1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

giáo trình lịch sử VN hay

237 890 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Trình Lịch Sử VN Hay
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch Sử
Thể loại Giáo Trình
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 237
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên,ngay từ những ngày đầu, đế quốc Mỹ, bọn phản động Pháp và chính quyền tay saiNgô Đình Diệm tìm mọi cách gây khó khăn và phá hoại việc thi hành các điềukhoản của Hiệp định Genèv

Trang 1

Chương IMIỀN BẮC ĐẤU TRANH CHỐNG MỸ - DIỆM CƯỠNG ÉP ĐỒNG BÀO DI CƯ, HOÀN THÀNH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT, KHÔI PHỤC KINH TẾ, CẢI TẠO QUAN HỆ SẢN XUẤT, MIỀN NAM ĐẤU TRANH CHỐNG CHẾ ĐỘ MỸ - DIỆM GÌN GIỮ HOÀ BÌNH (1954 - 1960)

I TÌNH HÌNH VIỆT NAM SAU HIỆP ĐỊNH GENÈVE 1954 VÀ NHIỆM VỤ CÁCH MẠNG TRONG THỜI KỲ MỚI

1 Tình hình Việt Nam sau Hiệp định Genève 1954

Hiệp định Genève (21-7-1954) về Đông Dương được ký kết đã chấm dứtcuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp đối với ba nước Việt Nam, Lào,Campuchia Đây là một thắng lợi to lớn của nhân dân ba nước Đông Dương nóichung và Việt Nam nói riêng sau gần 9 năm kháng chiến gian khổ Ngoài việc thủtiêu ách thống trị của thực dân Pháp gần một thế kỷ trên đất nước ta, thắng lợi nàycòn là một đòn mạnh đánh vào âm mưu mở rộng và kéo dài chiến tranh ĐôngDương của đế quốc Mỹ

Theo Hiệp định Genève, việc ngừng bắn, tập kết chuyển quân và chuyểngiao khu vực được thi hành trong vòng 300 ngày, kể từ ngày 21-7-1954 Tuy nhiên,ngay từ những ngày đầu, đế quốc Mỹ, bọn phản động Pháp và chính quyền tay saiNgô Đình Diệm tìm mọi cách gây khó khăn và phá hoại việc thi hành các điềukhoản của Hiệp định Genève, như cố tình khiêu khích, trì hoãn việc ngừng bắn trêncác chiến trường; tiến hành dụ dỗ và cưỡng bức gần 1 triệu đồng bào miền Bắc, chủyếu là đồng bào Thiên Chúa giáo, di cư vào Nam; tháo dỡ, mang đi hoặc phá hoạimáy móc, dụng cụ, tài sản công cộng nhằm làm tê liệt và gây khó khăn cho ta trongviệc tiếp quản vùng giải phóng ở miền Bắc; cài lại hàng ngàn gián điệp, hàng trămnhóm phản động cùng với các toán biệt kích được tung ra miền Bắc phá hoại các cơ

sở kinh tế, các công trình công cộng Các phần tử tay sai, các đảng phái phản độnglén lút kích động quần chúng, gây bạo loạn ở một số địa phương, tung truyền đơn,tài liệu xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòanhằm lung lạc quần chúng, gây hoang mang dao động trong nhân dân

Về phía Việt Nam, với chủ trương nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Genève,ngày 22-7-1954, Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam ra lệnh cho các lựclượng vũ trang ngừng bắn trên chiến trường toàn quốc (Bắc Bộ ngày 27-7; Trung

Bộ ngày 1-8; Nam Bộ ngày 11-8-1954); mặt khác, Chính phủ và nhân dân ta kiênquyết đấu tranh đòi đối phương cũng phải nghiêm túc thi hành Hiệp định Kết quả,các điều khoản về việc ngừng bắn, tập kết chuyển quân và chuyển giao khu vực đãđược thực hiện đúng quy định Ngày 10-10-1954, quân ta tiếp quản thủ đô Hà Nộitrong sự đón chào nồng nhiệt của nhân dân thành phố Ngày 01-01-1955, tại quảngtrường Ba Đình lịch sử, một cuộc mít tinh trọng thể được tổ chức để chào mừngTrung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về thủ đô với sự thamgia của hàng chục vạn nhân dân thành phố Sự kiện lịch sử này đã gây ấn tượng sâusắc và có ý nghĩa chính trị lớn đối với đồng bào cả nước

Trang 2

Ngày 13-5-1955, tên lính viễn chinh cuối cùng của quân đội thực dân Pháp

đã rút khỏi Hải Phòng và đến ngày 16-5-1955 thì rút khỏi đảo Cát Bà Miền BắcViệt Nam đã sạch bóng quân xâm lược

Ở miền Nam Việt Nam, theo quy định của hiệp định Genève, thực dân Pháptạm thời nắm quyền kiểm soát trong hai năm Suốt thời gian này, thực dân Phápluôn gây cản trở và phá hoại các điều khoản của Hiệp định Tuy nhiên, một mặt do

sự đấu tranh kiên quyết của nhân dân ta; mặt khác do âm mưu của Mỹ muốn gạtPháp để độc chiếm miền Nam, nên quân đội Pháp đã từng bước rút khỏi miền NamViệt Nam Ngày 14-4-1956, chính phủ Pháp gửi Thông điệp cho hai Chủ tịch Hộinghị Genève 1954 về Đông Dương thông báo về việc quân viễn chinh Pháp ở miềnNam đã rút hết về nước

Quân đội Pháp rút khỏi miền Nam Việt Nam trong khi còn những điều khoảncủa hiệp định liên quan đến trách nhiệm của họ chưa được thi hành, trong đó cóđiều khoản về việc tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử hai miền Nam - Bắc Tậpđoàn Mỹ - Diệm, kẻ kế tục thực dân Pháp ở miền Nam, sẵn có âm mưu từ trước đãtrắng trợn phá hoại Hiệp định Genève

Miền Nam từ chỗ có chính quyền, có quân đội, có vùng giải phóng, giờ đâyphần lớn cán bộ, bộ đội miền Nam tập kết ra miền Bắc, toàn bộ hoạt động của cáchmạng phải chuyển sang phương thức vừa hợp pháp vừa không hợp pháp, vừa côngkhai vừa bí mật Đó là một đảo lộn lớn, một tình thế nguy hiểm đối với cách mạng ởmiền Nam Sự thay đổi đó tác động mạnh đến tâm tư, tình cảm đồng bào, đồng chíhai miền Bắc - Nam và đặt ra cho cách mạng Việt Nam những nhiệm vụ mới vôcùng khó khăn

2 Nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới

Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam xuất phát từ tình hình cụ thể của đấtnước sau Hiệp định Genève 1954 như đã đề cập; đồng thời cũng xuất phát từ chínhsách của Mỹ đi từ can thiệp đến xâm lược Việt Nam nói chung và miền Nam nóiriêng

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương được Mỹ đặc biệt quan tâm Vì đây làmột hướng chiến lược quan trọng nhằm bao vây các nước xã hội chủ nghĩa (trướchết là Liên Xô và Trung Quốc) từ hướng Đông và chống lại các trào lưu cách mạng

ở khu vực Đông Nam Á Đây là vùng được thiên nhiên ưu đãi có dư thừa các tiền

đề vật chất (tài nguyên và nhân lực), chứa đựng một tiềm năng phát triển to lớnchưa thể lường trước được Đây còn là nơi có các tuyến đường hàng hải (Bắc - Nam

và Tây - Đông) vận chuyển phần lớn hàng hoá của “thế giới tự do” mà Mỹ cần phải

bảo vệ

Vì vậy, ngay khi cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương của Pháp (1945 1954) đang diễn ra, Mỹ đã bằng mọi cách giúp Pháp tránh được thất bại Theo nhãnquan của các nhà chiến lược Mỹ, cuộc kháng chiến của Việt Nam đang uy hiếp trựctiếp quyền lợi của chủ nghĩa đế quốc ở vùng Đông Nam Á Tổng thống MỹEisenhower đã lập luận rằng nếu để Việt Nam và Đông Dương rơi vào tay cộng sản

-thì không chỉ Đông Nam Á mà "chuỗi đảo phòng thủ gồm Nhật Bản, Đài Loan,

Trang 3

Phi-líp-pin và hướng về phía Nam, nó chuyển sang cả Úc và Tân Tây lan" 1 đều bị đedọa Mặt khác, Mỹ còn coi Việt Nam và Đông Dương có một vị trí quan trọng ởchâu Á Theo giới cầm quyền Mỹ, nếu coi Đông Nam Á là cái ổ khóa để mở cửa đivào lục địa châu Á từ phía Nam, thì Việt Nam và Đông Dương là cái chìa khóa mởcửa vào gần nhất Việt Nam là cầu nối liền với hệ thống xã hội chủ nghĩa với vùngĐông Nam Á đang sục sôi cách mạng; sau khi đánh thắng thực dân Pháp, Việt Nam

là ngọn cờ cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc trên khắp các lục địa Á,Phi, Mỹ Latinh

Từ cách nhìn trên đây, chính quyền Eisenhower đã không ngừng tăng việntrợ cho thực dân Pháp, từ 150 triệu đô-la năm 1950 lên tới 1 tỉ vào năm 1954, chiếmgần 80% toàn bộ chiến phí của Pháp ở Đông Dương Tuy nhiên, sự chi viện to lớncủa Mỹ vẫn không tài nào ngăn chặn được sự thất bại hoàn toàn của Pháp Ngày 7-5-1954, chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ của quân và dân ta toàn thắng, Mỹ tăngcường chuẩn bị thế lực thay thực dân Pháp ở Việt Nam Bằng sức ép của Mỹ đốivới Pháp và bằng nhiều cuộc vận động khác, ngày 16-6-1954, bù nhìn Bảo Đại cùng

một lúc ký hai sắc lệnh: Một chấp nhận đơn “từ chức” thủ tướng của Bửu Lộc; một chỉ định Ngô Đình Diệm là thủ tướng “Quốc gia Việt Nam” Ngày 7-7-1954, Ngô

Đình Diệm chính thức lập chính phủ bù nhìn tại Sài Gòn, mở đầu chế độ độc tài giađình trị Ngô Đình Diệm tại miền Nam Tiếp theo, Hiệp định Genève (21-7-1954)được ký kết, khách quan tạo cơ hội để Mỹ nhanh chóng gạt Pháp, trực tiếp tiến hànhchiến tranh xâm lược Việt Nam thông qua chủ nghĩa thực dân mới Đế quốc Mỹ đãchuyển từ vai trò một kẻ can thiệp sang kẻ xâm lược; và Việt Nam từ đây giữ mộtvai trò quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của Mỹ Ngày 23-7-

1954, hai ngày sau khi Hiệp định Genève được ký kết, Ngoại trưởng Mỹ Dulles

tuyên bố: "Từ nay về sau, vấn đề bức thiết không phải là than tiếc dĩ vãng, mà là lợi dụng thời cơ để việc thất thủ miền Bắc Việt Nam không mở đường cho chủ nghĩa cộng sản bành trướng ở Đông Nam Á và Tây Nam Thái Bình Dương" 2.

Ngày 3-8-1954, Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ cho rằng: "Hiệp định Giơnevơ 1954 là một thảm họa, đã hoàn thành bước quan trọng của chủ nghĩa cộng sản, có thể dẫn tới mất cả Đông Nam Á" 3

Tháng 9-1954, Mỹ lôi kéo một số nước (Anh, Pháp, Niu Dilân, Ôxtrâylia,

Philippin, Thái Lan và Pakixtan) lập ra khối “Liên minh quân sự Đông Nam Á”

(SEATO) và ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam dưới sự bảo trợ của khối này

Như thế, miền Nam Việt Nam từ sau khi ký kết Hiệp định Genève, tồn tại balực lượng chính trị, quân sự chủ yếu là: Pháp (và các thế lực thân Pháp), Mỹ (và cácthế lực thân Mỹ) và các lực lượng cách mạng miền Nam Pháp và các lực lượngthân Pháp nhanh chóng bị gạt bỏ, còn lại hai lực lượng đối lập nhau gay gắt: Mỹ -Diệm và nhân dân miền Nam

1 Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam Nxb Sự thật, Hà Nội,

Trang 4

Về phía Việt Nam, ngay khi Hội nghị Genève đang đi vào hồi kết, ngày 7-1954, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) họp ở Việt Bắc Hộinghị đã thảo luận và nhất trí với đường lối và chủ trương mới do Chủ tịch Hồ Chí

17-Minh nêu ra Hội nghị nhận định: “Đế quốc Mỹ là một trở lực chính ngăn cản việc lập lại hoà bình ở Đông Dương và hiện đang trở thành kẻ thù chính, trực tiếp của nhân dân Đông Dương” 1 Hội nghị quyết định: “Thay đổi phương châm, chính sách và sách lược đấu tranh cốt để thực hiện một cách thuận lợi mục đích trước mắt Đây là một sự thay đổi quan trọng về phương châm và sách lược cách mạng, nhưng mục đích của cách mạng vẫn là một” 2

Đầu tháng 9-1954, Bộ Chính trị đã kịp thời ra nghị quyết về "Tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách của Đảng", nêu rõ cuộc đấu tranh của nhân dân ta đã bước vào một giai đoạn mới với nhiệm vụ là: "Đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh thực hiện hiệp định đình chiến, đề phòng và khắc phục mọi âm mưu phá hiệp định đình chiến để củng cố hòa bình; ra sức hoàn thành cải cách ruộng đất, phục hồi và nâng cao sản xuất, tăng cường xây dựng quân đội nhân dân để củng cố miền Bắc; giữ vững và đẩy mạnh đấu tranh chính trị của nhân dân miền Nam nhằm củng

cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập, dân chủ trong toàn quốc" 3

Sau 300 ngày thi hành Hiệp định Genève, Việt Nam tạm thời bị chia cắt làmhai miền Miền Bắc được giải phóng; cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân về

cơ bản đã hoàn thành; trong lúc đó miền Nam đang nằm dưới ách thống trị của Mỹ

- Diệm Sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam đến đây vẫn chưahoàn thành

Vì vậy, cuộc đấu tranh vì một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ,hòa bình chưa kết thúc; cuộc đấu tranh đó còn phải được tiếp tục dưới nhiều hìnhthức và bằng những phương pháp thích hợp Trong cuộc đấu tranh này, Đảng đãlãnh đạo nhân dân hai miền Bắc - Nam tiến hành đồng thời hai chiến lược cáchmạng khác nhau: Miền Bắc tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và miềnNam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giải phóng miền Nam, tiếntới hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thống nhất

nước nhà Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (khóa II) tháng 8-1955 khẳng định: “Điều cốt yếu là phải ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam Miền Bắc là chỗ đứng của ta Bất kể trong tình thế nào, miền Bắc cũng phải được củng cố” 4

Nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng mỗi miền xét cho cùng cũng là nhiệm vụ,mục tiêu chung của cách mạng cả nước là đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai,giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủnhân dân trong cả nước, thực hiện một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độclập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòabình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

1 Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 15 (1954) Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 225.

2 Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 15 (1954) Nxb CTQG, Hà Nội, 2001, tr 226.

3 Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 15 (1954) Nxb CTQG, Hà Nội, 2001, tr 287.

4 Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 16 (1955) Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002,

tr 576-577

Trang 5

Mỗi chiến lược cách mạng nhằm giải quyết những yêu cầu cụ thể riêng củatừng miền, nhưng có mối quan hệ chặt chẽ, khăng khít, tạo điều kiện cho nhau cùngphát triển Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc không chỉ có mục tiêu xây dựngcuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân miền Bắc, mà còn nhằm giải phóng miềnNam và đáp ứng nhu cầu xây dựng đất nước sau khi đất nước thống nhất Cáchmạng dân tộc dân chủ nhân dân miền Nam vừa có nhiệm vụ giải phóng miền Nam,vừa có nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc Phải dùng sức mạnh của cả nước để giải phóngmiền Nam, đồng thời cũng sử dụng sức mạnh của cả nước để bảo vệ và xây dựngmiền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội Mối quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng đồngthời cũng là mối quan hệ giữa hậu phương và tiền tuyến Thắng lợi giành được ởmỗi miền là thắng lợi chung của sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của toàn dân tộc.Đây là đặc điểm lớn nhất và cũng là nét độc đáo của cách mạng nước ta trong giaiđoạn lịch sử 1954 - 1975.

Như vậy, về phía Mỹ do yêu cầu chiến lược phải ngăn chặn bằng được lựclượng cách mạng ở Đông Nam Á và chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ đãchọn Việt Nam làm điểm then chốt; còn một bên là các lực lượng cách mạng mànhân dân Việt Nam là đội xung kích, cần phải đẩy lùi chủ nghĩa đế quốc ra khỏi vịtrí chiến lược này để đưa cách mạng tiến lên Hai lực lượng đối kháng, đại diện chocách mạng và phản cách mạng đã gặp nhau ở đây, tất yếu dẫn đến cuộc đụng đầu

lịch sử Từ thực tế đó, Việt Nam đã trở thành "một điểm trung tâm, một chặng đường trong quá trình phát triển lâu dài của cách mạng thế giới Đây là sự đụng đầu tiêu biểu giữa những lực lượng đối lập tiêu biểu của thời đại" 1 Nói cụ thể hơn, cuộcchiến đấu của dân tộc ta trong giai đoạn lịch sử 1954 - 1975 chống Mỹ xâm lượckhông phải là một ngẫu nhiên, mà là một cuộc đụng đầu lịch sử trong thời đại chúng

ta

II MIỀN BẮC ĐẤU TRANH CHỐNG MỸ - DIỆM CƯỠNG ÉP ĐỒNG BÀO

DI CƯ, HOÀN THÀNH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT, KHÔI PHỤC KINH TẾ, CẢI TẠO QUAN HỆ SẢN XUẤT (1954 - 1960)

1 Thực trạng kinh tế - xã hội miền Bắc sau Hiệp định Genève

Sau Hiệp định Genève, miền Bắc có thêm những điều kiện chính trị - xã hộithuận lợi Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng những khó khăn là không ít, nhất là

về kinh tế - xã hội do hậu quả của cuộc chiến tranh để lại

Trong các vùng nông thôn, hậu quả của các cuộc càn quét theo chính sách

"tam quang" (đốt sạch, giết sạch, phá sạch), dồn dân lập “vành đai trắng” của

địch, hàng vạn héc ta đất bị bỏ hoang, đê đập bị phá hoại Nhân công, nông cụ vàsức kéo đều thiếu nghiêm trọng Kỹ thuật canh tác lạc hậu, đời sống nhân dânthấp kém

Các thành thị trong thời kỳ Pháp chiếm đóng mang nặng tính chất tiêu thụ,

sự phồn vinh chỉ là giả tạo Hàng ngoại tràn ngập thị trường làm cho công nghiệpdân tộc không phát triển được Tiểu thủ công nghiệp bị chèn ép, sa sút hoặc phá sản

Ở những cơ sở công nghiệp lớn do thực dân Pháp nắm giữ, như mỏ than Hòn Gai,

1 Hoàng Tùng Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Nxb Sự thật,

Hà Nội, 1974, tr 18

Trang 6

nhà máy xi măng Hải Phòng, nhà máy dệt Nam Định, nhà máy điện Hà Nội, bịđịch tháo gỡ thiết bị hoặc phá hoại trước lúc rút lui nên không hoạt động được, hoặcchỉ hoạt động cầm chừng Vì thế, nhiều công nhân thất nghiệp, đời sống gặp khókhăn

Tại các vùng tự do cũ, tuy nông nghiệp và công nghiệp được chú ý pháttriển, nhưng quy mô nhỏ bé, kỹ thuật lạc hậu Do đó, năng suất thấp, không đáp ứngđược nhu cầu sản xuất và đời sống ngày càng tăng lên trong thời bình Cuộc cảicách ruộng đất bắt đầu từ năm 1953 cũng chỉ mới thực hiện ở một số địa phươngthuộc vùng tự do Chế độ chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ phong kiến vẫntồn tại Giai cấp nông dân tuy đã đã được giải phóng khỏi ách thống trị của thựcdân, nhưng vẫn còn bị giai cấp địa chủ bóc lột, ảnh hưởng không tốt đến sản xuất

Sau khi hòa bình lập lại, nhiều vấn đề xã hội nóng bỏng đặt ra Số người mùchữ rất đông Hệ thống y tế nhỏ bé, lạc hậu Các bệnh xã hội như lao phổi, hoa liễu,sốt rét hoành hành Các tệ nạn mại dâm, nghiện hút, cướp giật, cờ bạc phổ biếnkhắp nơi Hàng trăm ngàn người thất nghiệp, lâm vào đói kém, 240.000 tề ngụy rãđám chưa qua cải tạo, 11.000 phỉ vẫn tác oai, tác quái ở vùng cao

Một tình hình nghiêm trọng hơn là địch cưỡng ép, dụ dỗ đồng bào miền Bắc,chủ yếu là tín đồ Thiên Chúa giáo di cư vào Nam Thực ra, âm mưu này của Mỹ đã

có từ trước: ''Ngay từ khi vấn đề chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam và Đông Dương còn đang đàm phán, Tổng thống Mỹ Aixenhao đã lớn tiếng hô hào: Nếu Hội nghị Giơnevơ đi đến ký kết, sẽ tổ chức một cuộc di cư có kế hoạch người Việt Nam từ Bắc vào Nam” 1

Để gây hoang mang và thúc ép đồng bào bỏ nhà cửa tài sản di cư vào Nam,

Mỹ - Pháp cho tay sai tung tin bịa đặt tuyên truyền luận điệu rằng Chính phủ ViệtMinh cấm đạo, Chúa đã vào Nam, là con chiên ngoan đạo thì phải theo Chúa đểđược yên phần xác lẫn phần hồn, ở với cộng sản sẽ bị mất linh hồn Chúng còn đedọa chiến tranh sẽ trở lại, Mỹ sẽ ném bom nguyên tử xuống Hà Nội, Đồng Hới,

Vĩnh Linh Mặt khác, Mỹ cung cấp phương tiện chuyên chở, "Mỹ đã đưa một đoàn

19 máy bay và một đoàn 41 tàu thủy để chuyên chở những người bị cưỡng ép di cư này vào Nam" 2

Tính đến tháng 7-1955, tổng số người bị địch dụ dỗ, cưỡng bức di cư vàoNam là 887.895 người, tín đồ Thiên Chúa giáo là 754.710 (Phật giáo và Tin Lành là133.185) chiếm tỉ lệ 85% 3

Từ tình hình thực tế kinh tế - xã hội trên, Đảng và Chính phủ chủ trương vừađấu tranh chống địch cưỡng ép đồng bào di cư vừa đẩy mạnh cuộc vận động cải

1 Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Lịch sử Đảng Cộng sản

Việt Nam, t 2, (1954-1975) Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr 62

2 Phong Hiền Chủ nghĩa thực dân kiểu mới Mỹ ở miền Nam Việt Nam Nxb Thông tin Lý

Trang 7

cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, nhằm củng cố miền Bắc, tạo điều kiện đưa miềnBắc bước sang giai đoạn mới

Cần phải thấy rằng những khó khăn trên đây đòi hỏi phải được giải quyếtnhanh chóng Điều này không chỉ do sự đòi hỏi cấp bách của việc khôi phục và pháttriển kinh tế sau chiến tranh, mà còn bao hàm ý nghĩa chính trị sâu sắc, nhất là trongđiều kiện nước nhà đang tạm thời bị chia cắt làm hai miền

2 Đấu tranh chống Mỹ - Diệm cưỡng ép đồng bào di cư

Ngay sau Hiệp định Genève, ngày 23-7-1954, Ngô Đình Diệm chỉ thị chocác Tổng trưởng và Bộ trưởng, Ủy ban bảo vệ Bắc Việt, Đại biểu Chính phủ ở

Trung Việt, Đổng lý Văn phòng Đức Quốc trưởng tại Đà Lạt ”Cần phải tổ chức gấp rút chuyển vào Trung và Nam dân chúng và tài sản công”, trong đó ưu tiên

trước hết là ngân khố, sau là quân đội chính quy và địa phương quân và gia đình,

công chức và gia đình Về “dân chúng, lưu ý trước tiên đến những phần tử chuyên nghiệp (thợ chuyên môn) và những phần tử có khả năng sản xuất” 1 Tiến hànhchính sách cưỡng ép đồng bào miền Bắc di cư vào Nam, đế quốc Mỹ và tay sainhằm mục đích cơ bản sau:

Một là, về mặt chính trị, đối với thế giới, Mỹ và tay sai cố tạo ra dư luận xấu

về chế độ ta ở miền Bắc, nhằm ngăn chặn sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối vớicuộc đấu tranh thống nhất đất nước của nhân dân ta, tạo ra ảnh hưởng xấu của cáchmạng Việt Nam đối với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á Tờ Revue

Socialist (Pháp) ra ngày 2-11-1954 viết: “Cuộc di cư này trước hết là một hành động chính trị, nhằm làm cho dư luận thế giới ngỡ rằng nhân dân Việt Nam chán ghét Việt Minh và chủ nghĩa cộng sản” 2 Tuy nhiên, âm mưu của Mỹ - Diệm đã bị

báo chí phương Tây vạch mặt: “Sự thật, đại đa số nhân dân Việt Nam đều biểu lộ cảm tình của mình đối với Việt Minh” 3.

Hai là, về kinh tế - xã hội, đối với miền Bắc, Mỹ - Diệm hy vọng rút được

một số lượng trí thức, công nhân kỹ thuật vào Nam, tạo ra những xáo động lớn, pháhoại sản xuất, làm cho miền Bắc không ổn định về kinh tế, khiến cho lòng người lytán, nội bộ lục đục, gây khó khăn cho ta trong cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà

và hàn gắn vết thương sau chiến tranh Đối với miền Nam, vùng bị tạm chiếm, dân

di cư sẽ là nguồn cung cấp nhân công rẻ mạt cho các đồn điền cao su, cà phê, chè,cây ăn quả và một số cây công nghiệp mới du nhập vào miền Nam sau Chiến tranh

thế giới thứ hai Tài liệu địch nói rõ: “Về kinh tế: đồng bào di cư là những người đã làm ăn một cách cần cù, siêng năng, ưa sống một đời giản dị Họ hoàn toàn là những nhà sản xuất nhiều và tiêu thụ ít, nên sau này sẽ giúp cho nền kinh tế quốc gia thịnh vượng Hơn thế, đồng bào bổ khuyết cho tình trạng thiếu nhân công để khai thác trong miền Nam nước Việt Do đó, những chương trình mở mang kinh tế của Chính phủ cũng có thi hành dễ dàng một phần nào về phương diện nhân công

mà không phải là chiếm quyền lợi kinh tế của đồng bào miền Nam” 4 Derocheau,Phó Thư kí Phòng Cứu tế giáo dân đến Đông Dương nghiên cứu vấn đề di cư đã

cho rằng: “Biện pháp để giải quyết trong việc sử dụng dân di cư là đưa họ lên các

2 Trần Văn Giàu Miền Nam giữ vững thành đồng, tập 1 Nxb Khoa học, Hà Nội, 1964, tr.

49

3 Trần Văn Giàu, Sđd., tr 50

Trang 8

đồn điền cao su đang thiếu nhân công” 1 Với mục đích đó, Mỹ - Diệm đã đưa một

số lượng lớn đồng bào di cư đến lao động ở các đồn điền Theo tờ Le Monde (Pháp)

ra ngày 29-1-1955, số người di cư đưa đến các đồn điền là 5 vạn người 2

Ba là, ở miền Nam, với số người di cư, địch nhằm “thăng bằng sự chênh lệch giữa dân số miền Bắc 12 triệu và dân số miền Nam 11 triệu” Nghĩa là “tăng thêm hy vọng của thắng lợi tổng tuyển cử đối với những lãnh tụ quốc gia” 3; đồngthời tạo ra cơ sở xã hội vững chắc cho chế độ Ngô Đình Diệm Đồng bào di cư lànguồn nhân lực quan trọng đáng kể để xây dựng ngụy quân, củng cố ngụy quyền

Tờ Le Monde (Pháp), ra ngày 29-11-1954, viết: “Nhà cầm quyền miền Nam quyết tuyển mộ binh lính trong số những người miền Bắc di cư; họ xem số người miền Bắc như là một khối dự trữ cho quân đội của họ, cho những tổ chức chính trị của

họ, trong khối dự trữ đó, họ mộ được những tay chân cuồng tín” 4 và “Thanh niên công giáo di cư sẽ là nguồn bổ sung cho một đội quân nguỵ dự kiến là 10 sư đoàn Mỹ - Diệm hy vọng rằng một quân đội gồm phần lớn là người công giáo sẽ

có một tinh thần chống cộng mạnh mẽ” 5

Để thực hiện việc cưỡng ép đồng bào di cư, Mỹ - Diệm cho thành lập “Phủ Tổng ủy di cư tị nạn”, với nhiệm vụ điều khiển việc di cư từ Bắc vào Nam Bên cạnh ”Phủ Tổng ủy di cư tị nạn”, một tổ chức cứu trợ di cư cũng được thành lập do Linh mục Phạm Ngọc Chi đứng đầu Tiếp theo, Ngô Đình Diệm còn thành lập “Ủy ban di cư Bắc Việt” lo việc huấn luyện gián điệp, tổ chức hoạt động dụ dỗ, cưỡng

bức di cư Chính đế quốc Mỹ đã cung cấp nhiều phương tiện vận tải, tiền bạc, thuốcmen, lương thực, thực phẩm và cử Hồìng y Spellman, Tổng tuyên uý trong quân đội

Mỹ sang Việt Nam để chỉ đạo chiến dịch này Ngày 2-8-1954, Ngô Đình Diệm đíchthân ra Hà Nội kiểm tra công việc tổ chức di cư Diệm đã trắng trợn tuyên bố rằng:

“Tôi sẽ hướng mọi nỗ lực của tôi vào công việc tổ chức di cư” 6

Bộ máy nhà nước Diệm tập trung ở mức cao nhất tuyên truyền cho chiến

dịch cưỡng ép di cư, rằng cộng sản là vô thần nên ”sẽ cấm đạo, ai mang tượng Đức

Mẹ phải đóng thuế 50 đồng Đông Dương và mỗi lần đến lễ ở nhà thờ phải trả 5 đồng” 7 Thâm độc nhất là Mỹ - Diệm lợi dụng sự hiểu biết hạn chế của giáo dân,

4 Báo cáo số 655/TU/VP/M của Phủ Tổng uỷ di cư tỵ nạn về “Hoạt động của Phủ tổng uỷ

di cư tị nạn trong năm chấp chánh thứ hai của Ngô Tổng thống (từ tháng 7-1955 đến tháng 7-1955)” Trung tâm lưu trữ Quốc gia II Ký hiệu tài liệu: Đệ I CH-4400, tr 19.

1 Bộ Tuyên truyền Tội ác của đế quốc Mỹ, phái thực dân Pháp phản Hiệp định và bè lũ

Ngô Đình Diệm trong âm mưu cưỡng ép và dụ dỗ đồng bào di cư ở Việt Nam Bộ Tuyên

6 Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

1954-1975, Tập 2 Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 35.

Trang 9

dựng lên chiêu bài: “Đức Mẹ và con trai là Chúa Giê-su đã vào Nam" 1 để cưỡng épgiáo dân di cư vào Nam

Đối tượng mà Mỹ - Diệm tập trung cưỡng ép di cư vào Nam bao gồm ngụybinh và gia đình của họ, giáo dân, thanh niên, công chức, giáo viên và những ngườitrí thức, nhà chuyên môn Và để cưỡng bức được nhiều đồng bào di cư vào Nam,cuối tháng 7-1954, địch đóng cửa Ngân hàng Đông Dương, không cho rút tiền ra.Sang tháng 8, địch chuyển tiền vào Nam, buộc những người có tiền gửi ngân hàngphải vào Sài Gòn để lĩnh, v.v

Cùng với các biện pháp trên, Mỹ - Diệm còn sử dụng quân đội, công an,cảnh sát để càn quét, khủng bố bắt ép nhân dân di cư Tại thôn Vạn Lộc (QuảngBình), địch dùng máy bay thả bom, bắn đạn cháy 34 nhà cùng tất cả tài sản, làm 4người chết, 439 người bị bắt đi Tại Thanh Giã và Giã Khê (Bắc Giang), ngày 29-7-

1954, Mỹ - Diệm đã lừa bắt nhân dân xếp đầy 100 xe chở đi mà không ai kịp lấyquần áo, gạo thóc Tại Móng Cái, ngày 31-7-1954, chúng đã bắt hơn 1000 người, Không chỉ ở nông thôn mà cả những thành phố lớn, như Hà Nội, Hải Phòng, địchcũng sử dụng lực lượng quân sự, công an, cảnh sát, để vây ráp, bắt nhân dân di cư.Ngày 20-8-1954, chúng vây Quảng Bá (Hà Nội) bắt 20 người; ngày 25-8-1954, vâybãi Phúc Xá (Hà Nội) bắt 50 người, Việc dùng bạo lực cưỡng ép di cư diễn ra phổbiến khắp miền Bắc, nhất là những địa phương có đông tín đồ Thiên Chúa giáo

Nắm bắt kịp thời âm mưu của Mỹ - Diệm về chính sách cưỡng ép đồng bào

miền Bắc di cư vào Nam, ngày 5-9-1954, Ban Bí thư ra chỉ thị nêu rõ: “Cuộc đấu tranh chống địch bắt ép một số nhân dân ta vào Nam là một cuộc đấu tranh chính trị gay go và cấp bách Các cấp uỷ Đảng phải nhận rõ tính chất và ý nghĩa quan trọng của cuộc đấu tranh này” 2 Tiếp theo, ngày 6-11-1954, Ban Bí thư ra tiếp chỉ

thị và nhấn mạnh rằng: “Địch đang theo đuổi một âm mưu rất thâm độc để phá chúng ta Các cấp ủy phải coi cuộc đấu tranh chống địch ngụy bắt dân di cư vào Nam là một cuộc vận động chính trị to lớn, một cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt với đối phương, không phải một đôi tuần, một vài tháng, mà là một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ Một mặt phải đối phó kịp thời với những việc bất ngờ xảy ra, một mặt phải có kế hoạch thông suốt, lâu dài để đối phó với toàn bộ âm mưu của địch”3

Sang năm 1955, Trung ương tăng cường chỉ đạo, giải quyết một số vướngmắc, bế tắc trong việc chỉ đạo đấu tranh Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị,

ngày 16-2-1955 yêu cầu phải: “Đẩy mạnh đấu tranh mọi mặt, phá âm mưu mới của địch trong việc dụ dỗ và cưỡng ép giáo dân di cư, chủ động tiến công địch, tranh thủ cảm tình của quần chúng, tranh thủ dư luận trong nước và thế giới” 4 Tiếp

7 Lê Thành Nam Chính sách di cư của Mĩ và chính quyền Sài Gòn những năm sau Hiệp

định Genève (1954-1956) trong “Việt Nam 1954 - 2005” Nxb Giáo dục, Tp Hồ Chí Mình,

2005 , tr 97

1 Lê Cung Phong trào Phật giáo miền Nam Việt Nam năm 1963 (in lần thứ ba) Nxb

Thuận Hoá, Huế, 2005, tr 68

2 Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 15 (1954) Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 270.

3 Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 15 (1954) Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nôi, 2002, tr 368.

4 Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 16 (1955) Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr 71.

Trang 10

theo, Chỉ thị số 16-CT/TW của Ban Bí thư, ngày 21-4-1955, yêu cầu các cấp ủyĐảng khắc phục ngay những tư tưởng lệch lạc, kiên quyết tập trung lực lượng phátđộng quần chúng tiến công mạnh mẽ, rộng khắp, toàn diện để phá âm mưu của địch.

Những chủ trương và biện pháp trên đây của Đảng cho thấy chính sáchcưỡng ép di cư của Mỹ - Diệm là hết sức thâm độc và đã gây ra những khó khănnghiêm trọng đối với ta trong việc tiếp quản những vùng do địch chiếm đóng; đồngthời cũng thấy được sự tỉnh táo, sáng suốt của Đảng trước tình thế khó khăn, cấpbách đặt ra Những chủ trương và biện pháp này từng bước lãnh đạo nhân dân miềnBắc đi vào cuộc đấu tranh chống địch cưỡng ép di cư

Thực hiện chủ trương của Đảng, trên nhiều địa phương ở miền Bắc, các Banchỉ đạo chống cưỡng ép di cư được thành lập, hàng vạn cán bộ, bộ đội được huyđộng về giúp các địa phương vận động quần chúng đấu tranh, vạch trần âm mưu vàthủ đoạn của địch

Ở khu Tả ngạn sông Hồng, Mỹ - Diệm đã tạo ra một tình hình hết sức căng

thẳng Tại Kim Động (Hưng Yên), trước khi rút vào khu tập kết, địch đốt phá làng

Thiên Chúa giáo Ngọc Đồng rồi vu khống cho Việt Minh Ở Thanh Miện, Ân Thi,

Tứ Kỳ, Gia Lộc và Cẩm Giàng (Hải Dương), địch cho máy bay thả côn trùng pháhoại mùa màng Ở Hải Phòng, tại nhà thờ phố Dinh (nay là phố Trần Nguyên Hãn),tháng 1-1955, sau buổi lễ, cha xứ tháo chuông và ảnh Đức Mẹ, chúng ép buộc aikhông đi Nam phải bước qua ảnh Đức Mẹ Giáo dân kinh hoàng, khóc than và tất cảphải ký giấy đồng ý ra đi Chúng bắt giáo dân ký vào đơn kiện lên Ủy ban quốc tế

và giám sát đình chiến ở Việt Nam rằng Chính phủ Việt Nam vi phạm điều 14c, 14dcủa Hiệp định Giơnevơ

Ngày 6-8-1954, Khu ủy Tả ngạn ra Chỉ thị 27-CT, phân tích âm mưu địch,

đề ra 6 nhiệm vụ mà các cấp uỷ Đảng, chính quyền cần thực hiện nhằm vận động

giáo dân ở lại Hội nghị cán bộ Khu tả ngạn tháng 8-1954 chỉ rõ: “Tranh thủ giáo dân chống âm mưu cưỡng bức di cư của địch” là một trong 8 công tác cấp bách của

toàn khu Tiếp theo, Khu ủy tổ chức các đoàn cán bộ xuống các vùng có đông đồngbào Thiên Chúa giáo, vùng mới giải phóng và nơi địch sắp rút quân, làm công tácvận động Nhiều giáo dân chuẩn bị đi, sau khi nghe cán bộ tuyên truyền, giải thích,

đã quyết định ở lại; hoặc nhiều người đang đi thì trốn về Từ ngày 21-7 đến ngày18-8-1954, toàn Khu vận động được 56 gia đình (khoảng 4.370 người) đang đi quaytrở lại

Tỉnh Nam Định, có 936 giáo dân đến gặp chính quyền ta tố cáo kẻ chủ mưu

dụ dỗ, cưỡng ép họ bỏ nhà ra đi Giáo dân ở đây cũng đã kịp thời báo cáo và giúp

đỡ chính quyền cách mạng đập tan âm mưu của bọn đầu sỏ tập trung giáo dân ở 14

xứ đạo về Xuân Ninh (Xuân Trường) dụ dỗ họ di cư hàng loạt

Đối với những phần tử ngoan cố, vi phạm pháp luật Nhà nước, ta kiên quyếttrừng trị Ngày 1-11-1954, Ủy ban hành chính tỉnh Ninh Bình ra lệnh giải tán cáctrại tập trung ở Phát Diệm Hàng ngàn đồng bào tấp nập quay về Trong năm 1955,các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình đã phát hiện và xử lý 17 vụ phản động tấncông vào bộ đội, 4 vụ cài mìn

Ở Tĩnh Gia (Thanh Hoá), Mỹ - Diệm chọn Ba Làng làm tụ điểm tập trunggiáo dân, biến nơi đây thành điểm tập kết, gây sức ép để Ủy ban Quốc tế can thiệp

Trang 11

Ngày 5-12-1954, địch đã bắt ép một số đông giáo dân tập trung vào nhà xứï để chờ

đi Nam Để thực hiện âm mưu, chúng tổ chức một ổ võ trang có hệ thống ở BaLàng

Trước tình hình đó, ngày 18-12-1954, Thường vụ Tỉnh uỷ Thanh Hoá họp, ra

nghị quyết: “Tích cực đẩy mạnh đoàn kết tuyên truyền, giáo dục, phát động quần chúng trấn áp phản động” và chủ trương: “Tước vũ khí, bắt đầu sỏ, giải phóng nhân dân, đẩy mạnh tuyên truyền, phân hoá từng loại để xử lý” Bằng nhiều biện

pháp khác nhau, đến ngày 20-12-1954, ta đã giải tán được trên 2.000 giáo dân từcác nơi kéo về Ba Làng tập trung

Mặc dù vậy, địch vẫn ngoan cố, tiếp tục tổ chức lực lượng vũ trang, lùng bắtcán bộ, cướp vũ khí của bộ đội, phá tài sản của nhân dân Chúng còn liên lạc với tàuPháp ở ngoài biển để đưa dân đi Nam Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Thanh Hoá,ngày 3-1-1955, ta dùng hệ thống loa phát thanh giải thích chính sách của Đảng vàChính phủ, vạch rõ âm mưu thâm độc của địch và vận động các gia đình kêu gọingười thân trở về Địch tiếp tục dùng lực lượng vũ trang kìm hãm giáo dân, nổ súnglàm một số cán bộ, bộ đội hy sinh, 40 đồng chí bị thương, 6 cán bộ, bộ đội bị chúngbắt giữ

Tuy vậy, ta vẫn kiên trì giải thích chính sách của Đảng, song địch vẫn ngoan

cố chống lại Ngày 8-1-1955, lực lượng của ta buộc phải tiến vào bên trong để giảithoát cho những đồng bào bị địch giam giữ và trừng trị những tên phản động Địchhuy động thanh niên dùng vũ khí xông vào đâm chém Mặc dầu có người bị thươngnặng, nhưng các chiến sĩ của ta vẫn bình tĩnh chống đỡ, rồi giải thích cho nhân dân;mặt khác kiên quyết trừng trị bọn chủ mưu Bọn phản động bị cô lập, hơn 1.000giáo dân, 6 cán bộ, bộ đội bị giam giữ được giải thoát Tiếp theo, Toà án Nhân dânThanh Hoá mở phiên toà xét xử bọn phản động cầm đầu gây ra vụ bạo loạn ở BaLàng nhằm đưa đồng bào di cư vào Nam

Tại Diễn Tiến (Nghệ An), tháng 4-1955, địch cho 17 tên phản động từ trongNam ra, tổ chức một đội vũ trang 100 người, được trang bị giáo mác, kết hợp vớibọn phản động địa phương lôi kéo giáo dân đi Nam, kích động bạo loạn Trướctình hình đó, Liên khu IV và Tỉnh đội Nghệ An đã chỉ đạo và phối hợp với địaphương đấu tranh chống địch Ta tổ chức giáo dục, huấn luyện 1.000 đồng bào đivào đám đông, giải thích rõ âm mưu của kẻ thù, khuyên bà con trở về làm ăn Tiếp

đó, ta cho một đội vũ trang vào nhà thờ Diễn Tiến bắt 5 tên phản động đội lốt linhmục đưa ra trước quần chúng buộc phải công khai thú tội

Tại xã Thạch Tân (Hà Tĩnh), địch tổ chức một đội “cảm tử vì đạo” gồm 30

người có vũ trang cưỡng ép giáo dân bán nhà, làm đơn gửi lên chính quyền đòi điNam Trước hành động ngang ngược của địch, ta bắt 3 tên đầu sỏ, đồng thời giảithích cho dân hiểu rõ âm mưu của địch Kết quả, đã có 70 gia đình xin ở lại

Ở Vĩnh Linh (Quảng Trị), số người di cư đổ dồn về đây để vượt tuyến vàoNam đông tới hàng vạn người Tình hình này đã gây ra những khó khăn, phức tạpđối với ta khi hoà bình mới lập lại Căn cứ vào chủ trương của Trung ương và tìnhhình thực tế của địa phương, Đảng ủy khu vực đề ra chủ trương chống địch dụ dỗ,

cưỡng ép đồng bào di cư vào Nam Ban chống cưỡng ép di cư được thành lập, gồm

28 đồng chí, phân công nhau về cơ sở bám địa bàn, bám dân, tuyên truyền giải thích

Trang 12

chính sách tôn giáo của Đảng, giúp giáo dân sửa lại nhà thờ, giải quyết khó khăn vềđời sống, đẩy mạnh việc việc tăng gia sản xuất, nổi lên là công tác vận động ở 2 nhà

thờ lớn nhất: Di Loan và Phước Sơn Ngoài ra, Ban chống cưỡng ép di cư còn lập

nhiều trạm dọc Quốc lộ I để đón khoảng trên 2 vạn giáo dân từ các tỉnh miền Bắc bịmắc mưu địch di cư vào Nam, giải thích cho giáo dân rõ về âm mưu của Mỹ - Diệmtrong việc dụ dỗ, cưỡng ép, lừa gạt giáo dân di cư vào Nam

Cuộc đấu tranh chống địch dụ dỗ và cưỡng ép đồng bào miền Bắc di cư vàoNam diễn ra rất phức tạp Nhờ sự lãnh đạo kịp thời, kiên quyết của Đảng và Chínhphủ, cán bộ, bộ đội công an ta kiên trì, chịu đựng gian khổ, bám sát nhân dân nên đãhạn chế được hành động của địch đưa người vào Nam ồ ạt, chúng ta thu được một

số thắng lợi nhất định Tuy vậy, khách quan mà nói, trong phong trào đấu tranh,chúng ta còn bộc lộ một số hạn chế Chỉ thị số 16-CT/TW, ngày 21-4-1955 của Ban

Bí thư vạch rõ nguyên nhân mắc khuyết điểm: “Ở Trung ương, kế hoạch còn nặng

nề về đối phó, thiếu chủ động tiến công địch; chưa huy động đủ lực lượng cần thiết

để thực hiện kế hoạch chống cưỡng ép di cư Bộ phận chỉ đạo công tác chống địch cưỡng ép di cư và bộ phận chuyên trách việc này trong Ủy ban liên hiệp đình chiến Trung ương còn yếu Nhiều địa phương vẫn chưa thấy hết âm mưu địch, cho nên vẫn còn chủ quan, thấy việc thì đối phó, xong việc lại lơ là Chỉ đạo chưa được tăng cường một cách thường xuyên, chưa có bộ phận chuyên trách dứt khoát và có đủ cán bộ” 1 Như ở Thanh Hoá, ta chưa bám sát dân, đặc biệt là trong vụ phiến loạn

Ba Làng (Tĩnh Gia) cuối năm 1954, đầu năm 1955, tuy “được quần chúng ủng hộ

mà không thấy được giáo dục, phát động quần chúng để trấn áp địch nên đã kéo dài tình trạng khổ cực của nhân dân trong một thời gian” 2 Ở Vĩnh Linh (Quảng

Trị), "do ta chậm phát hiện âm mưu thâm độc của địch, công tác vận động đồng bào theo đạo Thiên Chúa của ta có sơ hở nên bọn phản động đã đưa được 7.164 đồng bào giáo dân ở địa phương Vĩnh Linh di cư vào Nam" 3 Nếu tính chung cả miền Bắcthì địch đã đưa hơn hai phần ba giáo dân di cư vào Nam Theo Tạp chí Missi, cơquan ngôn luận Thiên Chúa giáo (Pháp), số tháng 2-1956, trước cuộc di cư, giáodân ở phía Bắc vĩ tuyến 17 có 1.133.000 người Sau cuộc di cư, chỉ còn 457.000người 4

Những hạn chế trên đây đã góp phần giúp chúng ta rút được những bài họckinh nghiệm quý báu trong cuộc đấu tranh cách mạng ở các giai đoạn tiếp theo

3 Hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh (1954-1957)

a Hoàn thành cải cách ruộng đất

Căn cứ vào hoàn cảnh thực tế và yêu cầu về quyền lợi kinh tế và chính trịcủa nông dân, nhằm củng cố khối liên minh công nông, mở rộng mặt trận dân tộc

1 Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 16 (1955) Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr

269-270

2 Tỉnh ủy Thanh Hóa Bản kiểm thảo của Tỉnh ủy trong hội nghị cán bộ từ ngày 8 đến ngày16-10-1955 Phòng lưu trữ Tỉnh ủy, Hồ sơ 15, cặp số 3, tr 3

3 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị (1999) Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Trị, Tập 2

(1954-1975) Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 78-79

4 Vũ Văn Mẫu (2003) Sáu tháng Pháp nạn 1963 Giao Điểm, USA, tr 227

Trang 13

thống nhất, Ủy ban cải cách ruộng đất Trung ương ra nghị quyết: "Đẩy mạnh phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất".

Thực hiện chủ trương của Trung ương, đợt 6 giảm tô và đợt 2 của cải cáchruộng đất là những việc đầu tiên được tiến hành trong hoàn cảnh đất nước hoàìbình Từ đó việc đẩy mạnh phát động quần chúng thực hiện cải cách ruộng đất bắtđầu lan rộng vào vùng trung du và đồng bằng mới giải phóng Từ sau hoà bình lậplại cho đến tháng 7-1956, cải cách ruộng đất ở miền Bắc được tiến hành liên tiếp 4đợt, từ đợt 2 đến đợt 5 Riêng đợt 5 bắt đầu từ tháng 12-1955, tiến hành ở 1720 xã 1thuộc 20 tỉnh và 2 thành phố Đây là những vùng trước đó không lâu còn bị địchchiếm đóng, vì thế so với các đợt trước, đợt 5 diễn ra gay go, phức tạp

Qua 5 đợt cải cách ruộng đất, 1.595.203 ha ruộng đất, 10 vạn trâu bò, 1,8

triệu nông cụ từ tay giai cấp địa chủ được chia cho trên 2 triệu nông dân lao động

Khẩu hiệu "người cày có ruộng" đã trở thành hiện thực Giai cấp địa chủ và tàn dư

của chế độ phong kiến miền Bắc bị xoá bỏ Giai cấp nông dân được giải phóng và

được đưa lên địa vị người chủ ở nông thôn Với thành quả này, miền Bắc “đã căn bản hoàn thành nhiệm vụ phản phong kiến” 2 Đây là thắng lợi của cải cách ruộngđất và là thành tựu to lớn của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân

Tuy vậy, khi đợt 5 đang đi vào thời điểm kết thúc, Đảng và Chính phủ pháthiện ra những sai lầm nghiêm trọng trong quá trình cải cách ruộng đất và chỉnh đốn

tổ chức Đó là sự vi phạm đường lối giai cấp của Đảng ở nông thôn (xâm phạm lợi

ích của trung nông, không liên hiệp với phú nông, không phân biệt đối xử với cácloại địa chủ, không chiếu cố địa chủ kháng chiến), cường điệu việc trấn áp phảncách mạng; không dựa vào tổ chức cũ, mắc chủ nghĩa thành phần; nghiêm trọngnhất là trong việc chỉnh đốn tổ chức Từ đó dẫn đến một số nông dân, cán bộ, đảngviên, bị quy nhầm là địa chủ Một số địa chủ kháng chiến, những người thuộc tầnglớp trên có công với cách mạng cũng bị đưa ra đấu tố Sai lầm còn thể hiện trongphương pháp đấu tranh còn thô bạo

Nguyên nhân sâu xa của những sai lầm trên là do không nắm vững vấn đềdân tộc và giai cấp ở nước ta, không thấy được những biến đổi to lớn về sở hữuruộng đất, về giai cấp địa chủ và chế độ phong kiến ở nông thôn ở miền Bắc từ sau

Cách mạng tháng Tám Thật vậy, nếu “căn cứ vào số ruộng đất đã chia cho nông dân trong cải cách ruộng đất, căn cứ tác hại rất nghiêm trọng của sai lầm cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức, thì chủ trương cải cách ruộng đất như đã làm là không cần thiết Đó là vì trước khi tiến hành cải cách cách ruộng đất, giai cấp địa chủ, chế độ phong kiến đã căn bản bị xoá bỏ và mục tiêu người cày có ruộng đã căn bản được thực hiện với tỉ lệ 2/3 ruộng đất đã về tay nông dân, với quyền làm chủ của nông dân trong nông thôn đã được thực hiện từ Cách mạng tháng Tám đến kháng chiến chống Pháp ” 3

Mặt khác, trong tiến hành cải cách ruộng đất, không giữ vững đường lối độclập tự chủ, áp dụng máy móc, giáo điều kinh nghiệm nước ngoài một cách giản đơn,

1 Nếu tính cả 5 đợt, tổng cộng số xã tiến hành cải cách ruộng đất là 3.314

2 Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 17 (1956) Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr 539.

3 Kết luận của Bộ Chính trị về một số vấn đề lịch sử Đảng thời kỳ 1954 - 1975, ngày 1994

Trang 14

25-5-nên trong chỉ đạo đã cường điệu tính chất đấu tranh giai cấp ở nông thôn, ngả sang

tả, đánh nhầm vào nội bộ nông dân, đặc biệt là tầng lớp trung nông lớp trên "Đó là những sai lầm nghiêm trọng, phổ biến, kéo dài về nhiều mặt, những sai lầm về những vấn đề nguyên tắc, trái với chính sách của Đảng, trái với chế độ pháp luật của nhà nước Những sai lầm đó không những đã hạn chế những thắng lợi đã thu được, mà lại gây ra nhiều tổn thất ảnh hưởng tai hại đến chính sách mặt trận của Đảng , làm cho tình hình nông thôn căng thẳng " 1

Những sai lầm nghiêm trọng trong cải cách ruộng đất đã gây tổn thất lớn chonhân dân và hạn chế nhất định những thành quả cải cách ruộüng đất

Ngay trong tháng 4-1956, khi phát hiện ra những sai lầm, Đảng và Chínhphủ đã có chỉ thị sửa chữa Ngày 18-8-1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư chođồng bào nông thôn và cán bộ, chỉ rõ những thắng lợi và những sai lầm trong cảicách ruộng đất Tháng 9-1956, Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ươngĐảng họp, thảo luận và đi đến kết luận về những thắng lợi và những sai lầm trong

cải cách ruộng đất Hội nghị khẳng định: “Chúng ta không sợ vạch rõ sai lầm, khi thấy sai lầm thì chúng ta kiên quyết sửa chữa được”; đồng thời Hội nghị đề ra một

số chủ trương, biện pháp để sửa chữa sai lầm, như khôi phục danh dự, quyền lợi chonhững người bị xử oan và thi hành kỷ luật đối với một số cán bộ có trách nhiệm2

Tiếp theo, tháng 10-1956, Hội đồng Chính phủ họp thực hiện nhiệm vụ sửa

sai, đã nhận định: “ Công tác cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức đã phạm sai lầm nghiêm trọng Luật cải cách ruộng đất hợp tình hợp lý do Quốc hội thông qua không được chấp hành nghiêm chỉnh Pháp luật nhà nước không được tôn trọng Chế độ pháp trị dân chủ bị xâm phạm Những sai lầm ấy đã gây nhiều tổn thất trong nhân dân, đụng chạm đến tình cảm và đời sống bình thường của nhân dân, có hại cho chính sách đại đoàn kết của Mặt trận dân tộc thống nhất Nó hạn chế những kết quả đã thu được trong cải cách ruộng đất và gây cho chúng ta nhiều khó khăn” Chính phủ tự kiểm điểm “nhận thấy sâu sắc trách nhiệm về mình” và quyết định thay đổi về mặt tổ chức: “Từ nay các Ủy ban cải cách ruộng đất trung ương và địa phương không có quyền chỉ đạo mà chỉ là những cơ quan nghiên cứu trực thuộc chính quyền các cấp Bãi bỏ các Toà án đặc biệt” ; đồng thời Chính phủ

cũng quyết định thi hành kỷ luật đối với một số cán bộ liên quan 3 Mặt khác, Trungương quyết định phục hồi những chi bộ đảng bị giải tán sai, sửa lại thành phần chonhững cá nhân bị quy sai, khôi phục đầy đủ quyền lợi, danh dự, công tác cho nhữngngười bị xử lý sai, bãi bỏ mọi hình thức quản chế đối với những trường hợp bị quysai là Việt gian, phản động; chấp hành nghiêm các chế độ, chính sách đối với các

1 Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 17 (1956) Nhà xuất bản CTQG, HN, 2002, tr 539-540.

2 Hội nghị Trung ương lần thứ 10 quyết định đưa đồng chí Hồ Viết Thắng ra khỏi BanChấp hành Trung ương, đồng ý để đồng chí Lê Văn Lương rút ra khỏi Bộ Chính trị, Ban Bíthư và đưa xuống làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương, đồng chí TrườngChinh đã tự phê bình, xin từ chức Tổng bí thư và được Hội nghị đồng ý Văn kiện Đảngtoàn tập, tập 17 (1956) Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr 577

3 Đối với ông Hồ Viết Thắng, cách chức Phó chủ nhiệm, Uỷ viên thường trực ban cải cáchruộng đất trung ương và buộc từ chức Thứ trưởng Bộ Nông Lâm; đối với ông Lê VănLương, chấp nhận đơn xin từ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ và Chủ nhiệm Văn phòng Nộichính Thủ tướng phủ

Trang 15

gia đình quân nhân cách mạng, các chính đảng, tôn giáo, dân tộc, các địa chủ cócông với kháng chiến.

Ngày 8-12-1956, trong cuộc nói chuyện tại trường Đại học Nhân dân, Chủ

tịch Hồ Chí Minh nói rõ: “Chế độ dân chủ cộng hoà của ta dù có những sai lầm thiếu sót vì chúng ta còn thiếu kinh nghiệm và còn có nhiều khó khăn Đảng và Chính phủ chỉ lo việc phục vụ lợi ích của nhân dân, trước hết là của nhân dân lao động chân tay và lao động trí óc Trong cải cách ruộng đất, cán bộ đã phạm sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng, cần phải kiên quyết sửa chữa, nhưng không nên vì sai lầm, khuyết điểm mà bi quan Trái lại vẫn vững lòng tin tưởng vào Đảng và Chính phủ” 1

Do có chủ trương đúng đắn, kịp thời của Đảng và được toàn dân ủng hộ, nênđến cuối năm 1957, công tác sửa sai đã đem lại kết quả tốt Nông thôn dần dần đivào ổn định, nội bộ Đảng đoàn kết, lòng tin của nhân dân được khôi phục, sản xuấtnông nghiệp được đẩy mạnh, khối liên minh công nông được củng cố, chính quyềnnhân dân được ổn định và sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường, nhờ đó ý nghĩathắng lợi của cải cách ruộng đất vẫn hết sức to lớn Bộ mặt nông thôn miền Bắc cónhiều thay đổi Thắng lợi của cải cách ruộng đất đã tạo điều kiện thuận lợi cho việchoàn thành nhiệm vụ khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh

b Khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh

Chủ trương và phương châm khôi phục kinh tế được Chính phủ trình bàytrước Quốc hội khoá I kỳ họp thứ 4 (3-1955) và được Quốc hội thông qua tại kỳ họpthứ 5 (9-1955) Mục tiêu là khôi phục cơ sở sản xuất và mức sản xuất bằng trước

chiến tranh (năm 1939); đồng thời “phải thay đổi quan hệ sản xuất cho phù hợp với chế độ dân chủ nhân dân Phương châm khôi phục gồm 5 điểm cụ thể:

1) Chủ yếu phải khôi phục nông nghiệp, chú trọng công tác cải cách ruộng đất, rất coi trọng giao thông vận tải, chăm lo khôi phục, xây dựng một số công trình cần thiết, chú trọng gây cơ sở cho công nghiệp hoá.

2) Khôi phục kinh tế phải theo đường lối chung là phát triển sản xuất làm cho kinh tế dồi dào, công tư đều được chiếu cố, lao động và tư bản đều có lợi, thành thị và thôn quê giúp đỡ lẫn nhau, mở rộng trao đổi giữa trong nước và ngoài nước.

3) Khôi phục phải đi đôi với cải tạo nền kinh tế cũ còn nặng tính chất phong kiến, thực dân và di tích chiến tranh thành nền kinh tế độc lập, dân chủ, phục vụ dân sinh

4) Tăng cường một cách vững chắc bộ phận kinh tế quốc doanh và chăm loxây dựng dần dần bộ phận kinh tế hợp tác xã, phát huy đến cao độ tính tích cực của quảng đại quần chúng lao động ở thành thị và thôn quê; hướng dẫn, khuyến khích và giúp đỡ công việc làm ăn, buôn bán của các tầng lớp tiểu tư sản và công cuộc kinh doanh của tư sản dân tộc.

1 Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 8 (1955-1957) Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.

276-278

Trang 16

5) Trong khôi phục kinh tế phải thực hiện sự phát triển cân đối giữa các ngành: nông nghiệp, giao thông vận tải, công nghiệp, xây dựng lại các thành phố bị tàn phá, thương mại” 2.

Các phương châm kể trên đều quán triệt đường lối đại đoàn kết toàn dân theoCương lĩnh Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam nhằm xây dựng một nền kinh tếnhiều thành phần dưới sự chỉ đạo và quản lý của nhà nước dân chủ nhân dân

Khôi phục sản xuất nông nghiệp: Đối với nền kinh tế quốc dân nói chung,

kinh tế nông nghiệp có vị trí hết sức quan trọng Nông nghiệp cung cấp lương thực,nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm của công nghiệp Sản xuất nông nghiệp được khôiphục mới giải quyết được vấn đề lương thực, làm cơ sở cho việc khôi phục và pháttriển các ngành kinh tế khác, nâng cao mức sống cho nhân dân, do đó, sẽ củng cốvững chắc khối liên minh công nông Vì vậy, Đảng và Nhà nước chủ trương lấykhôi phục nông nghiệp làm chủ yếu, trên cơ sở đó khôi phục toàn bộ nền kinh tếquốc dân

Giai cấp nông dân miền Bắc, với niềm phấn khởi và tin tưởng vô hạn vì mớiđược giải phóng khỏi ách áp bức, bóc lột của đế quốc, phong kiến và được chiaruộng đất, đã tích cực hưởng ứng phong trào khôi phục và phát triển sản xuất Vượtqua mọi khó khăn, thiếu thốn, nông dân đã ra sức khai hoang, chống hạn, bảo đảmcấy hết diện tích ruộng đất, tăng thêm đàn trâu bò, sắm thêm nông cụ Đến cuốinăm 1957, những vết thương chiến tranh trên đồng ruộng đã hàn gắn xong: 125.000mẫu ruộng hoang đã trở thành những cánh đồng xanh tốt; 12 hệ thống nông giang bịđịch phá hoại trong chiến tranh được sửa chữa, cùng với việc xây dựng những côngtrình thủy nông mới, như đập nước Đô Lương, Bái Thượng, Thác Huống Hệ thống

đê điều dài 3.500 km bị hư hỏng trong chiến tranh cũng được sửa chữa, củng cốlại,

Kết quả, sản lượng lương thực và hoa màu tăng nhanh Trong thời gian này,tổng sản lượng lương thực hàng năm đạt 4.000.000 tấn, vượt xa mức trước chiếntranh (năm 1939: 2.407.000 tấn) Tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt bình quânhàng năm là 680.000 tấn, gấp ba lần mức năm 1939 (220.000 tấn) Do vậy, nạn đói

có tính chất kinh niên ở miền Bắc bước đầu được giải quyết, đời sống nhân dân laođộng được cải thiện một bước quan trọng

Khôi phục sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp: Do bị chính sách

thuộc địa của thực dân Pháp kìm hãm, nền công nghiệp Việt Nam nói chung, côngnghiệp miền Bắc nói riêng, rất nhỏ bé Công nghiệp nặng miền Bắc hầu như khôngđáng kể (cuối năm 1954, giá trị sản lượng công nghiệp chiếm 1,5% tổng sản lượngcông nông nghiệp) Công nghiệp nhẹ đã nhỏ bé lại bị chiến tranh tàn phá, kỹ thuậtlạc hậu Từ thực tế đó, Đảng và Nhà nước ta chủ trương trước hết phải tập trungkhôi phục và phát triển công nghiệp nhẹ, đồng thời củng cố và phát triển côngnghiệp nặng trong phạm vi cần thiết và có khả năng

Giai cấp công nhân nêu cao tinh thần tự lực, tự cường kết hợp với việc sửdụng có hiệu quả viện trợ của các nước anh em, đã nhanh chóng khôi phục và mởrộng hầu hết các cơ sở công nghiệp, các nhà máy, xí nghiệp quan trọng, như mỏ

2 Ban Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Chính phủ Việt Nam Lịch sử Chính phủ Việt Nam 1955

-1976 Hà Nội, 2004, tr.12.

Trang 17

than Hòn Gai, nhà máy dệt Nam Định, nhà máy xi măng Hải Phòng, nhà máy điện

Hà Nội Một số nhà máy mới được xây thêm, như nhà máy cơ khí Hà Nội, nhà máydiêm Thống Nhất, nhà máy gỗ Cầu Đuống, nhà máy thuốc lá Thăng Long, nhà máy

cá hộp Hải Phòng, nhà máy chè Phú Thọ Trong đó, việc xây dựng nhà máy cơ khí

Hà Nội là sự kiện quan trọng trong lịch sử phát triển công nghiệp Việt Nam Đây là

cơ sở đầu tiên của ngành chế tạo máy ở nước ta Đến cuối năm 1957, miền Bắc cótất cả 97 nhà máy, xí nghiệp do nhà nước quản lý

Cùng với việc khôi phục và phát triển công nghiệp, các ngành thủ côngnghiệp cũng được phục hồi nhanh chóng Đến năm 1957, số thợ thủ công tăng lêngần 460.000 người (gấp 2 lần số so với năm 1941, là năm mà ngành thủ côngnghiệp phát triển cao nhất trước Cách mạng tháng Tám) Ngành thủ công nghiệp đãcung cấp 58,8% số hàng hóa công nghiệp trong nước Các ngành sản xuất vật liệuxây dựng, nông cụ, dệt, may mặc, làm muối đều vượt mức trước năm 1941

Nhìn chung, trong ba năm khôi phục kinh tế, giá trị tổng sản lượng côngnghiệp và thủ công nghiệp hàng năm tăng khá nhanh Năm 1955: 213.500 triệuđồng; 1956: 432.000 triệu đồng; 1957: 573.000 triệu đồng

Khôi phục ngành thương nghiệp: Sau khi hòa bình lập lại, một vùng đồng

bằng rộng lớn, phì nhiêu, có nhiều thóc gạo và nông phẩm, được giải phóng; mặtkhác, sự lũng đoạn của tư bản Pháp bị thủ tiêu trên thị trường miền Bắc Đó lànhững thuận lợi cơ bản cho việc mở rộng hoạt động thương nghiệp

Tuy nhiên, trong tình hình mới, ngành thương nghiệp miền Bắc cũng gặpnhiều khó khăn Nhu cầu cung cấp tăng lên trong khi sản xuất công, nông nghiệp bịchiến tranh tàn phá nặng nề, không đủ sức cung cấp cho thị trường khối lượng hànghóa cần thiết Bên cạnh nền thương nghiệp độc lập, tự chủ, phục vụ sản xuất, phục

vụ dân sinh trong các vùng tự do cũ, lại có thêm thương nghiệp vùng mới giảiphóng còn mang tính chất phụ thuộc kinh tế thực dân Phần lớn hàng hóa giao lưutrên thị trường nằm trong tay tư nhân Thương nghiệp xã hội chủ nghĩa còn bé nhỏ

Căn cứ vào tình hình cụ thể trên, Nhà nước chủ trương chuyển hoạt độngthương nghiệp theo hướng phục vụ sản xuất, phục vụ nhân dân; hướng dẫn một sốthương gia trước đây buôn bán những mặt hàng không cần thiết sang kinh doanhcông nghiệp; tăng cường mậu dịch quốc doanh, làm cho mậu dịch quốc doanh pháthuy tác dụng đối với đời sống nhân dân Hệ thống mậu dịch quốc doanh và hợp tác

xã mua bán được mở rộng và cung cấp ngày càng nhiều mặt hàng cho nhân dân.Việc giao lưu hàng hóa giữa các địa phương ngày càng phát triển Hoạt động ngoạithương dần dần tập trung trong tay nhà nước Quan hệ buôn bán với nước ngoàibước đầu được tăng cường Đến năm 1957, miền Bắc nước ta đã đặt quan hệ thươngmại với 27 nước trên thế giới

Khôi phục ngành giao thông vận tải: Hệ thống giao thông miền Bắc dưới

thời Pháp rất lạc hậu, lại bị tàn phá, hư hỏng nghiêm trọng trong thời gian chiếntranh Trước khi rút quân khỏi miền Bắc, thực dân Pháp tiếp tục phá hoại hoặcmang đi hầu hết các thiết bị máy móc

Sau hòa bình, với yêu cầu, nhiệm vụ khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa,cải thiện đời sống nhân dân và tăng cường quốc phòng, Nhà nước chủ trương khôiphục nhanh chóng đường xe lửa, đường ô tô, vận tải sông ngòi, bưu điện Đây

Trang 18

chính là những công tác có ý nghĩa quan trọng bậc nhất, là điều kiện không thểthiếu trong việc phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế.

Cuối năm 1957, trên toàn miền Bắc, nhân dân ta đã khôi phục được 681 kmđường sắt (quan trọng nhất là tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn); khôi phục vàlàm thêm được 10.607 km đường ô tô Các bến cảng, cửa sông được tu sửa và củng

cố, góp phần rất quan trọng trong việc phát triển giao lưu hàng hóa, hồi phục kinh

tế Đường hàng không dân dụng quốc tế được khai thông

Tóm lại, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự nỗ lực của toàn dân, mà nòng cốt

là công nông, đến năm 1957 miền Bắc đã có những đổi thay về nhiều mặt Thànhphần kinh tế thực dân, phong kiến bị xóa bỏ; thành phần kinh tế quốc doanh chiếm

ưu thế và đã nắm toàn bộ hoặc phần lớn những ngành then chốt, chiếm 58% giá trịsản lượng trong công nghiệp, 100% trong các ngành ngân hàng, xây dựng cơ bản,bưu điện, đường sắt, 61% trong các ngành thương nghiệp, 97% trong ngành ngoạithương

c Phát triển văn hoá, giáo dục, y tế

Nhiệm vụ phát triển giáo dục được Chính phủ đặt ra một cách thực tế:

“Củng cố và phát triển bình dân học vụ, thống nhất và củng cố ngành phổ thông, chú trọng phát triển các lớp của trung học (cấp III), đặc biệt chú trọng phát triển đại học Mở rộng cơ sở rèn luyện cán bộ” 1 Nhiệm vụ trên được triển khai thành

5 công tác lớn là:

1 Phát triển giáo dục phổ thông;

2 Phát triển đại học và trung học chuyên nghiệp;

3 Thanh toán nạn mù chữ và bổ túc văn hoá;

4 Phát triển giáo dục miền núi;

5 Ổn định tình hình và phát triển giáo dục đối với học sinh miền Nam tậpkết

Kết quả, so với năm 1939, các chỉ tiêu tăng lên khá cao, cả về số lượngtrường sở, về tổng số học sinh, sinh viên, số người được thanh toán nạn mù chữ,được bổ túc văn hoá, số học sinh miền Nam tập kết được sắp xếp vào các trường Sovới năm học 1939-1940 thì năm học 1957-1958, chúng ta có các số liệu cụ thể sau:

Tổng số trường học, từ 4.413 lên 5007

Tổng số giáo viên, từ 8.365 lên 23.340

Tổng số học sinh vỡ lòng, từ 82.000 lên 857.000

Tổng số học sinh phổ thông, từ 417.000 lên 1.008.000

Tổng số sinh viên đại học, từ 582 lên 3.664 trong đó có 306 là nữ

Công tác y tế được coi trọng, nhiều bệnh xã hội, truyền nhiễm bị đẩy lùi.Cuối năm 1957, miền Bắc đã có 55 bệnh viện, 13 viện điều dưỡng, 85 bệnh xá,19.700 giường bệnh, 362 nhà hộ sinh Năm 1939, cả Đông Dương chỉ có 138 thầy

1 Ban Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Chính phủ Việt Nam Lịch sử Chính phủ Việt Nam 1955

-1976 Hà Nội, 2004, tr.19.

Trang 19

thuốc thì đến năm 1957, miền Bắc đã có 49 bác sĩ, 1.087 y sĩ trung cấp, 175 dược sĩtrung cao cấp, 683 nữ hộ sinh và 6.641 y tá 1.

Nghệ thuật và văn hoá quần chúng được Đảng và Nhà nước quan tâm pháttriển, góp phần quan trọng vào sự nghiệp khôi phục kinh tế Phương châm chung làphát triển nền văn hoá dân tộc, học tập văn hoá tiên tiến của thế giới, trước hết làcủa các nước bạn, quét sạch tàn dư văn hoá nô dịch Phát triển sinh hoạt văn hoá vuitươi, lành mạnh trong nhân dân, gây phấn khởi sản xuất và đấu tranh chính trị Banhiệm vụ chính được triển khai trong văn hoá nghệ thuật:

1 Phát triển văn hoá quần chúng

2 Phục hồi và bước đầu phát triển nghệ thuật

3 Đẩy mạnh việc trao đổi văn hoá với nước ngoài

Trên cơ sở thực hiện ba nhiệm vụ trên đây, các ngành văn hóa quần chúngnhư xuất bản và phát hành sách, báo, thư viện, chiếu bóng, biểu diễn văn nghệ đềuđược phát triển Cụ thể: Sách xuất bản năm 1957 tăng gấp 6 lần so với năm 1939.Năm 1957 đã xây dựng được 33 thư viện với 458.000 cuốn sách Tới tháng 9-1956

đã có 53 câu lạc bộ của các xí nghiệp, cơ quan, công trường và 732 nhà văn hóanông thôn Năm 1957, ngoài 5 rạp hát quốc doanh còn có 35 rạp hát tư doanh đượcChính phủ cho phép hoạt động, v.v Các tổ chức văn hoá, văn nghệ được củng cố

và phát triển thêm, như Đại hội Văn công toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức năm

1955 Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật, Hội Mỹ thuật Việt Nam, Hội Nhà văn ViệtNam, Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam, Hội Nhạc sĩ Việt Nam lần lượt ra đời Giaolưu nghệ thuật với nước ngoài phát triển Chúng ta đã đón tiếp nhiều đoàn nghệthuật nước ngoài đến biểu diễn và cử nhiều đoàn văn công đi dự các cuộc liên hoannghệ thuật quốc tế và biểu diễn ở một số nước bạn bè, anh em

Đánh giá về những thành tựu mà nhân dân miền Bắc đã giành được trong 3

năm (1954-1957), Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Trải qua thời gian ba năm, nhân dân miền Bắc đã ra sức khắc phục khó khăn, lao động sản xuất, thu được những thành tích to lớn trong công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh

tế, bước đầu phát triển văn hoá, giảm bớt khó khăn và dần dần cải thiện đời sống cho nhân dân cả miền đồng bằng và miền núi Cải cách ruộng đất căn bản hoàn thành, công việc sửa chữa sai lầm làm phát huy thắng lợi trong nhiều địa phương

đã làm xong và thu được kết quả tốt Nông nghiệp đã vượt hẳn mức trước chiến tranh Công nghiệp đã khôi phục các xí nghiệp cũ, xây dựng một số nhà máy mới.

An ninh trật tự được giữ vững, quốc phòng được củng cố” 2

4 Cải tạo quan hệ sản xuất, bước đầu phát triển kinh tế - văn hóa (1958

- 1960)

a Cải tạo quan hệ sản xuất

Tuy đạt được một số thành tựu như đã trình bày ở trên, nhưng nền kinh tếmiền Bắc căn bản vẫn là một nền nông nghiệp phân tán, lạc hậu, lao động thủ côngvới năng suất thấp Các thành phần kinh tế dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư

1 Ban Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Chính phủ Việt Nam Lịch sử Chính phủ Việt Nam 1955

-1976 Hà Nội, 2004, tr 20.

2 Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 8 Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr 483.

Trang 20

liệu sản xuất còn phổ biến, trong đó kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công, tiểuthương chiếm phần rất lớn Thành phần kinh tế công - thương nghiệp tư bản tưdoanh mới được cải tạo bước đầu.

Trong tình hình đó, Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảnghọp (11-1958), chủ trương bước đầu phát triển kinh tế, phát triển văn hoá trong 3năm (1958-1960) và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế cá thể củanông dân, thợ thủ công, người buôn bán nhỏ và kinh tế tư bản tư doanh, trong đótrọng tâm trước mắt là cải tạo thành phần kinh tế cá thể của nông dân Tháng 12-

1958, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa I đã thông qua kế hoạch 3 năm cải tạo vàphát triển kinh tế - văn hóa (1958-1960) bao gồm những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

- Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp và công nghiệp, lấy sản xuấtnông nghiệp làm khâu chính, chủ yếu nhằm giải quyết vấn đề lương thực, đồng thờirất chú trọng sản xuất công nghiệp, hết sức tăng thêm các tư liệu sản xuất và giảiquyết phần lớn hàng tiêu dùng

- Cải tạo nông nghiệp, thủ công nghiệp và công thương nghiệp tư bản tưdoanh theo hướng xã hội chủ nghĩa, khâu chính là hợp tác hóa nông nghiệp, đồngthời tích cực phát triển và củng cố thành phần kinh tế quốc doanh

- Trên cơ sở phát triển sản xuất, nâng cao thêm một bước đời sống vật chất

và văn hóa của nhân dân, nhất là đời sống của nhân dân lao động; và tăng cườngcủng cố quốc phòng

Cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp: Cải tạo theo định hướng xã

hội chủ nghĩa trong nông nghiệp tức là phải thực hiện cải tạo quan hệ sản xuất kếthợp với cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động và giáo dục tư tưởng xã hội chủnghĩa cho nông dân, nhằm đưa giai cấp nông dân từ chỗ làm ăn riêng lẻ đi dần vàocon đường làm ăn tập thể xã hội chủ nghĩa Đây là khâu chính trong toàn bộ sựnghiệp cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc

Cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp được tiến hành qua ba bước, từ thấp

đến cao là: “Tổ đổi công có mầm mống xã hội chủ nghĩa, hợp tác hóa bậc thấp nửa

xã hội chủ nghĩa và hợp tác hóa bậc cao hoàn toàn xã hội chủ nghĩa” 1; từng bướclàm cho nông dân quen dần với lối làm ăn tập thể và phù hợp với trình độ quản lýcủa cán bộ hợp tác xã

Để đạt được mục tiêu trên, trong quá trình vận động hợp tác hóa, một mặtphải đi đúng đường lối giai cấp của Đảng ở nông thôn; mặt khác phải đảm bảo tuânthủ ba nguyên tắc: Tự nguyện, cùng có lợi và quản lí dân chủ

Tự nguyện là phải để nông dân thấy được tính hơn hẳn của hợp tác xã đốivới sản xuất cá thể mà tự nguyện, tự giác tham gia, nhất thiết không được cưỡng ép,mệnh lệnh dưới bất cứ hình thức nào

Cùng có lợi là: đối với những tư liệu sản xuất của xã viên đưa vào hợp tác xãcũng như khi sắp xếp công việc, bình công chấm điểm, chia hoa lợi đều phải giải

1 Trường Chinh Kiên quyết đưa nông thôn miền Bắc nước ta qua con đường hợp tác hoá

nông nghiệp tiến lên chủ nghĩa xã hội (Báo cáo tại khoá họp lần thứ 10 của Quốc hội ngày

20-5-1959) Nxb Sự thật, Hà Nội, 1959

Trang 21

quyết một cách hợp lý trong mối quan hệ giữa lợi ích chung của hợp tác xã với lợiích riêng của từng xã viên nhằm lợi cho đoàn kết, lợi cho sản xuất

Quản lý dân chủ là quản lý ba mặt: lao động sản xuất, tài vụ cũng như cácviệc khác của hợp tác xã đều phải được bàn bạc một cách dân chủ và do tập thể xãviên quyết định, không được độc đoán, mệnh lệnh

Để thực hiện có kết quả cuộc vận động hợp tác hóa, một mặt nhà nước mởcác lớp huấn luyện cán bộ hợp tác xã để xây dựng và phát triển phong trào, tổ chứccho nông dân học tập chính sách hợp tác hóa nông nghiệp, nhận thức được ý nghĩacủa con đường làm ăn mới; mặt khác nhà nước đã đầu tư vào nông nghiệp 180 triệuđồng, cho nông dân vay 138 triệu đồng, cung cấp cho nông dân 30 vạn tấn phân hóahọc, 6 vạn trâu bò, 4 triệu nông cụ các loại, xây dựng 19 công trình thủy lợi, bảođảm nước tưới cho 153 vạn ha ruộng đất 1

Sau ba năm tiến hành thực hiện hợp tác hóa nông nghiệp, đến cuối năm 1960trên toàn miền Bắc đã có 40.000 hợp tác xã nông nghiệp bao gồm 85,8% hộ nôngdân với 68,1% diện tích ruộng đất, trong đó có gần 12% số hộ tham gia hợp tác xãbậc cao

Tại miền núi, do có những đặc điểm riêng, Đảng và Nhà nước chủ trươngcuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp, phát triển sản xuất kết hợp với việc hoànthành cải cách dân chủ Cuộc vận động đã diễn ra trong 2.000 xã với 3 triệu dân.Tính đến tháng 6 - 1961, toàn miền núi có 357.000 hộ nông dân vào hợp tác xã,chiếm 75,64% tổng số hộ nông dân

Cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng Nó khôngchỉ mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển, mà còn đảm bảo những điều kiệnvật chất, tinh thần, chính trị cho bộ phận tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu.Thắng lợi của công cuộc hợp tác hóa nông nghiệp góp phần tạo điều kiện cho việccải tạo các thành phần kinh tế khác theo hướng xã hội chủ nghĩa Chỉ số phát triểntổng sản lượng nông nghiệp: Lấy năm 1957 là 100 thì năm 1958 là 116,9, năm 1959

là 124,5, năm 1960 là 113,7 2 Nhiệm vụ hợp tác hoá nông nghiệp được Đảng vàChính phủ tổng kết là về cơ bản đã hoàn thành Nhưng xét theo phương châm

“vững chắc” mà Chính phủ đề ra thì chưa đảm bảo, vì phong trào tiến quá nhanh 3,

chất lượng hợp tác xã yếu kém; đặc biệt là ba nguyên tắc “tự nguyện”, dân chủ,

cùng có lợi đều bị vi phạm 4 Như vậy, tuy Nhà nước chăm lo dân chủ hoá, pháp chếhoá bộ máy và cơ quan vận hành, nhưng ở đây lại chưa được quán triệt và thực thi

1 Trần Thục Nga (Chủ biên) Lịch sử Việt Nam (1945 - 1975) Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1987,

tr 79

2 Tổng cục thống kê Số liệu thống kê “Ba năm cải tạo và phát triển kinh tế phát triển văn

hoá của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà” Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1961, tr 37.

3 Chỉ trong 6 tháng

4 Cụ thể có nơi nông dân chưa tự nguyện vào hợp tác xã liền bị “chụp mũ” Việc bình côngchấm điểm làm không tốt khiến cho xã viên suy bì, tị nạnh với nhau Trong hợp tác xã bậcthấp, chia hoa lợi chưa được thoả đáng làm cho xã viên thắc mắc Quản lý thiếu dân chủ, xãviên không bằng lòng, cán bộ tự tư, tự lợi (Trường Chinh Kiên quyết đưa nông thôn miềnBắc nước ta qua con đường hợp tác hoá nông nghiệp tiến lên chủ nghĩa xã hội - Báo cáotại khoá họp lần thứ 10 của Quốc hội ngày 20-5-1959 Nxb Sự thật, Hà Nội, 1959, tr 50)

Trang 22

đầy đủ Xét chỉ tiêu kế hoạch nông nghiệp có tăng nhưng xét về hợp tác hoá, ngay

từ năm 1960 đã có chiều hướng giảm sút 1

Cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thủ công nghiệp, thương nghiệp và công thương nghiệp tư bản tư doanh: Sau khi được khôi phục, ngành thủ công nghiệp

đã có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Đảng và Nhà nước chủtrương cải tạo thợ thủ công thông qua các hình thức tổ hợp tác, hợp tác xã cung tiêusản xuất và hợp tác xã sản xuất thủ công nghiệp Đến cuối năm 1960, miền Bắc có87,9% số thợ thủ công tham gia vào các hình thức sản xuất tập thể

Đối với thương nghiệp nhỏ, Nhà nước chủ trương dùng các hình thức hợp tác(như tổ hợp tác mua, bán; tổ hợp tác vừa mua bán vừa sản xuất ) để cải tạo và chuyểndần một bộ phận sang cơ sở sản xuất tập thể Cuối năm 1960, hơn 105.000 ngườibuôn bán nhỏ (chiếm 45%) tham gia các hình thức hợp tác, gần 50.000 người buônbán nhỏ chuyển sang sản xuất, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp

Đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh, Nhà nước chủ trương cải tạotheo định hướng xã hội chủ nghĩa bằng phương pháp hòa bình vì giai cấp tư sảnmiền Bắc nhỏ yếu, đã từng là đồng minh của giai cấp công nhân trong cách mạngdân tộc dân chủ nhân dân Hơn thế nữa, công cuộc cải tạo diễn ra trong một hoàncảnh lịch sử đặc biệt: Nhà nước dân chủ nhân dân được củng cố vững mạnh, thànhphần kinh tế quốc doanh nắm vai trò lãnh đạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân, từ ngàyhòa bình lập lại, nói chung giai cấp tư sản vẫn tán thành cương lĩnh của Mặt trận Tổquốc, có khả năng tiếp thu cải tạo xã hội chủ nghĩa Mặt khác, cải tạo bằng phươngpháp hòa bình là nhằm đoàn kết lực lượng cả nước trong cuộc đấu tranh thực hiệnthống nhất nước nhà

Với chủ trương cải tạo bằng phương pháp hoà bình, Nhà nước không tịch thu

tư liệu sản xuất của giai cấp tư sản dân tộc mà dùng chính sách chuộc lại hoặc dướihình thức công tư hợp doanh; về chính trị, tư sản dân tộc vẫn là một thành phần củaMặt trận Tổ quốc Việt Nam Đến cuối năm 1960, miền Bắc có 783 hộ tư sản côngnghiệp (100%), 826 hộ tư sản thương nghiệp (97,1%) và 319 hộ tư sản vận tải cơgiới (99%) được cải tạo Hàng vạn công nhân được giải phóng khỏi ách bóc lộtcủa giai cấp tư sản Sản xuất phát triển: Chỉ số phát triển giá trị tổng sản lượng côngnông nghiệp lấy năm 1957 là 100 thì năm 1958 là 117; năm 1959 là 133; năm 1960

là 135,8 2 Đời sống nhân dân được cải thiện một bước

Như vậy, công cuộc cải tạo kinh tế đã diễn ra một cách tích cực, khẩntrương, theo đúng chủ trương mà Đảng và Nhà nước đề ra và đạt được yêu cầu.Nhiệm vụ phát triển và cải tạo kinh tế về cơ bản hoàn thành, đưa miền Bắc từ mộtnền kinh tế nhiều thành phần lên một nền kinh tế chủ yếu chỉ có hai thành phần làquốc doanh và tập thể Thắng lợi này có ý nghĩa thực tiễn rất to lớn đối với việc

1 Do xây dựng một cách “đại trà” nên chất lượng không đảm bảo Ngay con số 119 hợp tác

xã bậc cao thì thực tế chỉ có “hoàn toàn công hữu hoá tư liệu sản xuất và ăn chia theo laođộng, còn kỹ thuật thì thô sơ, sản xuất lạc hậu, năng suất không cao, đời sống xã viênkhông được cải thiện Tính “không vững chắc” đã lộ rõ là ngay trong 2 năm 1958-1959, ở

13 tỉnh đã có 5585 hộ nông dân xin ra hợp tác xã Ở 7 tỉnh có trên 20 hợp tác xã bị giải tán(Viện kinh tế 45 năm kinh tế Việt Nam Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1990, tr 43)

2 Tổng cục thống kê Ba mươi năm phát triển và cải tạo kinh tế, Sđd., tr 37.

Trang 23

củng cố chế độ xã hội chủ nghĩa miền Bắc và góp phần vào sự nghiệp đấu tranhthống nhất nước nhà

Nhưng xét về hiệu quả trong cả tiến trình cách mạng thì cả hai nhiệm vụ pháttriển và cải tạo, tuy tiến nhanh, tiến mạnh nhưng không vững chắc Nguyên nhân là

do sai lầm chủ quan, nóng vội, duy ý chí Chủ trương “đưa việc xây dựng quan hệ sản xuất tiên tiến lên trước để kéo lực lượng sản xuất lên theo” là không phù hợp

với qui luật khách quan Sai lầm còn do không nắm vững chắc các quy luật kinh tếcủa thời kỳ quá độ, nên đã đồng nhất cải tạo với xóa bỏ tư hữu, xóa bỏ các thànhphần kinh tế; còn thể hiện tư tưởng chủ quan, nóng vội, duy ý chí, vi phạm nguyêntắc tự nguyện

b Bước đầu phát triển kinh tế - văn hóa

Song song với cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thủ công nghiệp, thươngnghiệp và công thương nghiệp tư bản tư doanh, trong thời kỳ 1958-1960, côngthương nghiệp quốc doanh có những bước phát triển nhanh chóng Nhà nước đã tậptrung phần lớn vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản trong công nghiệp So với thời kỳ1955-1957, tổng mức đầu tư vào công nghiệp trong kế hoạch ba năm 1958-1960tăng lên ba lần, chiếm 46,52% tổng số vốn đầu tư cho các ngành kinh tế, văn hóa

Với số vốn đầu tư trên, Nhà nước đã xây dựng nhiều công trình lớn nhỏ Từchỗ 97 xí nghiệp công nghiệp quốc doanh năm 1957, đến năm 1960 đã có tới 172 xínghiệp do trung ương quản lý và trên 500 xí nghiệp cơ sở do địa phương quản lý.Một hệ thống các nhà máy, xí nghiệp thuộc các ngành điện lực, khai khóang, luyệnkim, chế tạo nông cụ, chế tạo cơ khí, hóa chất, phân bón, vật liệu xây dựng đượchình thành Khu gang thép Thái Nguyên, cơ sở luyện kim đầu tiên của Việt Namđược xây dựng trong thời kỳ này Nhà máy điện Thái Nguyên, Việt Trì, Uông Bí,nhà máy đóng tàu thủy bắt đầu được xây dựng

Ngành công nghiệp tiêu dùng phát triển và đạt được kết quả lớn Năm 1959,tổng số hàng tiêu dùng sản xuất trong nước tăng lên 283,7% so với năm 1955 Năm

1960, sức mua của nhân dân tăng lên nhiều, nhưng số lượng hàng hóa nhập chỉbằng 6% giá trị sản lượng tiêu dùng trong nước Trong năm này, ngành công nghiệpnhẹ đảm bảo cung cấp được hơn 90% hàng tiêu dùng cần thiết cho nhân dân, trong

đó giá trị sản lượng quốc doanh chiếm tỉ lệ cao Năm 1957 là 26,9%, đến năm 1960

là 54,4 %

Ngành thương nghiệp xã hội chủ nghĩa cũng phát triển mạnh mẽ Từ một sởmậu dịch quốc doanh trong kháng chiến, đến năm 1959, mậu dịch quốc doanh đã có

12 công ty chuyên nghiệp, bao gồm 1400 cửa hàng

Sự phát triển của thương nghiêp xã hội chủ nghĩa, sự lớn mạnh của thươngnghiệp quốc doanh đã có tác dụng giữ vững vai trò chủ đạo và ổn định thị trường,góp phần quan trọng trong việc cải tạo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dânlao động

Trên mặt trận giáo dục, vấn đề cấp bách là đẩy mạnh công tác thanh toán nạn

mù chữ Cuối năm 1960, về căn bản đã xóa xong nạn mù chữ ở miền xuôi chonhững người dưới 50 tuổi Công tác bổ túc văn hóa cũng phát triển mạnh mẽ, tiếntới phổ cập cấp I cho toàn dân, trước hết là trong cán bộ cơ sở và trong thanh niên

Trang 24

Thời kỳ 1958-1960 đánh dấu một bước chuyển biến quan trọng về chấtlượng và số lượng của ngành giáo dục phổ thông Đến năm 1960, số học sinh phổthông lên tới 1.815.000 người, tăng 1,5 lần so với năm 1955 và tăng 80% so vớinăm 1957 1 Ở các tỉnh miền núi, trường phổ thông các cấp cũng phát triển Các dântộc Thái, Tày, Nùng, H'Mông được Nhà nước giúp đỡ đã cải tiến và xây dựng chữviết của mình.

Trước yêu cầu đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật, trong thời gian 1958-1960,Chính phủ quyết định mở thêm nhiều trường đại học và trung học chuyên nghiệp,thu hút con em nhân dân lao động vào học Kết quả là đến năm 1960, toàn miền Bắc

có 9 trường đại học, với 11.070 sinh viên gấp 2 lần so với năm 1957); 50 trườngtrung học chuyên nghiệp với 26.330 học sinh (gấp 2,3 lần so với năm 1957) Bêncạnh việc đào tạo trong nước, Chính phủ còn đưa ngày càng nhiều học sinh đi học ởcác nước Xã hội chủ nghĩa anh em

Về văn hóa, nổi bật là sự phát triển của các ngành văn học, nghệ thuật, điệnảnh, xuất bản báo chí, thông tin Những cơ sở nghiên cứu di sản văn hóa, nghệ thuậtdân tộc được xây dựng Công tác đào tạo cán bộ nghệ thuật cũng như việc bảo tồncác di tích lịch sử và những công trình kiến trúc được chú trọng Nhà nước cho xâydựng xưởng phim truyện Việt Nam và phát triển các đội chiếu phim lưu động

Công tác y tế có nhiều tiến bộ, đạt được những thành tựu mới trong lãnh vựcnghiên cứu y học chữa bệnh mắt, phòng chống và chữa bệnh lao Cơ sở y tế (baogồm bệnh viện, bệnh xá, trạm y tế) được xây dựng Việc kết hợp giữa Đông y vàTây y đã tăng cường khả năng chữa bệnh cho nhân dân

5 Củng cố chính quyền, tăng cường phòng thủ đất nước mở rộng quan

hệ quốc tế (1954-1960)

Những thắng lợi giành được trong thời kỳ khôi phục kinh tế không tách rờivai trò của nhà nước dân chủ nhân dân, đồng thời có tác dụng củng cố nền tảng củanhà nước

Từ khi hòa bình lập lại, nhà nước dân chủ nhân dân ở miền Bắc đã chuyểnsang làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản Đó là nhà nước đại biểu choquyền lợi của nhân dân lao động Vì vậy, tăng cường nhà nước chuyên chính vô sảncũng tức là phải tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh côngnông, tăng cường mối liên hệ giữa nhà nước và nhân dân

Từ ngày 5 đến ngày 15-9-1955, Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toànquốc họp tại Hà Nội đã quyết định mở rộng và củng cố khối đoàn kết toàn dân.Ngày 10-9-1955, Đại hội thông qua việc thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam kếtục sự nghiệp đoàn kết toàn dân của Mặt trận Liên Việt trước đây Đại hội đã bầu ra

Ủy ban Trung ương Mặt trận do Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch và thông qua Cươnglĩnh Mặt trận, gồm 10 điểm: 1 Hoàn thành độc lập dân tộc; 2 Thực hiện thống nhấtnước nhà; 3 Xây dựng chế độ dân chủ; 4 Phát triển kinh tế, nâng cao sản xuất; 5.Cải cách ruộng đất; 6 Thi hành chính sách xã hội hợp lý; 7 Phát triển văn hoá giáodục; 8 Củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; 9 Thi hành chính sách ngoại giao hoàbình, độc lập; 10 Đoàn kết nhân dân toàn quốc

1 & 2 Văn kiện Đảng toàn tập, tập 21 (1960) Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.822

Trang 25

Cương lĩnh của Mặt trận thể hiện nguyện vọng, ý chí của mọi người ViệtNam yêu nước là đại đoàn kết để hoàn thành sự nghiệp xây dưng một nước ViệtNam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh Phát biểu tại phiên bế mạc

đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Miền Bắc là nền tảng, là gốc rễ của lực lượng đấu tranh của nhân dân ta Nền có vững, nhà mới chắc Gốc có mạnh, cây mới tốt Muốn thực hiện Cương lĩnh của Mặt trận thì chúng ta phải ra sức củng

cố miền Bắc về mọi mặt, phải làm cho miền Bắc vững mạnh và tiến lên mãi, chứ không phải là hạ thấp yêu cầu củng cố miền Bắc” 1

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành lập đánh dấu một bước phát triển về đoànkết dân tộc trong giai đoạn cách mạng mới, nhằm tập hợp mọi lực lượng dân tộc,dân chủ và hoà bình trong cả nước để đấu tranh chống đế quốc Mỹ, củng cố hoàbình thực sự thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ tiến tới xây dựngmột nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh

Tháng 3-1957, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 12.Hội nghị thảo luận và ra Nghị quyết về hai vấn đề: Kế hoạch Nhà nước năm 1957

và xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng

Về kế hoạch Nhà nước năm 1957, Hội nghị đề ra mục tiêu hoàn thành nhiệm

vụ khôi phục kinh tế (ngang với mức sản xuất năm 1939) tạo ra những điều kiện tốt

để có cơ sở chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn phát triển kinh tế

Về xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, Hội nghị đề ra phương châm

xây dựng, tăng cường lực lượng quốc phòng: “Tích cực xây dựng một quân đội nhân dân hùng mạnh tiến dần từng bước đến chính quy hoá và hiện đại hoá” và

“không những có một lực lượng thường trực mạnh mà lại phải có một lực lượng hậu bị mạnh” 2

Ngày 14-9-1957, Dự thảo luật Công đoàn được Quốc hội (khóa I) họp kỳ thứ

7 thông qua, nhằm phát huy vai trò của giai cấp công nhân trong quản lý kinh tế,quản lý nhà nước Cuối năm 1957, cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân và Ủy ban hànhchiïnh các cấp địa phương được tiến hành, đã củng cố chính quyền dân chủ nhândân chuyển sang thực hiện chức năng chuyên chính vô sản của giai cấp công nhân

Sau thời kỳ khôi phục kinh tế, cải tạo quan hệ sản xuất và phát triển kinh tế

và văn hóa, mọi mặt đời sống xã hội miền Bắc đã và đang có những chuyển biếnlớn lao Tình hình mới đòi hỏi phải có một hiến pháp mới thay cho thế cho Hiến

pháp 1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Hiến pháp 1946, hiến pháp dân chủ

đầu tiên của nước ta, thích hợp với tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ

đó Nó đã hoàn thành sứ mệnh của nó Nhưng so với tình hình mới và nhiệm vụ cách mạng mới hiện nay thì nó không thích hợp nữa Vì vậy mà chúng ta phải sửa đổi hiến pháp ấy" 3

1 Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 7 Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr 331.

2 Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Nxb Quân đội nhân

dân, Hà Nội, 2005, tr 37

3 Hồ Chí Minh Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội Nxb Sự thật, Hà Nội, 1970, tr 195

Trang 26

Tại kỳ họp lần thứ 6 (23-11-1957), theo đề nghị của Ban Thường vụ Quốchội, Quốc hội khóa I ra nghị quyết sửa đổi hiến pháp và bầu ra Ban sửa đổi hiếnpháp do Chủ tịch Hồ Chí MInh làm trưởng ban.

Sau gần hai năm hoạt động, dự thảo hiến pháp đã được đưa ra trưng cầu ýkiến rộng rãi trong toàn dân Ngày 31-12-1959, Quốc hội khóa I chính thức thôngqua bản Hiến pháp mới Ngày 1-1-1960, Hiến pháp được Chủ tịch nước Việt NamDân chủ cộng hòa công bố

Hiến pháp 1959 khẳng định chủ quyền quốc gia thuộc về nhân dân: "Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đều thuộc về nhân dân Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân ” 1 Mọi quyền lợi và

nghĩa vụ của công dân (quyền bình đẳng nam nữ, bình đẳng dân tộc, bình đẳngtrước pháp luật, các quyền tự do dân chủ, như tự do ngôn luận, tự do báo chí, hộihọp, quyền làm việc, nghỉ ngơi, quyền ứng cử, bầu cử ) được quy định rõ trong

hiến pháp và nhấn mạnh: "Nhà nước đảm bảo những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó" 3

Hiến pháp năm 1959 khẳng định ý chí và nguyện vọng của nhân dân ta làxây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà,nhằm xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàumạnh Hiến pháp 1959 đặt cơ sở cho việc xây dựng pháp chế xã hội chủ nghĩa ởnước ta

Về quốc phòng, để trở thành hậu phương vững mạnh trong sự nghiệp đấutranh thống nhất đất nước, miền Bắc phải được xây dựng không chỉ mạnh về chínhtrị, kinh tế mà cả về quân sự Đảng và Chính phủ quán triệt quan điểm quân độinhân dân là trụ cột chủ yếu nhất, chắc chắn nhất để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hoà

bình Nghị quyết Bộ Chính trị (9-1954) chỉ rõ: “Bất kỳ tư tưởng và hành động nào cho là đình chiến rồi thì mọi việc đều tốt đẹp, rồi bỏ rơi việc chuẩn bị chiến đấu, để cho tinh thần uể oải, lơ là việc xây dựng lực lượng vũ trang đều là sai lầm nguy hiểm Cho nên, tăng cường Quân đội nhân dân là nhiệm vụ rất quan trọng của Đảng, Chính phủ và toàn thể nhân dân ta Cần phải xây dựng Quân đội nhân dân thành một quân đội cách mạng, chính quy, tương đối hiện đại” 2

Trong những năm kháng chiến, bộ đội ta phân tán chiến đấu và công tác trênnhiều chiến trường nên biên chế tổ chức, trang bị, điều lệnh của bộ đội thiếu thốngnhất Vì vậy, trong khi cùng toàn Đảng, toàn dân ra sức khắc phục hậu quả chiếntranh, từng bước ổn định tình hình, chống địch cưỡng ép di cư, truy quét phỉ dọcmiền biên giới, giúp nhân dân các địa phương tháo gỡ bom mìn, phục hồi sản xuất,khắc phục lụt bão, hạn hán; đồng thời quân đội gấp rút chấn chỉnh bước đầu về mọimặt Cuối năm 1954, các đơn vị trong toàn quân bước vào đợt huấn luyện quân sựđầu tiên trong thời bình với chương trình và nội dung huấn luyện thống nhất, đặcbiệt là kỹ thuật, chiến thuật cấp phân đội Sau ba năm huấn luyện cơ bản, bản lĩnhchiến đấu, trình độ kỹ thuật, chiến thuật cá nhân được nâng lên, tạo điều kiện cho bộ

1 & 3 Về nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa Nxb Sự thật, Hà Nội, 1963, tr 10 & tr 14.

2 Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

1954-1975, Tập II Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 171

Trang 27

đội bước vào huấn luyện tác chiến hiệp đồng, vận dụng thuần thục các hình thứcchiến thuật trong những năm tiếp theo.

Năm 1957, Hội nghị lần thứ 12 (mở rộng) Ban Chấp hành Trung ương Đảng(khoá II) quyết nghị các vấn đề xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng trong giai

đoạn mới Nhiệm vụ quân đội được Hội nghị xác định: “Bảo vệ công cuộc củng cố

và xây dựng miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ và

an ninh của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà làm hậu thuẫn cho cuộc đấu tranh để củng cố hoà bình thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ trong cả nước, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu xâm lược của chủ nghĩa đế quốc, chủ yếu là đế quốc

Mỹ và tay sai” 1 Hội nghị quyết định các biện pháp lớn để tăng cường khả năngphòng thủ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội Bộ Tổng tham mưu soạn thảo

kế hoạch xây dựng quân đội 5 năm (1955-1959) Mục tiêu xây dựng trong 5 năm,

quân đội phải: “Thực hiện và hoàn thành thắng lợi kế hoạch xây dựng Quân đội nhân dân, làm cho quân đội trở thành một lục quân cách mạng chính quy và tương đối hiện đại, đồng thời đặt cơ sở đầu tiên cho các quân chủng và binh chủng khác”2 Hội nghị nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng lànhiệm vụ của toàn Đảng và toàn dân, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng vàChính phủ, động viên toàn quân tích cực học tập và công tác, phát huy khả năng củanhân dân tham gia vào việc xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng

Tháng 3-1958, Tổng Quân ủy quyết định điều chỉnh một số nội dung trong

kế hoạch xây dựng quân đội Theo đó, thời gian thực hiện kế hoạch tăng thêm mộtnăm (đến năm 1960) cho phù hợp với thời gian thực tế kế hoạch ba năm cải tạo vàphát triển kinh tế, phát triển văn hoá Những nội dung được điều chỉnh bao gồm:

1 Giảm bớt tổng quân số đi đôi với việc nâng cao chất lượng toàn diện của

bộ đội tập trung, cải tiến trang bị, vũ khí các đơn vị binh chủng, thực hiện các chế

độ chính quy; 2 Tận dụng khả năng xây dựng kinh tế của quân đội; 3 Xúc tiến việcđào tạo cán bộ, xây dựng các nhà trường quân sự; 4 Đẩy mạnh công tác huấn luyện

và nghiên cứu khoa học quân sự

Ngoài ra, Tổng Quân ủy còn xác định rõ những biện pháp nhằm tăng cườngkhả năng phòng thủ miền Bắc, chuẩn bị mọi mặt đối phó nếu chiến tranh xảy ra, xâydựng Tây Bắc và miền Tây Khu IV thành căn cứ địa vững chắc

Thực hiện nội dung trên đây, 78.100 cán bộ chiến sĩ rời quân ngũ, chuyển vềđịa phương hoặc sang công tác ở các cơ quan dân sự 143.000 cán bộ chiến sĩ khácchuyển sang các đơn vị xây dựng kinh tế, lập các nông trường ở Điện Biên, MộcChâu, Yên Bái, Phú Thọ, Sơn Tây, Hoà Bình, miền Tây Thanh Hoá, Nghệ An, HàTĩnh, Quảng Bình, tham gia xây dựng khu công nghiệp Thái Nguyên, Việt Trì

Đi đôi với việc giảm tổng quân số, toàn quân tiến hành sắp xếp lại lực lượng.Tháng 3-1958, Bộ Quốc phòng quyết định thống nhất tổ chức, biên chế, trang bị củalục quân và các đơn vị của không quân, hải quân3 Ngày 21-3-1958, Bộ Quốc phòng

ra nghị định thành lập Bộ tư lệnh phòng không trên cơ sở tách sư đoàn pháo cao xạ

367 khỏi Bộ tư lệnh pháo binh Tháng 1-1959, Cục Không quân và Cục Hải quân

1 Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 18 Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr 286.

2 Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 18 Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr 293.

3 Bộ binh được biên chế thành 7 sư đoàn, 6 lữ đoàn, 12 trung đoàn độc lập

Trang 28

được thành lập với nhiệm vụ giúp Bộ Quốc phòng tổ chức, chỉ đạo lực lượng khôngquân, hải quân; xây dựng quản lý các sân bay và hải cảng; đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, nhân viên kỹ thuật và lực lượng hậu bị của hai quân chủng này

Đầu năm 1958, được sự chấp thuận của Hội đồng Chính phủ, Bộ Quốcphòng chỉ đạo thí điểm thực hiện nghĩa vụ quân sự ở các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ,Nghệ An, Hải Dương, Sơn La, Rút kinh nghiệm đợt thí điểm gọi thanh niên nhậpngũ theo nghĩa vụ quân sự, ngày 31-12-1959, Quốc hội chính thức thông qua Luậtnghĩa vụ quân sự và đến tháng 4-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh banhành Từ chế độ tòng quân tình nguyện chuyển sang chế độ nghĩa vụ quân sự làbước tiến mới của sự nghiệp xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng Chế độ nghĩa

vụ quân sự cho phép tăng cường lực lượng hậu bị, giảm bớt số quân thường trực;tiết kiệm tài, lực cho công cuộc xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá, xây dựng tiềmlực quân sự Ngoài ra, chế độ nghĩa vụ quân sự cho phép phổ cập tri thức quân sự,nâng cao ý thức quốc phòng trong nhân dân; động viên được sự tham gia, đóng gópcủa toàn dân vào sự nghiệp xây dựng quân đội

Để tích cực hỗ trợ, chi viện cho cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam, cuốitháng 5-1959, Quân ủy Trung ương ra Nghị quyết chính thức thành lập đoàn 559với nhiệm vụ là xây dựng một tuyến đường bộ đầu tiên nối liền Bắc - Nam, tổ chứcđưa người và vũ khí tiếp tế cho cách mạng miền Nam, trước mắt là cho Liên khu 5.Đoàn 559 (còn có tên gọi là bộ đội Trường Sơn) lấy vận tải cơ giới làm chủ yếu,vận tải thô sơ làm bổ trợ, đã phục vụ đắc lực cho việc chi viện trên nhiều hướng

chiến trường và nhiều chiến dịch lớn của các lực lượng vũ trang, đưa vào và ra hàng

chục vạn ngàn người, chuyển hàng triệu tấn hàng dưới bom đạn ác liệt và nhữngcuộc tấn công trên mặt đất của quân thù

Ngoài đoàn 559, Quân uỷ Trung ương thấy cần mở một đường vận chuyểntrên biển tiếp tế vũ khí, đạn dược, trang bị cho miền Nam Tháng 7-1959, Bộ Quốcphòng quyết định thành lập đoàn 759 1, lúc đầu chỉ có một nhóm cán bộ trực thuộc

Bộ Tổng tham mưu làm nhiệm vụ nghiên cứu vấn đề này

Về ngoại giao, trước tình hình thế giới đang biến đổi ngày càng phức tạp,Đảng và Nhà nước ta, trên cơ sở giữ vững đường lối độc lập, tự chủ, đã tiến hànhchính sách ngoại giao hoà bình và hữu nghị với các dân tộc, chăm lo củng cố vàphát triển hợp tác tương trợ với các nước xã hội chủ nghĩa và phong trào cộng sản,công nhân quốc tế Đối với Lào và Campuchia, Đảng và Chính phủ nhận rõ tầm

1 Đầu năm 1961, Bộ Chính trị chỉ thị cho các tỉnh ven biển Nam Bộ cử đơn vị tàu thuyền raBắc lấy vũ khí, đồng thời trao đổi kinh nghiệm về đường vượt biển vào Nam Tháng 6-

1961, chiếc thuyền gắn máy trọng tải 4 tấn của tỉnh Bến Tre đã đến miền Bắc đầu tiên, sau

đó thuyền của các tỉnh Càì Mau, Trà Vinh , v.v lần lượt đến tiếp Ngày 14-9-1962, tàuPhương Đông 1 của đoàn 759 lên đường chuyến đầu tiên vào Cà Mau đã đưa hàng tới đích

an toàn Cuối năm 1964, đoàn 759 có hàng chục tàu săt trọng tải từ 50-100 tấn trang bịtương đối hiện đại Bộ Quốc phòng quyết định chuyển đoàn 759 trực thuộc Bộ Tư lệnh Hảiquân và đổi phiên hiệu là đoàn 125 Đoàn không những đưa hàng vào Nam Bộ mà cònchuyển vũ khí cho cả các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ Tháng 2-1965, địch phát hiện ta ởVũng Rô thuộc tỉnh Phú Yên; đến khi ấy ta đã chuyển được gần 5.000 tấn vũ khí vào Nam,nhiều nhất là vào Nam Bộ

Trang 29

quan trọng đặc biệt của liên minh chiến đấu giữa ba nước, coi đây là nhân tố đảmbảo sự thắng lợi và cũng là quy luật phát triển cách mạng của mỗi nước

Đối với các nước Á, Phi, Mỹ Latinh, chính sách của ta là ủng hộ cuộc đấutranh giành độc lập dân tộc của họ và giao hảo với bất cứ nước nào cùng ta côngnhận năm nguyên tắc chung sống hoà bình 1

Ngày 20-3-1955, tại kỳ họp lần thứ 4 của Quốc hội khóa I, Chính phủ Việt

Nam dân chủ cộng hòa tuyên bố: "Nền tảng vững chắc của chính sách ngoại giao của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là tăng cường quan hệ mật thiết với các nước bạn, với Liên Xô và Trung Quốc cùng các nước dân chủ nhân dân khác Chúng ta không ngừng củng cố và phát triển tinh thần đoàn kết hữu nghị với các nước bạn, cùng nhau gìn giữ và củng cố hòa bình" 2

Thực hiện chính sách đối ngoại đó, Đảng và Chính phủ đã cử nhiều đoàn đạibiểu thăm hữu nghị các nước xã hội chủ nghĩa anh em Đặc biệt, tháng 6-1955 vàtháng 7-1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước ta

đi thăm chính thức Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác Ngày 15-4-1955.Đoàn đại biểu Chính phủ do Thủ tướng Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang Băng-đung(Indônêxia) dự Hội nghị Á - Phi lần thứ nhất Trên diễn đàn Hội nghị, đại biểunhiều nước đã đánh giá cao những cống hiến của nhân dân Việt Nam cho sự nghiệpđấu tranh chống ách nô dịch của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc

Tháng 2-1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Ấn Độ, Mianma và tháng

9-1959, thăm Inđônêxia Trong năm 1958, đoàn đại biểu Quốc hội do đồng chí TônĐức Thắng dẫn đầu đi thăm một số nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu và châu Á

Những hoạt động ngoại giao trong giai đoạn này của Đảng và Nhà nước ta đãthúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau, sự hợp tác giữa nước ta với Chính phủ và nhân dânnhiều nước trên khắp thế giới, tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ rộng rãi đối với

sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta Ngày 20-7-1959, Hội đồng đoànkết nhân dân Á - Phi họp ở Cai-rô đã kêu gọi các Ủy ban đoàn kết Á - Phi của cácnước và toàn thể nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới lấy ngày 20-7-1959

làm “Ngày Việt Nam”, đòi Mỹ phải rút khỏi miền Nam, đòi phải phá bỏ những căn

cứ quân sự của chúng ở miền Nam Việt Nam, đòi xúc tiến mở cuộc thương lượnggiữa hai miền Bắc và Nam Việt Nam để đi tới thực hiện tuyển cử tự do trong cảnước, đòi chính quyền miền Nam phải chấm dứt ngay mọi hành vi đàn áp, khủng bốnhân dân, phải huỷ bỏ tất cả những luật lệ phát-xít,

Ngày 20-7-1959, lần đầu tiên “Ngày Việt Nam” được các tổ chức của trên 20 nước tổ chức trọng thể Từ đó về sau, “Ngày Việt Nam” (20-7) hàng năm được

nhân dân nhiều nước trên thế giới tổ chức để ủng hộ nhân dân Việt Nam chống Mỹxâm lược

“Ngày Việt Nam” (20-7) là biểu hiện của tình đoàn kết thắm thiết và sự ủng

hộ nhiệt liệt của nhân dân Á - Phi đối với nhân dân ta đang đấu tranh để thực hiệnthống nhất đất nước Nó càng chứng tỏ cuộc đấu tranh cho độc lập, thống nhất của

1 Gồm: Không xâm lược nhau, không can thiệp vào nội bộ của nhau, tôn trọng chủ quyền

và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi, cùng chung sống hoà bình

2 Trần Thục Nga (Chủ biên) Lịch sử Việt Nam 1945 - 1975 Nxb GD, HN, 1987, tr 76.

Trang 30

nhân dân Việt Nam gắn liền với phong trào độc lập dân tộc và bảo vệ hoà bình củanhân dân các nước Á - Phi và thế giới; đồng thời, nó càng làm cho nhân dân ta tintưởng rằng sự nghiệp cách mạng vẻ vang của mình nhất định sẽ thắng lợi.

III MIỀN NAM ĐẤU TRANH CHỐNG CHẾ ĐỘ MỸ - DIỆM, GIỮ GÌN VÀ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG CÁCH MẠNG, TIẾN TỚI “ĐỒNG KHỞI” (1954 - 1960)

1 Chính sách của Mỹ - Diệm ở miền Nam

Sẵn có âm mưu can thiệp vào Việt Nam từ trước, nên chỉ một ngày sau khiHiệp định Genève (1954) được ký kết, Tổng thống Mỹ Aixenhao đã tuyên bố:

"Chính phủ Mỹ không tham gia ký thì không bị hiệp định ràng buộc"

Ngày 8-8-1954, Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ đưa ra bốn chính sách lớn:

1 Mỹ trực tiếp viện trợ cho nguỵ quyền Sài Gòn Mỹ chỉ dành cho Pháp 100triệu đôla trong tổng số 400 triệu đô la viện trợ; 2 Mỹ trực tiếp chỉ huy và huấnluyện quân đội nguỵ; 3 Pháp phải rút hết quân khỏi miền Nam; 4 Loại bỏ Bảo Đại

và những ảnh hưởng của Pháp

Tiếp theo, tháng 11-1954, Mỹ cử tướng Côlin (Lawton Collins), QuyềnTham mưu trưởng lục quân Mỹ và đại diện Mỹ ở Ủy ban quân sự khối NATO, sangmiền Nam Việt Nam làm đại sứ Ngày 17-11-1954, Côlin đến Sài Gòn, mang theomột kế hoạch chiến lược gồm 6 biện pháp khẩn cấp:

1 Chỉ ủng hộ Ngô Đình Diệm và viện trợ thẳng cho Diệm, không qua Pháp;

2 Thành lập quân đội “quốc gia” cho Diệm (15 vạn) do Mỹ huấn luyện và cung cấp vũ khí; 3 Lập “quốc hội”, thực hiện “độc lập”; 4 Tiến hành “cải cách điền địa”, đẩy mạnh chính sách di cư từ miền Bắc vào miền Nam và thực hiện việc định

cư cho số người miền Bắc di cư vào Nam; 5 Thay đổi các thứ thuế, dành ưu tiêncho hàng hoá và tư bản Mỹ vào miền Nam; 6 Đào tạo cán bộ hành chánh choDiệm

Thực hiện kế hoạch 6 điểm trên đây thực chất là biến miền Nam Việt Namđang trong vòng kiểm soát của Pháp trở thành một miền Nam Việt Nam lệ thuộchoàn toàn vào Mỹ trên tất cả các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa

a Về chính trị

Được Mỹ viện trợ, giúp sức điều hành, nhưng những tháng cuối năm 1954,chính quyền Ngô Đình Diệm vẫn bị uy hiếp từ nhiều phía Các thế lực thân Pháptrong hàng ngũ sĩ quan quân đội Liên hiệp Pháp tập hợp quanh tướng Nguyễn VănHinh, Tham mưu trưởng ngụy quân, ra sức chống Diệm Tháng 10 và 11-1954,Nguyễn Văn Hinh đã ba lần âm mưu gạt Diệm, Mỹ phải ép Pháp thông qua Bảo Đạiđưa Hinh sang Pháp

Các giáo phái có lực lượng vũ trang riêng do Pháp xây dựng để chống lạicách mạng Mỗi giáo phái cát cứ ở một địa phương cả về chính trị và kinh tế PháiBình Xuyên có khoảng 4.000 quân (kể cả lực lượng cảnh sát, công an ở Sài Gòn)hoạt động ở miền Đông do Bảy Viễn làm thủ lĩnh Lực lượng Hòa Hảo có khoảng25.000 quân, hoạt động ở một số tỉnh miền Trung và miền Tây Nam Bộ, chia thành

4 nhóm do Năm Lửa, Hai Ngoán, Ba Cụt và Nguyễn Giác Ngộ nắm từng nhóm

Trang 31

Phái Cao Đài có khoảng 6.000 quân, hoạt động chủ yếu ở Tây Ninh và một số tỉnhNam Bộ, đứng đầu là giáo chủ Phạm Công Tắc Tất cả các lực lượng này đượcPháp ủng hộ, tìm cách móc nối với quân nguỵ thân Pháp để lật đổ Diệm.

Mặt khác, lực lượng cách mạng đang tồn tại ở khắp các địa phương trên toànmiền Nam, nhất là ở các tỉnh vùng tự do Khu V (Quảng Nam, Quảng Ngãi, BìnhĐịnh, Phú Yên), các khu căn cứ kháng chiến U Minh, Đồng Tháp Mười, chiến khu

Đ, Chiến khu Dương Minh Châu, Tây Nguyên Đây là lực lượng chủ yếu đe dọađến sự sống còn của chính quyền Mỹ - Diệm ở miền Nam

Để đối phó với tình hình trên, ngay khi đến Nam Việt Nam, Côlinđã đôn đốcchính quyền Ngô Đình Diệm khẩn trương thực hiện kế hoạch của Mỹ Sử dụng sứcmạnh của chủ nợ đối với con nợ (từ năm 1950 đến năm 1954, Mỹ viện trợ cho Pháp2,6 tỉ đô-la, biến Pháp thành con nợ của Mỹ), Mỹ buộc Pháp phải nhượng bộ nhanhchóng các yêu cầu của Mỹ, như rút Cao ủy Pháp về nước, trao chủ quyền cho chínhphủ Ngô Đình Diệm, để Mỹ viện trợ thẳng cho Diệm không qua Pháp, Mỹ trực tiếphuấn luyện và trang bị cho ngụy quân, v.v

Trước sức ép của Mỹ, ngày 2-12-1954, Pháp đã phải ký với Mỹ một hiệpước về việc rút quân Pháp ra khỏi miền Nam Việt Nam và ngày 10-12, tướng PhápPôn Êly (Paul Ely), Tổng Tư lệnh quân viễn chinh Pháp tại Đông Dương thay mặtcho Chính phủ Pháp ký với tướng Côlin thay mặt Chính phủ Mỹ một hiệp ước camkết cùng lo việc huấn luyện cho quân ngụy Nhưng trên thực tế, Êly chẳng có thựcquyền, người chịu trách thực hiện hiệp ước là tướng Ô Đanien, Trưởng phái đoànviện trợ Mỹ (MAAG)

Ngày 22-12-1954, Rátpho, Chủ tịch Hội đồng tham mưu liên quân Mỹ đếnSài Gòn hứa viện trợ thẳng cho Diệm 300 triệu đôla trong năm 1955 Ngày 13-1-

1955, Ngô Đình Diệm gửi công hàm cho tướng Côlin yêu cầu từ nay Hoa Kỳ “đảm trách hoàn toàn vấn đề tổ chức và huấn luyện quân đội Việt Nam” Tiếp theo, ngày 12-2-1955, trong một cuộc họp báo, Ngô Đình Diệm tuyên bố “từ nay trở đi chỉ có tướng Mỹ Ô Đanien là người chịu trách nhiệm huấn luyện cho các lực lượng quân đội” 1

Ngày 14-4-1956, Pháp gửi công hàm cho hai đồng Chủ tịch Hội nghịGiơnevơ (Liên Xô và Anh) thông báo cho biết quân Pháp sẽ rút khỏi Việt Nam và

kể từ ngày 28-4-1956, Pháp không còn chịu trách nhiệm thi hành hiệp định Giơnevơ(1954) nữa Cuối tháng 4-1956, đơn vị cuối cùng của quân đội thực dân Pháp đã rútkhỏi miền Nam Như vậy, đến đây Pháp đã trút bỏ trách nhiệm một bên phải thựchiện các điều khoản của Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương

Cuộc rút quân trên đây của Pháp đã mở đường cho chính quyền Ngô ĐìnhDiệm thanh toán các thế lực thân Pháp ra khỏi bộ máy chính quyền các cấp, tiêudiệt các lực lượng vũ trang giáo phái thân Pháp, tiến tới thiết lập chế độ độc tài,phát-xít, gia đình trị

Để phát triển thế lực của mình, từ cuối năm 1954, chính quyền Ngô ĐìnhDiệm đẩy mạnh xây dựng các tổ chức chính trị phản động Đảng Cần lao nhân vị do

1 Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

(1954-1975), Tập II Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,1995, tr 64.

Trang 32

Ngô Đình Nhu cầm đầu, có nhiệm vụ làm đội quân chủ lực cho chế độ Lúc đầu,Ngô Đình Nhu chủ trương lấy tín đồ Thiên Chúa giáo làm nòng cốt Tuy vậy, ngườicác tôn giáo vẫn được kết nạp vào đảng Từ cuối năm 1957, sau khi tạm thời vượt

qua những khó khăn buổi đầu, chế độ ”dường như” đã vững mạnh, Ngô Đình Nhu

chủ trương phải có một đội quân thuần nhất, hoàn toàn trung kiên với chế độ để đối

đầu với lực lượng cách mạng, Đảng Cần lao biến thành Đảng ”Cần lao Thiên Chúa giáo”, lấy tôn giáo làm yếu tố ưu tiên và độc nhất cho mọi chính sách nhân sự, nên đảng viên hầu hết là tín đồ Thiên Chúa giáo Người vào đảng phải tuyên thệ “đem hết thể xác và linh hồn cho đến hơi thở cuối cùng để chiến đấu chống cộng sản vô thần, chống Phật giáo ma qủy, chống các đảng phái quốc gia” 1 Kẻ có chân trongđảng Cần lao là thể hiện sự trung thành với chế độ, đượüc chế độ tin tưởng và cất

nhắc: “Cần lao là con đường duy nhất để đưa người công giáo, và chỉ người công giáo mà thôi vào chính quyền” 2 Do vậy, bộ máy cai trị của chính quyền Ngô Đình

Diệm thể hiện tính chất “giáo trị” một chiều hết sức cao độ Hầu hết những chức vụ

chủ chốt từ trung ương xuống tỉnh, quận đều nằm trong tay thiểu số Cần lao ThiênChúa giáo

Cũng vào cuối năm 1954, Diệm thành lập tổ chức "Phong trào cách mạng quốc gia" do Trần Chánh Thành, tay chân thân tín của Diệm, cầm đầu Tổ chức này nêu 3 mục tiêu: Chống cộng (thực chất là chống nhân dân); đả thực (thực chất là gạt Pháp để Mỹ độc quyền chiếm miền Nam); bài phong (thực chất là phế truất Bảo

Đại khỏi ngôi quốc trưởng để cho Diệm thu tóm mọi quyền lực)

Song song với việc xây dựng chính quyền trung ương, Mỹ - Diệm ra sứccủng cố chính quyền xã, thôn (ấp) bằng cách bổ nhiệm những người thuộc phe cánhDiệm làm xã trưởng, ấp trưởng Đi ngược lại truyền thống dân chủ vốn có của làng

xã Việt Nam, Mỹ - Diệm bãi bỏ các hội đồng dân cử thay vào đó bằng chế độ “chỉ định” Do “chế độ chỉ định”, nên bộ máy chính quyền thôn xã ra sức bạo hành, ức

hiếp lương dân Chính những người trong bộ máy chính quyền Ngô Đình Diệm

cũng phải thừa nhận rằng: “Một trong những khuyết điểm lớn nhất của Diệm trong năm 1956 là việc các viên chức làng xã được bầu cử đã bị chính quyền trung ương thay thế một cách độc đoán bằng những kẻ tay sai được chỉ định” 3

Cùng với bộ máy cai trị từ trung ương xuống xã thôn, Mỹ - Diệm lập các tổ

chức quần chúng trá hình như “Thanh niên cộng hoà”, “Phụ nữ liên đới”, “Liên gia tương trợ”, “Nhân dân tự vệ đoàn, “Ngũ gia liên bảo” để kìm kẹp nhân dân.

Để hợp pháp hóa chế độ Sài Gòn, ngày 23-10-1955, Mỹ - Diệm bày trò

"trưng cầu dân ý", phế truất Bảo Đại, suy tôn Diệm làm tổng thống Tiếp theo, ngày

4-3-1956, Diệm tổ chức bầu cử quốc hội riêng rẽ, đến ngày 26-10 -1956 thì ban

Trang 33

không thừa nhận hiệp định này Ngày 28-2-1955, Đài Sài Gòn lên tiếng: “Trong thực tế, không thể nào có cuộc tổng tuyển cử năm 1956” 1 Ngày 6-7-1955, Phó

Tổng thống Mỹ Ních-xơn nói: “Mỹ hoàn toàn ủng hộ chủ trương của chính phủ Diệm không tham gia tổng tuyển cử thống nhất đất nước” 2

Được Mỹ khuyến khích, ngày 16-7-1955, Ngô Đình Diệm tuyên bố: "Không gạt bỏ nguyên tắc tuyển cử, coi như một phương tiện dân chủ cộng hòa thích đáng

để thực hiện nền thống nhất", nhưng mặt khác lại cho rằng: "Không có hiệp thương tổng tuyển cử, chúng ta không ký kết hiệp định Giơnevơ, bất cứ phương diện nào chúng ta cũng không bị ràng buộc bởi hiệp định đó" 3 Ngày 20-7-1955, Diệm còncho tay chân tập trung bọn lưu manh bày trò biểu tình chống hiệp định Giơnevơ vàđập phá trụ sở Uỷ ban quốc tế ở Sài Gòn

b Về quân sự

Mỹ - Diệm dồn sức lập một đội quân làm công cụ ổn định tình hình Trong 6tháng đầu năm 1955, Mỹ đã ký một loạt hiệp định quân sự với chính quyền NgôĐình Diệm 4

Dựa vào các hiệp định này, Mỹ không ngừng đưa nhân viên, cố vấn quân sựvào miền Nam Việt Nam Ngoài phái đoàn Viện trợ quân sự Mỹ (MAAG - MilitaryAssistance Advisory Group) còn có phái đoàn tổ chức, huấn luyện, kiểm tra, pháiđoàn huấn luyện và tác chiến Đầu năm 1955, Mỹ - Diệm giải ngũ nhiều sĩ quanthân Pháp, dành tới 2/3 số tiền viện trợ cho quân sự, gấp rút cải tổ đạo quân ngụy

hỗn tạp mang nặng tư tưởng chiến bại do Pháp để lại thành lập một "quân đội quốc gia" Đến tháng 6-1956, Mỹ - Diệm đã hoàn tất xong việc xây dựng.

Về lục quân, gồm 10 sư đoàn, 13 trung đoàn địa phương, 5 trung đoàn giáo phái,

1 trung đoàn dù Pháo binh có 7 tiểu đoàn và 9 đại đội Cơ giới có 5 trung đoàn (có 1trung đoàn xe lội nước) Công binh có 6 tiểu đoàn, 14 đại đội Vận tải có 12 đại đội

Không quân, lực lượng máy bay chiến đấu có 100 chiếc; dự trữ có 132 chiếc.Các căn cứ không quân Pháp đã chuyển giao cho chính quyền Sài Gòn được sửachữa, thiết bị đầy đủ hơn Bốn căn cứ Đà Nẵng, Tân Sơn Nhất, Phú Bài và NhaTrang, máy bay phản lực F84, F86 lên xuống được 58 sân bay loại nhỏ dành chomáy bay DAKOTA phần lớn hư hỏng đang sửa chữa lại Mỹ còn xây dựng tại miềnNam Việt Nam một hệ thống viễn thông để điều khiển các hoạt động của khôngquân Mỹ giữa miền Nam Việt Nam, Philippin và Thái Lan

Hải quân, gồm 2 tiểu đoàn thủy quân lục chiến, 4 đại đội không quân trợchiến, 1 đại đội biệt kích hải quân, 121 tàu chiến đấu trên sông, trọng tải 5.130 tấn,

1 Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Nxb Quân đội Nhân

dân, Hà Nội, 2005, tr 18

2 Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Sđd., tr 19.

3 Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam Nxb Sự Thật, Hà Nội,

1987, tr 25-26

4 Hiệp định "Hợp tác kinh tế " được ký dưới hình thức trao đổi văn thư giữa Mỹ và Diệm ngày 21-2-1955 và ngày 7-3-1955; Hiệp định "Hợp tác kinh tế " được ký dưới hình thức trao đổi văn thư giữa Mỹ và Diệm ngày 22, 23-4-1955 và 24, 25-6-1955; Hiệp định "Thu hồi vũ

khí trang bị của viện trợ quân sự" cũng được ký dưới hình thức trao đổi Văn thư giữa Mỹ và

Diệm ngày 1-3 và 15-5-1955

Trang 34

25 tàu hải quân trên biển trọng tải 7.795 tấn, 95 tàu của lực lượng ở các căn cứ,trọng tải 2.680 tấn Các căn cứ hải quân cũ được tổ chức lại thành 4 hải khu Cácquân cảng Nhà Bè, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, được mở rộng và nâng cấpvới trang thiết bị hiện đại

Lực lượng bảo an đoàn được tăng cường lên tới 60.000 tên Mỗi quận có mộtđại đội, quận nhiều có hai đại đội

Các đơn vị dân vệ và phòng vệ dân sự được tổ chức hầu khắp ở mọi liên xã, cứ12.000 dân có một đội dân vệ từ 20 đến 25 người, được trang bị súng trường và lựu đạn

Công an, cảnh sát cũng được xây dựng thành lực lượng công khai và bí mật

từ tỉnh, thành đến quận, phường và xã, thôn Riêng Sài Gòn - Chợ Lớn có từ 6.000tăng lên 10.000 cảnh sát 1

Mỹ tăng cường phái đoàn MAAG, đưa cố vấn xuống nắm quân khu, sư đoàn

và các binh chủng Các loại vũ khí và dụng cụ chiến tranh do Mỹ đưa vào miềnNam ngày càng nhiều Nếu tính thành giá trị, từ năm 1955 đến năm 1960, tổng số

vũ khí và phương tiện chiến tranh do Mỹ đưa vào miền Nam là 1,5 tỉ đô-la Từ chỗgần như không có gì, đến năm 1960, chính quyền Ngô Đình Diệm có trong taykhoảng 250 máy bay các loại, 250 tàu chiến trọng tải cỡ 20.000 tấn, 600 xe bọc sắt;

100 xe tăng

Song song với việc xây dựng quân ngụy, gạt bỏ các thế lực thân Pháp, Mỹ Diệm dùng lực quân sự tiêu diệt các lực lượng vũ trang giáo phái thân Pháp để loạitrừ khả năng chống đối, thống nhất quân đội dưới quyền chỉ huy của anh em Diệm

-Ngày 26-4-1955, Diệm cách chức Lại Văn Sang (thuộc phái Bình Xuyên),Tổng Giám đốc cảnh sát và công an Sài Gòn, bãi bỏ độc quyền của Bình Xuyên thu

thuế tại sòng bạc “Đại thế giới” Ngày 28-4-1955, lấy cớ Bình Xuyên chống lệnh,

Diệm cho quân tấn công Chiến sự nổ ra ngay tại trung tâm Sài Gòn Ngày

30-4-1955, quân Diệm tiếp tục tiến công, quân Bình Xuyên phải rút ra khỏi Sài Gòn lui

về Rừng Sác Ngày 21-9-1955, Diệm mở chiến dịch “Hoàng Diệu” bao vây và tấn

công vào khu Rừng Sác Đến ngày 24-10-1955, phái Bình Xuyên bị tiêu diệt BảyViễn chạy trốn ra nước ngoài Nguy cơ đe dọa trực tiếp đối với chính quyền Diệm ởSài Gòn bị đẩy lùi

Cùng với việc tấn công Bình Xuyên, ngày 20-5-1955, Diệm mở chiến dịch

“Đinh Tiên Hoàng” đánh vào quân đội Hoà Hảo Chiến dịch “Đinh Tiên Hoàng”

kéo dài cho đến tháng 12-1955, nhưng đại bộ phận vùng căn cứ Đồng Tháp Mười,Diệm không kiểm soát được Ngày 1-11-1956, Diệm huy động một lực lượng lớn (4

sư đoàn bộ binh, 6 chi đoàn thiết giáp, 5 tiểu đoàn pháo binh, 4 hải đoàn xung

phong, 1 tiểu đoàn nhảy dù) do Dương Văn Minh chỉ huy mở chiến dịch “Nguyễn Huệ” nhằm thanh toán bằng được quân Hoà Hảo Lực lượng Hoà Hảo đánh trả

quyết liệt, nhưng do nội bộ mâu thuẫn, chia rẽ, nên lực lượng bị tiêu hao dần Ngày17-2-1956, Năm Lửa đưa 4.000 quân ra đầu hàng Diệm Riêng Ba Cụt, ngày 13-4-

1956, bị Diệm đánh lừa, bị bắt sống và bị chém đầu Đến đây, quân đội Hoà Hảoxem như tan rã

1 Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

1954-1975, Tập II Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 68-69

Trang 35

Khi Diệm tấn công Bình Xuyên và Hoà Hảo, phái Cao Đài chủ trương ánbinh bất động để chờ thời Tháng 10-1955, Mỹ - Diệm dùng thủ đoạn chia rẽ nội bộphái này để phá bỏ bộ máy hành chính của Cao Đài, uy hiếp Toà thánh Tây Ninh.Lực lượng Cao Đài phải chống lại bằng hoạt động vũ trang Nhưng vì nội bộ bịphân hoá, hành động không thống nhất nên đến tháng 6-1956, đại bộ phận lựclượng Cao Đài bị tiêu diệt và ra đầu hàng Diệm.

Ở Trung Bộ, lực lượng Quốc dân Đảng hoạt động tại Quảng Nam, QuảngNgãi, Bình Định; lực lượng Đại Việt hoạt động ở Quảng Trị, Thừa Thiên Cả haiđều là lực lượng chống lại cách mạng, nhưng cũng chống Diệm để mặc cả địa vị vớiDiệm Từ tháng 9-1955 đến tháng 1-1956, chúng bị lực lượng của Diệm liên tiếptấn công, bao vây, triệt tiếp tế nên đã bị tan rã và lần lượt đầu hàng Diệm

c Chính sách khủng bố của Mỹ - Diệm

Với Mỹ - Diệm, lực lượng cách mạng của nhân dân miền Nam là mối hiểmhọa cơ bản nhất đối với chế độ của chúng Vì vậy, ngay khi vừa lên cầm quyền ởmiền Nam, Ngô Đình Diệm đã cho tay chân tổ chức các cuộc vây bắt, tàn sát,khủng bố hết sức ác liệt đối với những người kháng chiến cũ, những người đấutranh đòi hiệp thương, tổng tuyển cử thống nhất đất nước và cả những người khôngủng hộ Diệm

Lợi dụng lúc Quân đội nhân dân Việt Nam rút khỏi các vị trí đóng quân, cácvùng tự do cũ về nơi tập kết, địch tiến hành đánh phá ngay, hòng gây không khíkhủng khiếp trong nhân dân, làm cho hàng ngũ đảng viên và quần chúng bị rối loạn

Với phương châm “Tiêu diệt cộng sản không thương tiếc”, “tiêu diệt cộng sản tận gốc”, “thà giết lầm hơn bỏ sót”, v.v Mỹ - Diệm đã gây ra hàng loạt vụ tàn sát

bằng những hình thức giết người man rợ thời trung cổ, kết hợp với những phươngpháp tra tấn, cực hình hiện đại, hòng bóp chết tinh thần yêu nước, tinh thần đấutranh cách mạng của nhân dân miền Nam Ngày 2-8-1954, địch đã gây ra vụ tàn sát

ở Kim Đôi (Thừa Thiên) làm 17 người chết, 67 người bị thương; ngày 4-9-1954, ởchợ Được (Quảng Nam), địch giết chết 39 người và làm 37 người bị thương; ngày7-9-1954, ở Ngân Sơn, Chí Thạnh (Phú Yên), chúng giết 80 người, làm 50 người bịthương; ngày 13-9-1954, tại Mỏ Cày (Bến Tre) địch giết chết 17 người, làm bịthương 500 người; từ ngày 23 đến 29-9-1954, tại Hà Nật, Chiên Đàn, Cây Cốc(Quảng Nam), địch giết 105 người, làm bị thương 186 người; ngày 25-10-1954, tạiVinh Xuân (Cần Thơ), địch giết 54 người, làm 19 người bị thương; đêm 21-1-1955,bọn Quốc dân Đảng Duy Xuyên (Quảng Nam) cấu kết với tay chân Diệm đến nhàlao Hội An bắt 38 đồng chí của ta chở đến đập Vĩnh Trinh, giết chết rồi ném xuốngvực Dã man hơn, từ ngày 9 đến 20-7-1955, địch đã bao vây và tàn sát nhân dânHướng Điền (Quảng Trị), giết chết 92 người, trong đó có 31 trẻ em; và nhất là vụđầu độc một lúc 6.000 người yêu nước ở nhà giam Phú Lợi (Thủ Dầu Một) ngày 1-12-1958 Đó chính là những bằng chứng tố cáo tính chất tàn bạo của chế độ Mỹ -Diệm ngay khi vừa mới lên cầm quyền ở miền Nam Việt Nam

Từ giữa năm 1955, tập đoàn Ngô Đình Diệm mở chiến chiến dịch "tố cộng, diệt cộng” trên toàn miền Nam và coi đây là “quốc sách” Mở đầu cho chiến dịch

“tố cộng”, ngày 12-5-1955, chính quyền Sài Gòn tổ chức “Đại hội tố cộng toàn quốc” dưới sự chủ tọa của Ngô Đình Diệm, nhằm cổ vũ hô hào tay chân đi vào con

Trang 36

đường khủng bố nhân dân Diệm và tay chân cho rằng “phong trào tố cộng là một

vũ khí sắc bén nhất, mầu nhiệm nhất, để tiêu diệt chiến tuyến cộng sản Có thành công trong việc tố cáo tội ác của cộng sản mới làm cho toàn dân ghê sợ cộng sản, căm hờn giận cộng sản, và mới làm cho một số người lừng khừng quyết tâm ruồng

bỏ mọi tư tưởng sai lầm, không đứng núi nọ nhìn núi kia nữa, để họ có thể sẵn sàng ngả theo chiến tuyến quốc gia” 1

Mục đích của chiến dịch “tố cộng, diệt cộng” của Mỹ - Diệm là cốt để nhằm

“gây uất hận trong dân chúng đối với Việt cộng:

a) Để cho nhân dân tố giác Việt cộng ở lại hoạt động.

b) Khủng bố tinh thần Việt cộng làm cho Việt cộng nghi ngờ quần chúng mà không dám hoạt động nữa.

c) Đánh lệch tư tưởng các phần tử lưng chừng còn hướng về cộng sản phải ngả hẳn về chính phủ quốc gia.

d) Thêm phương tiện để kiểm soát cán bộ cộng sản còn ở lại hoạt động trong vùng quốc gia kiểm soát” 2

Thực hiện quốc sách "tố cộng, diệt cộng", một mặt, chính quyền Ngô Đình Diệm kiện toàn bộ máy đàn áp, Tổng ủy "Công dân vụ" thành lập tháng 3-1955, ngày

càng được tăng cường và chuyên lo việc đàn áp chính trị với gần 4.000 tên mật vụ,

9.000 tên mật hộ viên, 12.000 liên gia trưởng Một hệ thống tổ chức “tố cộng” từ

trung ương xuống tận xã thôn Ở Sài Gòn, lập Hội đồng nhân dân chỉ đạo tố cộng,gồm tất cả các bộ trưởng trong chính phủ do đích thân Diệm là chủ tịch danh dự vàTrần Chánh Thành là chủ tịch hội đồng Hội đồng chỉ định ra Ủy ban chỉ đạo tốcộng trung ương, có ban thường trực gồm đại diện của các Bộ Thông tin, Công an,Quốc phòng Nhiệm vụ của Ủy ban chỉ đạo này là trực tiếp chỉ đạo phong trào tốcộng ở các tỉnh, các cơ quan; đào tạo cán bộ phong trào Ủy ban có nhiều ban giúpviệc

Mỗi tỉnh có một Ủy ban chỉ đạo tố cộng Mỗi bộ có một Uỷ ban chỉ đạo dọcxuống các cơ quan thuộc bộ mình Thành phần ban chỉ đạo giống như ở trung ương,còn ở các cơ quan thì gồm đại biểu cơ quan và liên đoàn công chức của phong tràocách mạng quốc gia Huyện, xã đều có Ủy ban chỉ đạo tố cộng của huyện, của xã.Mỗi xã, thôn lại chia ra nhiều liên gia tố cộng

Trong năm 1955, dưới nhãn hiệu "Phái bộ đại học đường Michigan", các cố

vấn Mỹ đến miền Nam giúp Diệm xây dựng bộ máy công an cảnh sát, đào tạo cán

bộ, phổ biến kỹ thuật điều tra và tra tấn, thành lập một hệ thống điều tra lý lịch tốitân

Mặt khác, để có cơ sở pháp lý cho chính sách khủng bố, chính quyền NgôĐình Diệm ban hành các luật lệ phát-xít; trong đó có Dụ 6 (11-1-1955) về việc lập

các trại tập trung, giam giữ những người gọi là "nguy hiểm cho quốc phòng và an ninh"; Dụ số 13 (20-2-1956) bóp nghẹt quyền tự do báo chí

1 Hồ sơ về công tác “tố cộng” tại tỉnh Bến Tre Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II Ký hiệu tài

liệu: Đệ I CH-4300

2 Tài liệu đánh máy, Cục lưu trữ Văn phòng trung ương Đảng, đơn vị bảo quản 3, tr 135.

Trang 37

Từ tháng 5-1955 đến tháng 6 -1955, Mỹ - Diệm phát động "chiến dịch tố cộng giai đoạn I" trên quy mô lớn toàn miền Nam Địch chia giai đoạn I tố cộng ra

làm 3 đợt: Đợt 1 từ 15-5 đến cuối tháng 8-1955, trọng điểm là các tỉnh miền Trung;đợt 2 từ tháng 9 đến tháng 11-1955, trọng điểm tiến hành trong nội bộ các cơ quanngụy quyền; đợt 3 từ 15-11-1955 đến tháng 5-1956 làm rộng rãi ở các tỉnh để triệt

hạ uy thế chính trị của cộng sản và thanh trừng số cán bộ cầu an của chúng ở xã

Ở mỗi đợt gồm nhiều bước, có điều chỉnh rút kinh nghiệm Kế họach "tố cộng"

của địch lúc đầu đánh trên diện rộng, sau đó đánh vào chiều sâu, đánh cả nông thôn

và thành thị Mục tiêu của chúng là tập trung vào những nơi có phong trào cáchmạng mạnh trong kháng chiến chống Pháp Thực hiện được như vậy, Mỹ - Diệm sẽcủng cố được thế lực, đẩy mạnh những hoạt động phá hoại hòa bình, dập tắt đượcphong trào đấu tranh của nhân dân đòi hiệp thương tổng tuyển cử Phương châm

hoạt động của địch là: "Tất cả phục vụ cho chiến dịch tố cộng" Địch chia nhân dân ra

làm ba loại: Loại cán bộ và đảng viên cộng sản; loại gia đình có người đi tập kết;

loại nhân dân nói chung Tuỳ theo đối tượng mà địch tổ chức “tố cộng” có mức độ

khác nhau

Cùng với việc tổ chức học tập, địch tiến hành điều tra nắm tình hình, gây cơ

sở gián điệp, tìm nòng cốt trong địa chủ, cường hào, thành phần bất mãn, phản động

ở từng địa phương cho học tập trước rồi giao nhiệm vụ phân loại nhân dân Chínhthành phần này sau học tập nắm giữ những chức vụ chủ chốt trong bộ máy chínhquyền, công an địa phương và là những kẻ xung kích đàn áp khủng bố nhân dân

trong các chiến dịch “tố cộng” của địch.

Sau khi học tập, địch bắt mọi người phải tố giác cộng sản "Không tố giác là phản quốc" Địch phát phiếu cho từng gia đình bắt kê khai những người cách mạng,

yêu nước rồi bắt tất cả những người bị phát giác hoặc tình nghi viết kiểm thảo (tẩynão), kê khai lý lịch, ly khai Đảng, xé cờ Đảng và ảnh lãnh tụ, viết cáo trạng tố cáocộng sản

Ở Nam Bộ, địch lấy Chợ Lớn làm thí điểm “tố cộng”, rồi triển khai ra khắp miền Chiến dịch “tố cộng” ở đây được chia làm hai bước

Bước chuẩn bị, địch tiến hành đổi thẻ căn cước 1, nắm lại dân và chia dân ralàm ba loại:

Loại A là loại “công dân bất hợp pháp”, gồm cán bộ, đảng viên và những người kháng chiến cũ; Loại B là loại “công dân nửa hợp pháp” gồm những gia

đình có người đi tập kết có liên quan đến những người kháng chiến cũ; Loại C gồm

những người “không liên quan đến cách mạng”.

Phương châm khủng bố của địch là dựa vào loại C, đánh vào loại A, làm choloại B khiếp sợ và khuất phục Sau khi đã phân loại, địch buộc những người kháng

chiến cũ phải ra trình diện, nhận giấy chứng nhận “cán bộ hồi chánh”

Bước thực hiện, mở đầu bằng việc địch tổ chức tuyên truyền quy mô qua hệ

thống truyền thông đại chúng, như báo chí, đài phát thanh Tay chân Mỹ - Diệm rasức xuyên tạc, bôi đen những người cộng sản, những người kháng chiến, gây tâm lý

1 Một loại giấy tùy thân, giống như chứng minh nhân dân hiện nay

Trang 38

hoài nghi và không tin tưởng lẫn nhau giữa bà con làng xóm, cha mẹ, anh em tronggia đình

Trong các đợt học tập “tố cộng”, địch còn sử dụng quyền lợi vật chất và đia

vị để mua chuộc, dụ dỗ cán bộ ta: “Song song với thuyết phục, để có thể nắm vững được tình hình chung của khoá học, ta (chỉ chính quyền Sài Gòn - TG) cần phải mua chuộc trong số chánh trị phạm được cải hóa, những phần tử xét ra có thể dùng làm tai, mắt ta được, bằng những lợi ích vật chất: tiền bạc, địa vị, ” 1 Ngoài tuyêntruyền, thuyết phục, dụ dỗ, địch tổ chức các cuộc vây ráp, khủng bố, tra tấn nhữngngười kháng chiến cũ để uy hiếp tinh thần nhân dân Đây là biện pháp chủ yếu

Kết thúc giai đoạn I, địch đã thực hiện được một số ý đồ của chúng, như gâyhoang mang trong nhân dân, gây nghi ngờ, sợ sệt giữa quần chúng và cán bộ Trong

bộ máy chính quyền, địch đã thanh lọc những người không theo chúng và tập hợpđược lực lượng phản động nòng cốt Đặc biệt nghiêm trọng là do bị địch khủng bốhết sức dã man nên một số địa phương đã có nhiều đảng viên ra đầu hàng, tự thú vớiđịch

Từ tháng 7-1956 trở đi, địch mở chiến dịch "tố cộng, diệt cộng" giai đoạn II,

trọng điểm là đánh miền Đông Nam Bộ và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Để

hợp pháp hóa chính sách "tố cộng, diệt cộng", Điều 7 Hiến pháp (26-10-1956) của

"Việt Nam Cộng hòa" ghi: "Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thức đều trái với nguyên tắc ghi trong hiến pháp" 2 Phương châm của "quốc sách diệt cộng" là: "Tiêu diệt Việt Cộng không thương tiếc tiêu diệt như trong tình trạng chiến tranh, thà giết lầm chứ không bỏ sót".

Ở giai đoạn này, địch điều tra rồi phân chia loại theo gia đình: Gia đình loại

A là gia đình những người kháng chiến cũ, gia đình có người tham gia tập kết,những người yêu nước thiết tha với hòa bình, độc lập, thống nhất mà địch gọi chung

là "Việt cộng" Địch coi đây là loại gia đình bất hợp pháp Loại B là những gia đình có

bà con, họ hàng thân thuộc với loại A, cũng được liệt vào danh sách gia đình bấthợp pháp Loại C, gồm những gia đình vây cánh hậu thuẫn cho chính quyền NgôĐình Diệm, được ưu đãi về chính trị, kinh tế

Những người thuộc gia đình lọai A và B bị bắt tập trung học tập “tố cộng”.

Trước hết, địch bắt mọi người học tập chính trị và liên hệ nói xấu cách mạng, nóixấu Việt cộng, coi Mỹ - Diệm là chính nghĩa, thừa nhận bọn phản quốc tay sai Mỹ

là chính nghĩa quốc gia Địch bắt mỗi người phải tự khai nhận về hoạt động của bảnthân của mình, tố giác các đồng chí, đồng bào và người thân của mình Những

người bị tố giác, địch bắt phải tự nhận là "Việt Cộng" được cài lại để phá hoại Những người không "nhận tội" sẽ bị tra tấn ngay tại chỗ, tại lớp học hay trong các phòng

2 Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự, Sđd, tr 204

Trang 39

đường lối cách mạng, xé cờ Đảng và ảnh Bác Hồ, tham gia tra tấn, thẩm vấn nhữngngười bị bắt Cách thức tra tấn của Mỹ-Diệm tàn ác không thua kém gì so với thờiTrung cổ, như dùng đinh đóng vào các khớp xương, treo người lên sàn nhà, đổ nước

xà phòng, tra điện, Một biện pháp hết sức thâm độc của Mỹ - Diêm được áp dụng

phổ biến trong chiến dịch “tố cộng” lần này là địch bắt mọi người “sám hối” Người "sám hối" phải đứng hoặc quỳ lên những chồng gạch xếp cao chênh vênh, dưới

đất có cắm chông sắt nhiều ngạnh, mắt nhìn thẳng vào ảnh Ngô Đình Diệm, bên

cạnh một ngọn đèn điện công suất hàng trăm oát Trong phòng “sám hối” còn có hương, trầm, khói xông lên ngạt thở Người bị "sám hối" phải đứng liên tục trong

nhiều giờ trong điều kiện như vậy, nhiều người không chịu nổi đã ngất xỉu, cóngười đứng lâu cơ bắp tê mỏi buộc phải cựa mình, thế là bị tay chân Diệm tra tấn,đánh đập, ngã nhào bị chông đâm rách đầy mình

Qua các chiến dịch "tố cộng, diệt cộng" của Mỹ - Diệm, hàng ngàn cán bộ,

đảng viên, đồng bào bị địch tra tấn, giết hại, thủ tiêu, tù đày Tại nhà tù Côn Đảo,

với hệ thống "chuồng cọp", người giam bị biệt lập hoàn toàn với bên ngoài, thường

xuyên bị đánh đập, tra tấn dã man Chỉ trong ba năm từ 1957 đến năm 1959, đã có3.000/4.000 người bị chết Nhà lao Bến Tre không những chứa 1.000 người nhưtrước mà thường xuyên phải chứa 3000 người Nhà lao Phú Lợi, người bị giamtrong hầm lộ thiên, sâu khoảng 3-4 m, rộng 3m trên mặt hầm rào bằng dây thép gai,không lợp mái nên tù nhân phải chịu phơi sương, nắng, mưa suốt ngày đêm, tư thếluôn luôn phải ngồi, đứng thì chạm đầu mà ngồi thì thép gai đâm Ngày 1-12-1958,tại đây, địch đầu độc một lúc 6.000 người, làm 4.000 người trúng độc, 1.000 tù nhânchết tại chỗ Số khác, địch dùng hình thức chuyển vùng đưa đi quản thúc Rất đôngcán bộ, đảng viên từ Nam Bộ bị đưa lên Tây Nguyên quản thúc, thực chất là laodịch khổ sai

Chính sách khủng bố điên cuồng của Mỹ - Diệm đã gây cho cách mạng miềnNam nhiều tổn thất nghiêm trọng Ở Quảng Trị cuối năm 1954, sau khi thực hiệnxong việc chuyển quân tập kết, số đảng viên còn lại là 8.400 phân bố khắp các địaphương trong tỉnh Cuối năm 1957, chỉ còn lại 306 cán bộ, đảng viên 1 Ở ThừaThiên, sau khi chấn chỉnh tổ chức còn 300 đảng viên, đến 1957 ở đồng bằng còn vàichi bộ, miền núi còn lại duy nhất một chi bộ Ở Liên khu V, số cán bộ, đảng viêncòn lại sau tập kết bình quân mỗi tỉnh trên dưới 10 ngàn, nhưng đến cuối 1956 - đầu

1957, hầu hết các tổ chức Đảng ở Liên khu V bị tan vỡ: 70% số cấp ủy xã, 60%huyện ủy viên, 40 % tỉnh ủy viên ở các tỉnh đồng bằng bị bắt, bị giết 2, nhiều huyện,

xã không còn cán bộ lãnh đạo Ở Đảng bộ Quảng Nam - Đà Nẵng, hòa bình lập lại

có 35.000 đảng viên, đến cuối 1958 còn dưới 100 đồng chí hoạt động đơn tuyến.Nếu tính cả miền núi và đồng bằng, thì tỉnh khá nhất cũng chỉ còn 10 chi bộ, mỗichi bộ có ba đảng viên, tỉnh yếu chỉ còn 2 đến 3 chi bộ 3

1 Ban Chấp hành Đảng bộ Quảng Trị Lịch sử Đảng bộ Quảng Trị, Tập II (1954-1975).

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999, tr 52

2 Viện lịch sử Việt Nam, Hội đồng biên soạn lịch sử Nam Trung Bộ Nam Trung Bộ kháng

chiến (1945-1975) Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1992, tr 256.

3 Cao Văn Lượng Lịch sử cách mạng miền Nam Việt Nam, giai đoạn 1945 -1960, Nxb

Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, tr 87

Trang 40

Tại Nam Bộ, nhiều cơ sở bí mật ở địa phương bị thiệt hại nặng nề Ở TràVinh, địch bắt 42 người, giết chết 3 cán bộ cơ sở của ta Ở An Giang, địch bắt 21cán bộ ta làm 13 chi bộ ở hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên bị tê liệt hoàn toàn Ở KiếnTường, trong 6 tháng cuối năm 1958, địch đã bắt, thủ tiêu và mang đi mất tích 132cán bộ, đảng viên Đặc biệt nghiêm trọng là Kiến Hoà, Định Tường Ở hai tỉnh này,

từ tháng 7 đến tháng 9-1958, địch đã bắt 95 người, trong đó có 2 tỉnh uỷ viên, 2huyện uỷ viên, 13 chi uỷ viên, 20 cán bộ giao liên và 11 đảng viên cơ sở

Tính đến cuối năm 1958, trên toàn miền Nam, Mỹ - Diệm đã giết hại khoảng68.800 cán bộ, đảng viên, bắt giam 466.000 người và tra tấn thành thương tật680.000 người

Song song với chiến dịch “tố cộng”, Mỹ - Diệm dùng lực lượng quân đội

cảnh sát, bảo an, dân vệ càn quét, đánh phá dữ dội vùng nông thôn, khu căn cứ Từngày 24-6-1956 đến ngày 24-2-1957, Mỹ - Diệm dùng một lực lượng lớn quân đội

mở chiến dịch Thoại Ngọc Hầu đánh vào các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, miềnTây và Trung Nam Bộ nhằm thanh toán lực lượng vũ trang cách mạng liên kết vớitàn dư giáo phái Hoà Hảo đang hoạt động ở đây, nhằm củng cố chính quyền nôngthôn

Ngày 23-3-1959, Diệm công khai tuyên bố tình trạng chiến tranh ở miềnNam và lấy cớ đó để huy động toàn bộ quân đội, cảnh sát vào các cuộc hành quâncàn quét Địch tập trung đánh vào các khu căn cứ của ta ở miền Đông Nam Bộ, ởĐồng Tháp Mười và vùng U Minh Trong năm 1959, địch mở 279 cuộc hành quâncàn quét, trong đó có 12 cuộc càn với quy mô lớn từ cấp trung đoàn trở lên Ngày 6-

5-1959, Diệm ban hành Luật 10/59 Tới ngày 3-7-1959, Diệm tuyên bố “đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật” và thành lập các tòa án quân sự đặc biệt ở Sài Gòn,

Buôn Ma Thuột, Huế, đưa máy chém về địa phương để thi hành ngay tại chỗ cácbản án tử hình Chỉ trong một thời gian ngắn cuối năm 1959, tòa án quân sự đặc biệtSài Gòn đã lưu động trong 9 tỉnh Nam Bộ và tuyên bố 20 án tử hình, 27 án khổ saichung thân

d Về tư tưởng, văn hóa, giáo dục

Tư tưởng bao trùm, chỉ đạo mọi hoạt động của chính quyền Ngô Đình Diệm

là tư tưởng chống cộng Vũ khí tư tưởng mà chính quyền Ngô Đình Diệm sử dụng

để chống cộng, tức là chống lại nhân dân là chủ nghĩa nhân vị 1, một thuyết duy tâm

1 Chủ nghĩa nhân vị (Personalism) do Muniê (một trí thức Thiên Chúa giáo) xây dựng Đại

để như sau: Nhân vị là vị thế con người, lấy con người làm giao điểm trong trục tươngquan với đồng loại, thiên nhiên và Thượng đế Người là trung tâm để phục vụ, có ưu điểmhơn các thực thể khác như dân tộc, nhân loại hay nhu cầu vật chất, con người có phần hồnlẫn phần xác, mà linh hồn được coi là chủ yếu hơn vì linh thiêng, bất tử và là nguồn gốccủa văn minh Tinh thần có tính thiêng liêng vì do Thượng đế tạo ra và có khả năng vươnlên cảm thông với Thượng đế Ngô Đình Nhu tiếp thu chủ nghĩa nhân vị, thêm thắt một ít Theo Đỗ Mậu, chủ thuyết nhân vị của Ngô Đình Nhu bị nhiều người phê phán là một thứpha trộn mình Ngô, đầu Sở, chắp vá bằng một thứ tư tưởng hổ lốn, góp nhặt mỗi thứ mỗi

ít, từ giáo lý Thiên Chúa giáo đến chủ nghã nhân vị của Muniê, pha trộn thêm thuyết nhân

ái của Khổng Tử, cộng thêm vài nét của chủ nghĩa tư bản lẫn lộn với chủ nghĩa duy linhchống cộng

Ngày đăng: 19/09/2013, 01:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w