Nghiên cứu với mục tiêu nhằm khảo sát tình trạng trầm cảm ở bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim. Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 3-7/2010 trên 102 bệnh nhân nhồi máu cơ tim ngày 7-16, và dùng thang đo trầm cảm PHQ – 9 và tiêu chuẩn chẩn đoán nhồi máu cơ tim của WHO.
Trang 1TRẦM CẢM SAU NHỒI MÁU CƠ TIM
Phan Thế Sang*, Trần Kim Trang*
TÓM TẮT
Mở đầu: Phát triển của y học giúp cho tỉ lệ bệnh nhân sống sót sau nhồi máu cơ tim (NMCT) ngày càng
cao Một vấn đề quan trọng nảy sinh là trầm cảm sau NMCT cũng ngày càng phổ biến
Mục tiêu: Khảo sát tình trạng trầm cảm ở bệnh nhân sau NMCT
Phương pháp: Thiết kế cắt ngang mô tả có phân tích từ tháng 3-7/2010 trên 102 bệnh nhân NMCT ngày
7-16 Dùng thang đo trầm cảm PHQ – 9 và tiêu chuẩn chẩn đoán NMCT của WHO
Kết quả: Tỉ lệ trầm cảm sau NMCT là 24,5%, nữ nhiều hơn nam Có mối liên quan giữa trầm cảm và
trình độ học vấn, tình trạng việc làm, tăng huyết áp Không có sự liên quan giữa trầm cảm và các yếu tố bệnh học của NMCT như tiền căn NMCT, loại NMCT, vị trí NMCT, phân độ Killip, tình trạng sử dụng thuốc
Kết luận: Cần lưu tâm đến trầm cảm trên bệnh nhân sau NMCT
Từ khóa: Trầm cảm, nhồi máu cơ tim
ABSTRACT
POST-MYOCARDIAL INFARCTION DEPRESSION
Phan The Sang, Tran Kim Trang * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 369 - 375
Background: Myocardial infarction (MI) survival rate is higher with medical development Depression after myocardial infarction is accordingly more common
Objective: To study depression following MI
Method: Cross – sectional survey was carried out during March – July 2010 to investigate 102 MI patients
at 7 th – 10 th day D epression scale of PHQ- 9 and WHO criteria for MI was applied
Result: The prevalence of depression following MI was 24,5%, women are more likely than men
D epression was related to educational attainment, employment and hypertension There were no relationship
between depression and the pathological factors of MI such as past history, type, site of MI, Killip classification or pharmacological treatment
Conclusion: Taking account of depression among post-myocardial infarction patients is needed
Keywords: Depression, myocardial infarction
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo dự báo của WHO, vào năm 2020, trầm
cảm sẽ là nguyên nhân gây tàn phế hàng thứ hai
sau bệnh tim mạch, trong đó có nhồi máu cơ tim
(NMCT) Khảo sát trầm cảm ở bệnh nhân sau
NMCT trong bệnh viện đã được đưa vào
khuyến cáo của Hiệp hội bác sĩ gia đình Hoa Kỳ
năm 2009(6) và thang đo PHQ-9 đã được Hội tim
Hoa Kỳ đề xuất đưa vào tầm soát trầm cảm ở bệnh nhân có bệnh động mạch vành từ năm
2008(9) Tại Việt Nam, theo chúng tôi được biết, hiện chưa có nghiên cứu nào về trầm cảm sau NMCT
Mục tiêu nghiên cứu
Khảo sát tình trạng trầm cảm ở bệnh nhân sau Nhồi máu cơ tim đang nằm viện
*BM Nội – ĐH Y Dược TP.HCM
Trang 2PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Tiền cứu, cắt ngang mô tả có phân tích
Nơi thực hiện
Khoa tim mạch BV Chợ Rẫy
Thời gian nghiên cứu
Tháng 3-7/2010
Đối tượng nghiên cứu
≥ 18 tuổi, được chẩn đoán và điều trị nội
khoa NMCT, đang ổn định, trong giai đoạn
ngày 7-16
Cở mẫu
Theo công thức N= Z21- /2 P(1-P)/d2 Tính
được n = 68,03 Cỡ mẫu là 69 người
Theo Nghiên cứu PREMIER, tỉ lệ trầm cảm
sau NMCT là 22,3%.(20)
Với P: tỷ lệ đã biết trước đó: 22,3%
z: với mức sai lầm loại I là 0,05, độ tin cậy
95% do đó Z2(1-/2) =1,96
d: sai số cho phép của p, được lấy là 0.1
(10%)
Tiêu chuẩn lọai trừ
Bệnh nhân không hợp tác
Bệnh nhân không có khả năng giao tiếp
chính xác: giảm thính lực, lú lẫn
Liệt kê và định nghĩa biến số
Các yếu tố nhân khẩu học
Tuổi: Biến định lượng nhị giá (≤ 60 và > 60
tuổi), sau đó mã hóa thành biến định tính
Giới: Biến nhị giá (Nam và nữ)
Tình trạng gia đình: Biến nhị giá (Sống một
mình và sống với người khác)
Tình trạng hôn nhân: Biến định tính, có bốn
giá trị: Độc thân, có gia đình (có chồng hoặc vợ),
ly thân – ly dị và nhóm góa
Tình trạng việc làm: Biến định tính ba giá
trị: Có việc làm, không việc làm, không khả
năng lao động
Trình độ học vấn: Biến định tính, có bốn giá trị: Mù chữ, tiểu học, phổ thông cơ sở- trung học
và cao đẳng đại học
Nơi sống: Biến nhị giá (Thành thị và nông thôn)
Nhồi máu cơ tim và các yếu tố liên quan
Nhồi máu cơ tim: Chẩn đoán theo tiêu chuẩn WHO
Loại nhồi máu cơ tim: Biến nhị giá (Có và không ST chênh lên)
Vị trí nhồi máu cơ tim: Biến định tính nhị giá (Thành trước, thành khác)
Phân độ Killip lúc nhập viện: Biến định tính gồm 4 giá trị: Killip I, II, III, IV
Sử dụng thuốc tiêu sợi huyết, ức chế β, ức chế Canxi: Biến nhị giá (Có và không)
Tăng huyết áp: Biến nhị giá (Có và không) theo JNC VII
Đái tháo đường, Tiền căn nhồi máu cơ tim, Đột quỵ: Biến nhị giá (Ccó và không)
BMI: biến định tính nhị giá (Có và không béo phì) theo tiêu chuẩn WHO cho châu Á Thái Bình Dương 2/2002
Trầm cảm và các yếu tố liên quan
Trầm cảm đánh giá bằng thang PHQ-9 Tổng
số điểm từ 0-27 ≥ 10: Có trầm cảm
Uống rượu, hút thuốc lá: biến định tính nhị giá (hiện dùng và không dùng) theo CDC
Phương pháp thu thập số liệu
Bệnh nhân được khám và xét nghiệm để xác định NMCT theo tiêu chuẩn của WHO Ngày NMCT được tính từ khi bệnh nhân có triệu chứng đầu tiên
Phỏng vấn các yếu tố gia đình xã hội, tiền căn bệnh mạn tính, thang đo PHQ-9 sau khi bệnh nhân đạt được tình trạng lâm sàng ổn định 7-16 ngày sau NMCT
Thu thập các số liệu cận lâm sàng theo hồ sơ bệnh án
Trang 3Phân tích điện tâm đồ đầu tiên lúc nhập viện
(nếu sau đó vùng NMCT lan rộng hơn thì lấy
điện tâm đồ sau)
Phương pháp phân tích số liệu
Dùng chương trình EpiData để nhập số liệu
Xử lý số liệu bằng chương trình STATA 10.0
Biến số định lượng được trình bày dưới
dạng số trung bình (+/- độ lệch chuẩn), kiểm
định sự khác biệt thống kê bằng test student (t
test)
Biến số định tính được trình bày dưới dạng
tỷ lệ phần trăm (n %), kiểm định sự khác biệt thống kê bằng chi bình phương hay Fisher test
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05
KẾT QUẢ
Khảo sát 102 bệnh nhân: nam 66 (64,7%), nữ
36 (35,3%)
Tuổi trung bình là 65,3, lớn nhất 85, nhỏ nhất là 34 tuổi 66 người (64,7%) > 60 tuổi
Có 25 (24,5%) bệnh nhân trầm cảm
0%
20%
40%
60%
80%
100%
50.00%
15.79%
50.00%
84.21%
Biểu đồ 1: Trầm cảm ở bệnh nhân NMCT theo tuổi và giới
Bảng 1: Tỉ lệ trầm cảm ở bệnh nhân NMCT
Bệnh nhân NMCT Trầm cảm N (%) Không trầm cảm N (%) Tổng p
Tình trạng hôn nhân
Có gia đình
Ly thân- ly dị
Góa Độc thân
25
18 (23,7%)
2 (40%)
5 (27,8%)
0 (0%)
77
58 (76,3%)
3 (60%)
13 (72,2%)
3 (100%)
102
76
5
18
3
0,703
Tình trạng sinh sống
Sống một mình
Với người thân
25
3 (37,5%)
22 (23,4%)
77
5 (62,5%)
72 (76,6%)
102
8
94
0,401 Trình độ học vấn
Mù chữ
Tiểu học
Phổ thông
Cao đẳng / Đại học
25
5 (50%)
14 (25,5%)
5 (15,2%)
1 (25%)
77
5 (50%)
41 (74,6%)
28 (84,8%)
3 (75%)
102
10
55
33
4
0,165
Nơi sống
Nông thôn
Thành thị
25
19 (26%)
6 (20,7%)
77
54 (74%)
23 (79,3%)
102
73
29
0,572
Tình trạng việc làm
Không việc
Không khả năng lao động
Có việc làm
25
3 (75%)
15 (30%)
7 (14,6%)
77
1 (25%)
35 (70%)
41 (85,4%)
102
4
50
48
0,012
Béo phì
Có
25
6 (27,3%)
77
16 (72,7%)
102
22 0,734
Trang 4Bệnh nhân NMCT Trầm cảm N (%) Không trầm cảm N (%) Tổng p
Tình trạng hút thuốc lá
Đang Không đang
25
9 (20,93%)
16 (27,12%)
77
34 (79,07%)
43 (72,88%)
102
43
59
1,000 Tình trạng uống rượu
Đang Không đang
25
4 (19,1%)
21 (25,9%)
77
17 (80,9%)
60 (74,1%)
102
21
81
0,514
Tăng huyết áp
Có Không
25
22 (34,9%)
3 (7,7%)
77
41 (65,1%)
36 (92,3%)
102
63
39
0,001 Đái tháo đường
Có Không
25
8 (40%)
17 (20,7%)
77
12 (60%)
65 (79,3%)
102
20
82
0,072 Tiền căn đột quỵ
Có Không
25
4 (33,3%) 21(23,3%)
77
8 (66,7%)
69 (76,7%)
102
0,482
Tiền căn NMCT
Có Không
25
3 (30%)
22 (23,9%)
77
7 (70%)
70 (76,1%)
102
10
92
0,704 Loại nhồi máu cơ tim
ST chênh lên
Không ST chênh
25
18 (22,5%)
7 (31,8%)
77
62 (77,5%)
15 (68,2%)
102
80
22
0,368
Vị trí nhồi máu cơ tim
Thành trước
Thành khác
18
12 (24,5%)
6 (19,4%)
62
37 (75,5%)
25 (80,6%)
80
49
30
0,592
Độ Killip
I
II III
IV
25 22,4%
21,1%
25%
38,5%
77 87,6%
78,9%
75%
61,5%
102
0,650
Thuốc tiêu sợi huyết
Có Không
25
2 (20%)
23 (25%)
77
8 (80%)
69 (75%)
102
10
92
1,000 Thuốc ức chế β
Có Không
25
6 (24%)
19 (24,7%)
77
19 (76%)
58 (75,3%)
102
25
77
0,946 Thuốc ức chế Canxi
Có Không
25
3 (42,9%)
22 (23,2%)
77
4 (57,1%)
73 (76,8%)
102
7
95
0,335
Tuy nhiên, những người mù chữ bị trầm
cảm nhiều hơn những người biết chữ, sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê p=0,048
BÀN LUẬN
Tỉ lệ trầm cảm trên bệnh nhân NMCT
Trong dân số chung, tỉ lệ trầm cảm khoảng
6,6%(6) Ở bệnh nhân sau NMCT, tỉ lệ trầm cảm
nhìn chung khoảng 20%(6) Nghiên cứu
PREMIER, cũng sử dụng thang đo PHQ-9, là
22,3% Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ
trầm cảm ở bệnh nhân sau NMCT là 24,51%, cao hơn một chút so với nghiên cứu PREMIER và cao hơn nhiều lần so với tỉ lệ trầm cảm trong dân số chung Điều này chứng tỏ rằng dù có những khác biệt về dân số, tình trạng kinh tế xã hội , tỉ lệ trầm cảm sau NMCT ở người Việt Nam cũng cao như ở các nước khác
Tỉ lệ trầm cảm ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim phân bố theo giới tính
Ở dân số chung, phụ nữ dể bị trầm cảm hơn nam giới Ở bệnh nhân NMCT, các nghiên cứu
Trang 5cũng cho thấy phụ nữ dễ bị trầm cảm hơn nam
giới 1,5 đến 2 lần Lý do chưa rõ, có thể liên
quan đến yếu tố sinh lý, xã hội như hormon giới
tính, mang thai, chịu stress từ gia đình và công
việc ngày càng tăng như nam giới, phụ nữ có
tuổi thọ cao hơn, và cái chết của người chồng
cũng làm tăng tỉ lệ trầm cảm ở nữ giới Một lý
do khác là phụ nữ dể nhận biết hay nhớ các
triệu chứng trầm cảm hơn nam giới
Tỉ lệ trầm cảm ở bệnh nhân nhồi máu cơ
tim phân bố theo tuổi
Theo Bùi Quang Huy(2), trầm cảm có thể
khởi phát bệnh ở bất cứ tuổi nào nhưng sau tuổi
65, tỉ lệ trầm cảm giảm dần ở cả nam và nữ
Ở bệnh nhân NMCT, cũng có nghiên cứu
cho thấy không có sự liên quan giữa độ tuổi và
nguy cơ trầm cảm
Tỉ lệ trầm cảm ở bệnh nhân nhồi máu cơ
tim phân bố theo tình trạng hôn nhân
Trong dân số chung, những người đã ly
hôn, ly thân hoặc góa bụa có tỉ lệ trầm cảm cao
hơn Ở Việt Nam, theo Nguyễn Văn Siêm, thứ tự
tăng dần ở người trầm cảm là: sống độc thân
(0,86%), ly thân (1,44%), góa bụa (10,95%)(15)
Ở những người NMCT, phần lớn các
nghiên cứu ít chú ý đến tình trạng hôn nhân
của bệnh nhân Lauzon(8) cho thấy những
người không kết hôn có tỉ lệ trầm cảm cao
hơn Mallik(12) thấy rằng nam giới kết hôn có tỉ
lệ trầm cảm cao hơn nữ giới nhưng sự khác
biệt không có ý nghĩa thống kê
Tỉ lệ trầm cảm ở bệnh nhân nhồi máu cơ
tim phân bố theo trình độ học vấn
Trong dân số chung, những người có học
vấn thấp có tỉ lệ trầm cảm cao hơn Ở bệnh
nhân NMCT, những người có trình độ văn
hóa thấp cũng có tỉ lệ trầm cảm cao hơn
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ bệnh
nhân mù chữ và tiểu học chiếm tỉ lệ khá cao
Có thể khi điều kiện kinh tế xã hội chưa phát
triển, người dân ít có điều kiện đi học hơn thế
hệ hiện tại do phần lớn các bệnh nhân trong
người mù chữ gặp khó khăn nhiều hơn trong sinh hoạt hằng ngày, trong cuộc sống, mưu sinh
Tỉ lệ trầm cảm ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim phân bố theo nơi sinh sống
Sự khác biệt giữa đời sống thành thị và nông thôn ảnh hưởng đến các rối loạn tâm thần Những người sống ở thành thị có vẻ có nguy cơ trầm cảm cao hơn như có sự suy giảm tính cộng đồng, sự tách biệt xã hội ở những thành phố, nhịp sống nhanh hơn và nhiều stress hơn Nhưng có một điều đáng ngạc nhiên là theo Bùi Quang Huy(2), Ngô Tích Linh(14), tỉ lệ trầm cảm lại gặp nhiều ở nông thôn hơn
Riêng ở những bệnh nhân sau NMCT, Akhtar(1) không thấy có sự liên quan giữa trầm cảm và nơi sống là thành thị hay nông thôn, trong khi theo Mohapata(13), trầm cảm gặp nhiều
ở nông thôn hơn thành thị nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê
Tỉ lệ trầm cảm ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim phân bố theo tình trạng việc làm
Căng thẳng trong công việc có thể là nguyên nhân trầm cảm nhưng thất nghiệp cũng là một trong những biến cố lớn trong cuộc đời Ở bệnh nhân NMCT, người thất nghiệp có tỉ lệ trầm cảm cao hơn(16)
Tỉ lệ trầm cảm ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim phân bố theo tình trạng béo phì
Trong dân số chung, một nghiên cứu gộp gồm 15 nghiên cứu gần đây đã kết luận béo phì và trầm cảm có liên hệ tương hỗ(11) Ngoài những cơ chế sinh học phức tạp, còn có những yếu tố tâm lý góp phần Ở cả châu Âu
và Hoa Kỳ, gầy được xem như thể hình lý tưởng, béo phì cũng là yếu tố làm gia tăng sự không hài lòng về bản thân, tăng sự tự ti là những yếu tố dể gây nên trầm cảm Số lượng nghiên cứu mối liên hệ giữa béo phì và trầm cảm sau NMCT chưa nhiều, kết quả không đồng nhất, kết luận chưa rõ, cần nghiên cứu thêm
Trang 6Tỉ lệ trầm cảm ở bệnh nhân nhồi máu cơ
tim phân bố theo tình trạng hút thuốc lá
Trong khi người ta tin rằng những người
trầm cảm hút thuốc lá nhiều hơn thì theo nhiều
tác giả, thuốc lá cũng là yếu tố nguy cơ gây nên
trầm cảm
Ở những bệnh nhân NMCT, phần lớn các
nghiên cứu cho thấy tỉ lệ trầm cảm ở những
bệnh nhân có hút thuốc lá không cao hơn những
bệnh nhân đã bỏ hoặc không hút thuốc lá(7,8,17,21)
Tỉ lệ trầm cảm ở bệnh nhân nhồi máu cơ
tim phân bố theo tình trạng uống rượu
Trầm cảm và nghiện rượu đã từ lâu được
biết hay đi kèm với nhau Gần 1/3 những người
trầm cảm có vấn đề với rượu, ngược lại, nhiều
nghiên cứu đã chứng minh nghiện rượu làm gia
tăng nguy cơ trầm cảm
Ở bệnh nhân NMCT, không nhiều nghiên
cứu vai trò của nghiện rượu trong trầm cảm
Tỉ lệ trầm cảm ở bệnh nhân nhồi máu cơ
tim phân bố theo tình trạng tăng huyết áp
Những người trầm cảm có tỉ lệ tăng huyết
áp cao hơn Những người tăng huyết áp cũng có
tỉ lệ trầm cảm cao hơn người không tăng huyết
áp(19) Theo WHO, tỉ lệ trầm cảm ở người tăng
huyết áp lên tới 29% Ngoài tâm lý phải uống
thuốc suốt đời, những người tăng huyết áp còn
phải đối mặt với những vấn đề khác như chi phí
điều trị, vấn đề kiểm soát huyết áp, tác dụng
phụ của thuốc điều trị tăng huyết áp cũng làm
tỉ lệ trầm cảm tăng lên
Ở bệnh nhân NMCT, một số nghiên cứu
thấy tỉ lệ trầm cảm ở bệnh nhân có tăng huyết
áp không cao hơn người NMCT không tăng
huyết áp(7,8,18)
Tỉ lệ trầm cảm ở bệnh nhân nhồi máu cơ
tim phân bố theo đái tháo đường
Trầm cảm và đái tháo đường cũng có mối
liên hệ tương hỗ Trầm cảm liên quan đến thừa
cân, giảm vận động là yếu tố nguy cơ của
bệnh đái tháo đường Ngược lại, những bệnh
nhân đái tháo đường có nguy cơ bị trầm cảm
cao hơn người không bị bệnh mãn tính Theo WHO, tỉ lệ trầm cảm ở người đái tháo đường khoảng 27% Tỉ lệ trầm cảm ở người NMCT có
và không đái tháo đường khác nhau hay không chưa được thống nhất qua các công bố
Tỉ lệ trầm cảm ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim phân bố theo tiền căn đột quỵ
Theo WHO, 30% những người đột quỵ có trầm cảm, nhưng có làm tăng tỉ lệ trầm cảm ở bệnh nhân NMCT hay không, cần phải nghiên
cứu thêm
Tỉ lệ trầm cảm ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim phân bố theo loại nhồi máu cơ tim
Ngay từ những nghiên cứu đầu tiên, người
ta đã chú ý đến tỉ lệ trầm cảm ở các loại NMCT
và ghi nhận không có sự khác biệt về tỉ lệ trầm cảm ở NMCT có và không có sóng Q, có và không ST chênh lên(12)
Hầu hết các nghiên cứu cũng đều xác định
vị trí NMCT không ảnh hưởng lên tỉ lệ trầm cảm
Có vẻ hợp lý khi nghĩ rằng những người bệnh nặng hơn thì có nhiều khả năng trầm cảm hơn Tuy nhiên, phân độ Killip phản ánh độ nặng của NMCT thì không có liên quan với trầm cảm(7,21) Do đó chúng ta không nên chỉ chú
ý tới trầm cảm ở những bệnh nhân có phân độ Killip cao, nằm viện lâu mà cần chú ý cả những bệnh nhân có phân độ Killip thấp, thời gian nằm viện ngắn Hơn nữa những bệnh nhân có phân
độ Killip thấp, tiên lượng sống cao hơn, cần theo dõi sau khi xuất viện để điều trị bệnh nhân một cách toàn diện hơn, giúp cải thiện tiên lượng và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân
Tỉ lệ trầm cảm ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim liên quan đến thuốc sử dụng
Đã có nhiều nghiên cứu về thuốc ức chế β và trầm cảm, nhưng kết quả trái ngược nhau Một
số nghiên cứu lớn sau này cho thấy không khác nhau có ý nghĩa về trầm cảm ở người có và không sử dụng ức chế β(3,22) Do đó cần đặt lại vấn đề thuốc ức chế β có thật sự gây nên trầm
Trang 7cảm hay không để tận dụng một loại thuốc quý
cho người bệnh NMCT
Đã có vài báo cáo thuốc ức chế Canxi có thể
gây trầm cảm, làm gia tăng tỉ lệ tự tử(10) Tuy
nhiên, những dữ liệu về thuốc ức chế Canxi và
trầm cảm còn ít
KẾT LUẬN
Tất cả bệnh nhân NMCT cần được khám và
phát hiện sớm rối loạn trầm cảm bằng thang đo
PHQ-9, nhất là những bệnh nhân nữ, không có
việc làm, mù chữ, tăng huyết áp Từ đó, việc
điều trị bệnh nhân được toàn diện hơn, giúp
nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Akhtar MS, Malik SB, Ahmed MM (2004) "Symptoms of
depression and anxiety in post-myocardial infarction patients" J
Coll Physicians Surg Pak 14:(10) 615-618
2 Bùi Quang Huy (2008) Trầm cảm Trong: Bùi Quang Huy
Trầm cảm Nhà xuất bản Y học TPHCM tr 12
3 Bright RA, Everitt DE (1992) "Beta-blockers and depression
Evidence against an association" JAMA 267:(13) 1783-1787
4 Đặng Hoàng Hải (2008) Trầm cảm ở người trưởng thành tại
Thành phố Hồ Chí Minh, tỉ lệ mắc và hiệu quả của giáo dục trong
điều trị Luận án tiến sĩ y học tr 66
5 Freedland KE, Carney RM, Skala JA (2005) "Depression and
smoking in coronary heart disease" Psychosom Med 67 Suppl
1S42-46
6 Green LA DW, Nease DE Jr, et al.(2009) "AAFP guideline for the
detection and management of post-myocardial infarction
depression" Ann Fam Med 7:(1) 71-79
7 Lane D, Carroll D, Ring C, et al.(2002) "In-hospital symptoms of
depression do not predict mortality 3 years after MI" Int J
Epidemiol 31:(6) 1179-1182
8 Lauzon C, Beck CA, Huynh T, et al (2003) "Depression and
prognosis following hospital admission because of acute
myocardial infarction" CMAJ 168:(5) 547-552
9 Lichtman JH, Bigger JT, Jr., et al (2008) "Depression and CHD: recommendations endorsed by the APA" Circulation 118:(17) 1768-1775
10 Lindberg G, Bingefors K, et al.(1998) "Use of calcium channel blockers & risk of suicide: ecological findings confirmed in population based cohort study" BMJ 316:(7133) 741-745
11 Luppino FS, de Wit LM, Bouvy PF, et al (2010) "Overweight, obesity, and depression: a systematic review and meta-analysis
of longitudinal studies" Arch Gen Psychiatry 67:(3) 220-229
12 Mallik S, Spertus JA, Reid KJ, et al (2006) "Depressive symptoms after AMI: evidence for highest rates in younger women" Arch Intern Med 166:(8) 876-883
13 Mohapatra P, Kar N, et al.(2005) "Effectiveness of sertraline in treatment of depression in a consecutive sample of patients with AMI: 6 month prospective study on outcome" Clinical Practice
& Epidemiology in Mental Health 1:(1) 26
14 Ngô Tích Linh (2005) Rối loạn trầm cảm nặng Trong: Tâm thần học Nhà xuất bản Y học TPHCM tr 116-119
15 Nguyễn Văn Siêm (2010) Nghiên cứu dịch tễ lâm sàng rối loạn trầm cảm tại một xã đồng bằng sông Hồng Y học thực hành 717 (5): tr 71-74
16 Parashar S, Rumsfeld JS, Spertus JA, et al (2006) "Time course of depression and outcome of myocardial infarction" Arch Intern Med 166:(18) 2035-2043
17 Reza BHS, Hadi BE (2007) "Demographic and medical predictors of the onset of post-MI depression" Arya atherosclerosis journal 3:(2) 104-109
18 Romanelli J, Fauerbach JA, Bush DE, Ziegelstein RC (2002) "The significance of depression in older patients after MI" J Am Geriatr Soc 50:(5) 817-822
19 Scalco AZ, Scalco MZ, Azul JB, Lotufo Neto F (2005)
"Hypertension and depression" Clinics (Sao Paulo) 60:(3)
241-250
20 Spertus JA, (2006) The Prospective Registry Evaluating MI: Events and Recovery (PREMIER) Am Heart J ;151(3):589-97
21 Van Melle JP, de Jonge P, Kuyper AM, et al (2006) "Prediction of depressive disorder following myocardial infarction data from the Myocardial Infarction and Depression-Intervention Trial (MIND-IT)" Int J Cardiol 109:(1) 88-94
22 Van Melle JP, Verbeek DE, et al (2006) "Beta-blockers and depression after MI: a multicenter prospective study" J Am Coll Cardiol 48:(11) 2209-2214