Từ những yêu cầu trên, một trong những đòi hỏi quan trọngtrong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi là người dạy không dừng lại ở việccung cấp cho học sinh những kiến thức lịch sử rời rạc m
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Mã số:…………
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đề tài KĨ NĂNG TỔNG HỢP KIẾN THỨC CƠ BẢN THEO VẤN ĐỀ TRONG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1954 Người thực hiện: HOÀNG VĂN TÂM Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục:
Phương pháp dạy học bộ môn LỊCH SỬ
Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác:
Có đính kèm:
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2012-2013
Trang 2I THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1 Họ và tên: HOÀNG VĂN TÂM
2 Ngày tháng năm sinh: 20- 04 -1973
3 Nam, nữ: Nam
4 Địa chỉ: 18/4 QL15 khu phố 1 Đường Phạm Văn Thuận – Phường Tam Hòa –Thành phố Biên Hòa – Tỉnh Đồng Nai
5 Điện thoại: 0613834289 (CQ)/ 0613811264 (NR); ĐTDĐ: 0989008720
6 Fax: E-mail: vantamcs@yahoo.com
7 Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn
8 Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh
II TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị cao nhất: Cử nhân
- Năm nhận bằng: 1995
- Chuyên ngành đào tạo: Lịch sử
III KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: giảng dạy môn Lịch sử
- Số năm có kinh nghiệm: 15 năm
- Các sáng kiến kinh nghiệm đã có trong 5 năm gần đây:
+ MỘT VÀI KINH NGHIỆM VỀ ĐỔI MỚI NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨCKIẾM TRA MIỆNG NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔNLỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT” năm học 2008-2009
+ “MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THI TỐT NGHIỆPTHPT MÔN LỊCH SỬ” năm học 2009-2010
+ “MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ VIỆC SỬ DỤNG ĐỒ DÙNG TRỰC QUANTRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 12” năm học 2010-2011
+ “HƯỚNG DẪN HỌC SINH LẬP BẢN ĐỒ TƯ DUY NHẰM NÂNG CAOHIỆU QUẢ HỌC TẬP MÔN LỊCH SỬ” NĂM HỌC 2011-2012
Trang 3Đề tài
KĨ NĂNG TỔNG HỢP KIẾN THỨC CƠ BẢN THEO VẤN ĐỀ
TRONG BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1945-1954
sử Tuy nhiên, thực tế cho thấy kết quả các kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh trongnhững năm vừa qua của bộ môn Lịch sử, mặc dù thang điểm 20 song một số bàilàm của học sinh vẫn chỉ đạt: điểm 1; điểm 2; điểm 3;… Lí do là người dạy vàngười học còn thiếu sự đầu tư, được chăng hay chớ hoặc chưa xác định đượccách ôn luyện, chỉ tập trung vào việc bồi dưỡng cho học sinh nhận biết kiến thứclịch sử rời rạc Một số giáo viên chưa chú trọng hướng dẫn học sinh rèn luyệncác kĩ năng, tư duy nhận thức, cách nhận dạng đề thi… Học Lịch sử phải biết
sự kiện cụ thể, chính xác để hiểu rõ, và trên cơ sở nắm vững sự kiện phải biếtxâu chuỗi, tổng hợp, phân tích, đánh giá, nêu bản chất, quy luật phát triển củacác sự kiện lịch sử, liên hệ thực tế, hình thành khái niệm, rút ra bài học Vì thế,
đã là học sinh giỏi thì phải được trang bị tương đối toàn diện cả về mặt kiến thứclịch sử lẫn kĩ năng làm bài
Ôn luyện học sinh giỏi không giống như tiết dạy ở lớp học bình thường
Vì ở lớp ta dạy cho học sinh phù hợp với ba đối tượng (khá giỏi, trung bình vàyếu kém) Song dạy cho học sinh tham dự kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh và cấp
Trang 4quốc gia là những đối tượng ngang tầm nhau về mặt học lực, nhận thức Vì vậyngoài kiến thức sách giáo khoa, giáo viên cần có thêm tài liệu nâng cao để giúpđối tượng dự thi học sâu, hiểu rộng.
Yếu tố cơ bản nhất là người dạy phải có năng lực chuyên môn vững vàng,biết xác định được kiến thức trọng tâm, biết làm chủ điều mình dạy và quantrọng nhất, phải biết dạy học sinh cách học để các em có đủ bình tĩnh, tự tin lĩnhhội kiến thức và tư duy sáng tạo, biết phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề, luônluôn có ý thức tìm hiểu để làm sáng tỏ các sự kiện lịch sử và giải thích vì saonhư vậy Từ thực tiễn trên, nhiều vấn đề cấp thiết được đặt ra trong công tác bồidưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả bộ mônnhư: tài liệu bồi dưỡng, mức độ kiến thức đối với học sinh giỏi, cách nhận biếtcác dạng đề thi, kĩ năng khai thác kiến thức, kĩ năng làm bài, tạo hứng thú họctập, phương pháp ôn luyện, việc tự học của học sinh Vì vậy để góp một phầnnhỏ nhằm giải quyết tốt các vấn đề nêu trên, trong đề tài này, tôi xin mạnh dạn
đưa ra một số kinh nghiệm về “Kĩ năng tổng hợp kiến thức cơ bản theo vấn đề
trong bồi dưỡng học sinh giỏi phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954”
để cùng nhau chia sẻ, trao đổi với đồng nghiệp
II THỰC TRẠNG KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
đã tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh mở rộng kiến thức
- Bản thân có nhiều năm công tác trong nghề, nhiều năm liên tục dạy học
ở khối lớp 12, ôn luyện thi đại học và bồi dưỡng học sinh giỏi nên đã có một sốkinh nghiệm nhất định
Trang 5- Đặc biệt bản thân môn Lịch sử vốn có vị trí, ý nghĩa quan trọng đối vớiviệc giáo dục thế hệ trẻ Học Lịch sử để biết được cội nguồn của dân tộc, quátrình đấu tranh anh dũng và lao động sáng tạo của ông cha Học Lịch sử để biếtquý trọng những gì mình đang có, biết ơn những người làm ra nó và biết vậndụng vào cuộc sống hiện tại và làm giàu thêm truyền thống dân tộc
2 Khó khăn:
- Về phía gia đình: do quan niệm sai lệch về vị trí, chức năng của mônLịch sử trong đời sống xã hội Một số phụ huynh có thái độ xem thường bộ mônLịch sử, không tán thành và ủng hộ con em tham gia đội tuyển, điều này tácđộng rất lớn về mặt tình cảm, tư tưởng, động cơ học tập của các em
- Về phía giáo viên:
+ Một số vẫn còn nặng về cung cấp kiến thức cơ bản rời rạc, chưa dạytheo vấn đề
+ Có rèn luyện kĩ năng nhưng còn rất hạn chế vì không có quỹ thời gian.-Phía học sinh:
+ Chưa làm việc một cách độc lập, chưa chú trọng làm các bài tập thựchành do áp lực các môn học khác để đáp ứng yêu cầu của các kì thi
+ Khả năng tổng hợp, xâu chuỗi, phân tích, đánh giá, so sánh các sự vật,hiện tượng lịch sử còn hạn chế
+ Học sinh ít đặt vấn đề và giải quyết vấn đề trong quá trình học tập
III CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Trang 6hứng thú học tập cho học sinh” Yêu cầu này phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụdạy bồi dưỡng học sinh giỏi vì phương pháp dạy, phương pháp học phải phùhợp với đối tượng học sinh xuất sắc Đó là các phương pháp dựa trên hoạt độngtích cực, chủ động sáng tạo của học sinh: như dạy học liên môn, dạy học nêuvấn đề nhằm tạo ra khả năng tự giáo dục, tự học, tự nghiên cứu để kích thích
và phát triển các tố chất thông minh và sáng tạo của người học Học sinh đượcbồi dưỡng không chỉ được học tốt hơn về kiến thức khoa học bộ môn mà cònđược học kiến thức về phương pháp, được học cách tự học tốt nhất, được rènluyện nhiều về tư duy logic, tư duy biện chứng Vì vậy, phương pháp dạy họctheo hướng tiếp cận năng lực của học sinh đó là biết, hiểu, vận dụng, phân tích,tổng hợp, đánh giá Biết là ghi nhớ được các sự kiện, hiện tượng hay quá trìnhlịch sử mà các em đã được học Đây là mức độ đầu tiên của nhận thức lịch sử,đòi hỏi học sinh phải khôi phục lại được bức tranh của quá khứ đúng như nó tồntại, đương nhiên là những nét chung nhất, điển hình nhất Mức độ này đòi hỏicác em phải trả lời được các câu hỏi: sự kiện lịch sử nào, diễn ra khi nào ở đâu,
do ai thực hiện, diễn ra như thế nào, kết quả ra sao Hiểu là giải thích được mốiliên hệ bản chất bên trong của các sự kiện hiện tượng lịch sử, có khả năng diễngiải được các sự kiện lịch sử đã diễn ra, trả lời được câu hỏi vì sao như vậy.Việc hiểu của học sinh cũng ở các mức độ khác nhau, hiểu lơ mơ hay hiểu máymóc, hiểu sâu sắc Chúng ta cần luyện cho học sinh hiểu sâu sắc lịch sử, nghĩa làcác em phải giải thích, trình bày được lịch sử bằng ngôn ngữ của mình Vậndụng là mức độ cao của nhận thức, nghĩa là khả năng vận dụng các kiến thức đãhọc vào các tình huống khác, để tiếp thu kiến thức mới và vận dụng vào thựctiễn Phân tích là biết tách từ cái tổng thể và biết rõ sự liên hệ giữa các thànhphần đó theo cấu trúc của chúng Đối với môn Lịch sử, đó là biết tách các sựkiện hiện tượng của một giai đoạn hay quá trình lịch sử để làm rõ các mối liên
hệ giữa các sự kiện hiện tượng đó Tổng hợp là biết kết hợp các sự kiện, hiệntượng riêng rẽ thành một tổng thể mới Nói cách khác là khả năng lựa chọn các
sự kiện để tìm ra cái chung của một thời kì, giai đoạn hay vấn đề lịch sử Đánh
Trang 7giá là biết so sánh, nhìn nhận, chọn lọc các sự kiện hiện tượng lịch sử trên cơ sởcác tiêu chí xác định Đương nhiên, các mức độ nhận thức lịch sử nói trên cómối liên hệ chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau Không biết lịch sử như thếnào thì cũng không thể hiểu, giải thích, đánh giá được lịch sử Ngược lại, muốngiải thích, đánh giá, vận dụng được cũng phải trên cơ sở của biết lịch sử Trongquá trình học Lịch sử, nếu học sinh có được khả năng nêu trên, các em sẽ họcgiỏi môn Lịch sử Từ những yêu cầu trên, một trong những đòi hỏi quan trọngtrong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi là người dạy không dừng lại ở việccung cấp cho học sinh những kiến thức lịch sử rời rạc mà phải biết hướng dẫnhọc sinh kĩ năng tổng hợp, xâu chuỗi những sự kiện lịch sử một cách khoa học,hấp dẫn theo những vấn đề lịch sử, đồng thời chú trọng việc rèn luyện kĩ nănglàm bài thông qua giải quyết các dạng bài tập, hệ thống câu hỏi lịch sử mà giáoviên đưa ra.
về quá trình phát triển của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
được Sách giáo khoa Lịch sử 12 trình bày ở các bài: bài 18 Những năm đầu của
cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946-1950); bài 19 Bước phát triển của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1951-1953) và bài 20 Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953-1954);
điều này đã tạo ra không ít những khó khăn cho học sinh trong quá trình học tập.Bên cạnh đó, một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến kết quả thi họcsinh giỏi cấp tỉnh trong những năm vừa qua do sở giáo dục và đào tạo Đồng Nai
tổ chức còn chưa cao chính là do học sinh chưa được chú trọng rèn luyện các kĩ
Trang 8năng thông qua việc giải quyết các dạng bài tập, hệ thống câu hỏi phù hợp vớiđối tượng học sinh giỏi trong quá trình bồi dưỡng, cho nên khi gặp những đề thiđòi hỏi phải có các kĩ năng, tư duy, thì các em tỏ ra lúng túng, giải quyết khôngđược như mong muốn Vì vậy, để đạt được hiệu quả cao trong các kì thi, trongquá trình bồi dưỡng, giáo viên phải hướng dẫn học sinh biết xâu chuỗi, chọn lọckiến thức thành những vấn đề mang tính xuyên suốt ở mỗi giai đoạn lịch sử cụthể và nêu ra một số câu hỏi giúp các em rèn luyện tốt các kĩ năng trong việcgiải quyết các vấn đề được đặt ra trong đề thi.
3 Phạm vi đề tài
Theo chương trình Lịch sử lớp 12, phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945đến 1954, gồm có 4 bài được trình bày với rất nhiều nội dung xoay xung quanhcuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạocủa Đảng cộng sản Việt Nam Trên cơ sở khái quát, tổng hợp, xâu chuỗi cáckiến thức, các sự kiện, hiện tượng lịch sử, chúng tôi hệ thống thành những vấn
đề theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể sau:
Vấn đề 1: Việt Nam trong hơn năm đầu sau cách mạng tháng Tám (1945 – 1946).
Vấn đề 2: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp bùng nổ, đường lối kháng chiến của Đảng.
Vấn đề 3: Quá trình phát triển của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Vấn Đề 4: Xây dựng hậu phương trong kháng chiến chống Pháp (1951 – 1953).
Vấn đề 5: Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ và hội nghị Giơnevơ 1954 về Đông Dương.
Vấn đề 6: Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống Pháp.
4 Mục đích đề tài
Trang 9Giúp giáo viên và học sinh nhận thức Lịch sử Việt Nam theo vấn đề tronggiai đoạn 1945-1954, tạo điều kiện thuận lợi cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi bộmôn đạt kết quả cao.
IV NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
Phần Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945-1954, khi bồi dưỡng, giáo viêncần hướng dẫn học sinh nắm chắc một số kiến thức cơ bản sau:
- Tình hình Việt Nam sau cách mạng tháng Tám Những khó khăn cầnphải giải quyết
- Cuộc đấu tranh để bảo vệ độc lập dân tộc, giữ vững và củng cố chínhquyền nhân dân từ sau cách mạng tháng Tám đến toàn quốc kháng chiến
- Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp: Nội dung cơ bản và quátrình thực hiện đường lối
- Những thắng lợi lớn của ta trên mặt trận quân sự (từ ngày đầu toàn quốckháng chiến đến chiến thắng Đông-Xuân 1953 -1954): diễn biến, ý nghĩa cuộcchiến ở các đô thị, Chiến thắng Việt Bắc, Biên giới…
- Xây dựng hậu phương trong kháng chiến chống thực dân Pháp (nhữngthắng lợi của ta trên các mặt trận chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, giáodục, y tế…)
- Cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân 1953 – 1954, Chiến dịch lịch sửĐiện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ, nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sửcuộc kháng chiến chống Pháp
Những kiến thức cơ bản có thể giải quyết theo các vấn đề chủ yếu sauđây:
1 Vấn đề 1: Việt Nam trong hơn năm đầu sau cách mạng tháng Tám (1945-1946)
1.1 Thứ nhất, Tình hình Việt Nam sau cách mạng tháng Tám 1945
1.1.1 Tình hình thế giới
- Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, tình hình thế giới có những biếnđộng hết sức to lớn Chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt, lực lượng đế quốc bị suy
Trang 10yếu, không còn giữ vị trí như trước Chủ nghĩa xã hội, từ một nước Liên Xô,đang trong quá trình hình thành hệ thống thế giới Phong trào giải phóng dân tộcdần dần lên cao, phong trào đấu tranh đòi dân chủ phát triển mạnh mẽ ở cácnước tư bản chủ nghĩa Tình hình đó đã đem lại cho phong trào cách mạng thếgiới, nhất là phong trào giải phóng dân tộc, những thuận lợi cơ bản.
- Tuy nhiên, với bản chất phản động, xâm lược, chủ nghĩa đế quốc, thựcdân vẫn tiếp tục tìm mọi thủ đoạn để xâm chiếm, giành giật lại những thuộc địa
đã mất Việt Nam cũng trở thành đối tượng tranh nhau giữa các nước đế quốc
Mỹ, Pháp, Anh, Trung Quốc (Tưởng Giới Thạch)…(tham khảo thêm ở sáchgiáo khoa lịch sử về tình hình thế giới sau năm 1945)
1.1.2 Tình hình trong nước
- Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ vừa mới ra đời đã phải đốiphó với nhiều kẻ thù Ở miền Bắc, 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc với danhnghĩa quân đồng minh giải giáp quân Nhật đã tràn vào đóng quân từ vĩ tuyến 16đến biên giới Việt - Trung Quân Trung Hoa Dân quốc tìm mọi cách lật đổ chínhquyền cách mạng, tạo điều kiện cho tay sai lên nắm chính quyền Ở phía Nam,cũng với danh nghĩa quân đồng minh giải giáp quân Nhật, quân đội Anh chiếmđóng và tạo điều kiện cho quân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam Được sựủng hộ của quân đội Anh, ngày 2/9/1945, quân Pháp xả súng vào đồng bào tađang tham dự cuộc mit tinh mừng ngày độc lập tại Sài Gòn, làm 47 người chết,nhiều người bị thương Ngày 23/9/1945, Pháp tấn công Sài Gòn, mở đầu cuộcxâm lược nước ta lần thứ hai Sự chiếm đóng của hàng chục vạn quân TrungHoa Dân quốc, Anh, Pháp, Nhật trên đất nước ta đã tạo điều kiện cho tay sai củachúng như bọn Việt Cách, Việt Quốc nổi dậy chống phá cách mạng
- Trong khi đó, nền kinh tế Việt Nam lúc này lại bị kiệt quệ, tiêu điều dohậu quả chính sách cai trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật Các ngành kinh tếđều bị ngừng trệ, tài chính quốc gia trống rỗng Nạn đói cuối 1944 – đầu 1945làm chết hơn 2 triệu người chưa khắc phục xong thì nguy cơ nạn đói mới lại đedọa Chế độ thực dân để lại nhiều hậu quả xã hội nặng nề, đặc biệt là nạn dốt,
Trang 11hơn 90% nhân dân mù chữ, cách mạng vừa thành công, chính quyền non trẻ mớiđược thành lập, chưa được củng cố, chưa có kinh nghiệm, lại phải đương đầuvới mọi khó khăn, nguy hiểm từ mọi phía Đây là thời kì thực sự khó khăn, vậnmệnh của Tổ Quốc như “ Ngàn cân treo sợi tóc”.
- Tuy nhiên, chúng ta đã có những thuận lợi cơ bản: sự lãnh đạo đúng đắncủa Đảng, đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh, việc xây dựng chính quyền vữngmạnh, được nhân dân ủng hộ triệt để, tinh thần yêu nước, đấu tranh cách mạngcủa nhân dân… là những động lực hết sức to lớn, giúp cách mạng nước ta vượtqua được những hiểm nghèo trong năm đầu cách mạng
1.2 Thứ hai, cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, củng cố và giữ vững chính quyền cách mạng trước 6/3/1946 diễn ra như thế nào?
Giáo viên cần tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau:
- Thuận lợi sau cách mạng tháng Tám
- Những khó khăn
- Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Quyết tâm của nhân dân trong việc bảo vệ thành quả cách mạng và xâydựng chế độ dân chủ nhân dân
+Những khó khăn về các mặt ( xem phần trên)
+Ngày 6/1/1946, tiến hành thắng lợi tổng tuyển cử, cử tri đi bỏ phiếu, bầu
được 333 đại biểu Quốc hội và thông qua danh sách Chính phủ liên hiệp chínhthức của nước Việt Nam mới do Hồ Chí Minh làm chủ tịch Sau cuộc bầu cửQuốc hội, bộ máy chính quyền dân chủ nhân dân ở các địa phương cũng đượccủng cố và kiện toàn, phát huy sức mạnh, ý chí sắt đá của khối đại đoàn kết dân
Trang 12tộc, đồng thời tạo cơ sở pháp lí cho nhà nước cách mạng thực hiện nhiệm vụ đốinội và đối ngoại trong thời kì mới, đầy chông gai, thử thách.
+Để chống giặc đói, một trong những vấn đề cấp bách của cách mạng
nước ta lúc này, Đảng và Chính phủ đã động viên lực lượng toàn dân tăng giasản xuất, tiết kiệm lương thực, kêu gọi đồng bào cả nước “nhường cơm xẻ áo”,lập “ Hũ gạo cứu đói”, “ Ngày đồng tâm” Với khẩu hiệu “ Không một tấc đất
bỏ hoang”, “tấc đất tấc vàng”, phong trào thi đua sản xuất đã dấy lên ở khắp cácđịa phương… Nhờ những chính sách đó mà nạn đói được đẩy lùi, đời sống nhândân được cải thiện một bước
+Về tài chính, ngày 4/9/1945, Chính phủ ban hành sắc lệnh về “ Quỹ Độc
lập” và “Tuần lễ vàng” nhằm động viên sự đóng góp của đồng bào cả nước đốivới nền độc lập của Tổ Quốc Chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân ta đã tựquyên góp 370 kg vàng, 20 triệu đồng vào “Quỹ Độc lập”…Ngày 31/3/1946,quốc hội đã quyết định phát hành giấy bạc Việt Nam thay cho giấy bạc ĐôngDương cũ Đây là một thắng lợi hết sức to lớn của nhân dân ta về mặt chính trịcũng như tài chính
+Về chống giặc dốt, Đảng, Chính phủ và chủ tịch Hồ Chí Minh xác định
nạn dốt là một trong ba kẻ thù cần phải tiêu diệt (giặc đói, giặc dốt và giặc ngoạixâm) Phong trào bình dân học vụ được dấy lên Người biết chữ dạy cho ngườikhông biết chữ Ngày 8/9/1945, Nha Bình dân học vụ chuyên lo công cuộcchống nạn mù chữ được thành lập Chỉ trong vòng một năm, kể từ ngày8/9/1945 đến 8/9/1946, trên toàn quốc đã mở được 75.805 lớp học với 97.664giáo viên và xóa mù chữ cho hơn 2,5 triệu người Các trường phổ thông và Đạihọc được thành lập Bên cạnh đó, cuộc vận động đời sống mới do chủ tịch HồChí Minh đề xướng được đồng bào cả nước hưởng ứng nhằm xây dựng cuộcsống mới, bài trừ các tệ nạn xã hội cũ, như nạn rượu chè, cờ bạc, trộm cắp, mạidâm, những hủ tục cúng lễ, ma chay, cưới xin linh đình…
- Công tác đối ngoại:
Trang 13Đồng thời với việc thực hiện các chính sách nhằm khắc phục nạn đói, xóagiặc dốt, Đảng và chính phủ ta trong thời kì từ 2/9/1945 đến 6/3/1946, đã chủtrương hòa hoãn với quân Trung Hoa Dân quốc, tránh phải cùng lúc đối phó vớinhiều kẻ thù ngoại xâm, nhằm tập trung lực lượng để đánh Pháp đang xâm lược
ở miền Nam Chúng ta đã phải nhân nhượng một số yêu sách của quân TrungHoa Dân quốc, như nhận tiêu tiền “quan kim”, “quốc tệ”, cung cấp một phầnlương thực cho chúng, chấp nhận bổ sung thêm 70 ghế vào Quốc hội và một sốghế trong Chính phủ liên hiệp kháng chiến Đối với bọn phản động tay sai củaquân đội Trung Hoa Dân quốc đã ra mặt chống phá cách mạng thì ta kiên quyếtvạch trần bộ mặt bán nước hại dân của chúng Nhờ những biện pháp đó, chínhquyền dân chủ nhân dân của ta được giữ vững, cuộc kháng chiến của nhân dânNam Bộ được sự giúp đỡ, chi viện của đồng bào cả nước, ngăn chặn được bướctiến quân của thực dân Pháp
1.3.Thứ ba, cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc, củng cố và giữ vững chính quyền cách mạng từ 6/3/1946 diễn ra như thế nào?
Giáo viên cần tập trung làm rõ những nội dung chủ yếu sau:
- Trong tình thế thực dân Pháp và Trung Hoa Dân quốc thỏa hiệp vớinhau (qua hiệp ước Hoa – Pháp), để Pháp đổ bộ ra Bắc, mở rộng cuộc xâm lượccủa chúng ra khắp cả nước, Đảng và Chính phủ ta đã có một biện pháp hết sứctài tình, sáng tạo Đó là kí hiệp định Sơ bộ 6/3/1946, chủ động hòa hoãn vớiPháp, đẩy nhanh quân Trung Hoa Dân quốc ra khỏi nước ta và tranh thủ thờigian chuẩn bị lực lượng để đối phó với âm mưu xâm lược lâu dài của Pháp
- Nội dung của Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946:
+ Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là mộtquốc gia tự do nằm trong khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ riêng, có nghị việnriêng, quân đội riêng, tài chính riêng
+ Chính phủ Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp được vào miền Bắcthay quân đội Trung Hoa Dân quốc Mỗi năm sẽ rút 1/5 số quân đó về Pháp vàsau 5 năm sẽ rút hết
Trang 14+ Hai bên ngừng xung đột và giữ nguyên vị trí cũ nhằm đi đến một cuộcđiều đình thân thiện về tương lai của Đông Dương.
- Việc kí Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 với Pháp là một chủ trương đúng đắn
và kịp thời của Đảng và chính phủ ta Sau khi kí hiệp định, Đảng và Chính phủ
ta đấu tranh buộc bọn thực dân Pháp thi hành hiệp định, tiếp tục đàm phán ngoạigiao giữa hai Chính phủ để đi đến một hiệp định chính thức Mặt khác, về phía
ta phải tranh thủ thời gian hòa bình do cuộc đàm phán đem lại để ra sức củng cố,xây dựng và phát triển lực lượng về mọi mặt
Như vậy, kí Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946, nhân dân ta giành được một thắng
lợi trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng Cóđược thắng lợi đó là do nhân dân Việt Nam đã đoàn kết chặt chẽ, chiến đấudưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng; do đường lối chính trị vô cùng sáng suốt củaĐảng – vừa cứng rắn, vừa nguyên tắc, vừa mềm dẻo vừa sách lược, lúc thì tạmhoãn với Trung Hoa Dân quốc để rảnh tay đối phó với thực dân Pháp, khi thìtạm hòa hoãn với quân Pháp để đuổi quân Trung Hoa Dân quốc và quét sạchbọn phản động tay sai của chúng.Việc kí Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 tạo điều kiệncho nhân dân ta có thời gian củng cố lực lượng, chuẩn bị toàn quốc kháng chiếnchống thực dân Pháp xâm lược
1.4 Thứ tư, cuộc đấu tranh ngoại giao trong năm đầu sau cách mạng tháng Tám để bảo vệ độc lập dân tộc và chính quyền cách mạng diễn ra như thế nào?
Trong vòng vây của chủ nghĩa đế quốc, thực dân, cuộc đấu tranh của nhândân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh để bảo vệthành quả cách mạng diễn ra vô cùng khó khăn, phức tạp Nhằm tranh thủ thờigian, chuẩn bị lực lượng cho cuộc chiến lâu dài với kẻ thù nguy hiểm nhất củadân tộc là thực dân Pháp, Chính phủ và chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiệnchính sách nhân nhượng, hòa hoãn, tránh những xung đột bất lợi, nhưng vẫn giữvững mục tiêu cách mạng, đảm bảo nguyên tắc độc lập, tự do
Trang 15Ở phía Bắc vĩ tuyến 16, quân Trung Hoa Dân quốc vừa sách nhiễu vềkinh tế, vừa tiến hành các hoạt động khiêu khích để chống phá chính quyền cáchmạng Ta buộc phải cung cấp lương thực và cho chúng lưu hành tiền “quan kim”
và “quốc tệ” mất giá Những nhân nhượng đó của ta đã làm dịu đi tình hình căngthẳng giữa ta và quân Trung Hoa Dân quốc Đồng thời ta kịp vạch trần những
âm mưu chống phá của bọn tay sai, kiên quyết trấn áp những phần tử phá hoại
- Từ đầu năm 1946, thực dân Pháp và Tưởng Giới Thạch mưu tính kếhoạch đưa quân Pháp ra miền Bắc thay thế quân Trung Hoa Dân quốc Sau mộtthời gian mặc cả, thương lượng với nhau, Hiệp ước Trùng Khánh giữa Pháp vàTưởng được kí kết vào ngày 28/2/1946 Theo hiệp ước này, Pháp sẽ đưa quân ramiền Bắc thay thế quân Trung Hoa Dân quốc Sự thỏa hiệp giữa hai thế lực thựcdân vừa chà đạp lên chủ quyền của dân tộc ta, vừa đặt cách mạng Việt Nam vàothế phải đối phó với âm mưu của hai thế lực phản động Mặt khác, Pháp khôngthể mang quân thay thế quân Trung Hoa Dân quốc mà không gặp sự chống đốimạnh mẽ của ta Trong trường hợp nếu xung đột xảy ra giữa ta và Pháp, quânTrung Hoa Dân quốc sẽ có lí do trì hoãn thi hành Hiệp định, không chịu rút quânhoàn toàn khỏi Việt Nam Đó là điều thực dân Pháp không muốn
- Nhận thức đúng tình hình mới, Đảng và Chính phủ, đứng đầu là chủ tịch
Hồ Chí Minh đã chủ trương đàm phán với Pháp, đồng ý cho quân Pháp ra miềnBắc thay thế quân Trung Hoa Dân quốc và cũng để tranh thủ thời gian hòa hoãnbảo toàn và chuẩn bị lực lượng để tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn
Trong việc đàm phán với Pháp, chúng ta đấu tranh buộc chúng phải thừanhận quyền tự quyết của dân tộc ta; đồng thời không lơi lỏng công việc chuẩn
bị, sẵn sàng kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược
Cuộc đàm phán giữa Chính phủ ta với Pháp diễn ra hết sức căng thẳng Tayêu cầu Pháp công nhận quyền độc lập dân tộc, trong khi Pháp chỉ công nhậnquyền “tự trị” Cuối cùng Pháp phải đồng ý với giải pháp mà phái đoàn ta đưa ra
là “Nước Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do”
Trang 16Ngày 6/3/1946, Hiệp định sơ bộ được kí kết (xem nội dung hiệp định,phần về cuộc đấu tranh để bảo vệ độc lập dân tộc) Nhưng thực dân Pháp vẫn trìhoãn thi hành và luôn vi phạm hiệp định.
- Ngày 31/5/1946, chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường sang thăm nước Phápvới tư cách là thượng khách của chính phủ Pháp Cùng ngày, phái đoàn Chínhphủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, do Phạm Văn Đồng dẫn đầu, cũng lên đườngsang Pháp để đàm phán chính thức Cuộc đàm phán Phôngtennơblô diễn ra từtháng 7 đến tháng 9/1946 không thành công vì phía Pháp không từ bỏ âm mưuxâm lược của mình Để tỏ thiện chí muốn hòa bình của nhân dân Việt Nam vàtiếp tục tranh thủ thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống thực dân Phápchắc chắn sẽ xảy ra, trước khi rời Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí với đại diệnChính phủ Pháp bản Tạm ước 14/9/1946
- Từ khi kí Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 đến tạm ước 14/9/1946 là thời gianquý cho ta chuẩn bị lực lượng về mọi mặt cho cuộc chiến đấu lâu dài sau này.Đánh giá những sự kiện này, chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét: “Chúng ta cần hòabình để xây dựng nước nhà, nên chúng ta ép lòng mà nhân nhượng để giữ hòabình Dù thực dân Pháp đã bội ước, đã gây chiến tranh, nhưng gần một năm tạmhòa bình đã cho chúng ta thời gian để xây dựng lực lựơng cơ bản Khi Pháp cố ýgây chiến tranh, chúng ta không thể nhịn nữa, thì cuộc kháng chiến toàn quốcbắt đầu”
1.5 Thứ năm, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng thời kì từ tháng 9/1945 đến tháng 12/1946
1.5.1.Ý nghĩa cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng thời kì từ tháng 9/1945 đến tháng 12/1946
- Đề ra chủ chủ trương sáng suốt, tài tình (cứng rắn về nguyên tắc, mềmdẻo về phương pháp, biết lợi dụng mâu thuẫn kẻ thù, không cho chúng tập trunglực lượng chống ta…) đưa nước ta vượt qua mọi khó khăn, chuẩn bị sẵn sàngbước vào cuộc kháng chiến chống Pháp
- Xây dựng và củng cố được chính quyền cách mạng từ trung ương đến
Trang 17địa phương – lực lượng chỉ đạo kháng chiến sau này.
- Xây dựng và củng cố được lực lượng kháng chiến (vệ quốc đoàn, dânquân, tự vệ)
- Xây dựng được cơ sở kinh tế - xã hội phục vụ kháng chiến
- Thắt chặt hơn nữa khối đoàn kết toàn dân
- Củng cố thêm niềm tin của nhân dân đối với chính quyền cách mạng
1.5.2 Bài học kinh nghiệm được rút ra từ cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền thời kì từ tháng 9/1945 đến tháng 12/1946:
+ Bài học về việc biết dựa vào sức mạnh quần chúng nhân dân, biết pháthuy cao độ sức mạnh sáng tạo của quần chúng nhân dân
+ Bài học về việc biết lợi dụng và khai thác triệt để mâu thuẫn trong hàngngũ kẻ thù, xác định đúng kẻ thù chủ yếu, trước mắt, cô lập và tập trung lựclượng đánh đúng kẻ thù
+ Bài học về việc biết tranh thủ khả năng hoà bình và phương pháp đàmphán thương lượng để giữ vững và phát triển lực lượng cách mạng, đồng thờiphải luôn chuẩn bị sẵn sàng ứng phó với khả năng chiến tranh lan rộng, quyếtliệt và kéo dài
+ Bài học về việc kết hợp giữa nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc, xâydựng đi đôi với bảo vệ tổ quốc
1.6.Thứ sáu, những hoạt động chủ yếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh (từ tháng 9/1945 đến tháng 12/1946) trong công cuộc xây dựng đất nước và đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc.
- Một tuần sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (8/9/1945)
Hồ Chủ tịch công bố lệnh Tổng tuyển cử trong cả nước Trên cơ sở đó, cuộctổng tuyển cử bầu Quốc hội được tổ chức vào ngày 6/1/1946
- Ngày 2/3/1946, tại phiên họp đầu tiên của Quốc hội, Hồ Chí Minh đã
đứng ra thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến; phụ trách Ủy ban dự thảoHiến pháp Tháng 11/1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủCộng hòa đã được Quốc hội thông qua
Trang 18- Phát động phong trào tăng gia sản xuất, khai hoang phục hóa, đồng thời
kêu gọi nhân dân cả nước “nhường cơm, sẻ áo”, lập “hũ gạo cứu đói”, “ngày
đồng tâm” để chống “giặc đói”.
- Kí sắc lệnh thành lập cơ quan Bình dân học vụ (8/9/1945) và kêu gọitoàn dân tham gia phong trào xóa nạn mù chữ để chống “giặc dốt”
- Phát động phong trào “tuần lễ vàng”, xây dựng “quỹ độc lập”. Đầu
năm 1946, Hồ Chủ tịch kí sắc lệnh phát hành tiền Việt Nam Khó khăn về tàichính được giải quyết
- Tháng 9/1945, kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ bùng nổ, cùng vớiTrung ương Đảng và Chính phủ, Hồ Chủ tịch phát động phong trào ủng hộ Nam
Bộ kháng chiến
- Ngày 6/3/1946, Hồ Chủ tịch kí bản Hiệp định Sơ bộ, tạm hòa với Pháp
để đẩy 20 vạn quân Trung Hoa dân Quốc cùng tay sai ra khỏi nước ta, giànhthêm thời gian hòa bình củng cố chính quyền
- Tháng 5/1946, Hồ Chủ tịch ra sắc lệnh đổi tên Vệ quốc quân thành Quânđội quốc gia Việt Nam
- Ngày 14/9/1946, Hồ Chủ tịch đã kí bản Tạm ước nhân nhượng Pháp một
số quyền lợi về kinh tế - văn hóa và tạo điều kiện cho ta có thêm thời gian chuẩn
bị bước vào kháng chiến
- Như vậy, trong năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám 1945, Chủ tịch
Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và Chính phủ lãnh đạo nhân dân ta giảiquyết nhiều khó khăn đối nội, đối ngoại và tích cực chuẩn bị lực lượng về mọimặt Ngày 19/12/1946, Hồ Chủ tịch đã phát động cuộc kháng chiến toàn quốcchống Pháp
1.7 Sử dụng những kiến thức trên để giải quyết các câu hỏi thi:
1 Tại sao nói từ sau ngày 2 tháng 9 năm 1945, chính quyền cách mạng Việt Nam lâm vào tình thế “Ngàn cân treo sợi tóc”? Trước những khó khăn trên, Đảng và chính phủ đã có những đối sách gì về đối nội?
Trang 192 Hãy nhận diện các thế lực đế quốc có mặt trên đất nước ta sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công Đế quốc nào là kẻ thù chính? Vì sao?
3 Vai trò của quần chúng nhân dân được thể hiện như thế nào trong việc giải quyết những khó khăn về đối nội sau Cách mạng tháng Tám.
4 Trước tình thế phải đối phó với nhiều kẻ thù trong cùng một lúc, Đảng ta đã làm
gì để vô hiệu hóa quân Trung Hoa Dân quốc và bọn phản cách mạng ở miền Bắc?
5 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết mối quan hệ Việt-Pháp bằng con đường hòa bình từ ngày 6/3/1946 đến trước ngày 19/12/1946 như thế nào?
6 Cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng sau cách mạng tháng Tám năm
1945 có ý nghĩa lịch sử gì? Những bài học kinh nghiệm rút ra từ cuộc đấu tranh này?
7 Nêu những hoạt động chủ yếu của Hồ Chí Minh (từ tháng 9/1945 đến tháng 12/1946) trong công cuộc xây dựng đất nước và đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc.
2 Vấn đề 2: Cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp bùng nổ, đường lối kháng chiến của Đảng.
Về “Đường lối chiến tranh nhân dân” trong thời kì kháng chiến toàn quốc
chống Pháp (1946 – 1954 ), cần nắm vững các điểm chính:
- Ngay từ đầu kháng chiến, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đãkịp đề ra đường lối kháng chiến để lãnh đạo cuộc chiến đấu của quân và dân ta.Đường lối đó cũng đã được vạch ra trong các văn kiện lịch sử của Đảng và cáctác phẩm của Hồ Chí Minh, Trường Chinh …
- Những điểm cơ bản của đường lối kháng chiến (thông qua các văn kiện,các tác phẩm nói trên) là nhằm phát huy sức mạnh toàn dân, toàn diện của dântộc, khắc phục những nhược điểm trước mắt của ta về vật chất, kĩ thuật; vừađánh vừa bồi dưỡng sức dân, khiến ta càng đánh càng mạnh, làm thay đổi tươngquan lực lượng giữa ta và địch để cuối cùng giành thắng lợi hoàn toàn
Trang 20- Đường lối kháng chiến đó được thể hiện một cách sinh động và phongphú trong thực tiễn kháng chiến của quân và dân ta trên tất cả mọi hoạt động vàngày càng hoàn chỉnh hơn trong quá trình kháng chiến lâu dài và gian khổ.
bộ, rồi tiến công Hải Phòng, Lạng Sơn … Ở Hà Nội, chúng chiếm một số cơquan của ta (Bộ tài chính, Bộ giao thông), phá các công sự của ta và gây ra vụthảm sát ở Phố Hàng Bún, Phố Yên Ninh, cầu Long Biên …, trắng trợn hơn,chúng gửi tối hậu thư đòi ta phá bỏ các chướng ngại công sự, giải tán lực lượng
tự vệ ,…lịch sử đặt ra cho ta 2 con đường mà phải chọn 1: một là đầu hàng chịutrở lại làm nô lệ, hai là toàn dân phải đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp, giữvững độc lập, chủ quyền tự do của tổ quốc.Vì vậy, Đảng, Chính phủ đứng đầu
là Chủ tịch Hồ Chí Minh họp hội nghị mở rộng (ngày 18, ngày 19 tháng 12 năm1946) quyết định phát động cả nước đứng lên kháng chiến
2.2 Thứ hai, Đường lối chiến tranh nhân dân do Đảng, Chính phủ và chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra ngay từ đầu cuộc kháng chiến.
- Ngay từ khi vừa giành được độc lập, tháng 11/1945, Đảng đã ra “Chỉ thị
kháng chiến và tiết kiệm cứu nước”, vạch phương hướng lâu dài để bảo vệ đất
nước
- Ngày 18, 19 tháng 12/1946, Ban thường vụ trung ương Đảng họp dưới
sự chủ trì của chủ tịch Hồ Chí Minh, đã nhận định tình hình và chỉ thị cho cácđịa phương: “Tất cả hãy sẵn sàng” Chiều 19/12, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng VõNguyên Giáp ra lệnh cho các đơn vị vũ trang sẵn sàng chiến đấu theo thời gian
đã quy định
Trang 21+ 20 giờ ngày 19/12, mệnh lệnh chiến đấu bắt đầu: quân thủ đô đã nổsúng mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc Ngay khi tiếng súng kháng chiến toàn
quốc bùng nổ, “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của chủ tịch Hồ Chí Minh
đã truyền đi khắp cả nước, văn kiện này đã vạch rõ nguyên nhân của cuộc khángchiến là do chính sách xâm lược của thực dân Pháp, đồng thời nêu lên quyết tâmchiến đấu của nhân dân ta là nhằm bảo vệ độc lập, tự do, tư tưởng cơ bản vềchiến tranh nhân dân, chiến tranh toàn dân và niềm tin tất thắng đối với khángchiến Trong thời điểm lịch sử đó, lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến có ý nghĩalịch sử như một lời hịch cứu nước, đã khơi dậy mạnh mẽ lòng tự hào dân tộctruyền thống yêu nước anh hùng bất khuất của dân tộc ta Nó đã phác họa mộtcách cơ bản và súc tích nhất về ý tưởng, đường lối chiến tranh nhân dân, toàndân đánh giặc, đánh lâu dài và dựa vào sức mình là chính
+ Bản chỉ thị “Toàn dân kháng chiến” của Ban Thường vụ trung ương
Đảng, ngày 12/12/1946, vạch rõ mục đích, tích chất, phương châm cơ bản vàchương trình của kháng chiến
+ Tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” của Tổng Bí thư Trường
Chinh, viết năm 1947, nhằm giải thích rõ đường lối kháng chiến của Đảng vàchủ tịch Hồ Chí Minh
- Đường lối này thể hiện tính chất cuộc kháng chiến của nhân dân ta:
+ Cuộc kháng chiến của nhân dân ta là cuộc chiến tranh cách mạng chínhnghĩa, chống lại một cuộc chiến tranh phi nghĩa của thực dân Pháp
+ Cuộc kháng chiến của nhân dân ta nhằm mục đích giành độc lập vàthống nhất tổ quốc, bảo vệ chính quyền nhân dân
+ Trong cuộc kháng chiến này dân tộc Việt Nam vừa đấu tranh để tự cứumình, vừa đấu tranh cho hòa bình thế giới Cuộc kháng chiến của Việt Nam, do
đó, là cuộc chiến tranh tiến bộ vì tự do, độc lập, vì dân chủ hòa bình
2.3 Thứ ba, nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến được thể hiện
ở các điểm nào?
2.3.1 Nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến
Trang 22- Đánh lâu dài:
+ Đây là một chủ trương vô cùng sáng suốt của Đảng ta, dựa trên sự vậndụng của chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh của nước ta trong cuộc khángchiến chống Pháp một cách khoa học, không hề khiếp nhược trước vũ khí kẻthù Đồng thời cũng thừa kế và phát triển truyền thống “lấy yếu chống mạnh”
“lấy chính nghĩa thắng hung tàn”, truyền thống đánh lâu dài của dân tộc
+ Dựa trên cơ sở phân tích một cách khoa học, chỗ mạnh, chỗ yếu củađịch Lúc đầu địch mạnh hơn ta về vật chất, vũ khí, nhưng ta có ưu thế tuyệt đối
về tinh thần chính trị Chỗ mạnh của ta là rất cơ bản, có thể lấy tinh thần chínhtrị để khắc phục khó khăn về vật chất, nên ta càng đánh càng mạnh, càng đánhcàng thắng
- Toàn dân kháng chiến, lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt:
+ Cuộc kháng chiến của ta được Đảng nêu ra ngay từ đầu là một cuộckháng chiến toàn dân Với phương châm “ đánh lâu dài”, ta có thời gian giáodục, tổ chức, động viên nhân dân tham gia kháng chiến Ta càng đánh thì lựclượng nhân dân càng thống nhất, đồng thời nếu không động viên để toàn thểnhân dân tham gia thì không thể đánh lâu dài được
+ Muốn phát huy sức mạnh của toàn dân kháng chiến thì phải đánh lâudài, muốn có lực lượng đánh lâu dài thì phải huy động toàn dân tham gia khángchiến
- Kháng chiến toàn diện:
+ Muốn làm cho khẩu hiệu “toàn dân kháng chiến” có nội dung thực sựthì cuộc kháng chiến phải tiến hành trên các lĩnh vực: quân sự, chính trị, kinh tế,văn hóa… Thông qua các hình thức của cuộc kháng chiến toàn diện như thế thìtoàn dân ta mới phát huy được hết năng lực của mình trong cuộc kháng chiến
+ Giặc Pháp không những đánh ta về mặt quân sự mà còn phá ta cả vềkinh tế, chính trị, văn hóa … cho nên ta không những phải kháng chiến trên mặttrận quân sự mà phải đánh bại mọi âm mưu phá hoại về kinh tế và chính trị củachúng, phải kháng chiến toàn diện
Trang 23- Tự lực cánh sinh:
+ Ta rất coi trọng những thuận lợi và sự giúp đỡ của bên ngoài, nhưngbao giờ cũng theo đúng phương châm kháng chiến của ta là tự lực cánh sinh, vìbất cứ cuộc chiến tranh nào cũng phải do sự nghiệp của bản thân quần chúng.Lấy sức mình là chính, sự giúp đỡ bên ngoài chỉ là điều kiện hỗ trợ thêm vào
+ Có nỗ lực chủ quan mới sử dụng và phát huy hết sức mạnh của mình.Nếu không dựa vào sức mình là chính thì không thể đánh lâu dài để giành thắnglợi cuối cùng
2.3.2 Đường lối kháng chiến của Đảng được thực hiện một cách sinh động và phong phú trong thực tiễn kháng chiến của quân và dân ta trên tất cả mọi hoạt động, đã đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi hoàn toàn.
+ Về quân sự, ta động viên toàn dân tham gia xây dực lực lượng vũ trang.Thanh niên nô nức tham gia phong trào tòng quân giết giặc; lực lượng ba thứquân được hình thành và phát triển: dân quân tự vệ, bộ đội địa phương, bộ độichính quy Trải qua chiến đấu, quân đội ta trưởng thành về mặt số lượng, vũ khí,trang bị đến cách đánh Từ chiến thuật du kích đã chuyển lên lối đánh công kiên,đánh vận động Với phương châm đánh lâu dài, ta đã phá tan chiến lược đánhmau, thắng mau của địch Từ sau chiến thắng Biên giới, ta đã vươn lên giànhquyền chủ động trên chiến trường chính Đặc biệt qua các chiến dịch đều có sựphối hợp chặt chẽ giữa tiền tuyến và hậu phương, có sự hỗ trợ giữa chiến trườngchính và các chiến trường khác trong toàn quốc Đường lối kháng chiến đúngđắn đã tạo sức mạnh cho quân đội ta chiến thắng kẻ thù
+ Về Kinh tế: chúng ta đã kịp chuyển nền kinh tế thời bình sang thờichiến Ta đã tích cực đấu tranh kinh tế với địch để ngăn chặn Pháp phá hoại nềnkinh tế của ta Mặt khác, ta đã chăm lo xây dựng nền kinh tế dân chủ nhân dân,đồng thời luôn luôn quan tâm bồi dưỡng lực lượng kháng chiến, đặc biệt là nôngdân Năm 1953, Đảng và Chính phủ đã đề ra chủ trương phát động toàn thể quầnchúng triệt để giảm tô, giảm tức và cải cách ruộng đất
Trang 24+ Về chính trị: chính quyền nhân dân ta ngày càng được củng cố vữngmạnh Ủy ban kháng chiến hành chính được thành lập Khối đoàn kết toàn dânngày càng được củng cố vững chắc trong Mặt trận Liên Việt, Liên minh banước Việt – Miên – Lào được hình thành Niềm tin ở sự lãnh đạo của Đảng, ởthắng lợi của cuộc kháng chiến được tăng cường.
+ Về văn hóa, xã hội, giáo dục cũng được phát triển; phong trào đời sốngmới (vệ sinh phòng bệnh, chống mê tín dị đoan…) dần dần lan rộng trong nhândân
Nhận xét: đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài và tự lực
cánh sinh do Đảng đề ra từ đầu cuộc kháng chiến đã phát huy sức mạnh của toàndân tộc, khắc phục được những nhược điểm trước mắt của ta về vật chất, kĩthuât; vừa đánh vừa bồi dưỡng sức ta, khiến ta ngày càng mạnh hơn, làm thayđổi tương quan lực lượng giữa ta và địch cuối cùng giành thắng lợi hoàn toàn.Việc xây dựng hậu phương, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân là một cơ sởquan trọng cho kháng chiến chống Pháp thắng lợi
2.4 Sử dụng những kiến thức trên để giải quyết các câu hỏi thi :
1 Tại sao Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược? Phân tích đường lối kháng chiến chống Pháp do Đảng ta đề ra trong những năm 1946 – 1947
2 Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp của Đảng, chính phủ và chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trong các văn kiện nào? Phân tích nội dung một văn kiện có tính chất hiệu triệu toàn dân đứng lên chống Pháp xâm lược.
3 Vì sao trong cuộc Kháng chiến chống thực dân Pháp, quân và dân ta phải thực hiện phương châm đánh lâu dài ?
4 Hãy dùng các sự kiện lịch sử cụ thể để minh họa câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn lướt tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa”
Trang 253 Vấn đề 3: Quá trình phát triển của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Đây là một vấn đề tổng hợp về giai đoạn phát triển của cuộc kháng chiếntoàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược (1946 – 1954) Không đi sâu chi tiếtdiễn biến chiến sự nhưng giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết chọn lọc, sửdụng các sự kiện lịch sử chủ yếu làm nổi bật các bước phát triển cơ bản nhất(thông qua các giai đoạn) của cuộc kháng chiến, cần làm rõ:
- Âm mưu và thủ đoạn cụ thể của thực dân Pháp trong từng giai đoạn, thểhiện qua chiến lược chiến tranh và âm mưu, thủ đoạn của chúng Qua đó thấyđược tính hiếu chiến, ngoan cố, tàn bạo của địch trong quá trình xâm lược nướcta
- Cuộc đấu tranh anh dũng của quân dân ta đã lần lượt đánh bại những âmmưu và thủ đoạn thâm độc của địch Đó là quá trình phát triển không ngừng củacuộc kháng chiến, vượt qua mọi khó khăn, tiến lên đánh bại hoàn toàn kẻ thù
Các vấn đề trên được trình bày qua những sự kiện cơ bản theo những chủđiểm sau
3.1 Thứ nhất, từ kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19/12/1946) đến chiến dịch Việt Bắc thu-đông 1947, cuộc đấu tranh của nhân dân ta diễn ra như thế nào?
Về giai đoạn này, cần tập trung vào hai nội dung cơ bản sau:
3.1.1.Cuộc kháng chiến ở thủ đô Hà Nội và các đô thị đã tiêu hao, tiêu diệt sinh lực và giam chân một lực lượng lớn của chúng, tạo điều kiện cho cả nước chuyển vào kháng chiến.
3.1.1.1 Chủ trương chiến đấu
- Do bản chất của chiến tranh xâm lược và dựa vào ưu thế về quân số,binh khí, kĩ thuật, thực dân Pháp thực hiện âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh”
Cụ thể là chúng dự định bất ngờ xé bỏ hiệp định và tạm ước kí với ta, nhanhchóng đánh chiếm các thành phố, thị xã rồi đánh lấn ra các vùng còn lại
Trang 26- Với phương châm “đánh lâu dài”, lúc này Đảng đã chủ trương kìm chânđịch trong thành phố một thời gian, tiêu hao bộ phận sinh lực địch, bảo toàn lựclượng của ta; đồng thời đập tan một bước kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh”của chúng, tiếp tục chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài Về chiến thuật, ta lấyđánh du kích là chủ yếu
3.1.1.2 Diễn biến
- Ở Hà Nội: khoảng 20 giờ ngày 19/12/1946, công nhân nhà máy điệnYên Phụ phá máy, tắt điện, cuộc chiến đấu bắt đầu Lực lượng vũ trang của tađồng loạt tiến công các vị trí của quân Pháp Nhân dân khiêng đồ đạc, (giường
tủ, bàn ghế…) ra đường làm chiến lũy, chướng ngại vật Người già, trẻ emnhanh chóng tản cư ra ngoại thành Lực lượng vũ trang “quyết tử quân” được sự
hỗ trợ của nhân dân đã chiến đấu anh dũng, quyết liệt, ngăn bước tiến của giặc,
…trong khói lửa của cuộc chiến, trung đoàn Thủ đô ra đời Sau hai tháng chiếnđấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đề ra lực lượng của ta rút khỏi thành phố vềvùng tự do an toàn
- Ở thành phố, thị xã khác như Nam Định, Vinh, Huế, Đà Nẵng ,… nhândân ta cũng anh dũng tiến công, làm tiêu hao sinh lực địch và chặn bước tiến củachúng , giữ gìn, phát triển lực lượng ta
3.1.1.3 Kết quả, ý nghĩa
- Cuộc chiến đấu của nhân dân ta ở các đô thị đã đánh bại hoàn toàn âmmưu và kế hoạch của thực dân Pháp nhằm đánh úp cơ quan đầu não của ta tại
Hà Nội, tiêu diệt lực lượng của ta ở các thành thị
- Cuộc chiến đấu ở các đô thị có tác dụng giữ chân địch lại, chặn đứng âmmưu “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp, tạo điều kiện cho cả nướcchuyển vào kháng chiến lâu dài
3.1.2 Chiến dịch Việt Bắc thu-đông 1947 làm phá sản chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của thực dân Pháp, đưa cuộc kháng chiến của ta sang một thời kì phát triển mới.
Trang 27- Với âm mưu tiêu diệt cơ quan đầu não và quân chủ lực của ta, hòngnhanh chóng kết thúc chiến tranh xâm lược, thực dân Pháp đã huy động hơn mộtvạn quân tinh nhuệ nhất, có máy bay, tàu chiến yểm trợ mở cuộc tấn công lên
Việt Bắc (Âm mưu và hành động của Pháp, chủ trương của ta, diễn biến: tham
khảo SGK).
- Sau hơn 2 tháng mở chiến dịch, do sức kháng cự mạnh mẽ của quân dân
ta, ngày 19/2/1947, đại bộ phận quân Pháp rút khỏi Việt Bắc, đánh dấu sự thấtbại về chiến lược đầu tiên của chúng trong cuộc chiến tranh xâm lược ở ĐôngDương Địch không tiêu diệt được cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến,ngược lại chúng lại bị tiêu diệt một lực lượng sinh lực: 6.000 tên địch bị chết, bịthương và bị bắt, ta bắn hạ 16 máy bay, hàng trăm xe bị phá hủy, 11 tàu chiến và
ca nô bị đánh chìm Chiến thắng Việt Bắc đã giáng một đòn quyết định vàochiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của chúng, buộc chúng phải chuyển sangđánh lâu dài với ta, đưa cuộc kháng chiến của quân và dân ta bước sang một giaiđoạn mới
3.2 Thứ hai, từ sau Chiến dịch Việt Bắc thu-đông năm 1947 đến trước chiến cuộc đông-xuân 1953-1954, cuộc kháng chiến chống Pháp của quân dân ta diễn ra như thế nào?
Hai giai đoạn với những chiến thắng tiêu biểu:
3.2.1 Từ sau Chiến dịch Việt Bắc thu – đông năm 1947 đến Chiến dịch Biên giới thu – đông 1950.
- Về phía địch: trong suốt quá trình tiến hành cuộc chiến tranh xâm lượcnước ta, địch ngày càng gặp nhiều những mâu thuẫn lớn không sao giải quyếtđược Đó là những mâu thuẫn giữa chiếm đất và giữ đất, giữa phân tán và tậptrung lực lượng; giữa chiến lược đánh nhanh, giải quyết nhanh và tình thế bắtbuộc phải kéo dài chiến tranh
- Sau khi thất bại ở Việt Bắc, đế quốc Pháp buộc phải thay đổi chiến lược,
từ đánh nhanh thắng nhanh chuyển sang đánh lâu dài với ta, quay về “bình định”
Trang 28các vùng chiếm đóng, lấn chiếm vùng tự do của ta, thi hành chính sách “xiếtchặt và vết dầu loang”.
- Về phía ta: vào thời gian này (trong những năm 1948-1949) quân ta vừađẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch (các đội vũ trang tuyêntruyền, các đại đội được thành lập tiến sâu vào vùng địch tạm chiếm, cùng nhândân địa phương xây dựng lực lượng chính trị, lược lượng vũ trang chống phábình định, phát triển chiến tranh du kích …) vừa tích cực xây dựng lực lượng vềmọi mặt, phát triển cơ sở công nghiệp quốc phòng, tăng gia sản xuất lương thực,phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục và phục vụ kháng chiến
Trên cơ sở những chiến thắng trong 2 năm 1948-1949, cùng với những
thuận lợi và thách thức mới trong năm 1950 (Hoàn cảnh lịch sử mới: tham khảo
SGK) quân ta đã chủ trương tranh thủ thời cơ giành thắng lợi lớn về quân sự,
làm chuyển biến cục diện chiến tranh có lợi cho mình Tháng 6/1950, trungương Đảng quyết định mở chiến dịch Biên giới nhằm tiêu diệt bộ phận quantrọng sinh lực địch, giải phóng một phần biên giới, mở rộng và củng cố căn cứ
Việt Băc (Diễn biến kết quả: tham khảo SGK).
Thắng lợi của chiến dịch Biên giới đánh dấu một bước phát triển nhảy vọt
về sức chiến đấu của quân ta, về nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng Từđây ta đã bắt đầu vươn lên giành quyền chủ động trên chiến trường chính BắcBộ
3.2.2 Từ sau Chiến thắng Biên giới thu-đông 1950 đến trước đông-xuân 1953-1954.
- Từ năm 1950, Mĩ trực tiếp can thiệp vào Đông Dương với âm mưu canthiệp vào Việt Nam, nhằm dần thay chân Pháp thống trị 3 nước Đông Dương
- Phát huy quyền chủ động sau chiến thắng Biên giới, ta liên tiếp giànhthắng lợi ngày càng lớn trên các chiến trường Bắc Bộ đến Bình Trị Thiên, TâyNguyên và Nam Bộ Địch ngày càng bị đẩy vào thế bị động, khốn đốn về mọimặt
Trang 29- Cuối năm 1950 đến đầu giữa năm 1951, bộ đội ta liên tiếp mở 3 cuộctiến công lớn đánh vào phòng tuyến kiên cố của địch ở trung du và đồng bằngBắc Bộ: Chiến dịch Trần Hưng Đạo (12/1950), chiến dịch Hoàng Hoa Thám(4/1951), chiến dịch Quang Trung (6/1951).
- Tháng 11/1951, Đảng quyết định mở chiến dịch Tây Bắc, tiến sâu vàomột vùng chiến lược quan trọng nhằm tiêu diệt sinh lực địch, tranh thủ nhândân, giải phóng đất đai Chiến dịch Tây Bắc đã thu được thắng lợi lớn Mùaxuân năm 1953, ta cũng phối hợp với bộ đội Pathet Lào mở chiến dịch ThượngLào thắng lợi, tạo điều kiện đẩy mạnh cuộc kháng chiến của nhân dân Lào anhem
3.3 Thứ ba, từ Chiến thắng Việt Bắc thu-đông 1947 đến Chiến thắng Biên Giới thu-đông là một bước phát triển của cuộc kháng chiến chống Pháp.
Trước hết, Chiến dịch Việt Bắc thu-đông là chiến dịch mà:
- Địch chủ động tấn công lên Việt Bắc để tiêu diệt cơ quan đầu não khángchiến của ta, tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta nhằm giành thắng lợi quyết định vềquân sự đi đến kết thúc nhanh chiến tranh Còn ta chủ động phản công địch đểphá tan “cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp lên Việt Bắc”
- Trong chiến dịch này, ta thực hiện kiểu chiến tranh du kích ngắn ngày,bao vây cô lập và chặn đánh các cuộc hành quân của địch
- Qua chiến dịch Việt Bắc ta đã đánh bại chiến lược “đánh nhanh thắngnhanh” của địch, buộc chúng phải chuyển sang đánh lâu dài với ta
Tiếp đến, Chiến dịch Biên giới thu-đông là chiến dịch:
- Ta chủ động tấn công địch nhằm tiêu diệt sinh lực địch, khai thông biêngiới, củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc, tạo đà thuận lợi mới thúc đẩycuộc kháng chiến tiến lên
- Trong chiến dịch Biên giới, ta thực hiện cách đánh công kiên kết hợpvới vận động dài ngày
- Qua chiến dịch Biên giới ta đã giành được quyền chủ động về chiến lượctrên chiến trường chính (Bắc Bộ), địch bị đẩy vào thế bị động đối phó