Để thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy, từ phương pháp dạy học cũ thụ động “thầy đọc trò chép” sang phương pháp giảng dạy tích cực, chủ động, sáng tạo theo hướng “Phát huy trí lực của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm”. Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy và tiếp xúc với các em tôi phần nào hiểu được tình hình và phương pháp học tập của các em vì vậy tôi luôn trăn trở, tìm tòi, từng bước thực hiện việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo yêu cầu của bộ giáo dục và đào tạo đề ra, để một giờ học mang lại hiệu quả cao nhất. Bởi chúng ta đều biết phương pháp giảng dạy là một trong những yếu tố cơ bản và quan trọng nhằm truyền đạt kiến thức tới học sinh đạt hiệu quả tốt nhất. Phương pháp giảng dạy phù hợp, khoa học sẽ là con đường giúp người học tiếp thu kiến thức một cách chủ động hiệu quả và phát huy trí lực của người học. Mỗi cấp học, mỗi bộ môn đều phải có một phương pháp giảng dạy phù hợp và phải không ngừng đổi mới, hoàn thiện và đây cũng chính là một trong những yếu tố, động lực nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh hiện nay. Vật lý là môn khoa học thực nghiệm mà đặc trưng là lĩnh hội kiến thức mới thông qua việc làm thí nghiệm vì vậy thí nghiêm vật lý là yếu tố không thể thiếu được của quá trình nhận thức vật lý . đăc biệt là trong chương trình đổi mới hiện nay. Hơn nữa, theo cấu trúc sách giáo khoa thì mỗi bài học mới, bao giờ cũng có phần thí nghiệm và phần kết luận của bài để trống, học sinh phải tự điền vào. Do đó học sinh phải làm thí nghiệm ,phân tích, tổng hợp rồi rút ra kết luận. Vì vậy việc làm thí nghiêm trong mỗi bài học là rất quan trọng, vừa giúp học sinh rút ra được kiến thức mới một cách chủ động, vừa rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm thí nghiêm, quan sát, phân tích, tổng hợp và như thế sẽ rèn luyện cho học sinh tính tự giác trong học tập và trong cuộc sống sau này. Thông qua làm thí nghiệm giáo viên làm việc nhẹ nhàng hơn, học sinh sẽ thấy thích thú học tập và ham muốn khám phá tri thức nhân loại.Từ những suy nghĩ trên tôi đã nghiên cứu trao đổi với các đồng nghiệp dạy bộ môn Vật lý về vấn đề khai thác các thí nghiệm trong các giờ học Vật lý, nhất là thí nghiệm vật lý 7. Đây là khối lớp mà bước đầu các em đã được làm quen với phương pháp đổi mới trong dạy học, đó là điều kiện rất thuận lợi để có thể nâng cao hơn nữa hiệu quả trong việc tiếp thu kiến thức của học sinh. Vì điều kiện thời gian có hạn nên chuyên đề này tôi chỉ đề cập đến một số kinh nghiệm dạy thí nghiệm Vật lý 7
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ ĐÔNG
Trường THCS Biên Giang
* * * * * *
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY THÍ
NGHIỆM VẬT LÝ 7
Giáo viên: Nguyễn Thị Hương
Năm học: 2019 – 2020
Trang 3Phần thứ nhất: đặt vấn đề
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Để thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy, từ phương pháp dạy học cũ thụ động “thầy đọc - trò chép” sang phương pháp giảng dạy tích cực, chủ động, sáng tạo theo hướng “Phát huy trí lực của học sinh, lấy học sinh làm trung tâm”
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy và tiếp xúc với các em tôi phần nào hiểu được tình hình và phương pháp học tập của các em vì vậy tôi luôn trăn trở, tìm tòi, từng bước thực hiện việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo yêu cầu của
bộ giáo dục và đào tạo đề ra, để một giờ học mang lại hiệu quả cao nhất Bởi chúng ta đều biết phương pháp giảng dạy là một trong những yếu tố cơ bản và quan trọng nhằm truyền đạt kiến thức tới học sinh đạt hiệu quả tốt nhất Phương pháp giảng dạy phù hợp, khoa học sẽ là con đường giúp người học tiếp thu kiến thức một cách chủ động hiệu quả và phát huy trí lực của người học Mỗi cấp học, mỗi bộ môn đều phải có một phương pháp giảng dạy phù hợp và phải không ngừng đổi mới, hoàn thiện và đây cũng chính là một trong những yếu tố, động lực nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh hiện nay
Vật lý là môn khoa học thực nghiệm mà đặc trưng là lĩnh hội kiến thức mới thông qua việc làm thí nghiệm vì vậy thí nghiêm vật lý là yếu tố không thể thiếu được của quá trình nhận thức vật lý đăc biệt là trong chương trình đổi mới hiện nay Hơn nữa, theo cấu trúc sách giáo khoa thì mỗi bài học mới, bao giờ cũng có phần thí nghiệm và phần kết luận của bài để trống, học sinh phải tự điền vào Do
đó học sinh phải làm thí nghiệm ,phân tích, tổng hợp rồi rút ra kết luận Vì vậy việc làm thí nghiêm trong mỗi bài học là rất quan trọng, vừa giúp học sinh rút ra được kiến thức mới một cách chủ động, vừa rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm thí nghiêm, quan sát, phân tích, tổng hợp và như thế sẽ rèn luyện cho học sinh tính tự giác trong học tập và trong cuộc sống sau này Thông qua làm thí nghiệm giáo viên làm việc nhẹ nhàng hơn, học sinh sẽ thấy thích thú học tập và ham muốn khám phá tri thức nhân loại
Từ những suy nghĩ trên tôi đã nghiên cứu trao đổi với các đồng nghiệp dạy
bộ môn Vật lý về vấn đề khai thác các thí nghiệm trong các giờ học Vật lý, nhất
là thí nghiệm vật lý 7 Đây là khối lớp mà bước đầu các em đã được làm quen với phương pháp đổi mới trong dạy học, đó là điều kiện rất thuận lợi để có thể nâng cao hơn nữa hiệu quả trong việc tiếp thu kiến thức của học sinh Vì điều kiện thời gian có hạn nên chuyên đề này tôi chỉ đề cập đến một số kinh nghiệm dạy thí nghiệm Vật lý 7
I Đối tượng,phạm vi và thời gian nghiên cứu
- Học sinh lớp 7A, 7B, 7C, 7D trường THCS Biên Giang
- Học kỳ I năm học: 2019 – 2020
Trang 4Để khai thác các thí nghiệm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh một cách cao nhất cần có một số biện pháp và giải pháp sau:
1 Những biện pháp và giải pháp thực hiện
Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, các tri thức vật lí là sự khái quát hoá các kết quả nghiên cứu thực nghiệm và các hiện tượng diễn ra trong đời sống Dựa trên các thí nghiệm, học sinh thực hiện được các thao tác tư duy để tiếp thu tri thức mới Bài học có thí nghiệm kích thích óc tò mò khám phá khoa học, ham hiểu biết, rèn luyện óc độc lập suy nghĩ và tư duy sáng tạo cho học sinh
Để thực hiện tốt chương trình sách giáo khoa mới môn Vật lý lớp 7 và dạy
- học theo phương pháp đổi mới đạt hiệu quả cao thì đòi hỏi giáo viên phải nghiên cứu, tìm tòi để đề ra được những phương pháp giảng dạy có hiệu quả nhằm hướng dẫn học sinh biết phân loại, sử dụng thành thạo và làm tốt các thí nghiệm trong chương trình sách giáo khoa
Sau đây tôi xin được chia sẻ một số kinh nghiệm cũng như được trao đổi với các đồng nghiệp về biện pháp tổ chức học sinh tiếp thu kiến thức và đặc biệt
là việc sử dụng và làm thí nghiệm để đạt hiệu quả trong bài học:
a Chuẩn bị thí nghiệm.
Thí nghiệm phải kích thích được hứng thú học tập, óc sáng tạo của học sinh Muốn đạt được điều đó giáo viên phải tìm hiểu thật kỹ nội dung bài dạy, các thí nghiệm sẽ làm
Ví dụ: Khi nghiên cứu ảnh của một vật tạo bởi gương phẳng tức là phải trả lời được câu hỏi: ảnh của một vật tạo bởi gương phẳng có hứng được trên màn chắn không? Từ đó giáo viên xác định rõ mục đích thí nghiệm, lựa chọn các dụng cụ thí nghiệm cần thiết cho phù hợp Các dụng cụ thí nghiệm phải đơn giản dễ làm và chất lượng tốt đảm bảo độ chính xác cao
Trong quá trình giáo dục rất cần có óc sáng tạo của giáo viên để có được các dụng cụ thí nghiệm phù hợp, vì không phải dụng cụ thí nghiệm nào cũng có
và cũng hoạt động tốt, nhiều khi giáo viên phải tự tạo ra các dụng cụ thí nghiệm phục phụ cho giảng dạy
Để kích thích thị giác giáo viên cũng cần phải chọn các thí nghiệm có đồ dùng màu sắc tương phản “bắt mắt” giúp học sinh quan sát tốt hơn
Thí nghiệm thành công tức là phải được chuẩn bị kỹ, làm đi làm lại nhiều lần nếu thất bại sẽ phá vỡ tiến trình bài học gây tâm lí hoang mang thất vọng đối với học sinh Điều không thể thiếu được là giáo viên phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh quan sát hiện tượng, phân tích kết quả thí nghiệm vận dụng các kiến thức có liên quan để đi đến tri thức mới một cách logic
b Tiến hành thí nghiệm.
Bước 1: Thu thập thông tin.
Giáo viên hướng cho học sinh quan sát các sự kiện, hiện tượng, thí nghiệm, tìm được những thông tin cần thiết từ thực tế, sách giáo khoa, báo
Trang 5Lập kế hoạch khám phá thiết kế thí nghiệm, lựa chọn dụng cụ thiết bị thí nghiệm, chỉ ra đại lượng cần đo, những điều cần xác định trong thí nghiệm, chỉ
ra những yếu tố cần giữ nguyên, không thay đổi khi làm thí nghiệm
Tiến hành thí nghiệm: Bố trí lắp đặt dụng cụ thiết bị thí nghiệm; thực hiện thí nghiệm theo hướng dẫn, thay đổi phương án thí nghiệm nếu kết quả không phù hợp với vấn đề đặt ra
Ghi kết quả khám phá Đọc số chỉ của các dụng cụ thí nghiệm ở mức độ cẩn thận và chính xác cần thiết, lập bảng kết quả, biểu diễn kết quả bằng đồ thị ,
sơ đồ
Bước 2: Xử lí thông tin.
Ví dụ như : Lập bảng, biểu, vẽ đồ thị theo những cách khác nhau, từ đó phân tích dữ liệu, kết quả thí nghiệm và nêu ý nghĩa của chúng Tìm quy luật từ kết quả thí nghiệm từ biểu bảng đồ thị Phân loại dấu hiệu giống nhau, khác nhau, nhận biết những dấu hiệu bản chất của những nhóm đối tượng đã quan sát , so sánh, phân tích, tổng hợp dữ liệu và rút ra kết luận
Bước 3: Thông báo kết quả làm việc.
Mô tả lại những thí nghiệm đã làm, trình bày, giải thích những việc đã làm bằng lời, bằng hình vẽ hoặc bằng đồ thị nêu kết luận đã tìm thấy được
Bước 4: Vận dụng ghi nhớ kiến thức.
Vận dụng giải các bài tập ( định tính, định lượng, thực nghiệm) làm đồ chơi, dụng cụ học tập , học thuộc lòng
Trong mỗi tiết dạy có thí nghiệm, giáo viên có thể phát huy tính tích cực học tập của học sinh ở những mức độ khác nhau (có thể GV thực hiện, có thể giáo viên điều khiển học sinh thực hiện một vài phần, có thể để học sinh tự thực hiện hoàn toàn )
Ví dụ: ở bài “Sự truyền ánh sáng”
Khi nghiên cứu về đường truyền ánh sáng đầu tiên giáo viên phải yêu cầu học sinh đọc sách giáo khoa để thu thập thông tin để tìm hiểu mục đích của thí nghiệm, dụng cụ thí nghiệm và cách tiến hành thí nghiệm Giáo viên yêu cầu học sinh bố trí thí nghiệm như hình 2.1 trong SGK và quan sát ánh sáng phát ra
từ dây tóc đèn pin bằng ống thẳng và ống cong sau đó yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi: ánh sáng từ dâytóc đèn pin truyền trực tiếp đến mắt ta theo ống thẳng hay ống cong?
Để trả lời được câu hỏi này học sinh phải tự làm thí nghiệm, quan sát tìm tòi được những thông tin cần thiết cho quan niệm đường truyền của ánh sáng Tiếp theo yêu cầu học sinh xử lí thông tin bằng thí nghiệm kỉêm tra ( bố trí thí nghiệm như hình 2.2 SGK) với thí nghiệm này học sinh kiểm tra xem khi không dùng ống ánh sáng có truyền đi theo đường thẳng không? Việc xử lí thông tin này đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ tìm tòi, tiến hành thí nghiệm, lựa chọn thông tin đã thu thập ở thí nghiệm hình 2.1 để tìm ra lời giải đáp đúng về đường truyền
Trang 6của ánh sáng Từ đó học sinh phải hoàn thành được phần kết luận trong SGK (Đường truyền của ánh sáng trong không khí là đường thẳng)
Để phát huy hiệu quả các thí nghiệm học sinh tự tìm tòi kiến thức một cách chủ động sáng tạo Điều vô cùng quan trọng là giáo viên phải biết kết hợp thí nghiệm với hệ thống câu hỏi dẫn dắt ở chương II phần Âm học hầu hết các thí nghiệm biểu diễn và thí nghiệm kiểm chứng để xây dựng và mở rộng kiến thức
Ví dụ bài “Nguồn âm” ngoài các dụng cụ như dây cao su, trống, âm thoa giáo viên có thể tạo thêm một thí nghiệm nhạc cụ (đàn ống nghịêm) và hướng cho học sinh tự làm và kiểm tra được kết luận Với thí nghiệm củng cố này học sinh
sẽ rất hứng thú và nắm vững được đặc điểm của nguồn âm đó là “các vật phát ra
âm đều dao động” làm được như vậy theo tôi đã đạt được mục đích đặt ra
2 Trao đổi ở tổ nhóm.
Ngoài sự nỗ lực của bản thân mỗi giáo viên cần tích cực học hỏi, trao đổi
dự giờ đồng nghiệp nhất là giao lưu chuyên môn, các giờ dạy tốt dạy giỏi ở trường bạn Đặc biệt trong trường hàng tháng tổ chức một buổi sinh họat chuyên môn của nhóm, tổ như đăng ký dạy tốt, thảo luận về việc vận dụng đổi mới phương pháp giảng dạy vào từng tiết học Bàn bạc trong tổ về cách thức sáng tạo các thí nghiệm trong từng bài dạy Nhờ đó mà kỹ năng thí nghiệm và chất lượng giảng dạy được nâng nên rõ rệt
Phần thứ hai: giải quyết vấn đề
I Cơ sở lý luận.
Quy luật của quá trình dạy học là từ trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng, song quá trình nhận thức đó đạt hiệu quả cao hay không còn phụ thuộc vào phương pháp giảng dạy của thầy và quá trình tiếp thu kiến thức của trò Vật lý là một trong những môn học có ưu thế trong việc phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh, trong đó sách giáo khoa là một trong những phương tiện thể hiện phương pháp dạy học tích cực Trong chương trình vật lý
6, học sinh đã nhiều lần tập đưa ra “Dự đoán” và được giáo viên hướng dẫn làm thí nghiệm để kiểm tra tính đúng đắn của dự đoán Đến lớp 7 phương pháp nghiên cứu đó cần được phát triển và nâng cao hơn cần hướng dẫn học sinh thường xuyên đưa ra nhiều dự đoán khác nhau về cùng một hiện tượng và tự lực
đề xuất các phương án làm thí nghiệm để kiểm tra dự đoán Đặc biệt trong chương trình vật lý 7 có sử dụng nhiều đến phương pháp thực nghiệm, tiếp tục rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm thí nghiệm và từ thí nghiệm rút ra kiến thức của bài học Bên cạnh việc áp dụng phương pháp thực nghiệm cần phải sử dụng phương pháp suy luận lôgic mới có thể rút ra kết luận khoa học Chẳng hạn như căn cứ vào quan sát thí nghiệm, rút ra được các dạng giống nhau cho nhiều trường hợp, dạng đặc biệt của một trường hợp , xác định mối quan hệ định lượng giữa các hiện tượng, xử lí sự chênh lệch giữa các số liệu để suy ra hệ quả
Trang 7II Cơ sở thực tiễn và thực trạng của phương pháp sử dụng thí nghiệm Vật lý ở trường THCS Biên Giang
Trường THCS Biên Giang có cơ sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy còn nhiều hạn chế Tuy đã có phòng học kiên cố, sạch sẽ đúng qui cách nhưng phòng thực hành thí nghiệm môn Vật lý nghèo nàn ,thiết bị cũ, kém chất lượng chính vì vậy giáo viên dạy vật lý rất vất vả
Học sinh trường THCS Biên Giang phần lớn là các em ngoan chịu khó trong học tập và có đầy đủ sách giáo khoa, sách bài tập
Đội ngũ giảng dạy môn Vật lý ở trường được đào tạo chính qui
Trước đây trong khi giảng dạy các môn học giáo viên chỉ chú trọng đến khối lượng kiến thức cần truyền đạt mà coi nhẹ phương pháp học tập và nghiên cứu mang tính đặc thù của từng môn Vật lý là môn khoa học thực nghiệm thế nhưng tình trạng phổ biến hiện nay vẫn là :
+ Hầu hết các bài dạy chưa có đủ dụng cụ thí nghiệm cần thiết cho học sinh + Tranh vẽ minh hoạ gần như không có
+ Kĩ năng làm thí nghiệm của học sinh vẫn còn hạn chế
+ Dụng cụ thí nghiệm còn thiếu hoặc không đồng bộ, chất lượng kém
+ Hầu hết các trường đều chưa có cán bộ phụ trách phòng thí nghiệm được đào tạo đúng chuyên môn
Về cơ bản việc sử dụng thí nghiệm Vật lí ở trường THCS Biên Giang vẫn còn hạn chế , chưa phát huy hết được tính độc lập sáng tạo của học sinh Trong khi đó lượng kiến thức trong sách giáo khoa luôn được bổ sung chỉnh lí cho kịp với sự phát triển của thời đại
Từ những nguyên nhân trên đẫn đến chất lượng của bộ môn chưa được tốt
Do đó trong 4 giải pháp đổi mới phương pháp dạy học vật lí ở trường trung học
cơ sở thì giải pháp “ Phấn đấu làm đầy đủ, có chất lượng các thí nghiệm trên lớp
là giải pháp được đặt lên hàng đầu” (Theo tài liệu “Đổi mới phương phát dạy học” của tác giả Trần Kiều )
Các tiết vật lý cũng như các tiết học khác nhất là các môn KHTN, thầy cần tạo điều kiện để các em học sinh được tự tay làm thí nghiệm, tự mình quan sát,
đo đạc và rút ra nhận xét, kết luận (tức là được trải nghiệm trong thực tế) các em học sinh học tập hứng thú hơn phát huy được tính năng động sáng tạo của các
em, kết quả học tập đạt cao hơn rất nhiều
III Điều tra kết qủa học tập đầu năm
Thực tế về trình độ học tập của học sinh qua khảo sát đầu năm môn Vật lý ở hai lớp 7A, 7B,7C,7D như sau:
Trang 8
Số HS làm
thí nghiệm
được, đảm
bảo thời gian
Số HS làm thí nghiệm được, nhưng cũng chậm
Số HS hiểu bài trên lớp
Số HS hứng thú trong giờ học
Số HS không làm được thí nghiệm hoặc làm chưa chính xác
IV Áp dụng vào một trường hợp cụ thể.
Tiết 11: Bài 10- Nguồn âm
I/ Mục tiêu:
1 Kiến thức
- Nêu được đặc điểm chung của các nguồn âm
- Nhận biết được một số nguồn âm trong đời sống
2 Kỹ năng
Quan sát thí nghiệm kiểm chứng để rút ra đặc điểm của nguồn âm là dao động
3 Thái độ
Yêu thích môn học
II/ Chuẩn bị:
* Đối với mỗi nhóm học sinh
- Một sợi dây cao su mảnh
- Một thìa và một cốc thuỷ tinh mỏng
- Một âm thoa và một búa cao su
* Đối với giáo viên
- Ống nghiệm
- Vài ba dải lá chuối
Trang 9- “Bộ đàn ống nghiệm” gồm 7 ống nghiệm đã được các tổ đổ nước với các mực khác nhau
III Tổ chức hoạt động dạy và học.
Hoạt động của thầy Hoạt động của trò Nội dung
Hoạt động 1: Đặt vấn đề vào bài học
- Yêu cầu học sinh tìm hiểu
mục tiêu của chương II
? Chương âm học nghiên cứu
các hiện tượng gì?
- Vậy âm thanh được tạo ra
như thế nào ta nghiên cứu bài
hôm nay
- Đọc nêu mục đích của chương II
- Nêu nục tiêu của chương II
- Đọc mở bài và nêu mục đích của bài
Hoạt động 2: Nhận biết nguồn âm (10ph)
- Yêu cầu học sinh đọc thông
tin C1 và giữ yên lặng 1phút
để trả lời câu hỏi C1
- Thông báo (vật phát ra âm
gọi là nguồn âm)
? Cho ví dụ về nguồn âm ?
- Đọc thông tin ở câu C1 và giữ yên lặng 1phút để trả lời câu hỏi C1
- Lấy ví dụ về nguồn âm
- Trả lời câu hỏi C2
I Nhận biết nguồn âm
Vật phát ra âm gọi là nguồn âm
Ví dụ: Trống, dây cao su
Hoạt động 3: Tìm hiểu đặc điểm chung của nguồn âm (20 ph)
Trang 10Thí nghiệm 1:
- Yêu cầu học sinh nghiên cứu
thí nghiệm H10.1 SGK và yêu
cầu học sinh cho biết mục
đích thí nghiệm và đọc C3
- Tổ chức hoạt động nhóm và
yêu cầu các nhóm làm thí
nghiệm (vừa lắng nghe vừa
quan sát)
- Theo dõi giúp đỡ những
nhóm yếu
Thí nghiệm 2: H10.2 SGK.
Thay cốc bằng trống
- Yêu cầu học sinh đọc thông
tin trong SGK và làm thí
nghiệm như H10.2 SGK
- Yêu cầu học sinh trả lời câu
hỏi sau: Phải kiểm tra như thế
nào để biết mặt trống có rung
động không?
- Thông báo: Sự rung động
qua lại vị trí cân bằng của vật
gọi là dao động
Thí nghiệm 3:
- Yêu cầu học sinh quan sát
H10.3 SGK và tiến hành làm
thí nghiệm
- Trả lời câu hỏi C5 SGK ?
- Yêu cầu học sinh tìm
phương án kiểm tra sự dao
động của âm thoa
? Qua các thí nghiệm trên em
hãy cho biết làm thế nào để
- Nêu dụng cụ thí nghiệm và cách tiến hành thí nghiệm
- Các nhóm làm thí nghiệm (vừa lắng nghe vừa quan sát)
- Đọc thông tin trong SGK
và làm thí nghiệm như H10.2 SGK
- Trả lờ câu hỏi của GV
- Trả lời câu hỏi C4 SGK
- Theo dõi, lắng nghe, ghi bài vào vở
- Quan sát H10.3 SGK và tiến hành làm thí nghiệm theo hướng dẫn
- Gõ vào một nhánh của âm thoa, lắng nghe, quan sát và trả lời câu hỏi C5 SGK
- Đưa ra phương án kiểm tra,
sờ nhẹ tay vào một nhánh của âm thoa
- Trả lời câu hỏi và hoàn
II Các nguồn âm
có chung đặc điểm gì?
Thí nghiệm 1:
H10.1(SGK)
Thí nghiệm 2 :
H10.2 SGK
Sự rung động qua lại
vị trí cân bằng của vật gọi là dao động
Thí nghiệm 3:
H10.3 SGK
Kết luận: Khi phát
ra âm các vật đều dao động (rung động)