Là vùng văn hóa hình thành muộn nhất, Nam Bộ kế thừa truyền thống văn hóa vốn có kết hợp với sự biến thiên do sự tương tác tính cách văn hóa truyền thống Việt Nam với hằng số tự nhiên -
Trang 1s ự BIỀN THIÊN CỦA QUAN NIỆM LUÂN THƯỜNG
ĐẠO LÝ NHO GIÁO TRONG VĂN HÓA NAM B ộ
N guyễn N gọc Thơ*
1 Văn hóa Nam Bộ vói tư cách là một vùng văn hóa Viêt Nam
1.1 N am Bộ, bao gồm hai tiểu vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ (tức đồng bằng sông Cửu Long), là “vùng đất mới” non trẻ với lịch sử hình thành chỉ hơn 300 năm là nơi “ đất lành chim đậu", quê hương của nhiều tộc người Việt, Khơ Me, Hoa (kể cả người Minh Hương) và Chăm Islam, là vùng sản xuất nông nghiệp trù phú và
là một trong số các vùng kinh tế phát triển nhất của Việt Nam hiện nay
Bỏ qua giai đoạn văn hóa Óc Eo - Phù Nam cổ (? - thế kỷ VII sau CN), quá trình di dân của các tộc người Khơ Me, Việt, Hoa, Chăm đến với vùng đất này diễn
ra liên tục từ nhiều thế kỷ, cụ thể phân làm hai giai đoạn lớn, gồm: 1) giai đoạn tiền khai khấn (cuối thế kỷ XIII - XVI) với sự có mặt của người Khơ Me từ vùng đất Angkor; 2) giai đoạn khai khẩn và phát triển (giữa thế kỷ XVII đến nay) với sự khai phá của người Việt, sau đến là người Hoa và người Chăm Trang sử bi tráng của thời khai khẩn vùng đất này được nhiều tác eiả Nam Bộ như Sơn Nam, Đoàn Giỏi, Nguyễn Liêm Phong, Vương Hồng sển, v.v ghi lại qua các tác phẩm nổi tiếng của mình, rất được người Việt Nam ưa chuộng vì qua đó, có thể hình dune khá đầy
đủ và toàn diện về buổi đầu khai sinh của vùng đất cuối trời này của Tổ quốc Đó là nhữna, bằng chứng hùne hồn cho một thời quá khứ nhào nặn nên hình hài của văn hóa Nam Bộ Hơn ba thế kỷ trôi qua, các tộc người Nam Bộ có cùng số phận, cùng chịu cảnh thuộc địa thời kháng Pháp, chịu cảnh chia cắt hai miền Nam - Bẳc thời chống Mỹ, và hiện đang dẫn đầu cả nước về mặt kinh tế
Là vùng văn hóa hình thành muộn nhất, Nam Bộ kế thừa truyền thống văn hóa vốn có kết hợp với sự biến thiên do sự tương tác tính cách văn hóa truyền thống Việt Nam với hằng số tự nhiên - xã hội Nam Bộ, bên cạnh đó còn có sự giao lưu tiếp biến văn hóa phương Tây sớm và mạnh mẽ, hết thảy đã hun đúc nên hệ thống tính cách văn hóa Nam Bộ
* TS., Phó Khoa Văn hóa học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Thảnh phố Hồ Chí Minh.
Trang 2VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QƯÓC TÉ LÀN T H Ứ T Ư
Tính cách văn hóa Nam Bộ nhìn chuna có nền tảng xa xôi từ tính cách văn hóa Việt Nam truyền thống (sản sinh chủ yếu từ vù n e văn hóa đồnạ b ăn s châu thổ Bắc
Bộ - Bắc Trune Bộ) được tác giả Trần N eọc Thêm đúc kết thành: 1) tính cộns done; 2) thiên về âm tính; 3) ưa hài hòa; 4) tính tổnạ hợp; 5) tính linh hoạt Trải qua quá trình biến thiên cho phù hợp với điều kiện tự nhiên và lịch sử - xã hội tại địa phương Nam Bộ, hệ thốna tính cách ấv đã thay đổi hết sức sâu sắc
Điều kiện tự nhiên - xã hội Nam Bộ mang nét đặc thù so với các vùng miền khác Đâv là vùng đồng bàng châu thổ rộnơ lớn được bồi đáp bởi hai hệ thống sôna ngòi: sônơ M ê-kônẹ và sône Đồng Nai, diện tích gần 39.734 km 2, khí hậu nhiệt đới
ôn hòa, ít bão biển, là điều kiện cực kỳ thuận lợi cho các hoạt độne, kinh tế nông nghiệp lúa nước, trồng trọt cây ăn trái và nuôi trồng thủy hải sản Nhà nghiên cứu Nguyễn Tri N euyên (2010: 22-23) gọi Nam Bộ là vùng văn minh lúa nổi - lúa trời, văn minh kênh rạch, văn minh nhà sàn vượt !ũ và văn m inh chợ nổi Có thể nói tự nhiên Nam Bộ mang đậm chất phóng khoána, sẵn sàng dung nạp tất cả các hoạt độn^ sống và các dòng văn hóa Đặc tính này của tự nhiên có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tính cách mở - thoáng của cư dân trong vùng
Do biến Nam Bộ là biển sâu, từ xa xưa đà hình thành những thương cảnạ giao lưu quốc tế quan trọng ( ó c Eo, Cattigara v v ), Nam Bộ sớm mở cửa giao lưu với thế giới Tính từ lúc người Việt vào khai phá đất Nam Bộ vào thế kỷ XVII, Sài Gòn trở thành một thương cảng lớn trong khu vực Đ ông N am Á 1 Nhờ vậy, quá trình giao lưu tiếp biến với văn hóa phương Tây tại đây đã diễn ra rất mạnh mẽ và loàn diện Thời Pháp thuộc (1858 - 1945), Nam Bộ trở thành m ột thuộc địa điển hình của Pháp (Cochin-China), người Pháp đã m ang sang vùng đất này tất cả các thể chế và thiết chế văn hóa - xã hội của họ, và trong gần một thế kỷ giao lưu với văn hóa Pháp, người Nam Bộ đã có một cái nhìn đa diện hơn về cuộc sống, các mối quan hệ nhân sinh và xã hội ở tầm quốc tế Trona suốt quá trình tồn tại của mình, văn hóa Nam Bộ luôn đi đầu trong việc siao lưu và tiếp biến với văn hóa phương Tây và bằng cách đó, đã đóng góp rất nhiều cho việc hiện đại hóa văn hóa truyền thống Việt Nam (giao thông hiện đại, kiến trúc đô thị, báo chí - văn xuôi quốc ngữ, truyền thanh - truyền hình, kinh tế h àn s hóa, n sh ề buôn v.v đều hình thảnh ở Nam Rộ sau đó mới lan tỏa ra cả nước) (Trần N eọc Thêm, 2010: 17)
1.2 Kết quả, tất cả các yếu tố trên đã hòa trộn với nhau, cuối cùng hình thành
nên tính cách văn hóa Nam Bộ, muộn nhất là từ đầu thế kỷ XX trở về sau, gồm: 1) tính sông nước; 2) tính bao dung; 3) tinh năng động; 4) tính trọng nghĩa; 5) tính thiết thực; 6) sự song hành %iữa vai trò cộng đồng x ã hội và vai trò độc lập cả nhân.
1 Thương cảng Sài Gòn bắt đầu nổi lên từ sau khi N ông Nại đại phố ỏ' Biên Hòa bị tàn phá vào các năm 1747, 1777.
Trang 3s ư BIỂN THIÊN CỦA QUAN NIỆM LUÂN THƯỜNG ĐAO LÝ NHO GIÁO.
Yếu tố đóna vai trò quan trọng k h ô n s kém là tính đặc thù của hoàn cảnh xuât thân của lưu dân Việt và bối cảnh lịch sử - xã hội của vùng đất Tây Nam Bộ Có thê nói Tây Nam Bộ là nơi có cộng đồng cư dân mang chất tứ xứ cao nhất cả nước (Trần Ngọc Thêm 2004; Ngô Đức Thịnh, 2004) Dân gian miệt c ầ n Thơ có bài:
"Rồng chầu ngoài Huế, ngựa tế Đ ồng Nam,
N ước trong xan h sao lại chảy hoài, Thương ngườ i xa x ứ lạc loài đến đây Hoặc dân gian N am Bộ vẫn thường hát: < "Ai về Bình Định thăm cha; Phú Yên thăm mẹ, Khánh H òa thăm em” Từ vùng N eũ Quảng vào Nam cơ hồ đều là di dân
tự do, không theo quy mô gia tộc, làng xã như cuộc di cư trước đó từ Bắc Bộ vào VŨI12 Thuận Quảng (xem thêm phim D òng sông thời gian).
Còn Trịnh Hoài Đức trong Gia Đ ịnh thành thông ch ỉ viết: “Khi mới bắt đầu
khai thác, đất Định T ư ờ n e do nhiều đầu mối thống thuộc và ở ngoài Phiên An và Phiên Trấn xa xăm hiểm trở Họ được tự do làm ăn, muốn ở đâu thì ở, muốn khai khán chỗ nào tùy ý, k h ô n s thể lấy luật pháp ràng buộc được” “Rất nhiều làng không có hương ước cũng không có thần tích, thần phả s ắc thần do vua phong cho làng cũng chỉ ghi một khái niệm chung chung “Thần làng bổn cảnh” với vài mĩ từ
“quảng hậu, chính trực, đôn nghi” (rộng rãi, ngay thẳng, đầy đặn), dù đó là sắc phong dưới thời Thiệu Trị hay T ự Đức Dân làng nói chung không bị những quy ước, những lệ làng ràng buộc, câu thúc chặt chẽ như ở Bắc và Trung” (Thạch Phương, 1992: 55) Tục thờ thần Thành hoàng theo truyền thống Bắc Bộ đã chuyển thành tục thờ Thành h o à n s bổn cảnh chung chung Tại Tây Nam Bộ, bóng dáng của những lũy tre dày đặc gói chặt số m ệnh dân cư trong khuôn viên làng Bắc Bộ không còn nữa, mà thay vào đó là các bụi tre, hàng tre trên bãi bồi, bờ bao, đường đê tựa như những vết tích còn sót lại trên bước đường vạn dặm của bao lớp lưu dân
Bàn về tính cách dân N am Bộ nói chung, Leopold Pallu trong H istorie de
L 'expedition de C ochichine en 1861 (1864) viết: ‘;Dân N am Kỳ không muốn đi ra
nước ngoài làm ăn như ng ở trong nước họ di chuyển đến một vùng khác rất dễ dàng” “Khi người ta làm cho họ khổ sở, thì họ ra đi” “Tại N am Kỳ, một làng có thể tan rã tron® tay anh với tốc độ nhanh như lúc nó hội tụ lạ i ” Tác giả N gô Đức Thịnh (2004: 277) thì nhận định: “Ở N am Bộ, làng xóm cũng như cơ cấu xã hội nơi thôn dã cũng k hône lấy £Ì làm bền chắc và chặt chẽ, cột chặt người nông dân ở lại với quê cha đất tổ ”
Vào khoảng nửa đầu thế kỷ XIX, vùng đất Nam Bộ dưới sự thống lĩnh của Phó vương - Tổnơ trấn thành Gia Định là Lê Văn Duyệt đã vận động theo một trục
Trang 4VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN T H Ử T ư
chính trị - kinh tế - xã hội rất khác với triều đình Huế, đến mức nó gần như một vùng đất biệt lập với phần còn lại của đất nước (Choi B v u ne Wook 2004)
Tóm lại, tuy văn hóa Nam Bộ tiếp nối và phát triển văn hóa truyền thống có từ miên Bắc, miền Trung, sone do những tác độna mới mẻ của môi trường sốne văn hóa Nam Bộ khúc xạ mạnh mẽ, trong đó xu hướng Tây phư ơng hóa và trọng vai trò
cá nhân là hai đặc trưng quan trọng có ảnh hưởng mạnh m ẽ đến các mối quan hệ luân thường đạo lí trone văn hóa Nho gia
2 Quan niệm truyền thống về luân thường đạo lí Nho gia
2.1 Việt Nam tiếp xúc với tư tưởne Nho eia từ thời C ôna nguyên Sau 1000 năm thuộc Hán, người Việt Nam đã dần dà tiếp nhận N ho giáo theo nguyên tắc "Cần đên đâu, tiếp nhận tới đó”, và vì thế Nho giáo Việt Nam m ang những nét khá khác biệt với khu vực còn lại của khối chữ Hán Nhà nghiên cứu Đài Loan Trần Văn Đoàn gọi đó là kiểu “Việt N ho” (Tran Van Doan, 2002)
Năm 938, Việt Nam tái độc lập Các tập đoàn phone kiến Việt Nam là Lý, Trần, Lê thay nhau xây dựng văn hóa Đại Việt, đặt nền m óng cơ bản cho văn hóa hiện đại ở Việt Nam Neu như ở giai đoạn Bắc thuộc (đầu C ô n s nguyên - 938), Nho giáo du nhập vào Việt Nam qua quá trình cưỡng bức thì ở giai đoạn Đại Việt sau
đó, người Việt Nam lại tự nguyện du nhập Nho giáo
Suốt các thời kỳ Lý - Trần (thế kỷ XI - XIV), Phật giáo làm quốc giáo song Nho giáo vẫn tìm thấv chồ đứng của minh Năm 1070 lập V ăn Miếu thờ Không Tử, năm 1076 lập Quốc Tử Giám và cùng năm này mở khoa thi đầu tiên Theo Trần Văn Đoàn (2002: 82-83), sở dĩ các nhà nước phong kiến Việt N am tự nguyện du nhập và sử dụng Nho giáo (Tống Nho) là vì Việt Nam cần m ột hệ tư tưởng chính trị
- xã hội thống nhất và hiệu quả Trong số các “tôn giáo” có mặt ở Việt Nam bấy giờ
là Phật, Đạo, Nho và các dạng tín ngưỡng dân gian, duy chỉ có Nho giáo với hệ tư tưởng thế trị là phù hợp hơn hết Trước hết, Nho giáo ở Việt Nam từ trước đã được
“Việt hóa" ở nhữne cấp độ khác nhau Yếu tố thứ hai gắn Việt Nam nhiêu hơn với Nho giáo là chế độ khoa cử (bắt đầu từ 1075), ơỏp phần giáo dục chừ trims, đối với quần ibần, thiên hạ, tư tưởng ‘‘khắc kỷ phục lễ”, tính tôn ti, trật tự xã hội - những thứ mà Phặi oiáo hay Đạo giáo không đặt trọng tâm vào
Tóm lại, nhu cầu có một hệ tư tưởng xã hội chính thống là một nhu cầu có thực ở Việt Nam Điều nàv cũna đã từng xảy ra ở tuyệt đại các xã hội truyền thòne
ở Đ ôna Nam Á cố đại Chính vì thể, việc Nho giáo du nhập vào Việt Nam phân nào đáp ứng được nhu cầu ấy Nhừ sự thốne nhất về tư tưởng, N ho giáo đã góp phân thúc đẩy vận hành và tổ chức xã hội, đào tạo nhân tài và chấn hưng giáo dục, cũng như bổ sung vào dòng văn hóa dân gian Việt Nam chất bác học cổ điển, nhất là trong văn học - nghệ thuật
Trang 5s ự BIỂN THIỂN CỦA QUAN NIỆM LUÂN THƯỜNG ĐAO LÝ NHO GIÁO.
2.2 Trong nghiên cứu đặc trưng Nho giáo Việt Nam, nhà nghiên cứu Phan Ngọc (2002) đề xuất khái niệm “kiểu lựa chọn” "từ tinh thần luận đến thao tác luận”, qua đó Việt Nam đã tiếp nhận Nho eiáo Trung Hoa qua bốn phạm trù thân phận luận
Tổ quốc luận, eia đình luận và diện mạo luận Chính vì thế, Nho 2 Íáo vào Việt Nam chịu sự khúc xạ mạnh mẽ, bởi người Việt Nam tiếp nhận Nho £Ìáo thông qua bôn lăng kính quan trọng, lần lượt gồm: 1) lăng kính Tổ quốc; 2) lăng kính làng; 3) lăng kính văn hóa Đông N am Á; và 4) lăne, kính vị thế, thân phận lịch sử
Nhữnơ tác động của văn hóa truyền thống Việt Nam đã biến Nho giáo du nhập
từ Trung Hoa thay đổi theo nhiều xu hướng khác nhau, được cho là biến thiên theo
xu hướng "âm tính hóa’' nhiều nhất trong vùne văn hóa chữ Hán:
+ Trung quân-ái quốc: Đây là sản phẩm của góc nhìn theo lăng kính Tổ quốc Con người Việt Nam là con người Tổ quốc, văn hóa Việt Nam trước hết là vì Tổ quốc Chữ TRUNG trong Nho giáo Trung Hoa khi sane đến Việt Nam bị khúc xạ thành TRƯNG VỚI TÔ QUỐC Do vậy, chữ TRƯNG trong Nho giáo Việt Nam đã trở thành TRƯNG QUÂN - ÁI QUỐC Neưò'i đứng đầu nhà nước phong kiến Việt Nam được gọi là “vua”, gốc là tù' “bô”, tức “bố” Vua chỉ là “cha”, vậy quan hệ cha con gần gũi hơn rất nhiều so với quan hệ “thiên tử” - “bá tính” trong văn hóa Trung Hoa
Tương tự, chữ H IỂ U trong văn hóa Việt Nam cũng bị phân hóa thành TIÊU HIẾU và ĐẠI HIÉƯ Tiếu hiếu là truyền thống hiếu đạo đổi với ông bà - tổ tiên, còn Đại hiếu là hiếu với Tổ quốc, với nhân dân, với non sông đất nước
+ Tính nước đôi dân gian - quý tộc, song thiên về dân gian: Đây là sản phẩm của góc nhìn theo lăng kính làng xã nông thôn Việt Nam Văn hóa làng xã là nên tảng của tâm thức người Việt Nam, do vậy người Việt Nam là con người của làng nước Cộng đồng làng xã là đơn vị xã hội cơ bản ở Việt Nam, trong khi ở Trung Hoa là gia tộc (family clans) (Neuyen Quang Dien, 2002: 69) Kiểu quan hệ này khác với tâm thức người Trung Hoa là từ gia đến quốc, do vậy họ gọi Tổ quốc là quốc gia Trong tổ chức cộng đồng, mỗi noôi làng Việt Nam làm thành một thê hoàn chỉnh về văn hóa với Thành hoàng riêng, đình làng riêng, khoán ước riêng, ơ Việt Nam truyền thống, mỗi một làng là một “nước Việt Nam thu nhỏ”
Chính cái khung văn hóa làng xã này đã tác động, làm biến đổi văn hóa Việt Nam Người Trung H oa đặt trọng tâm ở đạo đức, song ở người Việt Nam lại là chữ nhân, chữ tình và lòng yêu nước (Nguyen Quang Dien, 2002: 69)
+ Xu hướng âm tính hóa và tôn trọng phụ nữ: Đây là sản phẩm của góc nhìn theo lăng kính văn hóa Đông Nam Á Văn hóa Đônơ N am Á là văn hóa lúa nước, vôn coi trọng vai trò nữ giới (âm tính), thề hiện sống động trong các hình thức thờ tự biêu tượng phồn sinh, thờ nữ thần, tín ngưỡng đa thần (Nguyễn Ngọc Thơ, 2010)
+ Hướng đến sự hài hòa: Đây là sản phẩm của 2,óc nhìn theo lăng kính vị thê, thân phận lịch sử (Phan Nsọc, 2001) Việt Nam mang thân phận của nước nhỏ
Trang 6VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉƯ HỘI THẢO QUỐC TÉ LẦN TH Ú T ư
bên cạnh Trung Hoa nên phải “cúi mình đê giữ độc lập” , luôn luôn chấp nhận một ít thua thiệt để giữa hòa khí với bên ngoài
2.3 Có thể thấy, tuy được xếp vào vùng văn hóa chữ Hán, tức cùng là một nền
văn hóa Nho giáo cổ điển, song, văn hóa Việt N am lại vận động và phát triển trên một cái trục rất khác với Đônơ Bắc Á, đó là trục n ô n2 nehiệp lúa nước làna xã khép kín kiểu đặc trưng Đông Nam Á T rone các mối quan hệ luân lí, người Việt Nam truyền thống coi trọng tình cảm (cá nhân - cá nhân, cá nhân - xã hội, cá nhân - quốc gia), lấy đó làm nền tảng để tiếp tục xây dựng chữ TR U N G , chữ HIẾU, V.V
Qua nghiên cứu so sánh văn hóa Nho 2Íáo Việt Nam và Trung Hoa, nhà nghiên cứu Trần Văn Giàu (2002: 101-102) đã tone kết thành mấy điểm chính yếu sau:
+ Nho giáo Trung Hoa chính thốna đặt trọng tâm cao nhất mối quan hệ quân - thần trong Tam cương, đồnẹ nghĩa với việc đề cao chữ trung trong xã hội, trong khi
đó người Việt Nam xem xét mọi mối quan hệ trong cái khung bất định của lợi ích quốc gia, dân tộc, tức đặt trung quân gan với ái quốc
+ Trong Ngũ thường, neười T rùn? Hoa đề cao năm đức lần lượt là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, trong khi người Việt N am coi trọna hơn ở cái nghĩa, còn gắn thành
“đại nghĩa” Trong văn hóa Việt Nam, đại nghĩa cao nhất là giữ nước Người Việt Nam (cả trí thức lẫn dân thườna) dù coi trọng chừ trung, chữ lễ sonạ cũno rất đề cao chủ nghĩa anh hùng, tức chữ dũng (đều vì đại nghĩa)
Trong số các nhiệm vụ chính của người quân tử, người Việt Nam đã lược mất yếu tố “bình thiên hạ” , do vậy chỉ còn “tu thân, tề gia, hóa hương, trị quốc” Nho giáo Trung Hoa chính thống đề cao thiên mệnh, còn giới nho sĩ Việt Nam đặt trọng tâm ở “tự lực cánh sinh”
Còn trong so sánh chủng với toàn bộ vùn2 văn hóa N ho giáo, các tác giả Trần Quốc Vượng (2000), Phan Văn Các (2005), Đoàn Lê G iang (2007), Trần Ngọc Thêm (2009) đúc kết thành bảng sau:
Tính chất giáo
dục Nho học
Nho học khoa cử Cá Nho học
khoa cử và Nho học nghĩa lí
Thiên về Nho học nghĩa lí
Nho học tự do, Nho học nghĩa lí
Thành phần
Nho sĩ
Thân sĩ (văn sĩ) Văn sĩ, võ sĩ Võ sĩ nổi bật
hơn văn sĩ
Võ sĩ
Đặc trưng bản
chất Nho giáo
Bản chất
văn hóa
điều hòa
T h iê n về d ư ơ n g Dương tính
Trang 7s ư BIỂN THIÊN CỦA QUAN NIÊM LUÂN THƯỜNG ĐẠO LÝ NHO GIÁO.
Có thê thấy, người Việt N am truyền thống lấy Nehĩa làm đức tính cao cả nhất,
nó bao trùm lên tất cả các quan niệm luân thường khác, nó chế ước chữ Trung, chữ Hiêu chữ Đê và tất cả các đạo lí khác Sau chữ N s h ĩa là chừ Hiếu, trước hết là Hiếu với gia đình, dòng tộc, sau đó là Hiếu với non sông, đất nước, v ề phương diện này, chữ Hiếu (Đại Hiếu) đã bao hàm chữ Trung Bản thân chữ Trung đã bị chi phối bởi lòng yêu nước
3 Q u a n niệm về lu â n t h ư ờ n g đ ạo lý c ủ a n g ư ò i N am Bộ
3.1 ơ người Việt N am Bộ, sự liên kết cộng đồng làne xã khép kín kiểu truyền thống đà vụn vỡ tan tành, thay vào đó là chủ nghĩa cá nhân Tác giả N ẹô Đức Thịnh (2004: 267) viết: “K hông như những người Việt tiền bối từ Bắc vào Trune Bộ thường di dân theo từng làng xóm, dòng họ, vào nơi đất mới chừng nào vẫn giữ truyền thống quê hương xưa, từ việc đặt tên làng, tên xã đến các lề tục mang đi từ quê cha, đất tố; những người tới đất Nam Bộ thường là đi riêng lẻ từng cá nhân, ra
đi là dứt bỏ những lề tục xưa c ũ
Thêm vào đó, các tầng lớp lưu dân đa phần là dân nghèo, dịa vị xã hội thấp kém nên khả năng hội nhập xã hội cũng kém T ư duy trọng tập thể (xóm làng, thân tộc) không thể tồn tại, người Việt tại đây đã chọn gia đình hạt nhân để làm chỗ dựa tinh thân Người Việt vẫn tụ tập m ở làng lập ấp, song thành phần dân cư dễ biến động, mức dộ tứ xứ cao, quan hệ cộng đồng lỏng lẻo đã tạo ra một cảm giác bất an
về vận mệnh tương lai của chính họ và con cái họ Gia đình là “ pháo đài” kiên cố nhất giúp họ đối mặt với các thử thách ấy Ở miền Bắc Việt Nam, người ta nói
"nhập hương tùy tục”, còn ở N am Bộ là “nhập gia tùy tục” , mỗi gia đình một kiểu, không ai giống ai
Quan niệm dòng tộc ở người Việt Tây Nam Bộ nhạt nhòa Dòng tộc dường như đã trở thành quá khứ, là cái mà họ đã để lại ở bản xứ miền Trung hay đất Bắc Tại nơi ở mới, vị trí của người trưởng tộc, trưởng họ không còn tồn tại nữa Tương
tự, chế độ tông pháp rất nhẹ nhàng, người Việt Tây Nam Bộ không đặt nặng vai trò con trưởng, bố mẹ thường s o n s với con trai út Tài sản chia cho cả con trai và con gái, con trai chia phần nhiều hơn con gái Ở nhiều gia đình, vai trò con gái út khá đặc biệt Rất ít gia đình Tây N am Bộ lưu truyền aia phả cho dòng họ mình, chính vì vậy chỉ một thế kỷ trôi qua là người V iệt vùng này đã không còn biết nguyên quán của mình ở đâu và họ cũ n e không có nhu cầu cần biết điều ấy Đối với họ, hiện tại
và tương lai là quan trọng, còn ngày hôm qua đã là dĩ vãng, không nhớ cũng không sao Sự giáng cấp ẩy của quan hệ d ò n a tộc còn thể hiện ở sự thay đổi một vài danh xưng của chế độ cửu tộc xưa N guyễn Đình Tư (2008: 299) viết: “Các gia đình, dòng họ chỉ biết đến sơ là cùng Trên ông sơ, không thể truy tới cùng được Do đó, hình thức đại tôn như ỏ' miền Trung, miền Bắc không có K hông có ngày lễ Tổ
Trang 8VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TÉ LÀN THỦ T ư
đúna, nghĩa hẳng năm Để bù lại sự thiếu sót, thiệt thòi đó, một số nơi thành lập các
cơ sở thờ tự riêng gọi là miếu họ, định một ngày trong năm, nhữna ai m ane cùng một họ tới dự lễ chung gọi là tế T ổ ” (ghi trong Nguyễn Tuấn Anh, 2009)
Trong tâm thức của người Bắc Bộ, vai trò của làne, xã vô cùnơ to lớn, nó chi phôi hâu hết mọi hoạt đ ộ n s sống của cá nhân Tại Nam Bộ, vai trò ấy của làng bị thay thế bởi yếu tố eia đình hạt nhân (cha - mẹ - con) N am và nữ đến với nhau vì n?hĩa, vì tình chứ không vì sự sắp đặt môn đăng hộ đối Ở Bắc Bộ có vế “việc nước việc làng’' thì tại Tây Nam Bộ lại là “việc nước việc nhà” Người Bắc Bộ nói “nhập hương tùy tục” thì neười Tây Nam Bộ chuyển thành “nhập gia tùy tục” Ở Bắc Bộ con người sốne dưới sự chi phối của hương ước thì Nam Bộ thời khẩn hoang mana đậm chất tự do kiểu “chim trời cá nước ai bắt được nấy ăn”
Tác giả Huỳnh Lứa (1992: 38) viết: “Với nề nếp sinh hoạt có tổ chức vốn đã trở thành truyền thống ở nơi quê hương bản quán, với đặc trưng chung là ý thức cộng đồng, tương thân tương ái, những lưu dân khi đặt chân vào vùng đất mới đã nhanh chóng kết thành chòm xóm để dựa vào nhau làm ăn sinh sống, đùm bọc giúp
đỡ nhau trong lúc khó khăn, đoàn kết cùng nhau chống lại thú dữ cũng như bọn trộm cướp, cường hào ác bá”
Còn Ngô Đức Thịnh (2004: 267) nhận định: “(•••) những người tới đất Nam
Bộ thường là đi riêng lẻ từng cá nhân, ra đi là dứt bở những lề tục xưa cũ nhất là đối với những người bị tội đồ mà ra đi, vì nghèo đói mà lưu lạc Bởi thế, buổi ban đầu, dân tứ xứ, dân tứ chiếng, từng cá nhân, từng nhóm nhỏ tập hợp lại, đùm bọc, nương tựa nhau để trụ lại nơi đất mới lạ lẫm đầy thử thách này” M ột cô gái đang
yêu m ong mỏi người yêu song cũng chột dạ nếu lỡ xóm thôn phát hiện: uĐền hết dầu đèn tắt; N hang cỏn thắp, nhang thơm; Biểu anh đừng lên xuống đêm hôm; Thê gian đàm tiếu, ấp thôn chê c ư ờ i”, hoặc giả "Nước m ắt ern rơi cải độp; Anh lấy cái hộp anh bỏ vô liền; Đ ôi ta thương trộm, láng giềng đều h a y ' (ca dao Tây Nam Bộ)
Trong liên kết xóm ấp, tình nghĩa chân chính !à chất keo gắn bó những phận đời lưu
lạc với nhau, như trong càu "Bình Lương là cho náu nương; An Bình ỉà cho tình thương đậm đà ” Từ “đi xóm ” khá phổ biến ở Tây Nam Bộ, chỉ đi ra khỏi nhà vì
một công việc bất kỳ
Khác với Nho giáo ở miền Bắc phát triển trên cơ sở nền kinh tế nông nghiệp
tự cấp tự túc kiểu tiểu n ô n s và thiết chế làne xã cổ truyền nên bị giới hạn trong những chiều kích kinh tế - xã hội khép kín, Nho giáo ở Nam Bộ tồn tại trên cơ sở nền sản xuất vật chất sớm mang yếu tố hàng hóa và trong bối cảnh hoạt động ngoại thương đang khởi sắc nên có một không gian xã hội và phương thức phát triển rất khác Gần như tất cả các nhà nho trong nhóm Sơn hội Gia Định cuối thế kỷ XVIII như Trịnh Hoài Đức, N gô Nhơn Tịnh, Huỳnh Ngọc u ẩ n , Diệp Minh Phụng đều
Trang 9s ự BIẾN THIỂN CỦA QUAN NIỆM LUÂN THƯỜNG ĐAO LÝ NHO GIÁO.
là con nhà thương nhân hay trực tiếp đi buôn bán, thậm chí Trịnh Hoài Đức trước năm 1788 từng đi buôn sang tận Campuchia Đen giữa thế kỷ XIX thì đã có những nhà nho làu thông kinh sử khôna thèm làm quan nhưng không vào núi lánh đời mà nhảy ra kinh doanh ngành ăn uốns như nhân vật Ông Quán trone Lục Vân Tiên, người bỏ tiền ra hối lộ quân xâm lược để bảo tồn Văn miếu Vĩnh Long khi ba tỉnh miền Tây N am Kỳ bị quân Pháp đánh chiếm năm 1867 Xuất phát điểm kinh tế - xã hội này khiến tans lớp nho sĩ ở Nam Bộ không có thái độ bài xích thương nghiệp,
mà ngược lại, còn thích ứng với kinh tế hàng hóa và sinh hoạt đô thị một cách dễ dàne và mau lẹ không khác gì các nhà nho Trung Quốc thời Minh Thanh
3.2 Xét toàn diện, yếu tố Nho giáo trong văn hóa Nam Bộ được cho là nhạt,
nếu khône nói là đã bị phá vỡ gần như hoàn toàn Chữ Nghĩa vốn đã bao trùm lên chữ TRUNG, chữ HIẾU Chữ Nghĩa kiểu truyền thổng ở miền Bắc đã thay đổi hoàn
toàn nội hàm của nó, NG HĨA chỉ tình nghĩa, lẽ phải, việc công bằng giữa những người tứ xứ với nhau trong một không gian “chim trời, cá nước ai bắt được nấy ăn”
T rone các đạo lí, chữ Trung trở nên bàng bạc, nhạt nhẽo khi mà người lưu dân
đã sẵn sàng vứt bỏ hết thảy các giá trị Nho giáo truyền thống ở cố hương mình để đi tìm vùng đất mới Tại đó, những thử thách của tự nhiên và xã hội đã khiến họ liên kết nhau lại dưới nguyên tắc công bằng, đại nghĩa Dân Nam Bộ thường lấy câu
“Kiến ngãi bất vi vô thượng dã” làm nguyên tắc ứng xử xã hội bất kể thân sơ Dù vậy, dưới thời Pháp thuộc, phong trào kháng Pháp diễn ra tại N am Bộ vô cùng mạnh mẽ, một số trí thức Nam Bộ đã hô hào sử dụng các giá trị N ho giáo như là một thứ vũ khí nội tại để chống lại sự du nhập ngày càng lớn của văn hóa phương Tây, từ đó sản sinh ra một số nhà nho kiểu Nam Bộ như: Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản, Ngô N hơn Tịnh, v.v Tuy vậy, sự biến thiên của tính chất Nho giáo tại Nam Bộ đã khiến cho văn hóa vùng đất này nhanh chóng chuyển sang một phưong hướng mới, gần gũi hơn với văn hóa Tây phương: trọng vai trò cá nhân và trọna sự công bằng của pháp luật
Do gia đình hạt nhân là trọng tâm, người Việt miền Tây N am Bộ vẫn coi trọng
chữ Hiếu, song lại là kiểu chữ Hiếu được kết tinh bằng tình cảm tự nhiên giữa các
thể hệ cha - mẹ và con cái chứ khône bị trói buộc bằng gia phong, lễ giáo Quan niệm chữ Hiếu xuất phát tự nhiên từ mối quan hệ cha mẹ - con cái qua công ơn sinh thành, dưỡng dục nên nó không theo một khuôn mẫu, chuẩn mực nào cả, càng không phải là chữ Hiếu đã được lí luận hóa bằna; tư tưởng Nho gia Người con có nhiệm vụ báo hiếu bằng nhiều phương thức khác nhau, kể cả những phương thức phản cảm, như chấp nhận hôn nhân không tình yêu để kiếm tiền báo hiếu cha mẹ (ví
dụ hiện tượng đẻ thuê, v v ) mà bất chấp thanh danh dòng tộc Hình ảnh Lục Vân Tiên khóc tang mẹ đến mù mắt vẫn được người dân coi như một thứ biểu tượng của
Trang 10VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI TH ẢO QUỐC TẾ LẰN T H Ứ TƯ
chữ hiếu Ớ ph ư ơns diện này, chữ Hiếu trong văn hóa N am Bộ mang ít nhiều dấu
ấn của chữ Nehĩa và đậm chất dân chủ một thử đặc sản chỉ có ở Nam Bộ
“Trọng nghĩa khinh tài” là đặc trưng tính cách quan trọng vào bậc nhất cua người Nam Bộ Trong một bối cảnh tự nhiên rộ n s mở, xã hội còn chưa được tổ chức chặt chẽ từ nhừne thế kỷ XVIII - XIX, người Nam Bộ tự thân tự lực, tự liên kết với nhau vì nahĩa và bằng tình nshĩa N shĩa là suối neuồn của các động lực xã hội, mọi người đều là dân tứ xứ họp lại với nhau hình thành nhóm Do vậy, tro n2 văn hóa Nam Bộ không có khái niệm “người trong nhóm " hay “người n^oài n hóm ”
Sự gia nhập hay tách li khỏi một cộng done nào đó thật nhẹ nhàng như thể nước cạn rồi lại đầy, miễn sao cái tình, cái nghĩa được đong đầy Dân gian N am Bộ chắt chiu
cái nghĩa Họ nói lên tâm lòng của mình qua câu ca dao: "G ái mà chi trai m à chi, sinh ra có nghĩa có nghi thì hơn”, không câu nệ chủ nghĩa tông pháp, khôns, trọne
nam khinh nữ, mà ngược lại, đề cao cái tình nghĩa bộc trực, giản dị của những người đồng cảnh ngộ lưu dân
Vào đầu thể kỷ XX trở đi, khi Nam Bộ chìm dài trong bóng đêm thuộc Pháp,
tiểu thuyết Trung Hoa được bạn đọc Nam Bộ ưa chuộng, trong đó có thể kế Tam quốc diễn nghĩa, Đ ông Chu liệt quốc, H ồng lảu mộng, Thủy hử, Du long hý p h ụ n g , Chánh Đ ức du G iang N am , M ạnh Lệ quăn, Nhạc p h i, Thập nhị quả phụ, Chinh Tây
v.v Người Num Bộ đặc biệt yêu thích các tính cách "trọng nghĩa kinh tài" của các nhân vật trung tâm “Truyện Tàu phản ánh một xã hội phân hóa sa đọa về chính trị
và trong cảnh hỗn loạn chiến tranh, có những người từ quần chúng ra đi cứu khốn phò nguy mà không được nhà vua ủy nhiệm hay nhận lịnh của triều đình, trọng nghĩa khinh tài, trở thành những mẫu anh hùng nêu cao chính nghĩa.”, “Tinh thần của Đông Chu liệt quốc, Tây Hớn, Thuyết Đường, Tam quốc vẫn còn bàng bạc ở trong sinh hoạt, ở các ngả đường, trong mọi cung cách đối xử và cái tác phong trọng nghĩa khinh tài, cũng như thái độ coi cái mạng mình là rẻ để mà giữ lấy chừ nhân, chữ tín vẫn còn được xem như một tiêu chuẩn đáng trọng của một đạo sống phổ biến” (Lê N gọc Thúy) Vì thế, với độc ạiả Nam Bộ thời ấy, cái gọi là “tư tưởng đạo đức luân lí” được tiếp nhận rất dân chủ và uyển chuyển Neười chết vì nổi dậy chổng vua cũng được yêu mến không kém gì người chết vì phò vua Người ta yêu mến các trung thần Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Tử Long, nhưng còn ngưỡng mộ những anh hùng nổi loạn Tống Ciiang, Tiều Cái, Lâm Xung Võ Tòng nhiều hơn thế Tính cách văn hóa Nam Bộ thiên về kiểu Tống Giang, Lâm Xung, Võ Tòng hơn là Quan Vũ hay Triệu Tử Long
Trong muôn vàn cái nghĩa, người Việt Nam Bộ coi trọng cái nghĩa bàng hữu Bạn tâm giao là những người đồng hành quan trọng của họ, là những con người
cùng nương tựa, cùng chia sẻ đại nghĩa của cuộc sống Chính vì vậy, chữ Tín trong;