Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng cán bộ nguồn
Trang 1MỞ ĐẦU
Vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo được nhiều người quan tâm, theo dõi trên cảphương diện lý luận cũng như thực tiễn Trong những năm gần đây, trước xu thếkhu vực hóa, toàn cầu hóa, các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo có sự phục hồi, pháttriển mạnh mẽ và liên quan chặt chẽ đến những cuộc xung đột dân tộc, sắc tộcđang diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới Bởi vì, tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinhthần của một bộ phận nhân dân, nhưng lại liên quan đến các lĩnh vực của đời sống
xã hội, tác động đến văn hóa, đạo đức, kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng Do
đó, mọi quốc gia, dù có chế độ chính trị khác nhau, cũng đều phải quan tâm tớivấn đề tôn giáo
Đối với Việt Nam, ngay từ rất sớm Đảng ta đã quan tâm đến tín ngưỡng, tôngiáo Hiến pháp năm 1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam đã xácnhận “mọi công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng” Nghị quyết 25-NQ/TWngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương (Khóa IX) về công tác tôn giáo đãxác định: "Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân,
đã, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ởnước ta" Trong công cuộc đổi mới và dân chủ hóa đời sống xã hội hiện nay, đòihỏi chúng ta phải có sự nhìn nhận đánh giá đúng và sát hợp hơn nữa về vấn đề tôngiáo Ngày 18/6/2004, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Tínngưỡng tôn giáo, ngày 01/3/2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/2005/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện một số điều của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo Mớiđây nhất là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định số 162/2017/NĐ-CP củaChính phủ hướng dẫn thi hành mộ số điều của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (có hiệulực từ ngày 01/01/2018) đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý Nhà nước
về tôn giáo của các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh được thống nhất Các chủtrương, chính sách về tôn giáo đã và đang đi vào cuộc sống, đáp ứng nhu cầu chínhđáng của các tổ chức tôn giáo và đồng bào có đạo, làm cho việc đạo, việc đời ngàycàng hòa quyện, gắn bó Đồng bào có đạo tin tưởng vào chủ trương, đường lối củaĐảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia lao động sản xuất, gópphần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
Những năm gần đây, công tác quản lý Nhà nước về tôn giáotôn giáo trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đã có những bước chuyển biếnđáng kể, tuy nhiên ở một số nơi vẫn còn hiện tượng buông lỏng hoặc cứngnhắc, định kiến với tôn giáo nên hiệu quả quản lý Nhà nước về tín ngưỡng, tôngiáo chưa cao; cá biệt có nơi còn để xảy ra một số vụ việc đáng tiếc, mà các đốitượng xấu có thể lợi dụng, chia rẽ mối đoàn kết Lương - Giáo, gâymất ổn định chính trị - xã hội ở địa phương
Từ những lý do trên, tôi đã thực hiện đề tài nghiên cứu về "Vận dụng chínhsách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam để giải quyết vấn đề tôn giáo tínngưỡng ở tỉnh Hà Tĩnh hiện nay", để từ đó có những kiến nghị, giải pháp nhằmtăng cường hơn nữa công tác quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực nhạy cảm này
Trang 2NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Cơ sở lý luận
1.1 Chủ nghĩa Mác-Lênin về tôn giáo
Trong quá trình đấu tranh, xây dựng thế giới quan mới, Mác-Ăngghen đãthẳng thắn đấu tranh với các trào lưu tư tưởng sai trái đương thời trong đó có tưtưởng về tôn giáo Chính trong thời điểm đó, với việc phát hiện ra chủ nghĩa duyvật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mác-Ăngghen đã dùng học thuyết củamình để giải thích tôn giáo; đề cập đến các vấn đề cơ bản về nguồn gốc, bản chất,tính chất, chức năng của tôn giáo; lập trường, phương pháp giải quyết vấn đề tôngiáo của giai cấp vô sản; phê phán các trào lưu tư tưởng duy tâm tôn giáo và cáctrào lưu tư tưởng sai lầm khác Mác-Ăngghen khẳng định: Tôn giáo là một hiệntượng xã hội, “là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giớikhông có trái tim, là tinh thần của những điều kiện xã hội không có tinh thần, làhạnh phúc hư ảo của nhân dân, là bông hoa tưởng tượng trang điểm cho xiềngxích, tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”
“Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”, theo Lênin, là hòn đá tảng của toàn
bộ quan điểm của chủ nghĩa Mác về vấn đề tôn giáo Nhưng trên thực tế còn cónhiều cách hiểu khác nhau về luận điểm này Chẳng hạn, có một số người quanniệm chỉ có hình thức tôn giáo thoái hóa nào đó mới là thuốc phiện chứ không phảimọi tôn giáo nói chung Có người trở về tìm hiểu bối cảnh lịch sử khi xuất hiện câunói đó của Mác và cho rằng: Vào những thập kỷ đầu của thế kỷ XIX, ở phươngTây từ “thuốc phiện” chưa có ý nghĩa độc hại như ngày nay mà chỉ là thứ thuốcgiảm đau thông thường Vì vậy, câu nói đó của C Mác không mang bất kỳ bóngdáng lên án nào Ngược lại có ý kiến cho rằng chừng nào tôn giáo còn thì ý nghĩađộc hại vẫn còn đó
Đánh giá vai trò của tôn giáo là vấn đề phức tạp nên phải có quan điểm lịch
sử cụ thể Kế thừa có phê phán những nhà duy vật trước đó, đồng thời là bước pháttriển mới C.Mác-Ăngghen chỉ rõ: “Con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáokhông sáng tạo ra con người, nhưng con người không phải là một tồn tại trừutượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới Con người chính là thế giới những conngười, là nhà nước, là xã hội Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo tức là thếgiới quan lộn ngược”
Xét về bản chất, tôn giáo chỉ là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại
xã hội Điều này được Ănghen nêu rõ trong tác phẩm chống Đuy rinh: “Nhưng tất
cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào đầu óc con người, củanhững lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phảnánh trong đó những lực lượng siêu trần thế”
Ở đây Ăngghen đã giải đáp 3 vấn đề cơ bản: Tôn giáo là gì? Phản ánh cáigì? phản ánh như thế nào? Định nghĩa này của Ăngghen được nhiều người chú ý
và coi như thể hiện rõ nhất của các nhà sáng lập ra học thuyết Mác-Lênin khinghiên cứu bản chất của tôn giáo
Trang 3V.I Lênin gọi toàn bộ những nguyên nhân và điều kiện tất yếu làm nảy sinhtôn giáo, niềm tin tôn giáo là nguồn gốc tôn giáo Ông đề cập vấn đề này ở nhiềutác phẩm khác nhau, nhưng tập trung nhất ở hai tác phẩm chính: “Chủ nghĩa xã hội
và tôn giáo” “thái độ của Đảng công nhân đối với tôn giáo.” V.I Lênin coi nguồngốc kinh tế - xã hội của tôn giáo là nguyên nhân sâu xa nhất của tôn giáo hiện đại.Trong nền kinh tế thị trường rủi ro, bất trắc luôn rình dập và có thể ập xuống ai đóbất kỳ lúc nào Trái lại cơ hội cũng có thể giành cho họ với tính ngẫu nhiên nhưthế Điều này, V.I Lênin đã phân tích kỹ trong nền sản xuất hàng hóa và sự biếnđộng của cơ chế thị trường tư bản chủ nghĩa
Giải quyết vấn đề tôn giáo phải gắn liền với việc giải quyết nguồn gốc của nó,tức là gắn liền với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa “Phê phán thượng giới biếnthành phê phán cõi trần, phê phán tôn giáo biến thành phê phán pháp quyền, phê phánthần học biến thành phê phán chính trị” Cần sử dụng tổng hợp các giải pháp trên tất cảcác lĩnh vực để giải quyết vấn đề tôn giáo Trong đó cần tôn trọng tự do tín ngưỡngcủa quần chúng nhân dân, đồng thời cảnh giác, vô hiệu hóa sự lợi dụng tôn giáocủa các thế lực thù địch Không được xúc phạm tín ngưỡng tôn giáo, nếu xúc phạmtín ngưỡng tôn giáo là đẩy quần chúng về phía kẻ thù
V.I Lênin đã từng phê phán hai khuynh hướng giải quyết vấn đề tôn giáo:
Một là, những người chủ trương tuyên truyền thuần túy đấu tranh chống tôn
giáo, V.I Lênin cho rằng: “Sẽ thật vô lý nếu tưởng rằng người ta có thể đánh tannhững thiên kiến tôn giáo bằng tuyên truyền không thôi, nếu quên rằng ách tôngiáo đè nặng lên trên loài người chẳng qua chỉ là phản ánh của ách áp bức kinh tếtrong xã hội mà thôi, thì như thế là đầu óc thiển cận tư sản”
Hai là, những phần tử tả khuynh vô chính phủ muốn đưa cuộc đấu tranh tôn
giáo lên thành cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh giai cấp Theo V.I Lênin đókhông phải “chỗ” của nó Tiêu biểu cho khuynh hướng này là Đuyrinh và BLăngkichủ trương cấm tôn giáo trong XHCN, muốn tuyên chiến với tôn giáo, khai chiếnvới thượng đế
Lịch sử đã từng chứng minh, tôn giáo là một hiện tượng xã hội tế nhị, nhạycảm và phức tạp; ở đâu, lúc nào mà dùng những biện pháp thô bạo đối xử với tôngiáo thì ở đấy người sử dụng biện pháp đó phải trả giá
Như vậy, một mặt V.I Lênin phê phán những người dùng phương pháp giáodục, tuyên truyền, thuyết phục coi đó là nhiệm vụ chủ yếu duy nhất đối với tôngiáo, mặt khác ông cũng lên án gay gắt đối với những đại biểu tả khuynh, vô chínhphủ chủ trương phủ nhận tôn giáo bằng biện pháp thô bạo
Đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực trong tôn giáo là điều cần thiết,nhưng trước hết phải chú ý loại dần những nguồn gốc xã hội của tôn giáo Chốnglại nguồn gốc xã hội của tôn giáo hiện đại chính là: “Chống sự thống trị của tư bảndưới tất cả mọi hình thức của nó”
Vấn đề có thiên đường, địa ngục, thần thánh hay không? không phải là cơbản Điều quan trọng trước hết là đoàn kết quần chúng để đấu tranh với bất công
xã hội nhằm xây dựng cuộc sống hạnh phúc cho con người
V.I Lênin đã từng khuyên người Mác xít phải biết chú ý đến tình hình cụthể và luôn nhớ rằng cuộc đấu tranh chống mặt tiêu cực có trong tôn giáo không
Trang 4phải lúc nào cũng như lúc nào V.I Lênin nêu một số ví dụ cụ thể chứng minh choluận điểm trên Chẳng hạn, khi phong trào công nhân đang lên cao thì người Mácxít phải đặt vấn đề thắng lợi của phong trào lên hàng đầu, chứ không phải là lúcphân biệt vô thần với hữu thần Hoặc vấn đề đảng viên có tôn giáo, theo V.I Lênin
“Nếu một linh mục nào lại đi với chúng ta để cùng hoạt động chính trị, tận tâm làmtròn nhiệm vụ của mình trong Đảng thì chúng ta có thể kết nạp người ấy vào ĐảngDân chủ - Xã hội” Và Người giải thích rõ: “Bởi vì trong những điều kiện ấy, mâuthuẫn giữa tinh thần cương lĩnh của Đảng ta và các nguyên tắc của cương lĩnh ấyvới tín ngưỡng, tôn giáo của linh mục có thể là mâu thuẫn riêng của người đó, làviệc riêng của người đó thôi; còn như đem kiểm tra các đảng viên của mình xem
có phải trong người họ không có mâu thuẫn giữa quan điểm của họ với cươnglĩnh của Đảng không, thì một tổ chức chính trị không thể nào làm được”
Một luận điểm có tính nguyên tắc được V.I Lênin đưa ra rất đáng quan tâm:
“Chúng ta không những phải sẵn sàng kết nạp, mà còn gắng để thu hút vào trongĐảng Dân chủ - Xã hội tất cả những công nhân nào còn tin vào thượng đế; chúng
ta nhất định phản đối bất cứ một sự xúc phạm nhỏ nào đến những tín ngưỡng tôngiáo của họ”
Thực tế cho thấy không ai nắm vững nhu cầu, ước vọng của bà con có đạobằng chính những người đảng viên có cùng tín ngưỡng với họ, và cũng không aivận động họ tiến hành công cuộc xây dựng xã hội mới có hiệu quả bằng nhữngđảng viên này Người có tín ngưỡng có thể trở thành đảng viên cộng sản mà khôngnhất thiết phải từ bỏ niềm tin tôn giáo của mình Trong Chủ nghĩa xã hội, tôn giáovẫn tồn tại một cách khách quan, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định:
“Đảng Cộng sản chẳng những không tiêu diệt tôn giáo mà còn bảo hộ tôn giáo.Đảng cộng sản chỉ tiêu diệt tội ác người bóc lột người” V.I Lênin từng viết:
“Người xã hội dân chủ đòi hỏi rằng mỗi người có quyền theo bất cứ một tínngưỡng nào một cách hoàn toàn tự do không thể như vậy, mỗi người còn cóquyền truyền bá bất cứ tín ngưỡng nào và thay đổi tín ngưỡng Không một quanchức nào có quyền đòi hỏi bất cứ ai về tín ngưỡng của họ Không thể có bất cứmột tôn giáo nào, một nhà thờ nào được coi là giữ vị trí thống trị Tất cả mọi tôngiáo mọi nhà thờ đều bình đẳng trước pháp luật Những nhà tu hành có thể nhận sựgiúp đỡ vật chất từ những người theo tôn giáo của mình, còn Nhà nước khôngđược dùng quỹ công để tài trợ cho bất cứ tôn giáo nào, nhà thờ nào”
Khi giải thích câu: “Tôn giáo là việc tư nhân” của Ăngghen trong “Cươnglĩnh Ecphuya của Đảng dân chủ xã hội Đức năm 1891,V.I.Lênin viết: “Nhà nướckhông được dính đến tôn giáo, các đoàn thể tôn giáo không được dính đến chínhquyền nhà nước” Giáo hội tách khỏi nhà nước, trường học tách khỏi Giáo hội Cònđối với công dân, tất cả mọi người đều được hoàn toàn tự do theo tôn giáo mình thíchhoặc không thừa nhận một tôn giáo nào Vào đạo, chuyển đạo là quyền tự do của mỗingười Mọi người đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, không được phân biệt tínngưỡng, tôn giáo
V.I Lênin còn chỉ rõ: “Đối với những người mác xít, một điều quan trọngphải biết là tôn giáo không đồng nghĩa với phản động với tất cả mọi người, ở mọinước và ở mọi thời đại”
Những quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề tôn giáo là
di sản quý giá để chúng ta vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam,
Trang 5góp phần thực hiện thành công chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta trongtừng thời kỳ qua các giai đoạn cách mạng.
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn gốc tôn giáo
Chủ tịch Hồ Chí Minh, con người hội tụ tinh hoa của truyền thống dân tộcViệt Nam, một đất nước hội nhập của tôn giáo phương Đông, phương Tây và tôngiáo nội sinh Người nhận rõ tính đặc thù của các tôn giáo ở Việt Nam, các tôngiáo có lịch sử đoàn kết, tôn trọng nhau và luôn “đồng hành cùng dân tộc” trongquá trình dựng nước và giữ nước
Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin một cách tài tình
và sáng tạo phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh Việt Nam, đem lại hiệu quả to lớn.Người đã bỏ qua những sự khác biệt nhỏ, tìm thấy những điểm tương đồng giữađồng bào có đạo với toàn thể dân tộc để xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc nhằmgiải phóng dân tộc, giai cấp
Kế thừa những thành tựu khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minhđồng tình với nhận thức về nguồn gốc tôn giáo do con người sản sinh ra, Conngười qua lăng kính của quá trình hoạt động sống trong xã hội đã dần dần xâydựng nên biểu tượng tôn giáo Chính sự kết hợp giữa nguồn gốc nhận thức vànguồn gốc kinh tế - xã hội tạo thành “thần bí” của tôn giáo, nhưng nguồn gốc vềmặt kinh tế - xã hội đóng vai trò quan trọng, trực tiếp tới quá trình vận động pháttriển của một dân tộc - một quốc gia và thế giới Sự giải quyết tận gốc vấn đề tôngiáo cần xây dựng xã hội mới, con người mới, một xã hội tiến bộ với con người cóđầy đủ tri thức Sự am tường về giáo lý, lịch sử các tôn giáo và lịch sử dân tộc là
cơ sở để Hồ Chí Minh nói đến sự trùng hợp giữa mục đích của tôn giáo và lý tưởngcủa dân tộc; tôn giáo không đối lập với dân tộc với tổ quốc và hơn thế nữa, tôngiáo cũng không đối lập với lý tưởng cộng sản Vấn đề là phải có chính sách độngviên, thu hút đồng bào theo tôn giáo hòa nhập cuộc sống ích đạo, lợi đời Nhà nướcchăm lo chu đáo tới nhu cầu của đồng bào theo đạo “phần xác no ấm, phần hồnthong dong”, phải tổ chức cho đồng bào theo tôn giáo tham gia tích cực hoạt độngsản xuất và công cuộc đấu tranh cải tạo xã hội Sinh hoạt tôn giáo không cản trởđến sản xuất mà ngược lại động viên nhân dân sản xuất tích cực hơn, hiệu quả hơn
Tư tưởng của Người không chỉ nhằm lôi cuốn đồng bào có đạo về phía cách mạng
mà cao cả hơn, nhân đạo hơn, đó là tư tưởng về sự giải phóng con người một cáchtriệt để và hiện thực mà không dừng lại ở những luận điểm tuyên truyền về chủnghĩa vô thần một cách trừu tượng Ngược lại, nó còn làm cho quyền tự do tínngưỡng, tôn giáo của người dân có cơ sở trở thành hiện thực
1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo
Tư tưởng đoàn kết luôn bao trùm rộng lớn và có ý nghĩa quyết định thànhcông trong cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Chí Minh Đối với tôn giáo hơn bao giờhết cần có đoàn kết thực lòng và bền vững Người luôn nhấn mạnh: “Đoàn kết của
ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu dài Đoàn kết là một chính sách dântộc, không phải là thủ đoạn chính trị Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất vàđộc lập của Tổ quốc; ta phải đoàn kết để xây dựng nước nhà Ai có đức, có sức, cólòng phụng sự Tổ quốc và phụng sự nhân dân thì ta đoàn kết với họ”
Trang 6Vượt lên các nhà cách mạng phương Tây, Người nhận thức sâu sắc và toàndiện về ý nghĩa quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó vấn đềđoàn kết đồng bào các tôn giáo là nhiệm vụ xuyên suốt của công tác tôn giáo.Đoàn kết đã trở thành nguyên tắc cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đoàn kết
là động lực của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tôn giáo là tư tưởng đoàn kếtđồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo, đồng bào theo đạo với đồng bào không theo đạo,đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, cùng lấy mục tiêu chung làm điểmtương đồng, phấn đấu vì một nước Việt Nam hoà bình độc lập dân chủ, thống nhất
và giàu mạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ chương: Lấy nguyên tắc đoàn kết làtrung tâm của chính sách tôn giáo, xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa tôn giáo vớidân tộc là mấu chốt, mọi chính sách pháp luật về tôn giáo phải xoay quanh nguyêntắc đoàn kết và xuất phát từ lợi ích của cả dân tộc, trong đó có lợi ích của tổ chứctôn giáo Người nhận thức rằng: Tín ngưỡng là những biểu hiện tình cảm sâu kíncủa thành kính, tôn giáo hàm chứa tình cảm thiêng liêng đã nâng lên thành biểutượng mà người có đạo dễ dàng chấp nhận hy sinh để gìn giữ sự ngưỡng vọng vàtôn kính đó
Hồ Chí Minh có những nhận thức tôn trọng và khiêm tốn đối với tôn giáo,Người nhận thấy ở tôn giáo có những giáo điều đạo đức và triết lý phù hợp với xãhội ngày nay Tôn giáo chân chính sẽ đồng thuận cùng nhau và cùng nhà nước xâydựng một xã hội tốt đẹp cho người dân “dân chúa” cũng như những người con phật
“phật tử” Với tấm lòng chân thành Người đã nói: “Học thuyết của Khổng Tử có
ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó
là lòng nhân ái cao cả Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biệnchứng Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó, chính sách của nó thích hợpvới điều kiện nước ta Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho mọi người, mưu cầuphúc lợi cho xã hội Nếu hôm nay còn sống trên đời này, nếu họp lại một chỗ, tôitin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất toàn mỹ như những người bạn thânthiết Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có thái độ trân trọng với tôn giáo Một sự trântrọng không chỉ dành cho đức tin của tín đồ mà ngay cả đối với các chức sắc Dovậy, ngay sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập một ngày, Người đề nghị Chính phủ
ra tuyên bố: Tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết Tôn trọng tự do tín ngưỡng là
cơ sở hình thành thái độ trân trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với các tôn giáo,
dù là tôn giáo ngoại nhập hay tôn giáo bản địa Người luôn dành cho các chức sắc
và tín đồ các tôn giáo một thái độ khoan dung, thân tình không hề có dấu vết nào,
dù rất nhỏ, của sự công kích đa nghi hoặc chế diễu đối với bất kỳ một tôn giáo nào
Đối với các chức sắc, tín đồ các tôn giáo bất luận trong điều kiện và hoàncảnh nào, với những thái độ và tình cảm như thế nào thì vẫn được Chủ tịch Hồ ChíMinh ân cần thăm hỏi, quan tâm động viên với tất cả nghệ thuật của sự tế nhị để đivào tâm tư, tình cảm, niềm tin của họ
Trong bức thư gửi cho Giám mục Lê Hữu Từ (năm1946) Hồ Chí Minh đãthể hiện thái độ kiên trì mềm mỏng đến mức làm cho một số cán bộ thời đó lo ngại
Hồ Chủ tịch tự nhận là bạn cùng Giám mục Lê Hữu Từ và mời ông ta làm cố vấncho Chính phủ Người còn dùng ảnh hưởng của Lê Hữu Từ để làm yên lòng cácgiáo dân đang bị kích động Đối với các vị linh mục, Hồ Chủ tịch cũng nói chuyện
Trang 7một cách cởi mở và hết sức thẳng thắn: “Trước đây tôi đã gặp Đức cha Từ Nay tôi
về đây với một tấm lòng sốt sắng và thân mật vì Đức cha Từ là bạn của tôi Ngài làmột vị lãnh đạo sáng suốt của đồng bào Công giáo Công giáo hay không Cônggiáo phải nên nỗ lực tranh đấu cho nền độc lập của nước nhà Nhiệm vụ của toànthể chúng ta là phải giữ vững nền độc lập Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn Đức cha
Từ và các ngài đã tỏ lòng trung thành với Chính phủ”
Trên cơ sở tôn trọng quyền tự quyết trong tổ chức tôn giáo, Người nhận rõ
sự tác động và ảnh hưởng rất mạnh mẽ của các vị chức sắc trong cộng đồng tôngiáo Với bản lĩnh yêu nước sẵn có nếu được khích lệ, động viên trong các cuộcvận động, trong các phong trào thi đua yêu nước thì mỗi vị chức sắc sẽ là nguồnđộng viên tín đồ hưởng ứng đông đảo và nhiệt thành nhất Vì lẽ đó mà mặt trậnDân tộc thống nhất được Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập có vai trò to lớn vànhiệm vụ quan trọng là vận động chức sắc tôn giáo, để hướng tôn giáo đồng hànhcùng dân tộc Tư tưởng của người về công tác tôn giáo, những cử chỉ ứng xử củaNgười đối với chức sắc tín đồ tôn giáo là tấm gương lớn cho mỗi cán bộ dân vận
về lý luận và thực tiễn trong công tác tôn giáo, công tác vận động chức sắc, tín đồtôn giáo
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng phân tích kỹ những đặc điểm hạn chế của tôngiáo, nhất là niềm tin tôn giáo Người nhận thấy đây là vấn đề nhạy cảm cần tôntrọng, những tín lý giáo điều phải được nhận thức bởi bộ óc có trí tuệ mới tránhđược sự tin tưởng mù quáng Cũng một phần vì lẽ đó, Người đã phát động phongtrào “diệt giặc dốt” Người căn dặn cán bộ Dân vận cần giúp đỡ nhân dân, phảiđồng cảm với nỗi đau tinh thần của quần chúng tín đồ, đặc biệt phải sớm ngănchặn được âm mưu lợi dụng tôn giáo của địch
Con người Chủ tịch Hồ Chí Minh hội tụ đầy đủ phẩm chất đạo đức và nhâncách văn hoá dân tộc Việt Nam Đó là tư tưởng bao dung, hoà hợp trong cảmthông, chấp nhận dị biệt, miễn là không trái ngược lợi ích chung của dân tộc, đoànkết trên hết để thực hiện đạt được mục tiêu tương đồng Hồ Chí Minh là biểu tượngcủa toàn dân Việt Nam về “Chân-Thiện-Mỹ”, Người có đầy đủ những đức tínhtrong “Đạo Hạnh” của tôn giáo, đó là “Đức hy sinh”, “Tình thương yêu và đồngcảm”, “vô ngã”, “vị tha”, Người là bậc “Đại nhân, đại trí, đại dũng” đã xả thân vìnghĩa lớn Người có sức mạnh truyền cảm, tự tin, tấm lòng nhân ái, bao dung.Đồng bào Phật tử thấy Hồ Chí Minh như “hiện thân của vị “Bồ tát quan thế âm” vì
“nhân duyên” mà cứu khổ cứu nạn dân tộc Việt Nam Hồ Chí Minh đã quyết hysinh cho Việt Nam độc lập, cho thế giới hoà bình Với đức hy sinh ấy, đồng bàoKitô giáo mường tượng thấy Người như bóng dáng của “Đức Chúa Kitô” đã ghimmình, hy sinh trên cây Thánh giá để cứu chuộc cho nhân loại
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã bổ sung vào kho tàng của chủ nghĩa Mác-Lêninmột cách nhìn nhận tôn giáo mềm mại và có ý nghĩa thực tiễn hơn Tất cả những gìNgười viết, nói và ứng xử với tôn giáo, tín ngưỡng chung quy lại là nhằm giác ngộđại đa số đồng bào các tôn giáo và đoàn kết toàn dân hoàn thành sự nghiệp xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Vì vậy, có thể nói đoàn kết giữa đồng bào theo các tôngiáo khác nhau, giữa đồng bào có đạo và những người không theo tôn giáo là mộttruyền thống quý báu của dân tộc ta Tư tưởng đoàn kết lương - giáo, mối quan hệcủa Chủ tịch Hồ Chí Minh với các chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo là mộtmẫu mực của việc thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc
Trang 8Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo thực sự là vấn đề hết sức cầnthiết cho công tác tôn giáo của hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn hiệnnay.
1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tôn giáo
Vấn đề tôn giáo là một vấn đề lớn mà Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm.Ngay từ khi mới thành lập, Đảng cộng sản đã quan tâm đến vấn đề tôn giáo Chínhsách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta dựa trên những quan điểm cơ bảncủa chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo phù hợp với đặcđiểm tôn giáo ở Việt Nam và yêu cầu cụ thể của từng thời kỳ cách mạng Tôntrọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân là vấn
đề mang tính nguyên tắc, chính sách nhất quán trước sau như một của Đảng vàNhà nước ta
Qua các giai đoạn cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định công táctôn giáo là vấn đề chiến lược có ý nghĩa rất quan trọng
Trong cách mạng dân tộc dân chủ, chính sách “tín ngưỡng tự do, lương giáođoàn kết” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đã góp phần to lớn vào sự nghiệp đoànkết toàn dân kháng chiến thắng lợi, giành độc lập thống nhất hoàn toàn cho đấtnước
Trong cách mạng Xã hội Chủ nghĩa, nhất là thời kỳ đổi mới toàn diện cácmặt sinh hoạt của xã hội, Đảng ta đã đổi mới tư duy, đổi mới nhận thức đưa ranhiều quyết sách về vấn đề tôn giáo, thể hiện ở Nghị quyết 24-NQTW ngày16/10/1990 của Bộ Chính trị khoá (VI), Nghị quyết xác định “Tôn giáo là vấn đềcòn tồn tại lâu dài Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhândân Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”,
“các giáo hội và tổ chức tôn giáo nào có đường hướng hành đạo gắn bó với dântộc, có tôn chỉ, mục đích điều lệ phù hợp với luật pháp Nhà nước, có tổ chức phùhợp và bộ máy nhân sự đảm bảo tốt về cả hai mặt đạo, đời thì sẽ được Nhà nướcxem xét trong từng trường hợp cụ thể để cho phép hoạt động”
Thực hiện Nghị quyết của Đảng, công tác vận động đồng bào có đạo, các tín
đồ, chức sắc hưởng ứng tham gia phong trào thi đua yêu nước, xây dựng khối đạiđoàn kết toàn dân tộc đạt được nhiều thắng lợi Đồng bào các tôn giáo đã có nhữngđóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nhìn chung, các tổchức tôn giáo đã xây dựng đường hướng hành đạo, hoạt động theo pháp luật; cáctôn giáo được nhà nước công nhận đã hành đạo gắn bó với dân tộc, tập hợp đôngđảo tín đồ trong khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng cuộc sống tốt đời đẹp đạo,góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước Các ngành các cấp đã chủ động, tíchcực thực hiện các chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước, pháttriển kinh tế - xã hội và giữ vững an ninh chính trị ở các vùng đồng bào tôn giáo,đồng thời đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại những hoạt động lợi dụng tôn giáo đểhoạt động chống phá Đảng và Nhà nước ta
Ngày 12/3/2003, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá
IX đã ra nghị quyết về công tác tôn giáo Nghị quyết chỉ rõ: hoạt động tôn giáo vàcông tác tôn giáo phải nhằm tăng cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khốiđại đoàn kết dân tộc, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự
Trang 9nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vìmục tiêu “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”.
Để thực hiện phương hướng trên, Đảng ta đã thể hiện rõ quan điểm và chínhsách một cách công khai trước toàn dân, trên các phương tiện thông tin đại chúng,Đảng ta xác định:
- Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang
và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết dân tộc Thực hiện nhấtquán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc khôngtheo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật.Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật
- Đảng, Nhà nước ta thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dântộc Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau Đoàn kết đồng bào theo tôngiáo và không theo tôn giáo Giữ gìn và phát huy những giá trị tích cực của truyềnthống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân.Nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo Đồngthời, nghiêm cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạtđộng trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia
rẽ dân tộc gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia
- Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác quần chúng, công tác đốivới con người Công tác vận động quần chúng các tôn giáo phải động viên đồngbào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của tổ quốc;thông qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế-xã hội, an ninh, quốc phòng,bảo đảm lợi ích vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bàotôn giáo
- Đồng bào có đạo hay không có đạo đều là công dân Việt Nam, có quyền và
có nghĩa vụ bình đẳng trước pháp luật Sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý củaNhà nước nhằm thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân Nội dung cốtlõi của công tác đối với tôn giáo là thực sự đảm bảo nghĩa vụ và quyền lợi côngdân; chăm lo giải quyết những lợi ích thiết thân, trong đó có quyền tự do tínngưỡng và giúp đỡ đồng bào nâng cao trình độ mọi mặt nhằm góp phần đóng góptích cực cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc
- Chính sách đối với tôn giáo là một bộ phận quan trọng của chính sách xãhội Vì vậy, cùng với công tác vận động quần chúng có tín ngưỡng, phải tăngcường quản lý Nhà nước bằng pháp luật đối với các tôn giáo, nhằm bảo đảm bằngpháp luật cho các tôn giáo được sinh hoạt bình thường và ngăn chặn bọn xấu lợidụng tôn giáo với động cơ mục đích ngoài tôn giáo
- Cần làm cho tín đồ các tôn giáo và các chức sắc nhận rõ âm mưu, thủ đoạncủa bọn phản động, để họ chủ động, tự giác đấu tranh chống lại chúng, nhằm bảo
vệ tự do tín ngưỡng chính đáng của mình, bảo vệ an ninh, chính trị và trật tự antoàn xã hội
- Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị Tôn giáo là mộthình thái ý thức xã hội, đồng thời cũng là một thực thể xã hội có quan hệ phức tạp
và tế nhị đến nhiều mặt của đời sống xã hội Vì vậy, làm tốt công tác tôn giáo làtrách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo
Trang 10- Các bộ phận của hệ thống chính trị cần phối hợp chặt chẽ, đồng bộ, trong
đó Đảng phải có chủ trương chính sách đúng, chính quyền thực hiện chức năngquản lý tôn giáo bằng pháp luật, các đoàn thể và mặt trận có trách nhiệm vận độngquần chúng tín đồ và chức sắc các tôn giáo thực hiện phong trào sống tốt đời, đẹpđạo để bảo vệ và xây dựng tổ quốc
- Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợppháp theo quy định của pháp luật Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận,được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo,
mở trường đào tạo chức sắc nhà tu hành, xuất bản kinh sách và giữ gìn sửa chữaxây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo của mình theo đúng quy định của pháp luật Việctheo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiếnpháp và pháp luật
Xuất phát từ tình hình và những quan điểm chỉ đạo của Đảng về tôn giáo,Đảng đã đề ra nhiệm vụ với nội dung chủ yếu sau:
- Thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách và các chương trình pháttriển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hoá của nhân dân trong đó cóđồng bào các tôn giáo
- Tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động bình thường theo đúng chínhsách và pháp luật của Nhà nước
- Đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹpđạo” trong quần chúng tín đồ, chức sắc, nhà tu hành ở cơ sở Xây dựng khối đạiđoàn kết toàn dân tộc thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệđất nước
- Phát huy tinh thần yêu nước của đồng bào có đạo, tự giác và phối hợp đấutranh làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo, dântộc để phá hoại đoàn kết dân tộc, chống đối chế độ
- Hướng dẫn các tôn giáo thực hiện quan hệ đối ngoại phù hợp với đường lốiđối ngoại của Đảng và Nhà nước Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền về chính sáchtôn giáo của Đảng và Nhà nước; đấu tranh làm thất bại những luận điệu tuyêntruyền, xuyên tạc, vu khống của các thế lực thù địch bên ngoài đối với tình hìnhtôn giáo và công tác tôn giáo ở nước ta
- Tổng kết việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác tôngiáo Tăng cường nghiên cứu cơ bản, tổng kết thực tiễn, góp phần cung cấp luận
cứ khoa học cho việc xây dựng và thực hiện các chủ trương, chính sách trước mắt
và lâu dài đối với tôn giáo
Chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta được xây dựng trênnhững nguyên tắc sau:
- Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng củanhân dân, nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo hoặc tín ngưỡng
- Mọi công dân theo hoặc không theo tôn giáo đều bình đẳng trước phápluật, được hưởng mọi quyền công dân và có trách nhiệm thực hiện mọi nghĩa vụcông dân
Trang 11- Các tổ chức hoạt động tôn giáo phải tuân theo pháp luật và hiến pháp củaNhà nước.
- Những hoạt động tôn giáo vì lợi ích chính đáng và hợp pháp của tín đồđược bảo đảm Những hoạt động tôn giáo vì lợi ích của Tổ quốc và nhân dân đượckhuyến khích
- Mọi hoạt động mê tín, dị đoan bị bài trừ Mọi hành vi lợi dụng tôn giáo đểphá hoại nền độc lập dân tộc, chống lại nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam, phá hoại chính sách đoàn kết toàn dân, làm hại nền văn hoá lành mạnh củadân tộc, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, đều bị xử lý theo pháp luật
Từ những nguyên tắc trên, Nhà nước đã và sẽ tiếp tục hoàn thiện chính sách
cụ thể, trong đó:
- Đối với tín đồ các tôn giáo được bảo đảm sinh hoạt tôn giáo bình thường,
có nơi thờ tự, kinh sách, đồ dùng trong việc đạo và có chức sắc hướng dẫn việcđạo Làm cho đồng bào hiểu rõ chủ trương, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhànước, biết phân biệt tự do tín ngưỡng và lợi dụng tín ngưỡng, tự giác đấu tranh vớimọi âm mưu, thủ đoạn bị lợi dụng tôn giáo của bọn xấu và phản động Xoá bỏthành kiến đối với người có đạo Thường xuyên củng cố tình đoàn kết dân tộc,đoàn kết lương giáo, vì sự nghiệp và lợi ích chung
- Tăng cường công tác vận động quần chúng, xây dựng lực lượng chính trị ở
cơ sở Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, đổi mới nội dung, phương thức côngtác vận động đồng bào tín đồ các tôn giáo, phù hợp với đặc điểm của đồng bào cónhu cầu luôn gắn bó với sinh hoạt tôn giáo và tổ chức tôn giáo
- Tăng cường hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thểnhân dân trong việc tuyên truyền chủ trương, chính sách đối với chức sắc, chứcviệc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo
- Tăng cường quản lý nhà nước về tôn giáo Tăng cường đầu tư và thực hiện
có hiệu quả các dự án, chương trình mục tiêu quốc gia, đẩy mạnh phát triển kinh
tế - văn hoá - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, văn hoá cho nhân dân các vùngkhó khăn, đặc biệt quan tâm các vùng đông tín đồ tôn giáo và vùng dân tộc miềnnúi còn nhiều khó khăn
- Tăng cường cảnh giác cách mạng; xây dựng phương án cụ thể, chủ độngđấu tranh làm thất bại mọi âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôngiáo để kích động chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia
- Giải quyết việc tôn giáo tham gia thực hiện chủ trương xã hội hoá các hoạtđộng y tế, văn hoá, xã hội, giáo dục của Nhà nước, theo nguyên tắc:
Khuyến khích các tôn giáo đã được Nhà nước thừa nhận tham gia phù hợpvới chức năng, nguyên tắc tổ chức của mỗi tôn giáo và quy định của pháp luật
- Thống nhất chủ trương xử lý vấn đề nhà, đất sử dụng vào mục đích tôngiáo hoặc có liên quan đến tôn giáo:
- Đối với đất đai, thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành
- Đối với việc khiếu kiện liên quan đến nhà và cơ sở tôn giáo đã chuyển giaocho chính quyền hoặc đoàn thể sử dụng: Về nguyên tắc, xử lý theo quy định của
Trang 12pháp luật hiện hành; riêng đối với những trường hợp nhà, đất do tôn giáo đã hiếntặng có văn bản xác nhận thì không đặt vấn đề trả lại.
- Đối với hội đoàn tôn giáo, thực hiện theo nguyên tắc mọi tổ chức tôn giáophải được Nhà nước công nhận và hoạt động theo quy định của pháp luật
- Củng cố, kiện toàn bộ máy tổ chức làm công tác tôn giáo của Đảng, chínhquyền, mặt trận tổ quốc và các đoàn thể Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn, mô hình tổ chức quản lý nhà nước về tôn giáo ở các cấp; xây dựng quy chếphối hợp phát huy sức mạnh và hiệu quả công tác
- Xây dựng và thực hiện tốt công tác quy hoạch đào tạo bồi dưỡng, sử dụng
và bảo đảm chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo
- Quan tâm thoả đáng việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ làm công tác tôn giáocác cấp Cán bộ làm công tác tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải đượcbồi dưỡng, huấn luyện để hiểu biết phong tục tập quán, tiếng nói của dân tộc nơimình công tác
Trên cơ sở những quan điểm, tư tưởng chỉ dẫn của V.I Lênin, Hồ Chí Minh
về vấn đề tôn giáo là di sản quý giá để chúng ta vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụthể của Việt Nam, góp phần thực hiện thành công chính sách tôn giáo của Đảng vàNhà nước ta trong thời kỳ đổi mới được nêu ra trong Báo cáo chính trị của BanChấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lầnthứ IX của Đảng: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhândân Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng,theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theođúng pháp luật Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bào theo tôngiáo và đồng bào không theo tôn giáo Chăm lo phát triển kinh tế, văn hoá, nângcao đời sống của đồng bào Đồng bào theo đạo và các vị chức sắc tôn giáo cónghĩa vụ làm tròn trách nhiệm công dân với Tổ quốc, sống “tốt đời, đẹp đạo”, pháthuy những giá trị tốt đẹp về văn hoá, đạo đức của tôn giáo”
2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu
2.1 Đặc điểm tình hình
2.1.1 Tình hình tôn giáo
2.1.1.1 Tình hình chung
Tỉnh Hà Tĩnh hiện có đông đồng bào theo các tôn giáo, chủ yếu là Công giáo
và Phật giáo, hiện nay có khoảng 178.778 tín đồ, chiếm trên 14% dân số toàn tỉnh(Công giáo 158.638 tín đồ, Phật giáo 20.140 phật tử và một số tín đồ Tin lànhthuộc 7 hệ phái chưa được chính quyền công nhận); có 357 cơ sở thờ tự (248 nhàthờ, nhà nguyện, tu viện; 109 chùa); có hơn 119 chức sắc (79 linh mục, 40 sư)
- Đạo Công giáo: Trên địa bàn tỉnh có 6 giáo hạt, 61 giáo xứ, 235 họ đạo, 11
cơ sở dòng (03 thuộc dòng Mến Thánh giá và 08 thuộc dòng Thừa sai Bác ái Giáophận …) Hiện nay toàn tỉnh có 79 linh mục (trong đó có 70 mục vụ, 05 hưu dưỡng
và 04 linh mục hoạt động ở Trường Dạy nghề Donbonco Kỳ …) với 157.060 giáodân, chiếm 12% dân số