1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

VỢ NHẶT tổng hợp kiến thức cơ bản

13 279 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 41,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng hợp tất cả các kiến thức cơ bản nhất về tác phẩm Hồn Trương Ba da hàng thịt trong sách giáo khoa ngữ văn 12. Một gợi ý để giáo viêc soạn giáo án, xây dựng câu hỏi, học sinh ôn tập bài để nắm vững kiến thức.

Trang 1

VỢ NHẶT

A TÁC GIẢ

1 Cuộc đời

- Kim Lân (1920 - 2007)

2 Sự nghiệp

- Kim Lân là cây bút chuyên viết truyện ngắn

- Ông thường viết về nông thôn và người nông dân Ông có những trang viết đặc sắc về phong tục và đời sống làng quê – những thú vui, sinh hoạt văn hóa

cổ truyền của người nông dân đồng bằng Bắc Bộ

- Văn ông viết chân thật, xúc động về cuộc sống của người nông dân Việt Nam dưới lũy tre làng dù có nghèo khổ, thiếu thốn nhưng vẫn yêu đời, thật thà, chất phác, thông minh, hóm hỉnh, tài hoa

- Tác phẩm chính: Nên vợ nên chồng (Tập truyện ngắn 1955), Con chó xấu

xí (Truyện ngắn — 1962)…

B TÁC PHẨM

1 Xuất xứ, vị trí

- Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân in trong tập Con chó xấu

xí (1962).

- Tiền thân của truyện ngắn này là tiểu thuyết Xóm ngụ cư – được viết ngay sau

Cách mạng tháng Tám nhưng dở dang và bị mất bản thảo Sau khi hòa bình lập lại (1954), ông dựa vào truyện cũ để viết truyện ngắn này

- Tác phẩm gây xúc động lòng người qua lôi viết chân thực dựng lại tình cảnh thê thảm của người nông dân nước ta trước nạn đói khủng khiếp năm 1945, do thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra Nhưng dù trong tình cảnh nào, người nông dân Việt Nam vẫn yêu thương đùm bọc lẫn nhau, vẫn không thôi niềm khao khát hạnh phúc gia đình, niềm tin bất diệt vào cuộc sống tương lai

2 Tóm tắt truyện “Vợ nhặt”

Truyện lấy bối cảnh là nạn đói năm 1945 Tràng - một thanh niên nghèo, lại là dân ngụ cư, trong một lần đẩy hàng đã tình cờ có được vợ Cô vợ nhặt đã tình nguyện theo Tràng chỉ sau một câu nói đùa và bốn bát bánh đúc Tràng đưa “thị”

về giữa cảnh đói khát đang tràn đến xóm ngụ cư Bà cụ Tứ thấy con có vợ thì vừa mừng vừa tủi cho thân phận nghèo khó của mình và thương con, thương nàng dâu đói khổ Họ sống với nhau trong cảnh đói nghèo nhưng hạnh phúc và tin rằng: Việt Minh về làng, họ sẽ đi phá kho thóc Nhật, lấy lại thóc gạo để cứu sống mình

3 Cảm hứng sáng tác

Trang 2

- Truyện được xây dựng trên cái nền hiện thực của nạn đói khủng khiếp năm

1945 Sự kiện bi thảm đó từng được miêu tả trong các tác phẩm nổi tiếng: Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc (Văn Cao), Xuân đến, Đói (Tố Hữu), Địa nguc (Tô Hoài),

Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi)

- Trong số các tác phẩm viết về nạn đói năm 1945, Vợ Nhặt có một giá trị đặc biệt bởi:

+ Thông qua cảnh ngộ và thân phận những con người nghèo khổ trong nạn đói, Kim Lân làm nổi bật một vấn đề sâu sắc: “khi con người cận kề cái chết, họ vẫn sưởi ấm cho nhau bằng trái tim, nuôi dưỡng niềm tin và hi vọng ngay trong khi tuyệt vọng ”

+ Chính KL từng chia sẻ: “khi viết về cái đói thường mọi người có ý nghĩ là khi đói người ta khổ cực và chỉ muốn chết, tôi định viết một truyện ngắn nhưng với ý nghĩ khác là khi đói người ta không nghĩ đến con đường chết màchier nghĩ đến sống, vẫn muốn sống cho ra người”

4 Ý nghĩa nhan đề

- Đặt tên cho đứa con tinh thần của mình không phải là điều tuỳ tiện, nhà văn coi

đó là một việc làm quan trọng và đầy ý nghĩa Bởi cái tên của tác phẩm, nó như

“chìa khoá” giúp người đọc mở vào tác phẩm Nhan đề thường hàm chứa cả đề tài, chủ đề, tư tưởng tác phẩm và cả linh hồn của tác giả Kim Lân đã đặt tên cho đứa con tinh thần của mình là Vợ nhặt cũng vì lẽ đó

- Vợ nhặt là cách kết hợp từ độc đáo:

+ Nhặt: là nhặt nhạnh, là bắt được một cách vu vơ, ngẫu nhiên Người ta có thể nhặt được nhiều thứ từ thượng vàng đến hạ cám

+ Vợ nhặt – một thứ vợ do nhặt được, nhặt một cách ngẫu nhiên, dễ dàng như người ta nhặt một thứ đồ vật => “Vợ nhặt” là điều trái khoáy, oái ăm, bất thường,

vô lí.Thông thường, người ta có thể nhặt thứ này, thứ khác, chứ không ai “nhặt”

“vợ” Bởi dựng vợ gả chồng là việc lớn, thiêng liêng, có ăn hỏi, có cưới xin theo phong tục truyền thống của người Việt, không thể qua quýt, coi như trò đùa

+ Tuy nhiên, soi vào tác phẩm ta thấy đúng là anh Tràng đã nhặt được vợ thật Chỉ một vài câu bông đùa của Tràng mà có người đã theo về làm vợ Điều này đã thực

sự khiến một việc nghiêm túc, thiêng liêng trở thành trò đùa và ngược lại, điều

=> Vì vậy, ngay từ đầu nhạn đề đã tạo được ấn tượng, kích thích sự chú ý của người đọc về giá trị con người

+ Chuyện Tràng nhặt được vợ đã nói lên tình cảnh thê thảm và thân phận tủi nhục của người nông dân nghèo trong nạn đói khủng khiếp năm 1945

+ Tuy nhiên tìm hiểu tác phẩm người đọc cũng sẽ thấy Vợ nhặt mà con người vẫn yêu thương, trân trọng, đùm bọc lẫn nhau và không nguôi khát vọng, niềm tin dù họ ở trong tình cảnh khó khăn nhất Đó là giá trị nhân văn của tác phẩm

Trang 3

+ Nhan đề đã tô đậm tình huống truyện.

5 Tình huống truyện

a Khái niệm tình huống truyện

- Nói đến nghệ thuật truyện ngắn, người ta thường coi ba yếu tố sau đây là cơ bản nhất: tình huống truyện, nhân vật truyện và cách trần thuật Có nhiều truyện ngắn,

sự sáng , tạo tình huống đóng vai trò then chốt Đặt vào tình huống ấy, nhân vật truyện bộc lộ sâu sắc tâm lý, tính cách Tư tưởng của thiên truyện cũng nhờ thế mà được thể hiện đậm đà Và xoay quanh tình huống ấy, các tình tiết cũng trở nên hấp dẫn.Truyện Vợ nhặt của Kim Lân thuộc loại tác phẩm như thế

- Đối với nghệ thuật truyện ngắn, tạo ra được một tình huống độc đáo mới lạ để làm bật nổi vấn đề, bật nổi tâm trạng, tư tưởng, tính cách của các nhân vật và chủ

đề của tác phẩm là một điều có ý nghĩa then chốt Một truyện ngắn đặc sắc là nhờ được tổ chức chung quanh một tình huống như thế, và Vợ nhặt của Kim Lân là một trường hợp tiêu biểu

- Có thể nói sáng tạo tình huống truyện là vấn đề then chốt của nghệ thuật viết truyện ngắn Qua tình huống có thể khẳng định tài năng cũng như phong cách của nhà văn

- Tình huống truyện là diễn biến của sự việc, sự phức tạp của tình tiết; là cái éo le, nghịch lí ở đời Sự việc, câu chuyện trong tác phẩm “xảy ra như thế mà ta cứ ngỡ không phải thế” Tình huống càng lạ bao nhiêu thì truyện càng hay, hấp dẫn bấy nhiêu

b Tình huống trong tác phẩm

* Nhà văn Kim Lân đã xây dựng trong truyện ngắn của mình một tình huống vô cùng độc đáo, éo le và đầy cảm động Đó là tình huống Anh Tràng – một nông dân nghèo, xấu xí, thô kệch, dân ngụ cư bỗng dưng “nhặt” được vợ giữa những ngày đói khát khủng khiếp năm 1945

* Tình huống độc đáo vì xưa nay chưa từng có; vừa lạ lại vừa éo le:

– Lạ:

+ Người như Tràng mà lấy được vợ, thậm chí lại có vợ theo Tràng:

 Tính cách có phần hơi dở hơi

 Nghèo, dân ngụ cư

→ Hội tụ đầy đủ những yếu tố để Tràng khó, thậm chí không lấy được vợ

+ Giữa lúc đói khát, nuôi thân còn chẳng xong vậy mà Tràng lại dám “đèo bòng”,

“rước cái của nợ đời ấy về”

+ Tràng lấy được vợ, nhặt được vợ âu cũng chỉ qua hai lần gặp tình cờ, chỉ với mấy câu nửa đùa nửa thật vậy mà người đàn bà đã theo Tràng về → Cái công việc mà xưa nay người ta vẫn cho là khó lại vô cùng tình cờ, dễ dàng đối với Tràng

Trang 4

– Éo le: vừa buồn, vừa vui, vừa bi thảm, vừa cảm động.

+ Vui: vì Tràng lấy được vợ

+ Tràng lấy vợ là việc được hưởng cái hạnh phúc lớn nhất của một đời người giữa cảnh “tối sầm lại vì đói khát”, giữa cái lúc mà cái chết và sự sống ranh giới mong manh, tưởng như âm - dương không có sự cách biệt

→ Chen vào hạnh phúc là nỗi lo chạy trốn cái đói, nỗi lo níu kéo sự sống

+ Duyên cớ để đưa họ đến với nhau cũng thật buồn lòng: đó là cái đói Ở đây, mấy bát bánh đúc thay cho trầu cau dẫn cưới Nếu không vì cái đói đưa đẩy thì Tràng cũng khó lòng lấy được vợ → Sự thật đáng buồn

* Phản ứng của mọi người trước sự kiện độc nhất vô nhị Tràng xấu trai dân ngụ

cư có vợ theo về:

– Những người dân trong xóm ngụ cư:

+ “Người trong xóm lạ lắm”, họ “đứng cả trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán”→ Ngạc nhiên tột độ

+ Sự kiện lạ lùng ấy đem đến một “cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối” của họ, làm những khuôn mặt “hốc hác, u tối” bỗng dưng “rạng

rỡ hẳn lên”

+ Họ “cười rung rúc”

+ Rồi có người thở dài

+ Tất cả cùng “nín lặng” khi có người nói “Giời đất này còn rước cái của nợ đời

về Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không?”

– Bản thân Tràng:

+ Mọi chuyên nhanh chóng quá đến mức chính Tràng – người trong cuộc cũng cảm thấy ngạc nhiên Khi Tràng vui mừng đưa người vợ nhặt về nhà, nhìn thị ngồi giữa nhà mà Tràng “vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế”

– Bà cụ Tứ - mẹ Tràng:

+ Vô cùng ngạc nhiên trước thái độ vồn vã, khác thường của đứa con trai, bà “hấp háy hay con mắt nhìn Tràng” rồi băn khoăn hỏi Tràng “Có việc gì thế vậy?”

+ Ngạc nhiên hơn nữa khi nhìn thấy người đàn bà trong nhà:

 Bà “đứng sững lại”→ Quá đỗi ngạc nhiên

 Trong đầu bà cụ hiện lên một loạt những câu hỏi: “Quái sao lại có người đàn

bà nào ở trong ấy nhỉ?”, “sao lại chào mình bằng u?”….→ Băn khoăn, ngạc nhiên + Khi đã hiểu rõ cơ sự bà lão “cúi đầu nín lặng”, thương xót cho số kiếp đứa con mình

+ Bà cụ Tứ cảm thấy tủi thân, xót xa vì chưa làm tròn bổn phận làm cha mẹ “người

ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con

đẻ cái mở mặt sau này, còn mình thì ” → Độc thoại nội tâm thể hiện tâm lí nhân vật

+ Sau đó là “mừng lòng”, chấp nhận con dâu, khuyên nhủ các con đầy lạc quan…

Trang 5

- Tình huống truyện không chỉ tạo ra một hoàn cảnh “có vấn đề” cho câu chuyện

mà còn nén trong đó ý đồ nghệ thuật của nhà văn đồng thời gợi mở các khía cạnh giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm

Tình huống độc đáo bộc lộ ngay từ nhan đề tác phẩm, khiến người đọc phải suy ngẫm về một tình huống vừa kì quặc, oái oăm vừa buồn, vừa vui, vừa bi thảm, vừa cảm động Trong khi mọi người đang đói quay đói quắt, chết chóc đầy đường thì Tràng lại đèo bòng một người đàn bà bất chấp cả lễ nghi truyền thống về làm vợ Chính hoàn cảnh của anh cũng nghèo kiết xác và còn phải nuôi một mẹ già, điều

đó khiến cả xóm ngụ cư, cả thân mẫu của anh – bà cụ Tứ phải ngạc nhiên, lo lắng, liệu có nuôi nổi nhau qua kì đói khát này không?

Tình huống truyện đã làm nổi bật một sự thật bi thảm, chưa bao giò giá trị con người lại rẻ rúng đến như thế Người đàn bà theo Tràng về làm vợ, vì đói quá mà quên cả giữ gìn nhân cách, vục đầu vào ăn bốn bát bánh đúc chẳng chuyện trò gì;

vì đói mà chấp nhận theo không người đàn ông, chẳng cần lễ nghi cưới hỏi

Tình huống nhặt được vợ của Tràng đặc biệt gây cho bà cụ Tứ mừng ít, lo nhiều:

“Người ta dựng vợ, gả chồng lúc trong nhà ăn nên, làm nổi, còn mình…” Bà khóc

thương cho cuộc đòi nghèo khổ dằng dặc của bà, bà lo cho con có nuôi nổi nhau qua đận đói này không? Bà mừng cho con gặp thì đói khổ này con mình mới có vợ,

và người ta có gặp bước khó khăn mới lấy đến con mình Bà thương: “chúng mày lấy nhau lúc này u thương quá!’ Trong bữa ăn sơ sài, đạm bạc, thậm chí thảm hại,

bà lại rất vui vẻ hoạch định tương lai cho các con

Tràng – nhân vật chính tạo ra tình huống nhưng chính anh cũng vẫn bàng hoàng, ngạc nhiêu không tin được mình đã có vợ sau một đêm hạnh phúc “Nhặt” được vợ trong khung cảnh xám xịt của một buổi chiều chạng vạng nhưng lại đem đến cho anh tình yêu, hạnh phúc và niềm tin vào sáng hôm sau khi bình minh lên

d Ý nghĩa của tình huống truyện

– Tình huống truyện là một trong những yếu tố để làm nổi bật chủ đề tác phẩm đồng thời tạo điều kiện cho nhà văn miêu tả tâm lí nhân vật.

– Tạo cho tác phẩm có được kết cấu chặt chẽ Các sự việc, các chi tiết khác được kể tới đều xoay quanh tình huống này.

– Tố cáo tội ác của bọn thực dân phát xít đẩy con người đến bước đường cùng, biến giá trị con người thành số không.

– Thể hiện được cái tình của người lao động nghèo và tấm lòng nhân hậu đầy yêu thương của bà mẹ

– Nói lên được lòng ham sống, bản chất lạc quan của người lao động đang bị lâm vào cảnh khốn cùng.

Trang 6

Vợ nhặt là lời kết tội đanh thép đối với giặc Pháp, Nhật và tay sai phong kiến

đã đẩy người nông dân vào cảnh chết đói, khiến mạng người rẻ như cỏ rác

Vợ nhặt mang một giá trị nhân bản sâu xa “… Dù ở trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết, người ta vẫn khát khao hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng vào tương lai, vẫn muốn sống cho ra còn người” (Kim Lân).

6 Nhân vật Tràng

a Vị trí, vai trò trong cốt truyện

- Nhân vật quan trọng trong tác phẩm, nhân vật chính trong tình huống truyện

- Được Kim Lân tập trung miêu tả trên nhiều phương diện: hành động, ngôn ngữ, ngoại hình, diễn biến nội tâm…

b Hoàn cảnh xuất thân:

- Nghèo khổ:

– Bản thân anh là dân ngụ cư, dân ăn nhờ, ở đậu, Tầng lớp sống lang bạt, không quê quán, lai lịch rõ ràng, phải làm thuê kiếm sống.thường bị dân bản xứ khinh miệt

– Gia cảnh neo đơn: bố mất sớm, người em gái đã lấy chồng Tràng sống với mẹ già trong một căn nhà xiêu vẹo trên bãi đất hoang mọc lổn nhổn những búi cỏ dại

=> Hoàn cảnh xuất thân : khó lấy được vợ

c Ngoại hình

- Tràng là nhân vật được hóa công gọt rũa sơ sài:

+ Đầu: trọc nhẵn

+ Hai con mắt nhỏ tí

+ Hai bên quai hàm bạnh ra, thân hình to lớn, lưng rộng như gấu

+ Lưng: to, rộng như lưng gấu

+ Áo: nâu tàng

 Tràng rất xấu xí

Trang 7

=> Các chi tiết cụ thể pha chút trào lộng đặc tả một thanh niên lao động thô kệch, vất vả, lam lũ, được hóa công đẽo gọt quá sơ sài, dường như vẫn phảng nét hoang dại

- Tên gọi: Dụng cụ trong nghề mộc

- Đã xấu Tràng lại còn có nhiều điệu bộ, dáng dấp buồn cười, khó coi: đó là cái tật vừa đi vừa lẩm bẩm, than thở những điều hắn nghĩ và khi được trẻ con trêu cười hắn lại ngửa mặt lên cười hềnh hệch

- Kim Lân dường như có dụng ý khi dùng tên Tràng để đặt cho nhân vật Tràng vốn là một công cụ của nghề mộc có hình thức khá thô kệch Sử dụng tên gọi ấy nhà văn như muốn gợi ấn tượng về một nhân vật mà từ vẻ bề ngoài đến thế giới tinh thần bên trong đều không tinh tế

- Cách nói năng: vụng về, thô lỗ

- + Ngay khi tán tỉnh yêu đương hắn cũng quen với những từ như “đếch có vợ”

- + Thậm chí đi bên người đàn bà sẽ là vợ về nhà hăn svaaxn quen miệng mắng lũ chó, thậm chí muốn nói một câu tình tứ với Thị hắn cũng không tài nào nói được chỉ biết xoa tay nọ vào tay kia

Gợi liên tưởng các nhân vật chàng ngốc, người đần trong truyện cổ dân gian, hiện thân cho một số phận bất hạnh

c.Tuy nhiên Tràng có phẩm chất rất đáng trân trọng

- Tràng vốn là người hiền hòa, vui tính Nhìn cách bọn trẻ chào đón anh mỗi khi đi làm về ai cũng thấy vui lây và ẩn sau cái cười hềnh hệch là bản tính nhân hậu, dễ gần Nét tính cách này sẽ được khắc sâu và nhấn mạnh trong tình huống Tràng nhặt được vợ

- Tình huống Tràng nhặt được vợ thể hiện rõ sự ứng xử và những phẩm chất của Tràng:

- Tràng là người có tấm lòng nhân hậu Tràng đối với Thi đầu tiên bằng sự sẻ chia của những người nghèo trong cơn hoạn nạn

+ Miếng ăn lúc bấy giờ là cả mạng sống của con người Thế nhưng một người kéo

xe thuê như Tràng cũng sẵn sang bỏ tiền ra đãi thị 4 bát bánh đúc Hành động đó, không phải sĩ diện hão mà xuất phát từ tình thương bởi lần này gặp thi gã thấy thị

“gầy sọp, hốc hác, quần áo rách như tổ đỉa”

+ Đến lúc đưa thị về, Tràng cũng cảm thấy “chợn” khi nghĩ về tương lai: “thóc gạo này đến cái thân mình còn chưa chắc đã nuôi nổi lại còn đèo bòng” Đó là suy nghĩ rất thực nhưng sau đó a đã quyết định chia sẻ

- Trong quan hệ với mẹ, Tràng chứng tỏ mình là người con tôn trọng mẹ, biết

lễ nghĩa TRàng biết việc đưa người đàn bà về là sự đường đột sẽ gây nên

Trang 8

bất ngờ lớn cho mẹ Vì vậy anh đã sốt ruột chờ mẹ về, săn đón, mời mẹ ngồi lên để thưa chuyện Giâyphút ấy, thái độ ấy khác ngày thường, có phần long trọng hồi hộp vì người con hiếu thảo ấy rất cần sự đồng thuận của mẹ.át

- Điều người đọc ghi nhận sâu sắc nhất, đậm nét nhất cũng là điều làm nhân vật đẹp đẽ hơn chính là khát khao tình yêu, hạnh phúc ra đình:

+ Câu nói tưởng như đùa vui của Tràng thực ra là khát vọng cháy bỏng có thật

về một mái nhà hạnh phúc, một tổ ấm gia đình Thóc cao, gạo kém, người chết như ngả rạ tuy nhiên khát vọng hạnh phúc gia đình là không bao giờ chán nản Phải chăng vì thế mà Tràng đã dũng cảm đèo bòng

+ Khi niềm khao khát thành sự thật (Thị đồng ý theo về), trong suy nghĩ của Tràng cũng có cuộc đấu tranh nội tâm giữa việc nuôi thân với đèo bòng

Thế

– Tuy nhiên, giữa cái khuảnh tối sầm lại vì đói khát, Tràng bỗng nhiên “nhặt” được vợ.Cuộc gặp gỡ giữa Tràng và người đàn bà không tên diễn ra thât chóng vánh chỉ qua hai lần gặp mà chỉ gặp ở đường và chợ để rồi “nên vợ, nên chồng”:

+ Lần gặp thứ nhất : Trên đường kéo xe thóc lên tỉnh, Tràng hò chơi ấ đỡ mệt

“Muốn….” Không ngờ, thị ra đẩy xe cho anh và còn liếc mắt cười tít nữa Tràng thích lắm vì từ khi cha sinh mẹ đẻ đến giờ mới có một người con gái cười với hắn tình tứ đến như thế

+ Lần gặp thứ 2, ở quán nước ngoài chợ Ban đầu, Tràng không nhận ra vì thị khác quá, trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn hai con mắt Khi nhận ra rồi, trong lời đáp “ăn gì thì ăn, chả ăn giầu” Tràng sẵn sàng đãi thị bốn bát bánh đúc Trong bối cảnh mà người ta lo thân không xong, ai cũng đứng trên miệng vực thẳm của cái chết hành động mà Tràng đãi thị bốn bát bánh đúc chứng tỏ rằng Tràng là một người khá tốt bụng và cởi mở Chính sự tốt bụng và cởi mở của Tràng đã đem đến cho Tràng hạnh phúc, Tràng nói đùa với thị “Này … rồi cùng về”, nhưng thị đã theo Tràng về thật Khi quyết định “đèo bòng” Tràng cảm thấy “chợn” nhưng

“chậc kệ”

* Niềm hạnh phúc khi có vợ :

– Tràng khi đưa vợ về qua xóm ngụ cư : tâm trạng của anh hôm nay phớn phở, cười tủm tỉm, hai con mắt thì sáng lên lấp lánh, trước ánh mắt nhìn đầy tò mò và ngạc nhiên của người dân trong xóm, trước những lời xì xào bàn tán của người dân trong xóm, Tràng rất hãnh diện, rất đắc ý, mặt cứ vênh lên như thể chứng tỏ với mọi người- Tràng đã có vợ

– Tràng khi đưa vợ về đến nhà : Hành động: xăm xăm nhấc tấm phên rách ra và câu nói “Không có người đàn bà nhà cửa ra thế đấy” ta hiểu rằng có vợ rồi người đàn ông ăn nói cục cằn kia bỗng văn hóa hẳn lên Ánh mắt của anh đã để ý đến cô

vợ nhặt và thắc mắc với lòng mình “Quái, sao nó lại buồn thế nhỉ?” Tràng sốt ruột mong ngóng mẹ về để còn ra mắt cô vợ nhặt.Khi mẹ về, sau lời giới thiệu, Tràng cũng hồi hộp, lo lắng đợi chờ câu trả lời của mẹ, và chỉ khi người mẹ nói “Các con

Trang 9

phải duyên phải kiếp với nhau u cũng mừng lòng” Tràng mới thở đánh phào một cái

Có thể nói, Kim Lân đã rất chú ý miêu tả diễn biến tâm trạng của Tràng từ khi có

vợ Có rất nhiều lần Kim Lân nhắc đến nụ cười của Tràng để nhấn mạnh đến niềm khát khao hạnh phúc, khát khao mái ấm gia đình để thách thức với cái đói đang tung lưới bủa vây

– Tràng trong buổi sáng ngày hôm sau :

+ Tràng thấy mình như bước ra từ một giấc mơ, trong người “êm ái lửng lơ”

+ Trước mặt anh mọi thứ đều thay đổi: nhà cửa sân vườn hôm nay đều được quét tước sạch sẽ; mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt ở góc nhà đã thấy đem ra sân hong; hai cái ang nước vẫn để khô cong duới gốc cây ổi giờ đã kín nước đầy

ăm ắp Rõ ràng những cảnh tượng rất đỗi bình thường ấy cũng đã làm cho anh cảm động, hạnh phúc với anh thật giản dị

+ Từ buổi sáng đó, anh mới thấy mình nên người Anh nghĩ đến tương lai, đến sự sinh sôi nảy nở của hạnh phúc để rồi vui sướng, phấn chấn tràn ngập trong lòng + Và người vợ nhặt của Tràng hôm nay cũng khác lắm – đó là một người đàn bà hiền hậu, đúng mực, không có vẻ gì chao chát, chỏng lỏn nữa

+ Tràng thấy “thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng Hắn đã có một gia đình Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng Một nguồn vui sướng, phấn chấn tràn ngập trong lòng Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này” Nguồn vui ấy như tia nắng, như ánh bình minh đem sinh khí đến cho cuộc sống vốn đang ngập tràn sự chết chóc của cái đói tung lưới bủa vây

+ Và trong bữa cơm đầu tiên, bữa cơm của 3 con người đang khốn khổ vì cái đói, tràn ngập sự đầm ấm, hoà hợp

– Hình ảnh khép lại tác phẩm trong óc Tràng là hình ảnh lá cờ đỏ và đoàn người đói đi trên đê Sộp, gợi cho người đọc nghĩ về Việt Minh, về Cách mạng tháng Tám

vĩ đại, về sự vùng dậy của những người dân khốn khổ, đập tan xiềng xích, giành lại cơm áo, giành lại sự sống cho bản thân, giành lại độc lập tự do cho dân tộc Vì thế, kết thúc của tác phẩm đã gieo vào lòng người đọc một niềm tin mãnh liệt, gieo một hạt giống hi vọng mãnh liệt vào tâm hồn Tràng, gia đình anh và tất cả bạn đọc chúng ta

5.2 Thị (người “vợ nhặt”)

– Cũng giống như Tràng, khung cảnh Kim Lân để cho nhân vật này xuất hiện là một không gian tối sầm vì đói khát Cũng giống như bao người khác, thị ngồi vêu cùng với mấy chị em gái nơi cửa nhà kho Chị không có tên, không tuổi tác, không cha mẹ, không gia đình… môt con số không tròn trĩnh đang bao trùm lên lá số tử

vi của chị Cái đói đã cướp đi của thị tất cả

– Khi chưa theo Tràng về làm vợ cái đói đã để lại “dấu tích” ghê gớm trên dáng hình và tính cách của chị:

Trang 10

+ Lần gặp thứ nhất: có vẻ táo tợn, ăn nói mạnh mẽ “Có khối cơm trắng mấy giò mà

ăn đấy! “Này nhà tôi ơi! Nói thật hay nói khoác đấy”

+ Lần gặp thứ 2: chân dung của thị khiến Tràng không nhận ra, gầy (dẫn chứng)… Thị cong cớn trong lời nói, vô duyên trong hành động “sà xuống đánh… cắm đầu

ăn một chặp bốn bát bánh đúc… ăn xong cầm đôi đũa quệt ngang miệng, thở: Hà ngon! Về chị thấy hụt tiền thì bỏ bố” Tuy nhiên, ẩn đằng những lời nói và hành động ấy là khát vọng về hạnh phúc và sự sống

– Kim Lân không có ý chê bai người vợ nhặt kia, dù thực tế cũng có những người phụ nữ không đẹp Điều mà nhà văn muốn nhấn mạnh ở đây là: sức hủy hoại

khủng khiếp của cái đói đối với hình hài và tính cách của con người Vì đói mà thị

cố tạo ra cái vẻ cong cớn, chao chát, chỏng lỏn như là để thách thức với số phận

Vì đói mà thị quên đi cả sĩ diện của mình, quên đi cả lòng tự trọng theo không một người đàn ông về làm vợ trong khi chẳng biết tí gì về anh ta Vì đói mà thị đánh liều nhắm mắt đưa chân, đánh liều với hạnh phúc cả đời mình Thị thật đáng

thương Nhưng đằng sau sự liều lĩnh ấy của thị, người đọc hiểu rằng, thị là người

có ý thức bám lấy sự sống mãnh liệt

– Miêu tả nhân vật thị, Kim Lân không chú trọng nhiều đến diễn biến tâm trạng bên trong mà Kim Lân chú ý nhiều đến hành động:

+ Thị bước sau Tràng chừng 3-4 bước, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che đi nửa mặt, mặt cúi xuống, chân nọ bước díu cả vào chân kia Thị đã ý thức được về bản thân, cái dáng cúi mặt kia phải chăng đó là sự tủi phận

+ Về đến nhà, trông nếp nhà rẹo rọ của Tràng, thị nén tiếng thở dài, tiếng thở dài chấp nhận bước vào cuộc đời của Tràng

+ Hành động khép nép, tay vân vê tà áo khi đứng trước mặt bà cụ Tứ, thị thật đáng thương

– Tuy nhiên, ở sâu thẳm bên trong con người này vẫn có một niềm khát khao mái

ấm gia đình thực sự Thị đã trở thành một con người hoàn toàn khác khi là một người vợ trong gia đình Hạnh phúc đã làm cho thị thay đổi từ một người phụ nữ cong cớn, đanh đá bỗng trở thành một người đàn bà hiền hậu đúng mực, mái ấm gia đình đã đủ sức mạnh làm thay đổi một con người

– Hình tượng chị vợ nhặt thể hiện rất rõ tư tưởng nhân đạo của Kim Lân

+ Một mặt nhà văn đã lên án tội ác dã man của phát xít Nhật và TDP Nạn đói do chúng gây ra đã cướp đi mọi giá trị của con người, và biến người con gái như một thứ đồ rẻ rúng có thể nhặt được

+ Mặt khác vợ Tràng đã nói lên một sự thật ở đời đó là trong đói khổ, hoạn nạn, kề bên cái chết nhưng con người vẫn khát khao được sống, vẫn sống ngay khi cả cuộc đời không thể chịu được nữa Những con người nghèo khổ vẫn thương yêu đùm bọc, và cùng nhau vun đắp hạnh phúc để vượt qua những thử thách khắc nghiệt 5.3 Bà cụ Tứ :

– Nhà văn Kim Lân tâm sự: “ Phần gây xúc động lớn nhất cho tôi khi đọc lại

Ngày đăng: 25/03/2020, 16:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w