1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Trầm cảm sau sinh và các yếu tố ảnh hưởng trên những phụ nữ đến sinh tại Bệnh viện Đại học Y dược TP.HCM

7 270 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 267,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trầm cảm sau sinh (TCSS) là 1 nhóm không đồng nhất những rối lọan ức chế tâm lý không đặc hiệu, có thể đưa đến những ảnh hưởng nặng nề trên cả bà mẹ, gia đình và tương lai đứa trẻ. Xuất hiện từ 6-8 tuần sau sinh, TCSS có thể kéo dài đến tháng thứ 14 sau sinh nếu không được chẩn đóan và điều trị. Dù vậy, tình trạng này vẫn chưa được quan tâm đúng mức ở nước ta.Bài viết tiến hành 1 nghiên cứu mô tả và phân tích về tình hình TCSS của các phụ nữ đến sinh tại BV ĐH Y Dược TP HCM. Mời các bạn tham khảo!

Trang 1

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

TRẦM CẢM SAU SINH & CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

TRÊN NHỮNG PHỤ NỮ ĐẾN SINH TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HCM

Huỳnh Thị Duy Hương*, Phạm Diệp Thuỳ Dương*, PhạmThanh Hường*

TÓM TẮT

Trầm cảm sau sinh (TCSS) là 1 nhóm không đồng nhất những rối lọan ức chế tâm lý không đặc hiệu, có thể đưa đến những ảnh hưởng nặng nề trên cả bà mẹ, gia đình và tương lai đứa trẻ Xuất hiện từ 6-8 tuần sau sinh, TCSS có thể kéo dài đến tháng thứ 14 sau sinh nếu không được chẩn đóan và điều trị Dù vậy, tình trạng này vẫn chưa được quan tâm đúng mức ở nước ta Chúng tôi tiến hành 1 nghiên cứu mô tả và phân tích về tình hình TCSS của các phụ nữ đến sinh tại BV ĐH Y Dược TP HCM Chúng tôi thu nhận 288 phụ nữ đưa con đến khám vào 8 tuần sau sinh tại phòng khám Nhi từ 01/8 đến 30/10/03 và sử dụng thang điểm Edinburgh để tầm sóat tình trạng TCSS Kết quả cho thấy tỉ lệ TCSS khá cao 25,34% (EPDS > 12) với chỉ số EPDS trung bình là 9,55 ± 4,45; những yếu tố bảo vệ bà mẹ khỏi nguy cơ trầm cảm là: con khóc đêm < 10 lần (OR = 0,18), thai kỳ mong đđợi (OR= 0,27) và đã có con trai trước đó (OR= 0,49); trong khi những yếu tố nguy cơ của trầm cảm sau sinh là: thai kỳ không mong đợi (OR= 5,08), trình đđộ học vấn chồng thấp < cấp 3 (OR= 3,02), chưa có con trai trước đo ù(OR=2,6), nghề nghiệp bản thân không ổn định (OR=2,44), sinh con so (OR=1,74) Tỉ lệ khá cao này cho thấy đây thật sự là 1 vấn đề đáng báo động cho tòan xã hội, cần thiết xây dựng một chiến lược tòan diện nhằm dự phòng, phát hiện sớm và điều trị kịp thời TCSS cũng như theo dõi về lâu dài cho cả mẹ và con, bao gồm các chương trình chăm sóc tiền sản nhằm thông tin và giáo dục cho thai phụ và người phối ngẫu, cả các chương trình thông tin, giáo dục, đặc biệt chú trọng đến các nhóm nguy cơ

SUMMARY

POSTNATAL DEPRESSION & FACTORS INFLUENCING ON WOMEN DELIVERED AT HOSPITAL OF THE MEDICAL-PHARMACEUTICAL UNIVERSITY OF HCM CITY

Huynh Thi Duy Huong, Pham Diep Thuy Duong, PhamThanh Huong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 9 * Supplement of No 1 * 2005: 65 - 71

Postnatal depression (PND), 1 nonhomogenous group of nonspecific depressive mental disorders, can lead to serious results for mothers, family and children’s future life Appearing usually within 6-8 weeks after labor, PND can last to 14 months if it isn’t diagnosed and treated properly This problem has not been adequately considered in VietNam We conducted a descriptive and analysed cross-sectional study on postnatal depression for women delivered at Hospital of the Medical-Pharmaceutical University

of HCM city 288 women who had carried babies for consultation at 8 weeks after delivery during the period of August 01 to October 31 were including in the study and we used Edinburgh’ scale to screen the depression status The rate of PND was 25,34% (EPDS > 12) and the mean EPDS score was 9,55 ± 4,45; The protective factors for PND were: Baby’s night crying < 10 times (OR= 0,18), attended pregnancy (OR=0,27) and having a son previously (OR= 0,49); The risk factors for PND were: unattended pregnancy (OR=5,08), husband’s education level < third grade (OR=3,02), non having son previously (OR=2,6), unpermanent job (OR=2,44), primipare (OR=1,74) The high rate showes that PND is alarm

* Bộ Môn Nhi, Đại Học Y Dược - TP.HCM

Trang 2

including the prenatal taking care programs, especially for the high risk women population

ĐẶT VẤN ĐỀ

Có thai và có con luôn luôn là một bước đột biến

lớn trong đời người phụ nữ, đòi hỏi họ phải có khả

năng thích nghi, tổ chức lại về tâm lý bản thân và

mối liên hệ với gia đình và xã hội Do đó, các rối loạn

cảm xúc và tâm thần trong giai đoạn này tương đối

thường gặp

Trầm cảm sau sinh (TCSS) là 1 nhóm không

đồng nhất những rối lọan ức chế tâm lý không đặc

hiệu, xuất hiện từ 6-8 tuần sau sinh, kéo dài có thể

đến tháng thứ 14 sau sinh nếu không được chẩn

đóan và điều trị TCSS biểu hiện bằng tính khí bất ổn,

thường xấu đi vào buổi chiều, đặc trưng bởi sự chán

nản, cảm giác bất lực và lo âu về khả năng chăm sóc

con của mình; các bà mẹ thường lo lắng, kích thích

và hay than phiền đau đầu, đau bụng, khó tiêu, ớn

lạnh tự trách bản thân và đôi khi muốn tự tử TCSS

có thể gặp ở mọi phụ nữ (70% người bị TCSS không

có tiền căn bệnh lý tâm thần nào)(10) Phát hiện sớm

TCSS mang đến một lợi ích to lớn vì :

- Tần suất cao : 12% (theo O’Hara 1984)(9); 7%

(Gotlib 1989)(4); 40,8% (BV Hùng Vương 2000)(7);

32,8% (theo NC của Nguyễn Thị Như Ngọc ở BV

Hùng Vương và Trung tâm bảo vệ bà mẹ và trẻ em

2003)(8);

- Gây suy sụp tinh thần kéo dài ở người mẹ, đôi

khi dẫn đến hành vi tự tử;

- Có thể dẫn đến tan vỡ hạnh phúc gia đình ;

- Có hậu quả trên sự phát triển lâu dài của trẻ:

khó gần gũi, khó khăn trong các mối quan hệ với

người xung quanh, rối lọan tâm thần-tình cảm, có

thể dẫn đến rối lọan mối quan hệ mẹ-con

Tuy nhiên, trên thế giới, TCSS vẫn chưa được

quan tâm đúng mức, nhiều người còn lạ lẫm hay

chưa rõ khái niệm này, ngay cả BS Sản khoa, Nhi

khoa và các bà mẹ phải chịu đựng tình trạng trầm

cảm hết sức nguy hiểm này

Chúng tôi sử dụng thang điểm Trầm cảm sau

sinh theo Edinburg (Edinburg Postnatal Depression Scale – EPDS) để phát hiện TCSS EPDS là 1 bộ câu hỏi gồm có 10 câu, mỗi câu được cho điểm từ 0-3; cho phép sử dụng như 1 dụng cụ sàng lọc đã được chuẩn hóa, đơn giản, ít tốn kém và dễ chấp nhận; có độ nhạy 100%, độ chuyên 95,5% EPDS cho phép phát hiện TCSS tốt hơn và nhạy hơn đánh giá lâm sàng Chỉ số EPDS >12 cho phép chẩn đóan TCSS(2,5,6)

Mục tiêu chung

Xác định tình hình TCSS của các phụ nữ đến sinh tại khoa Phụ Sản BV Đại học Y Dược

Mục tiêu chuyên biệt

1.Xác định tỷ lệ TCSS của các phụ nữ đến sinh tại khoa Phụ sản BV ĐHYD

2.Xác định chỉ số EPDS trung bình của các phụ nữ đến sinh tại BV ĐHYD

3.Xác định các yếu tố tương quan mạnh đến tình trạng TCSS của các phụ nữ ở nhóm NC

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang mô tả và phân tích;

Công thức tính cở mẫu:

Z2 (1-α/2) p (1-p)

n = -

d2

Với p = 0, 32 ; α = 0,05 (với độ tin cậy 95% do đó Z(1-α/2) = 1,96)

d = 0,06

Ỵ n = 233 Địa điểm nghiên cứu: khoa Phụ Sản - BV Đại học

Y Dược TP HCM;

Đối tượng nghiên cứu: các bà mẹ đưa con đến khám lúc trẻ được 2 tháng tuổi tại phòng khám Nhi

Trang 3

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

Thời gian nghiên cứu: từ 1/8/2003 đến 30/ 10/

2003

Tất cả các bà mẹ đưa con đến khám định kỳ và

chủng ngừa trong thời gian này, nếu trẻ trẻ được 2

tháng (± 2 ngày) tuổi và nếu bà mẹ đồng ý tham gia

nghiên cứu sẽ được nhận vào lô nghiên cứu Các bà

mẹ sẽ tự trả lời bảng điều tra dịch tễ học và bộ câu

hỏi tính điểm EPDS Dữ kiện thu được sẽ được nhập

và phân tích bằng phần mềm STATA 8.0 để tính tỉ

lệ%, phân tích hồi quy đơn biến, đa biến tìm tỉ số số

chênh (OR), khoảng tin cậy (KTC) 95%

KẾT QUẢ

Chúng tôi đã thu nhận được 288 bà mẹ hoàn

thành đủ chi tiết các bảng điều tra

Bảng 1 Đặc điểm dịch tễ học

Trình độ học vấn

Nghề nghiệp

Trình độ học vấn của chồng

Nghề nghiệp chồng

Quốc tịch chồng

* Nhận xét:

Độ tuổi trung bình của các bà mẹ trong lô nghiên

cứu là 29,37 ± 4,33, thấp nhất 22 tuổi, cao nhất 43

Trình độ học vấn của lô nghiên cứu khá cao, 82,

7% các bà mẹ học từ cấp 3 trở lên, với 48,3% có trình độ đại học; so với các tỉ lệ tương ứng là 89,2% và 59,2% ở người chồng

52,1% các chị là CB-CNV (tỉ lệ này ở chồng là 67,7%)

95, 9% người chồng có quốc tịch Việt nam

Bảng 2 Tiền căn sản khoa và đặc điểm thai kỳ này:

Số lần sinh

Số con

Có vấn đề sức khoẻ khi mang thai

12 4,17

Sản giật- Tiền sản giật 3 1,04

Khi mang thai

Giới tính

* Nhận xét:

- Tiền căn sản khoa:

Về số lần sinh, 57,3% các bà mẹ sinh con lần đầu, 33,7% là đã sinh con 1 lần

78,3% có 1 con trong số 120 người đã có con

Có 25,6% bà mẹ đã có con trai so với 20,8% bà mẹ đã có con gái

- Lần có thai này:

88,9% các bà mẹ rất vui khi có thai lần này, 7,3%

là vui khi biết có thai nhưng có khó khăn do chưa chuẩn bị sẵn sàng hay do vấn đề về kinh tế, chỉ có 3,8% có thai mà không mong đợi

Có 4,17% bà mẹ có vấn đề về sức khoẻ khi mang thai, trong đó 2,45% là vấn đề tâm thần đã được chẩn đoán và điều trị

44,1% trẻ sinh ra là trai so với 55,9% là gái

Trang 4

Tầng sinh môn 67 36,0

Đau sau sinh

Bé khóc đêm

Tăng cân của bé

trong 2 tháng ≥ 1500g 247 86,8

* Nhận xét:

- Về sức khỏe của người mẹ:

Tất cả các bà mẹ đều bị đau sau sinh, trong đó

36% đau ở vết may tầng sinh môn, 53,8% đau vết mổ

và 10,2% đau khi cho con bú Có 24,7% chị bị mất

ngủ sau khi sinh

- Về sức khỏe của bé:

23,3% trẻ có khóc đêm với 13,4% khóc ≥10 lần

86,8% trẻ tăng ≥1500g so với 3,1% tăng < 1000g

trong 2 tháng đầu đời 84% trẻ trẻ có bú mẹ với 24,4%

bú mẹ hòan tòan

Bảng 4 Hòan cảnh gia đình

Tình trạng

hôn nhân

Kinh tế

Chăm sóc

bản thân Có người giúp 41 14,2

Chăm sóc

béban đêm Có người giúp 29 10,1

Tââm sự

khi cần Có người để tâm sự 261 90,6

* Nhận xét:

99% chị đang chung sống với chồng, chỉ có 0,3% ly

thân và 0,7% ly dị

89,5% gia đình có kinh tế đủ sống và 9,4% là dư giả

85,8% chị tự chăm sóc bản thân so với 14,2% có người

giúp đỡ

90,6% may mắn có người để tâm sự khi cần

Bảng 5 Hòan cảnh gia đình trước khi cóù chồng

Tiền căn bệnh lý tâm thần 3 1,00

* Nhận xét:

Khi chưa có chồng, có 4,5% chị có mâu thuẫn trong gia đình và có 1% bị cha mẹ bỏ rơi trong thời niên thiếu

Chỉ có 3 người (1%) có tiền căn bệnh lý tâm thần (lo âu, trầm cảm hoặc rối lọan tâm thần)

Bảng 6 Tỉ lệ trầm cảm theo thang điểm Edinburgh

* Nhận xét: Chỉ số EPDS trung bình là 9,55 ± 4,45 với tỉ lệ TCSS là 25,34% (EPDS >12)

Bảng 7 Các yếu tố liên quan đến tình trạng trầm

cảm (phân tích đơn biến)

Yếu tố OR KTC 95% p

Tuổi chồng <30 0,85 0,50-1,44 0,5348 Học vấn vợ < cấp III 1,66 0,85-3,24 0,1266 Học vấn chồng < cấp III 2,74 1,25-5,93 0,0076 Quốc tịch chồng Việt Nam 1,02 0,28-4,78 1,0000

Lo âu khi có thai 3,01 0,51-17,9 0,1729 Trầm cảm khi có thai Không xác

định

0,16-không xác định

0,2545 Rối loạn tâm thần khi có

thai

Không xác định

0,16-không xác định

0,2545 Giới tính con lần sinh này 0,85 0,49-1,46 0,5556

Bé khóc đêm < 10 lần so với ≥ 10 lần

0,18 0,03-0,81 0,0223

Trẻ bú mẹ hòan tòan 0,58 0,26-1,2 0,1473 Nghề nghiệp bản thân

không ổn đđịnh

1,39 0,81-2,39 0,2248

Trang 5

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

Yếu tố OR KTC 95% p

Nghề nghiệp chồng không

ổn đđịnh

0,97 0,55-1,72 0,9017

Đã có con trai trước đó 0,49 0,24-0,95 0,0365

Thai kỳ không mong đợi 0,27 0,07-0,94 0,033

Kinh tế gia đình đủ và dư 0,64 0,21-1,69 0,3867

Phải tự chăm sóc bản thân 1,24 0,57-2,89 0,5899

Chăm sóc bé một mình

ban đêm

1,07 0,45-2,82 0,8747 Có người để tâm sự 0,65 0,28-1,59 0,3171

Phân tích đơn biến cho thấy:

Con khóc đêm < 10 lần, đã có con trai trứ ơc

đđó, thai kỳ được mong đđợi là những yếu tố bảo vệ

bà mẹ khỏi nguy cơ trầm cảm

Học vấn chồng < cấp 3, sinh con so là những

yếu tố nguy cơ trầm cảm sau sinh

Bảng 8 Các yếu tố liên quan đến tình trạng trầm

cảm (phân tích đa biến)

Học vấn chồng < cấp 3 3,02 0,019

Nghề nghiệp bản thân không ổn định 2,441 0,022

Chưa có con trai trước đó 2,599 0,018

Thai kỳ không mong đợi 5,084 0,018

Phân tích đđa biến cho thấy các yếu tố:

Trình độ học vấn chồng < cấp 3, nghề nghiệp

bản thân không ổn định, chưa có con trai trước đó,

thai kỳ không mong đợi là những yếu tố nguy cơ của

TCSS

BÀN LUẬN

Độ tuổi trung bình của các bà mẹ trong lô nghiên

cứu là 29,37, là tuổi khá trưởng thành để sinh con;

57,3% sinh lần đầu cho thấy các bà mẹ ở đây sinh con

khá trễ; các số liệu này phù hợp với nghiên cứu trước

đây của các tác giả NTN Ngọc, LTH Anh, HTTrong tại

BV Hùng Vương TTBV BM và TE (28,27 và 52,37%)(8)

Trình độ học vấn của các bà mẹ trong lô nghiên cứu

và của người chồng đều khá cao, đại đa số từ cấp 3 trở

lên, với khỏang ½ có trình độ đại học và là CB-CNV,

có việc làm ổn định Như vậy, đây là một dân số có

học thức và có đời sống khá ổn định 78,3% có 1 con trong số 120 người đã có con cho thấy khuynh hướng sinh ít con trong lô nghiên cứu BV ĐH Y Dược là BV bán công, các sản phụ đến sinh tại đây là đã tự chọn lựa lọai hình dịch vụ và uy tín của bệnh viện, nên dân số nghiên cứu cũng phần nào đại diện cho tầng lớp từ khá trở lên trong xã hội Việt Nam hiện nay Đại đa số các bà mẹ rất vui khi có thai lần này, đây là một điều kiện tâm ly ùthật sự cần thiết cho cả bà mẹ tương lai và đứa con của mình Có 25,6% bà mẹ đã có con trai

so với 20,8% bà mẹ đã có con gái; cũng như 44,1% trẻ sinh ra lần này là trai so với 55,9% là gái phù hợp với

tỉ lệ nam – nữ trong cộng đồng

Tỉ lệ TCSS là 25,34% (EPDS > 12) với chỉ số

EPDS trung bình là 9,55 ± 4,45 Tỉ lệ này cao hơn tỉ

lệ tìm thấy của các tác giả Aâu Mỹ:10% của C Neill Epperson (1999)(6),12% (theo O’Hara 1984)(9); 7% (Gotlib 1989)(4) có lẽ do hòan cảnh gia đình, xã hộïi cũng như các yếu tố tâm lý đặc thù của dân tộc: ởÛ các nước phát triển, nam-nữ là bình quyền cho phép người phụ nữ được đề cao và được trân trọng trong xã hội cũng như trong gia đình, các chế độ an sinh xã hội cho phép bảo vệ người phụ nữ tối đa sau sinh, người chồng có ý thức cao giúp đỡ và chia xẻ với vợ

trong việc chăm sóc con và gia đình Tỉ lệ này thấp

hơn so với tỉ lệ 32,81% tìm thấy trong NC của NTN Ngọc và cộng sự tại BV HV và TT BV BMTE có ý nghĩa thống kê Điều này có thể do đặc điểm của lô nghiên cứu của chúng tôi la øcác bà mẹ được nhận vào lúc 8 tuần sau sinh trong khi ở nghiên cứu của các tác giả trên là 6 tuần sau sinh; mặt khác các bà mẹ trong lô nghiên cứu của chúng tôi có học thức cao và có đời sống khá thuận lợi như đã nêu trên

Nghề nghiệp của bản thân bà mẹ không ổn định là 1 yếu tố nguy cơ của TCSS trong nhóm NC Quả thật, nghề nghiệp không ổn định làm cho cuộc sống bấp bênh hơn, sống phụ thuộc về kinh tế, cộng thêm gánh nặng của con mới sinh cả về vật chất, tinh thần lẫn thời gian là chắc chắn luôn làmột mối âu lo đeo đẳng

Học vấn chồng thấp < cấp 3 là yếu tố nguy cơ cao trong dân số NC Phải chăng học vấn thấp phần nào là rào cản để người chồng có thể thông cảm và

Trang 6

lẽ người chồng có học vấn thấp có thể bị ảnh hưởng

nhiều hơn bởi các truyền thống phong kiến trọng

nam khinh nữ

Trong lô NC, chúng tôi tìm thấy cả trong phân

tích đơn biến đã có con trai trước đó là yếu tố bảo vệ

và trong phân tích đa biến chưa có con trai trước đó là

yếu tố nguy cơ Trong một đất nước châu Á như VN,

tư tưởng trọng nam khinh nữ thật sự vẫn còn thống

lĩnh, đôi khi gặp cả ở những gia đình trí thức Sinh

con trai để “nối dõi tông đường” cho gia đình chồng

thật sự vẫn còn là 1 trách nhiệm quan trọng của

người phụ nữ Qua lô NC, tuy chúng tôi không tìm

thấy mối liên hệ giữa giới tính con lần sinh này với

tình trạng TCSS, có lẽ đã có con trai trong các lần

sinh trước đó cho phép ngừơi phụ nữ trút bỏ gánh

nặng trách nhiệm đối với gia đình chồng, có 1 tâm

trạng nhẹ nhàng thỏai mái trong suốt thai kỳ lần này

và sau sinh

Thai kỳ không mong đợi cũng được tìm thấy như

là yếu tố nguy cơ của TCSS, như trong các NC trước

đó Có thai không mong muốn, không sẵn sàng về

tinh thần, thể chất hay kinh tế đều thật sự nguy hiểm

cho cả bà mẹ lẫn đứa con tương lai của mình

Sinh con so cũng là yếu tố nguy cơ Người phụ nữ

sinh con so thật sự luôn cảm thấy lúng túng trong

việc chăm sóc con và bản thân mình Thiếu kinh

nghiệm, người mẹ trẻ luôn phải tìm học ở mọi người,

từ mẹ ruột, mẹ chồng, bạn bè và không phải mọi ý

kiến luôn đúng đắn và thống nhất Sách vở, nhân

viên y tế có thể là nguồn cung cấp thông tin tin cậy

nhưng không luôn có sẵn và những tập tục, thói quen

xưa cũ thường rất gần gũi!

Khóc đêm ít hơn 10 lần trong 2 tháng đầu cũng

được tìm thấy là yếu tố bảo vệ so với khóc hơn 10 lần

Thật vậy, trẻ khóc đêm làm xáo trộn đời sống cả gia

đình, người mẹ không thể nghỉ ngơi sau cả ngày bận

bịu chăm con, người cha không thể ngủ sau công

việc, và đôi khi ảnh hưởng đến cả đại gia đình (như

trong cuộc sống kiểu đại gia đình ở nước ta hiện nay)!

Bà mẹ thường cảm thấy mình khổ sở, bất lực, không

nuôi con! Bà mẹ cần phải biết rằng trẻ khóc không phải do cha mẹ dở, nhưng đôi khi mẹ quá lo lắng căng thẳng sẽ làm bé khóc nhiều hơn, tạo 1 vòng lẩn quẩn(3)

Từ lô NC, chúng tôi chưa tìm thấy mối liên hệ giữ TCSS với các yếu tố như: mẹ không được nghỉ ngơi đầy đủ, các vấn đề tâm thần trong thời niên thiếu và trong thai kỳ lần này, không có người tâm sự khi cần(1) do mẫu chưa đủ lớn, cần NC thêm

KẾT LUẬN

Nghiên cứu về tình hình TCSS vào 8 tuần sau sinh của các phụ nữ đến sinh tại BV ĐH Y Dược TP HCM cho thấy:

1 Tỉ lệ TCSS khá cao 25,34% (EPDS > 12);

2 Chỉ số EPDS trung bình là 9,55 ± 4,45;

3 Các yếu tố tương quan mạnh đến TCSS là:

• Yếu tố bảo vệ: con khóc đêm < 10 lần, đã có con trai trước đđó, thai kỳ mong đợi

• Yếu tố nguy cơ: trình đđộ học vấn chồng

< cấp 3, nghề nghiệp bản thân không ổn định, chưa có con trai trước đó, thai kỳ không mong đợi, sinh

con so KIẾN NGHỊ

TCSS chiếm tỉ lệ khá cao và có thể đưa đến hậu quả nặng nề cho bản thân người phụ nữ, gia đình họ và đứa trẻ mới ra đời Do đó, đây thật sự là 1 vấn đề đáng báo động cho tất cả chúng ta, cần được quan tâm bởi tòan xã hội, đặc biệt là nghành y tế và gia đình Chúng tôi đề nghị xây dựng một chiến lược tòan diện nhằm dự phòng, phát hiện sớm và điều trị kịp thời TCSS cũng như theo dõi về lâu dài cho cả mẹ và con Chiến lược này cần bao gồm các chương trình chăm sóc tiền sản nhằm thông tin và giáo dục cho thai phụ và người phối ngẫu, cả các chương trình thông tin, giáo dục (sách, báo, tờ bướm ), đặc biệt chú trọng đến các nhóm nguy cơ Các đối tượng có nguy cơ cần được quan tâm đặc biệt, cần giới thiệu đến các phòng khám tâm lý để được chẩn đóan sớm,

Trang 7

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

5 Grace G Evins G., Theofrastous JP., Galvin SL 2003

Postpartum depression: A comparison of screening and routine clinical evaluation American Journal of

Obstetrics and Gynecology.182 N 5 May 2000

điều trị kịp thời và theo dõi sát sao cả mẹ lẫn con

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Cox JL, Holden JM, Sagovsky R 1987 Detection of

postnatal depression: Development of the 10-item

Edinburgh postnatal depression scale Br J Psychiatry

1987; 150: 782-6

6 Neill E C.(1999) Postpartum Major Depression: Detection and Treatment merican Academy of Family Physicians 59 (N º 8) April 15.1999

7 Nguyễn Thị Như Ngọc và CS 2000 Tỉ lệ trầm cảm sau sanh ở phụ nữ đến sanh tại BV Hùng Vương BV Hùng Vương- Hội nghị tổng kết KHKT 2000-2001

2 Fergerson SS, Jamieson DJ, Lindsay M.2002

Diagnosing postpartum depression: Can we do better?

American Journal of Obstetrics and Gynecology 186

N 5 May 2002 8 Nguyễn Thị Như Ngọc và CS Tỉ lệ trầm cảm sau sinh ở phụ nữ TP HCM

3 Fracp HH, Fracp MV 2001 Infant sleep problems and

postnatal depression: A community-based study

American Academy of Pediatrics 107 N 6 Jan 2001

9 O’Hara MW (1991) Postpartum mental disorders Sciarra JJ, ed Gynecology and obstetrics Vol 6 Philadelphia: Harper and Row, 1991:1-17

4 Gotlib I and al (1991) Prospective investigation of

postpartum depression: factors involved in onset and

recovery J Abnorm Psychol 1991; 100: 122-32

10 Teissèdre F., Chabrol H.(2004) La dépression postnatale Can J Psychiatry 2004; 49: 51-54

Ngày đăng: 23/01/2020, 06:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm