Sáng kiến về phương pháp giảng dạy, tiếp nhận thơ Hai Cư. Tập hợp những nghiên cứu tâm huyết của người viết trong quá trình giảng dạy thơ Hai Cư. Giáo viên, học sinh sẽ được cung cấp kiến thức chi tiết , các phương pháp tiếp nhận hiệu quả với những lời bình giàu chất thơ về thể loại thi ca độc đáo bậc nhất của thế giới.
Trang 1bổ sung các tác giả và tác phẩm mới Do đó việc nghiên cứu, xác định mộtphương pháp dạy học tích cực hiệu quả luôn là nhu cầu và đòi hỏi tất yếu choquá trình dạy – học Việc xây dựng đề tài về phương pháp giảng dạy thơ Hai –
Cư cũng nhằm hưởng ứng tinh thần đổi mới đó
Nếu thử làm một phép so sánh giữa hai thành tựu thi ca tiêu biểu của ChâuÁ: Hai – Cư và Đường thi thì sẽ thấy một điều vô cùng đặc biệt Đó là nếuĐường thi có ảnh hưởng sâu rộng đến văn hoá, văn học các nước Châu Á thì Hai– Cư lại có được sự ngưỡng mộ và ảnh hưởng đặc biệt ở các nước phương Tây
Ở một số quốc gia Châu Âu ( Pháp, Đức…), Hai – Cư đã được giảng dạy, họctập trong các trường trung học Các thi sĩ nổi tiếng R.M.Ri – cơ (Đức), P Ê – Lu– a (Pháp), Ốc – ta – vi – ô Pat (Bỉ) cũng đã tiếp nhận và học tập phương thứcsáng tạo đặc biệt của thể loại bằng những bài Hai – cư của chính mình Nhữngbiểu hiện đó đã chứng tỏ đây là một thành tựu nghệ thuật có tầm nhân loại, có vịtrí lớn lao
Trong chương trình ngữ văn 10, Hai – cư là tác phẩm mới, lần đầu tiên đượcđưa vào giảng dạy Ở ban cơ bản thuộc chương trình đọc thêm, ở ban nâng caothuộc chương trình chính Việc học tập và giảng dạy thơ Hai – cư có ý nghĩaquan trọng trong việc trang bị cho học sinh tri thức cơ bản về những thành tựuquan trọng của thi ca nhân loại, đặc biệt là về nền văn học của một đất nước cónhiều tương đồng văn hoá với ta
1.2.2 Thực tiễn giảng dạy và tiếp nhận thơ Hai – cư của giáo viên và học sinh trong trường trung học
Quá trình dạy và học thơ Hai – cư còn rất nhiều trở ngại, đặc biệt là trongcách tiếp nhận của học sinh Đại đa số các em chưa thấy được cái hay, cái đẹp vàtầm quan trọng của các tác phẩm; hoặc nếu ý thức được vị trí của tác phẩm thìvẫn có cái nhìn e dè, ngần ngại không chủ động, tích cực chiếm lĩnh các bài thơ.Bản thân người dạy vì vậy đôi khi cũng không tránh khỏi những khó khăn vàlúng túng
Thực trạng đó trước hết bắt nguồn từ tính chất đặc biệt hàm súc, ngắn gọn và
tư duy nghệ thuật độc đáo của thơ Hai – cư Tính chất đó làm nên giá trị đồng
Trang 2thời cũng là một thách thức người học, người dạy Trong khi đó có thể nói với đa
số nhà giáo và cả giới nghiên cứu văn học ở Việt Nam, thơ Hai – Cư lại là mộtđối tượng còn nhiều xa lạ Vì vậy tìm ra một phương pháp dạy – học đúng đắnphù hợp là một yêu cầu vô cùng quan trọng
1.3.Về tính cấp thiết
Thực tiến dạy và học thơ Hai – Cư đã cho thấy tìm ra một phương pháp đúngđắn trong quá trình học tập đang là một yêu cầu cấp thiết nhằm giúp học sinhlĩnh hội được những giá trị văn hoá đặc sắc của nhân loại đồng thời tháo gỡnhững khó khăn trong quá trình dạy – học văn
1.4.Về năng lực nghiên cứu của tác giả
Từ những kiến thức có được trong quá trình học tập và thực tế giảng dạy,người viết nhận thấy đây là một đề tài nằm trong khả năng và có thể thực hiệntốt Bên cạnh đó, đề tài còn được thực hiện dưới một động lực nữa là sự yêuthích của bản thân người viết với thể loại Hai – cư
Đó là những lí do chính thúc đẩy người viết thực hiện đề tài này
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Tìm ra một phương pháp thích hợp, hiệu quả trong quá trình dạy – học thơ Hai– Cư nhằm tháo gỡ những khó khăn đồng thời nâng cao chất lượng giờ dạy –học
- Giúp học sinh ý thức được tầm quan trọng của tác phẩm và chủ động, tích cựctrong quá trình đọc – hiểu
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Các tác phẩm và phương pháp dạy thơ Hai – Cư
4 ĐỐI TƯỢNG KHẢO SÁT, THỰC NGHIỆM
Đề tài được nghiên cứu và thử nghiệm chủ yếu trên các tác phẩm thơ Hai –
cư trong chương trình ngữ văn 10 (cơ bản và nâng cao) Đối tượng đối chiếu vàthử nghiệm là các học sinh lớp 10
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp thống kê, tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
6 PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
- Quá trình nghiên cứu và thử nghiệm diễn ra trong vòng 5 năm học:
+ Bắt đầu từ năm học 2006 – 2007
+ Kết thúc vào năm học 2010 – 2011
- Trong đó đối tượng đối chứng là học sinh các lớp: 10A2, 10A6 (năm học 2006
- 2007), đối tượng thử nghiệm là học sinh các lớp 10A9 (năm học 2006 - 2007),
10 A7 (2007 - 2008), 10 Anh (2010 - 2011) Người viết cũng sẽ bổ sung và tiếptục phát triển đề tài trong nhiều năm tới
7 KHẢO SÁT TRƯỚC KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
- Ở các lớp thuộc chương trình cơ bản
Học sinh phần lớn thấy thơ Hai – Cư rất lạ lùng, và khó chấp nhận đượcđánh giá là hay, là có giá trị
- Ở các lớp thuộc chương trình nâng cao
Học sinh ý thức được những giá trị của tác phẩm nhưng chưa thật sự nắmđược những điểm cốt lõi làm nên điểm độc đáo riêng biệt của Hai – Cư Một số
Trang 3em có yêu thích, muốn tìm hiểu thơ Hai – Cư nhưng rất bối rối khi phân tích tácphẩm và đều cho rằng thơ Hai – Cư khó hiểu.
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH ĐỌC
– HIỂU THƠ HAI – CƯ
1 PHƯƠNG PHÁP ÁP DỤNG ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI VÀO QUÁ TRÌNH ĐỌC – HIỂU
1.1 Lí luận chung về phương pháp áp dụng đặc trưng thể loại vào quá trình đọc – hiểu
Áp dụng đặc trưng thể loại vào quá trình đọc – hiểu là căn cứ vào những
đặc điểm thể loại bao trùm của tác phẩm, hướng dẫn học sinh tìm ra những biểuhiện cụ thể, từ đó có những đánh giá chính xác, khoa học về nội dung cũng nhưnghệ thuật của tác phẩm văn chương
Phương pháp này xuất phát từ đặc điểm thể loại của văn học Mỗi tácphẩm đều thuộc một thể loại nhất định Trong mỗi thể loại có những đặc điểm vềnội dung hiện thực (đề tài, cảm hứng, cách nhìn thế giới…) và hình thức phảnánh riêng Đặc điểm đó qui định phương pháp cảm nhận của người đọc và cũng
từ đó qui định phương pháp dạy – học từng thể loại tác phẩm văn chương
Ngoài những đặc điểm khái quát của thơ, cũng như Đường thi, Hai –Cư làmột dạng tiểu loại có những qui định nghệ thuật riêng làm thành hiện tượng thi
ca độc đáo Qui định đó đòi hỏi người đọc phải có một cách cảm nhận phù hợpbắt nguồn từ những đặc trưng nghệ thuật của Hai – Cư
Áp dụng đặc trưng thể loại vào quá trình đọc – hiểu sẽ giúp học sinh cónhững đánh giá đúng đắn, khoa học về cái hay, cái đẹp của mỗi bài Hai – Cư.Phương pháp đó cũng sẽ góp phần hình thành ở các em kĩ năng, thao tác khoahọc khi đọc – hiểu tác phẩm văn học bằng cách áp dụng kiến thức khái quát vềthể loại
1.2 Áp dụng vào việc đọc – hiểu thơ Hai – Cư
Phương pháp áp dụng đặc trưng thể loại vào quá trình giảng dạy thơ Hai –
Cư được cụ thể hoá thành những hoạt động sau:
1.2.1 Trang bị cho học sinh những tri thức khái quát về thơ Hai – Cư
Hoạt động trang bi tri thức khái quát nhằm giúp học sinh nắm được nhữngđặc trưng cơ bản về nội dung cũng như nghệ thuật của thể loại, đem đến cho các
em những hiểu biết ban đầu về thơ Hai – Cư nhằm giảm bớt những ngỡ ngàngkhi tiếp xúc với các tác phẩm có phần mới lạ và độc đáo Mặt khác từ những đặctrưng chung đó học sinh sẽ có sự soi chiếu, ứng dụng vào quá trình tìm hiểu tácphẩm cụ thể
Tuỳ vào thời gian giáo viên có thể giới thiệu ngắn gọn những tri thức thể loại của thơ Hai – Cư đồng thời nhấn mạnh điểm quan trọng, đặc biệt là những phương diện sẽ biểu hiện trong tác phẩm mà các em sẽ học.
Sau đây là những đặc trưng nghệ thuật của thơ Hai – Cư:
Xét về dung lượng: một bài thơ Hai – Cư bao gồm 17 âm tiết Như vậy
Hai – Cư là thể thơ cách luật ngắn nhất thế giới Nếu coi thơ tứ tuyệt của Trung
Quốc là cô đọng thì thơ Hai – Cư đặc biệt cô đọng
Trang 5Về bố cục: một bài Hai – Cư phiên âm ra tiếng La Tinh ngắt làm ba dòng :
5/7/5 Trong đó dòng thứ nhất có vai trò giới thiệu ý, dòng hai tiếp tục ý trên vàchuẩn bị cho dòng cuối Đặc biệt dòng cuối bài thơ bao giờ cũng mở để tạo dư
âm (theo kiểu “cam dư chi vị, huyền ngoại chi âm”- vị ngon sau khi ăn, tiếng
ngân ngoài dây đàn)
Chủ đề: Hai – Cư gắn liền với bốn mùa Thời gian trong bài được xác
định qua qui tắc quí ngữ (ki – go: từ chỉ mùa) Một bài Hai – Cư bắt buộc phải
có quí ngữ Các tập thơ Hai – Cư thường được sắp xếp theo mùa Có quí ngữtrực tiếp (mùa thu, mùa hè, sương thu, trăng thu, mưa đông…) cũng có quí ngữgián tiếp – thông qua những hình ảnh thiên nhiên hay hoạt động đồng áng, nghi
lễ tôn giáo mang đặc trưng mùa (hoa đào, tiếng ve, hoa sen, chim đỗ quyên,chim nhạn, tuyết, cánh đồng hoang vu…) Việc sử dụng quí ngữ là dấu hiệu chobiết bài thơ đang làm trong mùa nào Điều này cho thấy Hai – Cư bao giờ cũngnói về cảnh vật trước mắt, nó là thơ của thời hiện tại đồng thời biểu hiện sự gắn
bó sâu sắc của người Nhật với thiên nhiên
Về thiên nhiên và triết lí về thiên nhiên:
Thiên nhiên trong thơ Hai – Cư bao giờ cũng là những vật bình dị, nhỏ bé,tầm thường và dễ bị lãng quên: một cánh chim quyên, một làn tóc rối, một conếch, hay một đoá hoa nở muộn màng bên bờ dậu thưa… Nhưng đằng sau cáibình dị ấy lại là một quan hệ phổ quát của vũ trụ, nhân sinh Bởi thế dẫu nhữngcái bình dị đi vào thơ Hai – Cư ta cũng thấy lớn lao, huyền diệu
Trong cách nhìn thế giới, thơ Hai – Cư thấm đẫm tinh thần Thiền Tông vàvăn hóa phương Đông Thơ Hai – Cư thường thể hiện con người và vạn vật nằmtrong mối quan hệ nhất thể hoá
Về cảm thức thẩm mĩ (quan niệm về cái đẹp): thơ Hai- Cư thường đề cao
cái vắng lặng, đơn sơ, u huyền, tịch lặng, cổ xưa… qui tắc thẫm mĩ đặc biệt thểhiện ở chất Sa – bi
Với lượng ngôn từ ít ỏi, Hai – Cư sử dụng thủ pháp tượng trưng như là
phương thức phản ánh chính của mình Ngôn ngữ thơ vì thế rất coi trọng sựkiệm lời, có tính khơi gợi, đa nghĩa
Trong những đặc điểm trên, giáo viên cần nhấn mạnh đặc điểm về thời gian, thiên nhiên, cảm thức thẩm mĩ và phương pháp tượng trưng Vì đây là
những đặc điểm được biểu hiện rát rõ trong các tác phẩm Hai – Cư mà các em sẽhọc
1.2.2 Xác định hoàn cảnh ra đời bài thơ
Hoàn cảnh ra đời là những bối cảnh hiện thực (ở thế giới bên ngoài haytrong tâm trạng) đã tác động, thúc đẩy tác giả sáng tạo nên tác phẩm
Hoạt động xác định hoàn cảnh ra đời khi phân tích văn học xuất phát từmối quan hệ giữa tác phẩm và hoàn cảnh Thực tế nghiên cứu, lí luận phê bìnhvăn học cho thấy hoàn cảnh sáng tác là cơ sở hình thành đề tài, cảm hứng vànhững yếu tố nghệ thụât quan trọng của một tác phẩm văn chương Vì vậy tìmhiểu hoàn cảnh ra đời là một bước quan trọng để lí giải những biểu hiện nghệthuật cũng như nội dung liên quan đến tác phẩm
Mặt khác, căn cứ vào đặc điểm thơ Hai – Cư ta thấy: Hai – Cư là thơ của
thời hiện tại Mỗi một bài Hai – Cư đều được khơi nguồn từ một sự việc cụ thể,
Trang 6một thực tại đang diễn ra trước mắt nhà thơ Nhà thơ đã nắm bắt và lưu giữ ngaythực tại đó vào trong thế giới ngôn từ ngắn gọn Đó là hoàn cảnh và cũng là cộinguồn của những hình ảnh, suy tưởng đơn giản mà sâu thẳm trong bài thơ.
Vì vậy, chỉ ra hoàn cảnh và điển tích làm nền khi tìm hiểu thơ Hai – Cư
sẽ giúp học sinh cắt nghĩa xuất xứ của những hình ảnh có vẻ bề ngoài tưởng chừng đơn giản nhưng thực ra rất lửng lơ và đa nghĩa; xâu chuỗi, kết nối những cảm xúc từ đời thực của tác giả với những suy tưởng sâu thẳm biểu hiện qua những hình ảnh trong bài thơ Từ đó có thể cắt nghĩa cảm xúc của tác gỉa, tạo
sự đồng cảm sâu sắc.
Để thực hiện hoạt động này, giáo viên có tiến hành qua hai bước:
- Giới thiệu hoặc cho học sinh trình bày về hoàn cảnh ra đời của từng tác phẩmnhằm khắc sâu ấn tượng trong tâm trí học sinh
- Hướng dẫn các em tìm ra mối liên hệ giữa hoàn cảnh với những biểu tượng,suy tưởng trong tác phẩm
Ví dụ: Khi giảng dạy những bài thơ của Matsuo Ba – Sô, trong chương trình cơ bản:
Bài 1, 2:
Đất khách mười mùa sương
về thăm quê ngoảnh lại
Ở bài 1: Đó là sự việc về thăm quê của Ba – Sô sau nhiều năm xa Quê Ba
– Sô ở Mi – Ê, ông lên Ê – đô được 10 năm mới về thăm lại Nhưng đi rồi lạithấy Ê- đô thân thiết như quê hương mình
Ở bài 2: Hoàn cảnh ra đời gắn liền với mối quan hệ giữa cuộc đời Ba – Sô
và kinh đô Ba – Sô ở kinh đô Ki – ô – tô từ thời trẻ (từ năm 22 đến năm 28 tuổi)
để học thơ cổ điển, thư pháp sau đó lên Ê – đô Hai mươi năm sau, cuối đời ôngtrở lại Ki – ô – tô, nghe tiếng chim đỗ quyên hót mà viết nên bài thơ này
Như vậy, sự chuyển đổi chỗ trong cuộc đời Ba – Sô chính là cội nguồncủa những hình ảnh cụ thể trong bài thơ Học sinh sẽ hiểu tại sao các hình ảnh
“đất khách”, “mười mùa sương”, “chim đỗ quyên” lại xuất hiện trong tác
phẩm; sẽ cắt nghĩa được ý nghĩa của chúng; đặt chúng trong mối quan hệ vớicuộc đời tác giả từ đó thấu hiểu những suy tưởng, biến đổi tâm lí lạ lùng mà tất
yếu: “Ê – đô là cố hương”, “ở kinh đô mà nhớ kinh đô”.
Bài 3:
Lệ trào nóng hổi tan trên tay tóc mẹ làn sương thu.
Trang 7Bài thơ được viết năm tác giả 48 tuổi, khi Ba – Sô về thăm nhà.Vừa vềđến nơi thì hay tin mẹ mất Người anh đưa ra di vật còn lại của người mẹ là một
mớ tóc bạc Ba – Sô đau đớn mà viết nên bài thơ này Như vậy có thể thấy hình
ảnh “lệ trào nóng hổi, “mái tóc mẹ”, “làn sương thu” đều xuất phát từ những
điều rất thật Qua hoàn cảnh đó, học sinh sẽ thấu hiểu, đồng cảm được với nỗixúc động, đau đớn của nhà thơ
Bài 4,5:
Tiếng vượn hú não nề hay tiếng trẻ con khóc gió mùa thu tái tê.
Mưa đông giăng đầy trời chú khỉ con thầm ước
có một chiếc áo tơi.
Hai bài thơ đều được viết từ những sự kiện Ba – Sô chứng kiến trong cuộc
lữ hành về phương Bắc Đấy là khi đi ngang qua những cánh rừng ông nghe
tiếng vượn hú não nề và trông thấy một chú khỉ nhỏ run rẩy, rét mướt giữa mưagió mùa đông Hình ảnh tiếng vượn hú hay chú khỉ co ro trong mưa đều lànhững hình ảnh rất thực xuất phát từ những điều tác giả mắt thấy, tai nghe
Đặc biệt, cần hướng dẫn học sinh lưu ý đến một hoàn cảnh lớn của xã hội: hiện thực phũ phàng trong đời sống của nông dân Nhật Bản thời Mạc Phủ
(đói rét, người nông dân đôi khi không nuôi nổi con phải đem bỉ vào rừng) Hiệnthực đó chính là cơ sở cho những liên tưởng, cảm xúc cuả tác giả: liên tưởnggiữa tiếng vượn hú với tiếng trẻ con khóc, giữa hình ảnh chú khỉ co ro trongmưa lạnh với những người nông dân Từ đó, học sinh sẽ hiểu được ý nghĩa củanhững liên tưởng lạ lùng đầy ám ảnh của bài thơ
Bài 8:
Nằm mộng giữa cuộc lãng du mộng hồn còn phiêu bạt những cánh đồng hoang vu.
Khi khai thác hoàn cảnh ra đời của bài thơ cần chú ý tới hai điều:
Thứ nhất: Bài thơ viết năm 1694 ở Ô – sa – ka khi Ba – Sô lâm bệnh nặng giữa
cuộc hành trình về phương Nam Trước đó Ba – Sô đã thấy mình yếu lắm rồi,như cánh chim sắp bay khuất vào mây trời:
Mùa thu năm nay sao mình già nhanh thế cánh chim khuất chân mây.
Có thể xem đây là bài thơ từ thế của ông
Thứ hai: Lưu ý học sinh tới đặc điểm cuộc đời Ba – Sô, cuộc đời của một lữ
nhân với những năm tháng lang thang, phiêu bồng để kiếm tìm cái đẹp
Từ hoàn cảnh đó, học sinh sẽ hiểu được ý nghĩa các hình ảnh “nằm bệnh
giữa cuộc lãng du” đồng thời hiểu được vẻ đẹp trong tâm hồn tác giả khi so
sánh giữa hoàn cảnh thực tại đau ốm và niềm mơ ước được tiếp tục du ngoạntrên những cánh đồng trải rộng của nhà thơ
Trang 8Như vậy, tìm hiểu hoàn cảnh ra đời của một bài Hai – Cư là biện pháp
đơn giản nhưng sẽ là con đường nhanh nhất giúp học sinh nắm bắt, giải mã lớpnghĩa ban đầu của tác phẩm Giúp các em định hướng ý nghĩa và cảm xúc từ đótạo cơ sở cho việc phát triển, khái quát những lớp nghĩa sâu hơn
1.2.3 Khai thác ý nghĩa các hình ảnh thính giác, thị giác của bài thơ Hình ảnh thính giác, thị giác thực chất là những khoảnh khắc của hiện
thực được tái hiện trong tác phẩm qua sự cảm nhận của nhà thơ Đó có thể làmột yếu tố tác động vào thị giác (màu sắc, đường nét), hoặc một yếu tố tác độngvào thính giác (âm thanh)
Hoạt động khai thác các lớp ý nghĩa của các hình ảnh thính giác, thị giác xuất phát từ một đặc trưng nghệ thuật của Hai – Cư đó là: tượng trưng Do
dung lượng ngắn thơ Hai – Cư không nói nhiều, không miêu tả hết sự vật, phongcảnh mà luôn lựa chọn một nét đặc sắc nhất của sự vật để biểu hiện toàn thể Nétđặc sắc (cũng chính là toàn bộ hiện thực, vũ trụ và suy tưởng sâu rộng) thườnggói gọn trong một hình ảnh, một âm thanh Ngôn ngữ của thơ Hai – Cư là :kiệm lời, có tính khơi gợi, đa nghĩa, Vì vậy tìm hiểu thơ Hai – Cư, cần hướngdẫn học sinh tìm ra những sắc thái ý nghĩa ẩn trong những hình ảnh tưởng chừnggiản dị đó Đó cũng chính là biện pháp giúp học sinh rút ra được những suytưởng của tác giả, các quan hệ phổ quát về vũ trụ, nhân sinh Từ đó giúp họcsinh thấy được tính cô đọng, hàm súc, vừa đơn sơ, giản dị lại vừa sâu thẳm củaHai – Cư
Để thực hiện tốt quá trình khai thác các hình ảnh thính giác, thị giác, cầncho học sinh:
- Phát hiện các hình ảnh nổi bật trong bài
- Hướng dẫn học sinh nhận xét về sắc thái ý nghĩa của những hình ảnh đótheo trình tự: từ ý nghĩa thực đến ý nghĩa tượng trưng Từ đó khái quát lạigiá trị biểu hiện chung:
Ví dụ: Đọc – hiểu thơ Hai – Cư của Ba – Sô
Bài 1 (Chương trình nâng cao):
Trên cành khô chim quạ đậu chiều thu
Giáo viên cho học sinh tìm hiểu sắc thái ý nghĩa của các hình ảnh thị giác:
- Cành khô:
+ Ý nghĩa thực: trơ trụi không lá, không chồi xanh tươi
+ Ý nghĩa tượng trưng: gợi cảm giác về sự héo úa, tàn phai rơi rụng, nơi sự sốngđang bị vắt kiệt đến tận cùng Hình ảnh đó dự báo một mùa đông xơ xác, điêutàn, trống trải đang đến gần
- Chim quạ:
+ Ý nghĩa thực: Gây ấn tượng bởi hình dáng, tư thế cô độc, im lìm đậu trên cànhcây khô
+ Ý nghĩa tượng trưng: Chim quạ có ý nghĩa tượng trưng cho cái chết, khắc sâu
ấn tượng tang tóc, u buồn, vắng lặng và cô đơn
Trang 9Như vậy, hai hình ảnh thị giác là hai biểu tượng như hai khúc hát bè đôi
đã tái hiện một chiều thu đơn sơ mà sâu thăm, cô tịch và tàn úa Qua đó thấyđược tâm trạng cô đơn, hiu quạnh của nhà thơ
Bài 2 (Chương trình nâng cao):
Cây chuối trong gió thu tiếng mưa tí tách vào chậu
ta nghe tiếng mưa
Cần khai thác ý nghĩa các hình ảnh:
- Cây chuối (hình ảnh thị giác): loại chuối thân nhỏ, mềm mại, dễ úa tàn.
+ Quan niệm của Phật giáo: coi cây chuối là biểu tượng của sự mỏng manh
không ổn định của vạn vật và cho rằng “mọi cấu tạo tinh thần chẳng khác nào
cây chuối”.
+ Vị trí hình ảnh cây chuối trong tâm hồn Ba – Sô: Ba – Sô dành cho cây chuốimột tình yêu đặc biệt Ông thích được ngồi dưới gốc cây và lắng nghe âm thanhcủa gió của mưa văng trên tàu lá Ông bị những tàu lá dài, rộng quyến rũ Với
ông tàu lá đó “đủ lớn để che cho một ẩn sĩ” Trong cơn gió, tàu lá rách tướp gợi
cho ông nghĩ đến cái đuôi phượng hoàng trong huyền thoại hoặc một chiếc quạtxanh tả tơi vì gió Với Ba – Sô cây chuối tượng trưng cho sự trong sáng và tínhnhạy cảm
+ Trong bài thi nhân chọn cây chuối để ví thân phận mình cũng từng bị cuộcsống xô đẩy tả tơi chẳng khác nào thân phận cây chuối bị mưa gió xô đẩy tả tơi,lay lắt trong đêm thu này
- Tiếng gió thu (hình ảnh thính giác): đây là tiếng gió xô tàu lá Âm thanh đó
gợi cảm giác lạnh lùng, rét mướt
- Tiếng mưa (hình ảnh thính giác): tiếng rơi tí tách từ tàu lá vào chậu gợi cảm
giác não nuột trong đêm
- Tiếng đêm (hình ảnh thính giác): bài thơ thật ra không có tiếng đêm chỉ có
tiếng tạo vật trong đêm Hay nói đúng hơn tiếng đêm đã được cụ thể hoá quatiếng gió thu, tiếng mưa
Như vậy qua các hình ảnh và âm thanh đó, học sinh cảm nhận được mộtđêm thu lạnh lùng, hiu hắt Đằng sau tính chất đêm thu chính là tâm trạng côđơn, lạnh lẽo, u buồn của Ba – Sô Giữa tâm hồn tác giả và hình ảnh đêm thu có
sự hoà điệu sâu sắc Bài thơ là tiếng thu trong tâm hồn cô đơn
Bài 2 ( chương trình cơ bản):
Chim đỗ quyên hót
ở kinh đô
mà nhớ kinh đô.
Trong bài thơ có những hình ảnh cần khai thác: chim đỗ quyên, kinh đô
- Chim đỗ quyên : Đây là hình ảnh vừa tác động đến thị giác vừa tác động đến
thính giác của người đọc Khai thác hình ảnh chim đỗ quyên cần làm rõ các ýnghĩa:
+ Tên gọi khác: chim quyên, chim đỗ vũ, chim tử qui…
+ Trong văn học Trung Quốc, chim đỗ vũ với điển tích vua Thục mất nước.Trong văn học Việt Nam ngoài ý nghĩa dùng để chỉ nỗi nhớ quê hương (thơ Bà
Trang 10Huyện Thanh Quan, Nguyễn Khuyến), chim cuốc chủ yếu dùng để chỉ thời gianchuyển từ xuân sang hè.
+ Ở Nhật Bản: Đỗ quyên được gọi là “hô – tô – tô – ghi – su ”, là hình tượng
nổi bật trong thơ Hai – Cư và thơ Tan – Ka, thường dùng với ý nghĩa thương tiếcthời gian, đặc biệt thể hiện nỗi buồn và sự vô thường
+ Trong bài: tiếng chim đỗ quyên gợi về sự biến đổi đồng thời thể hiện nỗi nhớtiếc một kinh đô đầy kỉ niệm đã vĩnh viễn dời xa Tiếng đỗ quyên hót nối liềnquá khứ với hiện tại, đó cũng chính là tiếng lòng người vọng về quá khứ
- Kinh đô: là hình ảnh kép, biểu hiện một sự vật trong hai thời điểm khác nhau.
+ Ở dòng 1: Chỉ hình ảnh kinh đô trong hiện tại, một kinh đô đang hiện ra trongtầm nhìn của tác giả, cũng là một kinh đô đã có nhiều biến chuyển, đổi thay.+ Ở dòng 2: Chỉ kinh đô trong quá khứ, kinh đô đầy kỉ niệm chỉ còn tồn tạitrong niềm thương, nỗi nhớ của tác giả
Cả hai hình ảnh chim quyên và kinh đô đều thể hiện nỗi bùôn hoài cổ củatác giả, nỗi tiếc kỉ niệm trước những vô thường của thời gian
Bài 3 (chương trình nâng cao):
Hoa đào như áng mây xa chuông đền U – ê – nô vang vọng hay đền A – sa – cư – sa
Hướng dẫn học sinh tìm hiểu ý nghĩa các hình ảnh: hoa đào, tiếng chuông
- Hoa đào:
+ Ý nghĩa thực: Hoa đào còn gọi là hoa anh đào, loại hoa đặc sắc của Nhật Bản,thường nở rộ vào mùa xuân Hoa nhỏ, không hương, thường có màu hồng nhạt.Một cây đứng riêng rẽ thì không đẹp nhưng quần tụ lại từng hàng, từng hàng thìrất đẹp
+ Ý nghĩa tượng trưng: Anh đào tượng trưng cho sức sống dồi dào và tinh thầnhoà hợp, đoàn kết của người Nhật Bản Nó là biểu tượng cho tâm hồn và sinhhoạt văn hoá đầu xuân của người Nhật Bản
+ Hình ảnh so sánh “hoa đào như áng mây xa” vẽ ra cảnh tượng những khóm
hoa lơ lửng, bồng bềnh trước mắt Hoa mà ngỡ như mây, gần mà ngỡ như xa.Hình ảnh đó gợi cảm giác về một cái đẹp nhẹ nhàng, phảng phất, một sắc xuândịu dàng, mênh mang
- Tiếng chuông:
+ Chuông là biểu tượng của tiếng gọi thức tỉnh, ở đây là tiếng chuông ngân vang
từ các ngôi đền vào buổi chiều
+ Tiếng chuông lan ra trong không gian rộng lớn, không xác định cụ thể từhướng nào mang tới sắc thái bâng khuâng, mơ hồ đồng thời thể hiện tâm trạng
cô đơn, trống vắng của nhà thơ Nhà thơ như đang hoà mình vào không gianmênh mông, vô tận để cảm nhận mùa xuân
Như vậy, qua một hình ảnh thị giác (hoa đào) và một hình ảnh thính giác(âm thanh) học sinh sẽ cảm nhận được vẻ đẹp mùa xuân trong tâm hồn cô đơn
và trống vắng
Đọc – hiểu thơ Hai – Cư của Bu – Son
Bài 1:
Gần xa đâu đây
Trang 11nghe tiếng thác chảy
+ Theo từ điển tiếng Việt: “Thác” là “chỗ nước chảy qua vách đá cao nằm chắn
ngang lòng sông, suối” Thác là mô típ chủ chốt trong hội hoạ phong cảnh
Trung Hoa và Nhật Bản
+ Trong tự nhiên, thác luôn chuyển động, nước chảy từ trên vách núi cao trànxuống, nước len lỏi qua các phiến đá tràn ra sông, biển nên là biểu tượng cho sự
chuyển động liên tục, đối lập với sự tĩnh tại, “cho một thế giới mà các yếu tố
của nó thay đổi không ngừng trong khi các hình thức bên ngoài vẫn giữ nguyên” Thác cũng như cuộc sống đời người luôn biến động.
Trong bài, thác là biểu tượng cho sức sống, tiếng gọi của mùa xuân, thúcgiục ta hoà vào tiếng reo vui của dòng thác để cảm nhận mùa xuân bất tận Tiếngthác vừa gần, vừa xa thể hiện một sự vận động mơ hồ nhưng âm thầm, mãnhliệt
Hình ảnh dòng thác vừa gợi âm thanh, vừa gợi hình ảnh Người đọc nhưvừa phải lắng nghe vừa phải tập trung thị giác để hình dung dòng thác đangchảy, đang vận động chuyển mình
Như vậy bằg việc khai thác ý nghĩa của hai hình ảnh “dòng thác”, “lá
non” học sinh sẽ cảm nhận được hình ảnh mùa xuân hiển hiện trong bài thơ.
Một mùa xuân căng tràn sự sống, cây cối đâm chồi nảy lộc Mùa xuân đựơc cảmnhận bằng cả tâm hồn tươi trẻ của Bu – Son và dường như nhà thơ đang kêu gọicon người hãy hoà mình vào mùa xuân đó
Bài 2:
Dưới mưa xuân lất phất
áo tơi và ô cùng đi
Bài thơ là một ví dụ tiêu biểu cho phong cách nghệ thụât coi trọng sựkiệm lời của Bu – Son Ngôn từ trong bài ngắn gọn, có ý nghĩa khơi gọi, cáchình ảnh mang tính tượng trưng cao Tìm hiểu bài thơ cần chú ý tới hai hìnhảnh:
- Áo tơi: Áo làm bằng tranh hay bằng rạ, người đàn ông dùng để khoác lúc mưa,
trên đầu đội thêm nón hình rơm
- Ô: Vật dụng phụ nữ Nhật Bản thường dùng để che mưa, nắng.
“Áo tơi” trong bài lầ biểu tượng chỉ người con trai, “Ô” chỉ người con
gái Đôi tình nhân ngày đang sánh vau cùng bước đi trong mưa xuân Đó chính
Trang 12là bức tranh mùa xuân tình yêu, tuổi trẻ Bu – Son không tả người con trai,người con gái, chỉ dùng hai hình ảnh đơn giản để người đọc xét đoán ý nghĩa bàithơ Đó là một ví dụ tiêu biểu cho tính cô đọng, hàm súc và khả năng khơi gợicủa hình ảnh trong thơ Hai – Cư.
Bài 3:
Hoa xuân nở tràn bên lầu du nữ mua sắm đai lưng.
Học bài thơ này cần giải thích và khai thác các hình ảnh “hoa xuân”, “du
nữ”, “đai lưng” Đặc biệt những hình ảnh “du nữ”, “đai lưng” là những hình ảnh ít nhiều liên quan đến văn hoá Nhật Giải thích rõ ý nghĩa văn hoá của hình ảnh sẽ giúp học sinh phát hiện và nắm bắt nội dung tiềm ẩn của bài thơ.
- Hoa xuân: Ở đây là hoa đào, hoa mơ, hoa mận đua nở khắp nơi, gợi lên sức
sống dâng tràn của mùa xuân
- Du nữ: Chính là người kĩ nữ (gheisa) Ở đây du nữ chỉ những cô gái biết múa
hát, rót rượu, dâng trà, cắm hoa, tiếp khách, có khi làm gái làng chơi Những du
nữ thường sống ràng buộc trong những ngôi lầu sang trọng, ít được ra ngoài.Đây là đặc điểm quan trọng của hình ảnh vì nó liên quan đến các sự việc đượcmiêu tả ở câu sau
- Đai lưng: Khăn buộc quanh lưng, vật dụng quan trọng trong loại áo Ki – mô –
nô của người Nhật Ở đai lưng, tuỳ theo mùa mà dệt hoa lá: mùa xuân thườngthêu ảnh hoa mơ, hoa mận, mùa hè là những dòng suối, dòng sông, mùa thu làloại cây gỗ màu lá đỏ rực, mùa đông là cây thông
Xâu chuỗi tính chất của các hình ảnh ta sẽ thấy có điểm tương đồng đặc
biệt Hình ảnh hoa xuân có ở thiên nhiên và cả trên vật dụng con người (những
chiếc đai lưng) Đặc biệt ở hình ảnh những người du nữ thì hoàn cảnh sống bó
buộc của họ dường như đã hoàn toàn bị xoá nhoà ở câu cuối Các du nữ cũngmua sắm đai lưng và những chiếc đai lưng trên tay họ gợi lên cả một sức xuânlan tràn, sự hoà mình giữa con người và tự nhiên vượt qua mọi cách biệt khônggian Con người và thiên nhiên hoà hợp càng tô điểm cho mùa xuân thêm rực rỡ
Như vậy, khai thác ý nghĩa các hình ảnh thính giác và thị giác là bước cụthể hoá quá trình nắm bắt tác phẩm của học sinh sau những ấn tượng ban đầuđược gợi lên từ việc tìm hiểu hoàn cảnh ra đời của tác phẩm Đó là hoạt độngkhai thác các tầng ý nghĩa của hình tượng qua những hình ảnh giản đơn
1.2.4 Khai thác cách nhìn về thiên nhiên, thế giới và cảm thức thầm mĩ
trong thơ Hai – Cư
Triết lí về thiên nhiên là một đặc điểm quan trọng biểu hiện nét độc đáotrong cách nhìn thế giới của thơ Hai – Cư Nó cho thấy tính chất uyên thâm, sâuthẳm của thi phẩm ẩn đằng sau vẻ giản dị ngôn từ
Khai thác cách nhìn về thế giới, cảm thức thẩm mĩ khi giảng dạy Hai –
Cư là giúp học sinh tiếp cận tác phẩm ở góc độ cao hơn, trừu tượng hơn, nhằm phát hiện nét độc đáo trong tư duy nghệ thuật, cách nhìn thế giới, cảm thức thẩm mĩ của tác phẩm Đây là vấn đề khái quát tưởng chừng như khó nhưng lại
được thể hiện rất cụ thể và tinh tế trong từng bài thơ Chỉ cho học sinh thấy
được những vấn đề đó là quá trình đọc – hiểu sẽ đạt tới chiều sâu vì sự nắm bắt
Trang 13của học sinh không dừng ở sự cảm nhận nghệ thuật đơn thuần nữa mà đã nâng lên sự cảm nhận về quan niệm nhân sinh.
Hai – Cư thường đề cao cái vắng lặng, đơn sơ, u huyền, mềm mại, nhẹnhàng và đặt vạn vật trong mối quan hệ thống nhất Việc khai thác cách nhìn vềthiên nhiên cần tập trung chỉ rõ và làm nổi bật đặc điểm đó
Để quá trình hướng dẫn học sinh nắm bắt quan niệm về thế giới và cảmthức thẩm mĩ cũng cần đi từ những biểu hiện cụ thể đến khái quát Hoạt độngkhơi gợi để học sinh tự phát hiện có thể tiến hành bằng những thao tác sau:
- Cho học sinh xác định quí ngữ (từ chỉ mùa)
- Tìm các hình ảnh thiên nhiên
- Nhận xét về:
+ Tính chất của các hình ảnh Việc nhận xét về tính chất của các hình ảnh
sẽ giúp học sinh thấy được cảm thức thẩm mĩ trong thơ
+ Mối quan hệ giữa các hình ảnh thiên nhiên và mối quan hệ giữa thiênnhiên với con người Việc nhận xét về mối quan hệ này chính là hoạt động
để chỉ rõ cách nhìn về thế giới của Hai – Cư
Ví dụ:
Bài 7 (Chương trình cơ bản):
Từ bốn phương trời xa cánh hoa đào lả tả gợn sóng hồ Bi – Oa
Để chỉ cho học sinh thấy được cảm thức thẩm mĩ và quan niệm về thế giớitrong bài thơ, giáo viên yêu cầu học sinh:
- Xác định quí ngữ: hoa đào (đây là quí ngữ gián tiếp)
- Phát hiện và nhận xét về đặc điểm của các hình ảnh thiên nhiên:
+ Cánh hoa đào: màu hồng nhạt, mỏng manh rụng xuống mặt hồ
+ Mặt hồ: tĩnh lặng, êm đềm
Hai hình ảnh đẹp giản dị, gợi lên cảm thức nhẹ nhàng Như vậy, học sinh
sẽ rút ra được một đặc điểm về thiên nhiên: sự giản dị và một cảm thức thẩm mĩtiêu biểu là sự thanh thoát, nhẹ nhàng (ka – ru – mi ) trong thơ Hai – Cư
- Nhận xét về tác động của cánh hoa đến mặt hồ (mối quan hệ giữa các hình ảnhthiên nhiên): Cánh hoa đào mỏng manh tưởng sẽ không có tác động gì vậy màcũng làm mặt hồ xao động, nổi sóng Mối quan hệ đó thể hiện cái nhìn về thiênnhiên, vạn vật: thế giới không baô gồm những sự vật đơn lẻ mà tất cả đềuchuyển hoá, tác động lẫn nhau Luôn diễn ra sự tương giao giữa các sự vật, hiệntượng trong vũ trụ
Bài 6 (Chương trình cơ bản):
Vắng lặng thâm trầm thấm sâu vào đá tiếng ve ngâm.
- Xác định quí ngữ: tiếng ve (quí ngữ gián tiếp)
Trang 14thức thẩm mĩ tiêu biểu của thơ Ba – Sô: đề cao cái u hoài, tịch lặng, cô liêu…( chất Sa- bi).
+ Về mối quan hệ giữa tiếng ve và đá:
Tiếng ve là thanh, đá là vật Hai sự vật tồn tại ở hai dạng và tác động đếnngười đọc ở những phương diện trực giác khác nhau (tiếng ve tác động vàothính giác, đá tác động vào thị giác) Nhưng trong cái u tịch, vắng lặng của chiều
tà lại có thể cảm nhận được tiếng ve rền rĩ như thấm sâu vào đá Đá không còn
là vật thể vô tri, hữu hình mà cũng trở nên có hồn, biết giao hoà với vạn vậtxung quanh Liên tưởng mạnh mẽ, độc đáo đó cho thấy cái nhìn nhất thể hoá vềthế giới: vạn vật trong vũ trụ là một, có thể chuyển hoá và dung chứa lẫn nhau.Đằng sau đó người đọc còn có thể thấy được nỗi u hoài, niềm cô đơn trong tâmhồn tác giả Tuy nhiên đó không phải là cái cô đơn riêng lẻ, không phải nỗi buồn
bi lụy mà là cái cô đơn vũ trụ - tức sự dừng lại của những dục vọng để thấu hiểunhững khoảnh khắc nhiệm màu của thế giới rộng lớn xung quanh
Bài 2 (chương trình nâng cao – Bu – Son )
Dưới mưa xuân lất phất
áo tơi và ô cùng đi.
Bài thơ thể hiện rất rõ mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên Để họcsinh nhận ra mối quan hệ đó cần hướng dẫn học sinh tìm hiểu các hình ảnh miêu
tả thiên nhiên và con người
Câu đầu: tả cảnh mưa xuân lất phất bay, mưa không nặng hạt, không đủthấm áo, không rét mướt Cảnh vật đang ở giai đoạn đầu của mùa xuân
Câu sau: miêu tả con người, đôi tình nhân đang sánh bước trong tình yêu,tuổi trẻ
Hai ý thơ thể hiện mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người: cảnh đang
ở giây phút đầu xuân còn con người thì đang ở trong tình yêu, tuổi trẻ Conngười sánh bước dưới mưa xuân tạo nên sự gắn bó, hoà hợp Đó là chính là mùaxuân của tuổi trẻ, tình yêu
Bài 1 (chương trình nâng cao của Ba – Sô )
Cây chuối trong gió thu tiếng mưa tí tách vào chậu
ta nghe tiếng đêm
Mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên biểu hiện của tính chất củađêm thu và tâm trạng con người Ba – Sô viết bài thơ ở túp lều tranh do môn đồtặng trong một tâm trạng cô đơn và âm thanh phát ra rả rích trong đêm như hoànhập với tâm trạng con người Ngược lại, tác giả cũng mở rộng hồn mình để hoàvào nỗi buồn của đêm thu Bài thơ là tiếng đêm trong tâm trạng cô đơn
Trên đây là những hoạt động dựa trên phương pháp áp dụng đặc trưng thểloại để giảng dạy thơ Hai – Cư Sau đây là phương pháp thứ hai người viết đãứng dụng vào quá trình hướng dẫn đọc – hiểu thơ Hai – Cư
2 PHƯƠNG PHÁP SO SÁNH
2.1 Những vấn đề lí luận chung về phương pháp so sánh