1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả công tác chăm sóc trẻ sơ sinh sử dụng surfactant tại phòng sơ sinh khoa nhi - Bệnh viện Trung ương Huế

6 128 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 351,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này nhằm đánh giá suy hô hấp ở trẻ sơ sinh trước và sau bơm surfactant. Đánh giá hiệu quả của công tác chăm sóc trẻ sau khi bơm surfactant. Nghiên cứu tiến cứu và mô tả cắt ngang. Nghiên cứu 35 bệnh nhi được bác sĩ chỉ định bơm Surfactant.

Trang 1

HIỆU QUẢ CÔNG TÁC CHĂM SÓC TRẺ SƠ SINH

SỬ DỤNG SURFACTANT TẠI PHÒNG SƠ SINH KHOA NHI

- BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG HUẾ

Trần Thị Yến Linh*, Lê Thị Hảo*, Lê Thị Hằng*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá suy hô hấp ở trẻ sơ sinh trước và sau bơm surfactant Đánh giá hiệu quả của công tác

chăm sóc trẻ sau khi bơm surfactant

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu và mô tả cắt ngang Nghiên cứu 35 bệnh nhi được bác

sĩ chỉ định bơm Surfactant

Kết quả: Surfactant được dùng sớm sau khi có chỉ định có hiệu quả tốt, sớm nhất là 1 giờ sau sinh chiếm

37,14% và muộn nhất là 8 giờ sau sinh 2,86% Surfactant làm cải thiện rõ rệt các biểu hiện của suy hô hấp ở trẻ

sơ sinh như tím, chỉ số Silverman, SpO 2 ,…Chăm sóc điều dưỡng tốt giúp phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường

và rút ngắn thời gian nằm viện

Kết luận: Surfactant được dùng sớm sau khi có chỉ định có hiệu quả tốt Chăm sóc điều dưỡng tốt giúp phát

hiện sớm các dấu hiệu bất thường và rút ngắn thời gian nằm viện

Từ khóa: Trẻ sơ sinh, công tác chăm sóc, surfactant

ABSTRACT

EFFECTIVENESS OF NURSING CARE IN NEWBORN WITH SURFACTANT USE AT THE NEONATAL WARD, PEDIATRIC DEPARTMENT, HUE CENTRAL HOSPITAL

Tran Thi Yen Linh, Le Thi Hao, LeThi Hang

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 3 - 2011: 58- 63

Objectives: Assessment of respiratory failure in newborn before and after surfactant injection Assessing the

effectiveness or nursing care in newborn after surfactant injection

Subjects and study methods: Prospective and descriptive cross-sectional This study is carried out on 35

neonates with surfactant use Results: Early use of surfactant shows high effectiveness, the earliest use of

surfactant as 1 hours after birth is carried out on 37,14% of patients, the later use of surfactant as 8 hours after birth is given on 2,86% of patients Surfactant use has improved obviously the respiratory manifestations such as cyanosis, Silverman score, SpO2

Conclusions: Early use of surfactant shows high effectiveness A good nursing care helps to find out the

abnormal signs early and to shorten the hospitalization duration

Key words: Newborn, nursing care, surfactant

ĐẶT VẤN ĐỀ

Suy hô hấp là một trong những nguyên

nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ sơ sinh, trong

đó suy hô hấp do bệnh màng trong, do hít phân

su là những nguyên nhân hay gặp nhất(4)

Theo các nghiên cứu trên thế giới, bệnh màng trong chiếm tỷ lệ 1% ở trẻ sơ sinh nói chung, ở trẻ sinh non là 10%, đặc biệt ở trẻ < 30 tuần là 50% Tử vong do bệnh màng trong chiếm 1/3 tử vong sơ sinh(6)

* *Bệnh viện Trung Ương Huế

Tác giả liên lạc: CN Trần Thị Yến Linh, ĐT: 0982 756 480, Email: linhbvhue@yahoo.com.vn

Trang 2

Liệu pháp surfactant thay thế đã làm giảm tỷ

lệ tử vong ở trẻ sơ sinh non tháng nhẹ cân ở

nhiều nước trên thế giới(3)

Tại Việt Nam, đã có rất nhiều báo cáo của

các bệnh viện về việc sử dụng hiệu quả

surfactant nhưng ít có đề tài đánh giá về chăm

sóc và theo dõi trẻ Vì vậy chúng tôi tiến hành

đề tài này

Mục tiêu nghiên cứu

1 Đánh giá suy hô hấp ở trẻ sơ sinh trước và

sau bơm surfactant

2 Đánh giá hiệu quả của công tác chăm sóc

trẻ sau khi bơm surfactant

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

- Gồm 35 bệnh nhi sơ sinh nhập viện tại

phòng Nhi sơ sinh, Khoa Nhi Bệnh viện trung

ương Huế vì suy hô hấp và được chỉ định bơm

surfactant

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2009

đến 01/2010

- Tiêu chuẩn chẩn đoán và phân loại suy hô

hấp:

+ Thay đổi nhịp thở: Nhịp thở tăng > 60

lần/phút hoặc chậm < 30 lần/phút

+ Dấu hiệu phản ứng: được thể hiện qua chỉ

số Silverman:

Điểm

Tiếng thở rên Không Nghe bằng

ống nghe

Nghe bằng tai thường

Di động ngực bụng Cùng

chiều

Ngược chiều

ít

Ngược chiều rõ

+ Xanh tím ở nồng độ khí trời FiO2 = 21% ở

quanh môi, đầu chi, hoặc toàn thân do PaO2

trong máu động mạch giảm(4,1)

Phương pháp nghiên cứu

- Tiến cứu và mô tả cắt ngang

- Trong thời gian tiến hành nghiên cứu,

chúng tôi có được 35 trẻ sơ sinh suy hô hấp vào

viện được chỉ định bơm surfactant:

+ Đánh giá dịch tể học: Bệnh nhi vào viện được khai thác tiền sử (tiền sử mẹ để đánh giá tuổi thai, giờ sinh, cân nặng )

+ Đánh giá suy hô hấp trước và sau khi bơm surfactant (Tím, tần số thở, chỉ số Silverman, SpO2, )

+ Chăm sóc và theo dõi phát hiện các biến chứng ở bệnh nhi cho đến khi trẻ tự thở được (hoặc tử vong)

Quy trình chăm sóc bệnh nhi trước và sau bơm surfactant

Khi trẻ được đưa đến cơ sở y tế, đánh giá ngay các dấu hiệu nguy hiểm để đưa ra kế hoạch chăm sóc ngay:

Đặt trẻ lên một mặt phẳng ấm, có đèn sưởi (bàn hồi sức)

Hồi sức ngay bằng bóp bóng qua mặt nạ nếu trẻ:

- Ngừng thở hoàn toàn ngay cả khi có kích thích, thở ngáp hoặc nhịp thở < 20 lần/phút

- Có biểu hiện xuất huyết hoặc sốc

Đánh giá khi trẻ đã ổn định:

- Cân trẻ, đo nhiệt độ

- Màu da

- Nhịp thở, nhịp tim, dấu gắng sức,…

- Tư thế, vận động

- Các dị tật…

- Nếu đánh giá trẻ có suy hô hấp:

- Hút mũi họng

- Đặt một ống thông dạ dày

- Cho thở oxy

- Mắc monitoring theo dõi trẻ

- Phụ giúp bác sĩ bơm surfactant nếu có chỉ định

Không hút dịch nội khí quản trong vòng 6 giờ sau bơm thuốc

** Chú ý: Tư thế nghỉ ngơi giữ thân nhiệt ổn

Trang 3

định, đảm bảo thông thoáng đường thở, giữ gìn

vệ sinh, phòng tránh nhiễm khuẩn, thực hiện

đúng y lệnh, đảm bảo dinh dưỡng

* Theo dõi bệnh nhân suy hô hấp (trước và

sau khi bơm surfactant)

- Theo dõi toàn trạng, hô hấp, tuần hoàn,

thần kinh

- Theo dõi và ghi lại dấu hiệu tím, nhịp

thở, dấu gắng sức (chỉ số Silverman), cơn

ngưng thở của trẻ, SpO2, nhịp tim 1h/lần cho

đến khi trẻ không cần thở oxy và tiếp tục theo

dõi thêm 24 giờ

Theo dõi đáp ứng của trẻ với oxy và với liệu

pháp surfactant

Theo dõi các biến chứng

- Báo bác sĩ khi trẻ không cải thiện, nặng lên

hoặc tím trung tâm (biểu hiện của biến chứng)(7)

* Giáo dục phòng bệnh cho bố mẹ

Giáo dục phòng ngừa sinh non: hạn chế lao

động nặng trong 3 tháng cuối thai kỳ,…

Khi có dấu hiệu dọa sinh non: ra mè tây, vỡ

ối lúc chưa đủ tháng,… nên đến cơ sở y tế càng

sớm càng tốt để được theo dõi và dùng thuốc

giúp trưởng thành phổi nếu cần

Giải thích cho bố mẹ biết tình trạng của

bệnh

Hướng dẫn cho bố mẹ biết về triệu chứng và

các biến chứng của bệnh

Xử lý số liệu

Theo phương pháp thống kê y học

KẾT QUẢ

Đánh giá dịch tễ học

Bảng 1: Phân nhóm bệnh nhân theo giới

Số bệnh

> 0,05

Nhận xét: Tỷ lệ trẻ nam là 57,14%, trẻ nữ là

42,86% Sự khác biệt này không có ý nghĩa

thống kê (p > 0,05)

Bảng 2: Phân nhóm bệnh theo tuổi thai lúc sinh

Nhận xét: Trong 35 bệnh nhân của nhóm nghiên cứu

- Tuổi thai thấp nhất là 25 tuần

- Tuổi thai cao nhất là 39 tuần (chẩn đoán suy hô hấp do hít nước ối)

- Tuổi thai trung bình là 29,58  2,83 tuần

Bảng 3: Phân nhóm nghiên cứu theo cân nặng

Trong nhóm nghiên cứu, cân nặng trẻ thấp nhất là 900g, cao nhất là 2600g

Nhận xét: Trong 35 bệnh nhân của nhóm nghiên cứu có trọng lượng từ 1000-<1500 chiếm

tỉ lệ nhiều nhất (16 bệnh nhân có tỉ lệ là 45,71%)

Bảng 4: Phân nhóm số bệnh nhân theo giờ tuổi lúc

điều trị

Trong 35 bệnh nhân của nhóm nghiên cứu, trẻ được bơm surfactant sớm nhất là 1 giờ sau sinh (13 trường hợp, chiếm 37,14%), muộn nhất

là 8 giờ sau sinh (1 trường hợp, chiếm 2,86%) Trung bình là 2,85  2,00 giờ

Các triệu chứng lâm sàng trước và sau khi bơm surfactant

Bảng 5: Phân nhóm nghiên cứu triệu chứng tím

Triệu chứng

Trước bơm (số bệnh nhân)

Sau bơm (số

Nhận xét: Trong 35 bệnh nhân của nhóm

Trang 4

nghiên cứu, có 18 bệnh nhân biểu hiện tím trước

khi bơm surfactant, và tất cả bệnh nhân này cải

thiện triệu chứng sau khi bơm

Bảng 6: Phân nhóm nghiên cứu tần số thở

Tần số thở 53,76  16,05 50,85  8,43 > 0,05

Nhận xét: Tần số thở ở bệnh nhân sau khi

bơm surfactant có giảm so với trước khi bơm,

nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống

kê (p > 0,05)

Bảng 7: Phân nhóm nghiên cứu chỉ số Silverman

Chỉ số

Silverman 4,32  1,82 1,76  1,42 < 0,001

Nhận xét: Chỉ số Silverman ở bệnh nhân sau

khi bơm surfactant là 1,76  1,42 điểm, giảm rõ

so với chỉ số Silverman trước khi bơm surfactant

là 4,32  1,82 điểm, sự khác biệt này có ý nghĩa

thống kê với p < 0,001, chứng tỏ surfactant có

hiệu quả trong việc cải thiện triệu chứng suy hô

hấp ở trẻ sơ sinh

Bảng 8: Phân nhóm nghiên cứu độ bảo hòa oxy qua

da

SpO 2 86,71  6,49 94,85  5,00 < 0,001

Nhận xét: Độ bảo hòa oxy qua da (SpO2) ở

bệnh nhân sơ sinh suy hô hấp trước khi bơm

surfactant là 86,71  6,49, sau khi bơm có sự cải

thiện rõ rệt với sự tăng SpO2 lên 94,85  5,00 Sự

khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001

Bảng 9: Các triệu chứng bất thường phát hiện được

Trào máu qua mũi, miệng, nội khí

Biến đổi trên monitoring (giảm

Nhận xét: Trong 35 bệnh nhân của nhóm

nghiên cứu, có 14 trường hợp có biểu hiện bất

thường, chiếm tỷ lệ 40%, do chúng tôi phát hiện

trong quá trình chăm sóc Tất cả các bất thường này đều gây nên biến đổi trên monitoring, ngoài

ra chúng tôi còn phát hiện các triệu chứng khác như da nổi vân, tím, tái, xuất huyết,

Bảng 10 Chăm sóc bệnh nhân trước và sau khi sử

dụng Surfactant

Số bệnh nhân Tỷ lệ %

Tỷ lệ phát hiện biến chứng (n=14) 14 100%

BÀN LUẬN Đặc điểm dịch tễ

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy bệnh nhi sơ sinh suy hô hấp được chỉ định bơm surfactant gặp ở trẻ nam nhiều hơn trẻ nữ chiếm 57,14% so với 42,86% Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê

Trong 35 trẻ của nhóm nghiên cứu, tuổi thai thấp nhất là 25 tuần (1 trường hợp), và 1 trường hợp trẻ đủ tháng suy hô hấp do hít nước ối Chúng tôi nhận thấy những trẻ có tuổi thai thấp có tỷ lệ gặp phải biến chứng nhiều hơn Điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của các tác giả khác: tuổi thai càng lớn, tỷ lệ thành công càng cao(4)

Theo kết quả ở bảng 3.3, 2 nhóm có trọng lượng 1000g - <1500g và 1500g - < 2000g chiếm

đa số trường hợp được chỉ định bơm surfactant Điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của các tác giả trong nước và nước ngoài, vì tỷ lệ thành công của việc sử dụng thuốc ở 2 nhóm này cao,

ít xảy ra biến chứng(4)

Ở bảng 3.4 trẻ được dùng surfactant sớm

ngay khi trẻ được 1 giờ tuổi là 13 trường hợp,

chiếm 37,14%, muộn nhất là 8 giờ sau sinh, 1 trường hợp, chiếm 2,86% Surfactant thường được chỉ định càng sớm càng tốt khi trẻ có biểu hiện suy hô hấp cần phải can thiệp, tốt nhất trong vòng 8 giờ đầu Trong số 35 bệnh nhân, những trường hợp được dùng thuốc sớm là những trẻ được sinh tại Khoa Sản BVTW Huế, việc chuyển bệnh không mất nhiều thời gian Chúng tôi nhận thấy những trẻ này có cải thiện

Trang 5

tốt hơn sau khi được bơm thuốc

Nhận biết các dấu hiệu lâm sàng

Trong 35 bệnh nhân của nhóm nghiên cứu,

có 18 trẻ có biểu hiện tím trước khi bơm

surfactant, và tất cả trẻ này biến mất triệu chứng

tím sau khi được dùng thuốc Điều này cũng

phù hợp với nghiên cứu của tác giả Nguyễn

Văn Lộc, sau bơm surfactant, FiO2 giảm được rõ

rệt

Bệnh nhân có biểu hiện suy hô hấp rõ

trước khi dùng thuốc với chỉ số Silverman là

4,32  1,82 điểm, nhưng cải thiện nhanh sau

khi bơm thuốc với chỉ số Silverman giảm

xuống còn 1,76  1,42 điểm, sự khác biệt này

có ý nghĩa thống kê

Theo kết quả ở mục 3.6, tần số thở sau khi

bơm thuốc có giảm so với trước khi bơm

thuốc nhưng sự khác biệt này không có ý

nghĩa thống kê, điều này có thể do một số

bệnh nhân có cơn ngưng thở dài hoặc có biểu

hiện biến chứng khác phải thở máy nên tần số

thở của bệnh nhân là theo thông số của máy

đã được cài đặt, cố định

Độ bão hòa oxy qua da (SpO2) cũng tăng

rõ rệt sau khi bệnh nhân được dùng

surfactant, từ 86,71  6,49 lên 94,85 5,00; sự

khác biệt này có ý nghĩa thông kê, cho thấy

trẻ cải thiện tốt sau khi dùng thuốc Điều này

cũng phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn

Văn Lộc và Nguyễn Thanh Hà(4)

Lập kế hoạch chăm sóc bệnh nhân sau bơm

surfactant

Vấn đề chăm sóc bệnh nhi trước và sau khi

sử dụng surfactant góp phần quan trọng trong

việc cứu sống bệnh nhi Tất cả bệnh nhi từ khi

vào viện, chúng tôi phải đánh giá ngay các dấu

hiệu nguy hiểm, xem trẻ có suy hô hấp để lập

một kế hoạch chăm sóc ngay Thực hiện đầy đủ

y lệnh của bác sĩ, phụ giúp bác sĩ bơm surfactant

nếu có chỉ định Điều này thể hiện rất rõ qua kết

quả ở bảng 3.9, trong số 35 bệnh nhân của nhóm

nghiên cứu, có 14 trường hợp xuất hiện biến

chứng Do những bệnh nhân này luôn được

mắc monitoring theo dõi nên khi có biến đổi trên monitoring chúng tôi đều phát hiện Bên cạnh đó người điều dưỡng luôn theo dõi sát các triệu chứng để phát hiện kịp thời các biến chứng

có thể xảy ra sau khi bơm surfactant Nhờ vậy chúng tôi đã giúp bác sĩ phát hiện 3 trường hợp trẻ tím tái, 1 trẻ xuất hiện cơn ngưng thở, 2 trường hợp trẻ bị trào máu qua mũi miệng và nội khí quản Tất cả những bệnh nhi này sau một thời gian điều trị và chăm sóc, trẻ bú mẹ tốt, tăng cân và ra viện trong tình trạng sức khoẻ tốt

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 35 bệnh nhi sơ sinh nhập viện tại phòng Nhi Sơ sinh -Khoa Nhi BVTW Huế vì suy hô hấp và được chỉ định bơm surfactant, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

- 100% trẻ nhập viện có biểu hiện suy hô hấp trước khi có chỉ định bơm Surfactant

- Thời gian nhập viện khi có biểu hiện suy

hô hấp, sớm nhất là 1 giờ sau sinh chiếm 37,14%

và muộn nhất là 8 giờ sau sinh 2,86%

- Bơm Surfactant kịp thời làm cải thiện rõ rệt các biểu hiện của suy hô hấp ở trẻ sơ sinh như tím giảm, chỉ số Silverman giảm, SpO2

tăng,…Mức độ cải thiện suy hô hấp sau khi tiêm Surfactant còn tùy thuộc và thời gian từ khi sinh ra đến lúc chuyển đến đơn vị Sơ sinh

- Khoa Nhi

- Sau khi bơm Surfactant, có 40% có biến đổi các chỉ số theo dõi trên monitoring, ngoài ra còn

có các triệu chứng khác: da nổi vân 11,43%; da tím tái 8,57%; trào máu qua mũi, miệng, nội khí quản 5,71%

- Chăm sóc bệnh nhi trước và sau khi bơm surfactant theo đúng quy trình điều dưỡng giúp phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường, rút ngắn

thời gian nằm viện và có thể cứu sống bệnh nhi

KIẾN NGHỊ

1 Giáo dục cho các bà mẹ nên nhập viện

càng sớm khi có dấu hiệu dọa sinh non

2 Điều dưỡng nên có thái độ tích cực trong

việc chuyển bệnh lên tuyến trên khi có y lệnh

Trang 6

của bác sĩ để việc bơm surfactant được chỉ định

sớm nếu cần

3 Điều dưỡng thực hiện bơm Surfactant

đúng y lệnh và kịp thời sau khi có chỉ định của

Bác sĩ

4 Cần lập kế hoạch theo dõi sát bệnh nhân

sau khi bơm surfactant để phát hiện và xử trí kịp

thời một số biến chứng có thể gặp phải

TÀI LIỆU THAM KHẢO

học 2004

y học

Neonatal Care Lippincott Williams  Wilkins 323-329

II, Nhà xuất bản Đà Nẵng

Neonatology: Management, Procedures, On-call Problems, Diseases, anh Drugs Lange Medical Books/McGraw-Hill 58-60

trong điều trị viêm phổi hít phân su ở trẻ sơ sinh tại khoa hồi sức Bệnh viện Nhi đồng 2 năm 2007

of the newborn Elservier Saunders 670-683

Ngày đăng: 21/01/2020, 14:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w