy lần bạo lực, pháp luật Với quan niệm đó, Khổng Tử khẳng định: Giáo dục là cần thiết cho mọi người, hữu giáo vô loại Bởi vì không có giáo dục thì con người giống như viên ngọc không mài thì cuũng vô dụng, người không học là người vô đạo và muốn cũng làm cũng không biết đâu mà làm

Nội dung giáo dục của Khổng tử là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín; tóm lại nó thể hiện đường lối chính trị Trong đó, chữ nhân là trung tâm, tiếp đến là lễ

Quan điểm mới của ông trong giáo dục là đề cao việc nêu gương, làm gương kết hợp với thuyết giáo tuỳ nghi, tuỳ đối tượng mà nên nói cái gì Người học phải nổ lực suy nghĩ, để tâm tìn ra đầu mối phải kết hợp giữa học với hành, giữa tri thức với cuộc sống Ông nói: "Đọc thuộc 300 kinh thư nhưng giao cho việc hành chính mà không làm được thì không ích gì" Đối tượng học theo ông không phải những tri thức về sản xuất

Mẫu người đào tạo của ông là quân tử Quân tử chủ yếu chỉ phẩm chất đạo đức mà người

đó đạt được Theo ông, chức tước, giàu sang chưa chắc là người quân tử; nghèo chưa hẳn là kử tiểu nhân Quân tử phải đạt được 9 điều: 1 Nhìn cho minh bạch, 2 nghe cho rõ ràng, 3 sắc mặt luôn ôn hoà, 4 tướng mạo đoan trang, 5 nói năng trung thực, 6 làm việc trong sự kính cẩn, 7 có nghi hoặc phải hỏi, 8 khi giận phải nghĩ đến hậu quả, 9 thấy lợi phải nghĩ đến nghĩa

Mục đích học là để làm quan gánh vác việc quốc gia đại sự Học để tu nhân, tề gia trị quốc, bình thiên hạ, đó là đường đi của người quân tử Người quân tử phải có nhân, trí, dũng Nhân là không lo, trí là không lầm, dũng là không sợ

Quá trình giáo dục, Khổng Tử yêu cầu phải trực tiếp nghiên cứu vạt tỉ mỉ để nắm được dấu hiệu cơ bản của sự vật, có nghĩa là ông đề cao phương pháp dạy trực quan Theo ông trong giảng dạy phải tạo ra niềm say mê cho người học và người dạy Đối với trò, thầy phải khiêm tốn và trò có thể học bất cứ giá nào Còn trò thì phải chủ động tìm tòi, hướng tới tri thức mới, trò phải được uốn nắn từ nhỏ

* Giá trị và địa vị của Khổng Tử:

Học thuyết của Khổng Tử là học thuyết mang tính chất đạo đức - chính trị - xã hội hơn là triết học Ông chủ trương đường lối chính trị và đường lối này là phạm trù trung tâm quyết định các phạm trù khác

Triết học của ông mâu thuẫn, đan xen giữa duy vật và duy tâm và điều nmày đã bị giai cấp thống trị lợi dụng, thêm bớt tuỳ tiện theo hướng duy tân, thậm chí là thần bí để mị dân Ông là nhà giáo dục vĩ đại, nhưng không đưa đến sự giải phóng trí tuệ và tài năng con người, mà lại đề ra việc giải phóng bằng con đường tu dưỡng đạo đức

Học thuyết của ông là một thứ triết học không hoàn chỉnh cải lương, bảo thủ và đầy mâu thuẫn; nó có phần tích cực cứu thế nhưng bằng con đường đức trị (lễ trị) có xu hướng phục cổ

Tư tưởng của ông đến thời Hán Vũ Đế mới chiếm vai trò độc tôn

Câu 6: Đánh giá về triết học, tư tưởng của Lão Tử:

Trang 10

Lão Tử (579-479 TCN) là người nước Sở, toàn bộ tư tưởng triết học của Lão Tử được gói gọn trong cuốn đạo đức kinh

Tư tưởng nền tảng của triết học Lão Tử đó là " Đạo" Ý nghĩa mà Lão Tử dành cho "đạo" có hai mặt rất cơ bản:

- "Đạo" là bản nguyên của thế giới vật chất Đạo không phải là thứ vật thể đặc biệt,

cố định mà nó là cái bản nguyên sâu kín, huyền diệu là khối "hỗn độn", "mập mờ" "thấp thoáng", không có đặc tính, hình thể, "nhìn không thấy", "nghe không thấy", "bắt không được", lúc đầu đạo chưa được phân chia, nó vẫn tồn tại tuyệt đối bao khắp cả vũ trụ, có trước trời và đất, và là cái từ đó vạn vật có danh, có tính, có hình, có thể sinh ra Do "không biết nó tên là gì, nên đặt tên cho nó là đạo, gượng gọi là lớn" Vậy, "Đạo có trước trời đất" ; "Đạo sinh nhất, sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật" Do chỗ đạo rất huyền diệu, khó nói rõ danh trạng, bỡi vậy Lão Tử lại dẫn một khái niệm khác là "vô"để thể hiện vạn vật trong thiên hạ đều sinh ra từ hữu (tức vạn vật sinh ra từ nhất, nhị, tam), hữu sinh ra từ vô (tức nhất, nhị, tam lại được sinh ra từ đạo)

- Đạo còn là con đường, là quy luật chung về sự sinh thành, biến hoá của mọi vật, hiện tượng trong vũ trụ"

Quy luật chung ấy vừa có trước sự vật, vừa nằm trong sự vật Quy luật chung về sự biến hoá tự thận của mỗi sự vật gọi là "Đức" vũ trụ Đức chính là tiềm tại của Đạo Đức theo Lão Tử là một phạm trù thuộc vũ trụ quan, chứ không phải là phạm trù của luân lí, Lão Tử chỉ

rõ rằng Đạo sinh ra, đức nuôi nấng bảo tồn lấy Nhờ cái lực của Đức mà làm cho bản thể nằm trong hiện tượng biến hoá Cội nguồn của mọi quy luật chung ấy, theo Lão Tử vật nào cũng có thể thống nhất của hai mặt đối lập vừa xung khắc, vừa liên hệ, dựa vào nhau Ông nói "ai cũng biết đẹp là đẹp, tức là có cái xấu, hai mặt dài ngắn dựa vào nhau mới có chên lệch" và "trong vạn vật, không vật nào không cõng âm bồng dương" Lão Tử cho rằng sự phát triển đến cực điểm thì sẽ trở thành mặt đối lập, với chính nó Do đó, "Hoạ là chổ dựa của phúc" "phúc là cổ náu của hoạ", gió to không suốt sáng, mưa lớn không suốt ngày, trong thiên hạ "cái mềm làm chủ cái cứng" Đó là quy luật tự nhiên, là "Đạo trời" chi phối sự vật, hiện tượng tự nhiên cũng như xã hội

Phép biện chứng trong TH Lão Tử: Theo Lão Tử, toàn thể xã hội bị chi phối bởi hai

quy luật chung Đó là quy luật bình quân và quy luật phản phục Luật bình quân là luôn giữ cho sự vật được thăng bằng, theo một trật tự điều hoà tự nhiên, không có cái gì thái quá, bất cập Ông nói: "cái gì khuyết ắt được tròn đầy, cái gì cong sẽ được thẳng, cái gì cũ thì sẽ mới, cái gì ít sẽ được, đầy sẽ mất" Quá trình vận động của vạn vật còn tuân theo quy luật phản phục, nghĩa là "phát triển đến cực điểm thì sẽ trở thành cái đối lập với chính nó" Phản phục

có nghĩa là vạn vật biến hoá nối tiếp nhau theo một vòng tuần hoàn đều đặn, nhịp nhàng, bất tận như bốn mùa xuân, hạ, thu, đông thay đổi qua lại Vòng tuần hoàn bất tận ấy, Lão Tử gọi

là "thiên quân" Phản phục có nghĩa là trở về với đạo tự nhiên "vô vi" Trở về với đạo tự nhiên

vô vi là trở về với cái gốc của mình, bền bỉ, lâu dài Như vậy là "không làm gì cả, mà không gì không làm", tức không làm những gì trái với "đạo"

Quan điểm của Lão Tử về chính trị - xã hội (vô vi).

Mở rộng quan niệm về "Đạo" vào trong đời sống xã hội, Lão Tử đề xướng học thuyết

"Vô vi" qua đó ông trình bày quan điểm về nhân sinh hành vi Lão Tử cho rằng bả tính nhân lọai có hai khuynh hướng Một khuynh hướng "hữu vi", hữu dục là khuynh hướng can thiệp đến trời đất, con người dẫn đến xa "đạo thường" Khuynh hướng "vô vi" vô dục là khuynh hướng trở về nguồn gốc để sống với tự nhiên, tức là hợp thể với đạo, Rời tự nhên là xa đạo, con người sẽ đi đến tiêu diệt Vì vậy "vô vi" theo nghĩa tự nhiên là "không làm gì" Nhưng trong tư tưởng của Lão Tử, "vô vi" là "đem cái tự nhiên mà giúp một cách tự nhiên, không tư tâm, không vị kỉ" - nghĩa là sống, hoạt động theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không can thiệp, không làm trái với bản tính tự nhiên Hành động hay nhất là đừng can thiệp đến việc đời và nếu cần phải "làm" thì hãy "làm cái không làm" (vi - vô vi) một cách kín đáo, khéo léo Ông coi đây là giải pháp an bang tế thế vì ông thấy "dân đói vì trên bắt thuế nhiều, dân khó trị vì

Ngày đăng: 28/10/2015, 23:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w