1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Trầm cảm ở bà mẹ có con sinh non đang nằm viện tại khoa sơ sinh - Bệnh viện Nhi Đồng 1

6 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 401,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định mức độ và tỷ lệ trầm cảm dựa trên thang lượng giá EPDS và các yếu tố có thể liên quan đến trầm cảm của bà mẹ. Nghiên cứu tiến hành trên các bà mẹ có con sinh non đang điều trị tại khoa sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng I được chọn vào nhóm nghiên cứu từ tháng 12/2010 đến tháng 5/2011, đồng ý tham gia hợp tác.

Trang 1

TRẦM CẢM Ở BÀ MẸ CÓ CON SINH NON ĐANG NẰM VIỆN

TẠI KHOA SƠ SINH – BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG I

Phạm Ngọc Thanh*, Isabelle Santarelli*, Phạm Thị Yến Trinh*, Dương Tố Trân*

TÓM TẮT

Các bà mẹ có con nhập viện tại khoa Sơ sinh – bệnh viện Nhi Đồng I được giả thiết là bị đau khổ nặng

Mục tiêu: Xác định mức độ và tỷ lệ trầm cảm dựa trên thang lượng giá EPDS và các yếu tố có thể liên

quan đến trầm cảm của bà mẹ

Phương pháp: Nghiên cứu tiền cứu mô tả hàng loạt, nghiên cứu định lượng kết hợp với định tính, các bà

mẹ có con sinh non đang điều trị tại khoa Sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng I được chọn vào nhóm nghiên cứu từ tháng 12/2010 đến tháng 5/2011, đồng ý tham gia hợp tác

Kết quả: Điểm EPDS trung bình trong khảo sát 15,83 ± 5,785 (5 – 28) 29,2% bà mẹ có EPDS <13 điểm

70,8% bà mẹ có EPDS ≥ 13 điểm 27,1% bà mẹ có tư tưởng tự tử

Kết luận: Với số điểm EPDS cao trong khảo sát này, chúng tôi mong muốn các bà mẹ có con nằm ở phòng

cấp cứu khoa Sơ sinh được tầm soát về trầm cảm sau sinh thường quy hơn Đồng thời có sự chăm sóc thích hợp nhất cho các bà mẹ này về y tế và tâm lý

Từ khóa: trầm cảm sau sinh, bà mẹ, trẻ sinh non, EPDS

ABSTRACT

DEPRESSION IN MOTHERS OF PREMATURE NEONATES HOSPITALIZED IN NEONATALOGY-

DEPARTMENT OF CHILDREN’S HOSPITAL 1

Pham Ngoc Thanh, Isabelle Santarelli, Pham Thi Yen Trinh, Duong To Tran

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 3 - 2011: 70 - 75

Mothers of neonates admitted in the Department of Neonatology - Children's Hospital are believed to have severe distress

Objectives: To determine the level and percentage of depression based on the Edinburg Postpartum Depression Scale (EPDS) and other factors related to maternal depression

Methodology: This was a prospective and serial descriptive study with a combination of quantitative and

qualitative research The mothers of premature neonates treated in the Department of Neonatology of Children's

Hospital I were selected in the study from 12/2010 to 5/2011, with their consent

Results: The average EPDS score was 15.83 ± 5.785 (5 – 28) 29.2% of mothers with EPDS <13 points

70.8% of mothers with EPDS ≥ 13 points 27.1% of mothers had suicidal thoughts

Conclusion: With a high EPDS score of the mothers in this survey, we wish all the mothers of premature

neonates hospitalized in the emergency room of the Neonatology department should be screened for postpartum depression Simultaneously these depressed mothers need medical and psychological care

Keywords: postpartum, mothers, premature neonates, EPDS

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chức năng làm mẹ mới bao gồm nhiều thay

đổi đột xuất và được nhìn nhận như một biến

cố gây stress trong đời(6,5) Các nghiên cứu gần đây cho thấy 10 – 15% phụ nữ có trầm cảm

Trang 2

sau sinh, và 10% có rối loạn lo âu sau sinh(4,12)

Mặc dù các yếu tố nguy cơ tiên báo trầm cảm

sau sinh đã được nghiên cứu chi tiết ở các bà

mẹ có con sinh đủ tháng và lành mạnh, hiện

nay vẫn còn nghiên cứu hạn chế về các vấn đề

tâm lý của người mẹ có con sinh non sau khi

trẻ được nhập viện

Việc bà mẹ trầm cảm sau sinh kết hợp với

việc trẻ sinh non nằm viện ảnh hưởng ít nhiều

đến mối quan hệ sớm mẹ - con Những ảnh

hưởng trong thời kỳ này đã được nhiều nhà tâm

lý và phân tâm nhấn mạnh rằng phần lớn các

chứng tâm bệnh bắt nguồn từ các rối nhiễu

trong mối quan hệ sớm mẹ - con Do vậy muốn

tiếp cận dự phòng và trị liệu trong lĩnh vực tâm

bệnh ở trẻ nhỏ đòi hỏi hiểu biết và kinh nghiệm

về khủng hoảng tâm lý của thời kỳ sinh con với

những gian truân của nó(3)

Ở các nước phương Tây, tâm lý sản phụ trên

góc độ trầm cảm sau sinh đã được nghiên cứu

từ lâu Marcé (Chuyên luận-1858) là người đầu

tiên nêu lên các hiện tượng trầm cảm sau sinh

Từ đó, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tới thích

nghi của sản phụ suốt thời kỳ mang thai, tới lúc

sinh và sau khi sinh(3)

Ở Việt Nam, ngành y tế đã có nhiều đóng

góp trong việc bảo vệ nâng cao sức khỏe thể

chất của sản phụ và sơ sinh, song về mặt tâm lý

còn ít được quan tâm Chỉ vài năm nay, lĩnh vực

này mới được tìm hiểu, khai tâm cho các nhà

sản phụ khoa, nhi khoa và tâm lý để cùng tiếp

cận, chẩn đoán, phòng và trị liệu cho sản phụ và

sơ sinh(3) Những nghiên cứu trong khoảng thời

gian gần đây phát hiện ra rằng trong giai đoạn

hậu sản, một giai đoạn dễ nhạy cảm với những

thay đổi trong cuộc sống của bà mẹ và đứa trẻ

mới sinh, thì rối loạn tâm lý thường gặp nhất là

trầm cảm(7,8) Trầm cảm sau sinh có thể gây ra

những ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe

của bà mẹ và với đứa trẻ vừa mới sinh Một

trong những hậu quả trầm trọng của trầm cảm

sau sinh là bà mẹ có thể xuất hiện những ý nghĩ,

hành vi tự sát, tự hủy hoại bản thân và có thể

giết chết đứa trẻ vừa mới sinh(7,8)

Vì thế chúng tôi nghĩ việc thực hiện nghiên cứu về đề tài này sẽ thú vị và sáng tạo Hơn nữa, nghiên cứu này sẽ giúp chúng tôi thực hiện việc phân tích yêu cầu trợ giúp và hỗ trợ y tế / tâm lý cho các bà mẹ này để có thể đề nghị sự chăm sóc thích hợp nhất cho họ

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Khảo sát mức độ trầm cảm ở bà mẹ có con sinh non đang nằm điều trị tại khoa Sơ sinh – Bệnh viện Nhi Đồng I

Mục tiêu chuyên biệt

Mô tả đặc điểm dịch tễ học, và các dấu hiệu lâm sàng của bệnh lý trầm cảm

Mô tả các yếu tố liên quan đến trầm cảm của

bà mẹ

Xác định mức độ trầm cảm dựa trên thang lượng giá EPDS

Xác định tỷ lệ trầm cảm ở bà mẹ có con sinh non nằm viện

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Dân số chọn mẫu

Các bà mẹ có con sinh non đang điều trị tại khoa Sơ Sinh từ tháng 12/2010 đến tháng 5/2011, đồng ý tham gia hợp tác

Địa điểm nghiên cứu

Khoa Sơ Sinh (lầu 2) bệnh viện Nhi Đồng I

Phương tiện thu thập dữ liệu và thời gian

Các bà mẹ được liên lạc trong khoa Sơ Sinh của Bệnh viện Nhi Đồng 1, trong khoảng thời gian 6 tháng (từ tháng 12/2010 đến tháng 5/2011)

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu tiền cứu mô tả hàng loạt, nghiên cứu định lượng kết hợp với định tính, các bà mẹ

có con sinh non đang điều trị tại khoa Sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng I được chọn vào nhóm nghiên cứu

Trang 3

Mẫu nghiên cứu

Tính chất và phạm vi: dự kiến 100 phụ nữ là

bà mẹ của trẻ sinh non đang nằm viện

Trong thời gian 6 tháng, tuy số trẻ nhập viện

đông nhưng để thỏa điều kiện chọn mẩu là các

bà mẹ đang nuôi con trong vòng 48 giờ sau khi

nhập viện thì số mẫu không thể đủ Do trong

thời gian này các bà mẹ sinh con còn non ngày

tháng nên không được gia đình đồng ý cho đến

bệnh viện nuôi con Chính vì thế số mẫu nghiên

cứu chỉ đạt được n = 48

Các bước tiến hành

Chọn tất cả các phụ nữ là các bà mẹ có con

sinh non đang điều trị tại khoa Sơ Sinh (lầu 2)

bệnh viện Nhi Đồng I, nhập khoa sơ sinh trong

vòng 48 giờ

Giải thích và làm phiếu thông tin thu thập từ

hồ sơ bệnh án

Tiếp xúc trực tiếp để thông báo và giải thích

cho các bà mẹ hiểu về mục tiêu nghiên cứu và

giấy đề nghị hợp tác

Thực hiện thang lượng giá trầm cảm:

Edinburg Postpartum Depression Scale (EPDS)

Thực hiện phỏng vấn

Cách thu thập số liệu

Sau khi bà mẹ được giải thích và đồng ý

tham gia nghiên cứu, thành viên của nhóm

nghiên cứu tại khoa Sơ sinh thu thập thông tin

từ hồ sơ bệnh án của trẻ

Phỏng vấn trực tiếp mặt đối mặt

Cuộc phỏng vấn được tiến hành tại một

phòng của khoa Sơ Sinh hoặc đơn vị Tâm lý,

thời gian cho một cuộc phỏng vấn 20 – 30

phút/ bà mẹ (không ghi âm theo ý kiến của

các bà mẹ)

Mỗi bà mẹ được cấp một bộ công cụ đánh

giá gồm: bảng câu hỏi và thang lượng giá

trầm cảm: Edinburg Postpartum Depression

Scale (EPDS)

Các bà mẹ được hướng dẫn trả lời câu hỏi

theo thời gian của họ và phản ảnh ý kiến cũng

như cảm xúc của riêng họ mà không tham khảo

ý kiến của người khác

Những bà mẹ khó hiểu quy trình và bảng câu hỏi sẽ được thành viên nhóm nghiên cứu

hỗ trợ

Công cụ thu thập số liệu

Edinburg Postpartum Depression Scale (EPDS): Đây là thang điểm dùng để đánh giá

các triệu chứng trầm cảm của bà mẹ trong thời gian sau sinh Thang điểm gồm 10 câu hỏi, mỗi câu hỏi có 4 lựa chọn với điểm số từ 0 đến 3, bà

mẹ đánh dấu vào một câu mà mình lựa chọn Tổng số điểm sẽ được ghi nhận (từ 0 đến 30 điểm) Những bà mẹ nào có số điểm ≥ 13 được chẩn đoán là trầm cảm sau sinh(4) Thang EPDS tập trung vào các triệu chứng trầm cảm đặc hiệu của thời gian sau sinh Độ nhạy và độ chuyên biệt tốt đã được báo cáo tại Anh quốc(2,1)

Bảng câu hỏi: đã được soạn sẳn bao gồm về

đặc tính dân số học của các bà mẹ, những nghịch cảnh trước sinh, chất lượng sống, chất lượng và số lượng mạng lưới nâng đỡ xã hội (nguồn lực, cấu trúc gia đình)

Xây dựng bảng câu hỏi phỏng vấn để giúp thực hiện phân tích định tính trầm cảm và yêu cầu trợ giúp và hỗ trợ y tế / tâm lý

Nội dung phỏng vấn (phụ lục 1, 2, 3)

Khái niệm và thuật ngữ

Trầm cảm (F32): Theo bảng phân loại

DSM-IV và ICD-10: trong các giai đoạn trầm cảm điển hình nhẹ, trung bình, hoặc nặng bệnh nhân bị giảm khí sắc, giảm năng lượng và giảm hoạt động Khả năng thích thú, quan tâm và tập trung đều giảm sút và thường mệt mỏi rõ rệt dù chỉ là một cố gắng rất nhỏ sau khi cố gắng dù là rất ít Thường có rối loạn giấc ngủ và ăn kém ngon miệng, sút cân và khả năng tình dục kém.Tính tự trọng và sự tự tin hầu như luôn luôn giảm sút

Phỏng vấn: Là một phương pháp thu thập

thông tin bằng cách trưng cầu ý kiến thông qua trò chuyện Trong phỏng vấn lâm sàng, không chỉ quan tâm đến chất lượng nội dung các câu trả lời (các cử điệu, ý kiến, thái độ, liên tưởng tư

Trang 4

duy…) mà cả những hành vi cụ thể của các bà

mẹ (giọng nói, điệu bộ, nhầm lẫn)(10)

Phân tích số liệu

Phân tích kết quả dựa trên phần mềm

SPSS 16.0

Chúng tôi sử dụng số liệu thống kê dựa trên

các triệu chứng trầm cảm khác nhau được quan

sát Sau đó chúng tôi so sánh kết quả thu được

của các đối tượng được phỏng vấn Phân tích

định tính sẽ giúp phân tích chi tiết hơn về các

triệu chứng trầm cảm khác nhau này và các yêu

cầu trợ giúp và hỗ trợ tâm lý

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Kết quả xử lý với phần mềm SPSS 16.0

Đặc điểm dịch tễ học

Tuổi trung bình của bà mẹ trong khảo sát:

25,67 ± 5,575 (18 – 41)

72,9% bà mẹ ở lứa tuổi 20 – 30

81,2% bà mẹ ở tỉnh 77,1% có trình độ học

vấn ≤ cấp 2

45,8% bà mẹ có thai ngoài ý muốn 75% bà

mẹ sinh con đầu lòng

Tuổi thai trung bình 30,21± 2,721 (25 – 36)

Cân nặng lúc sinh trung bình 1525,62 ±

342,705 (1000 – 2400)

Tuổi của mẹ

Nơi ở

Số con

Trình độ văn hóa của

Lần này có thai

Nghề nghiệp

Bảng 1: Đặc điểm dân số học

Mô tả các dấu hiệu lâm sàng của bệnh lý trầm cảm

Trong lúc tiếp xúc có 87,5% các bà mẹ đã khóc thật nhiều, họ luôn cảm thấy buồn và không quan tâm đến những sự việc xung quanh, không còn cảm thấy thích thú đối với những hoạt động mà trước kia ưa thích như xem phim, nghe nhạc…

Họ không muốn ăn, luôn cảm thấy mệt mỏi

và cảm thấy bản thân vô giá trị hoặc có mặc cảm tội lỗi Họ cảm thấy bi quan về tương lai và có suy nghĩ đến cái chết

100% bà mẹ có rối loạn giấc ngủ, luôn cảm thấy bồn chồn, lo âu, dễ tức giận

Có 64.6% thiếu tự tin vào khả năng làm mẹ, không muốn chăm sóc con hay sợ mình sẽ làm hại đứa bé 70,8% bà mẹ có thay đổi tính khí

Bảng 2 Các dấu hiệu lâm sàng của bệnh lý trầm cảm

Thái độ của bà mẹ

35,4% có thể nói dễ dàng các vấn đề của mình 41,7% khóc nhiều nhưng tỏ ra khép kín hơn 22,9% bà mẹ đau khổ đến mức thể hiện hung bạo qua lời nói

Các yếu tố có thể liên quan đến trầm cảm của bà mẹ

Có 62,5% bà mẹ gặp khó khăn, đau khổ với gia đình trong thời gian mang thai và sau khi sinh Trong đó có 6,2% bị gia đình chồng bắt buộc li dị với lý do không có khả năng sinh con tốt, sinh con trai

6,2% bà mẹ có con sinh đôi chết Trong nghiên cứu của BS Lâm Xuân Điền ghi nhận tử vong sơ sinh liên quan có ý nghĩa đến trầm cảm

Trang 5

sau sinh(8)

50% có mối quan hệ xấu với chồng Điều

này cũng phù hợp với nhận xét của tác giả

Glasser (Israel) và Johanson R (Anh) cho rằng sự

không hòa hợp trong hôn nhân ở sản phụ là

một trong những yếu tố dự báo tốt nhất hay có

liên quan chặt chẽ với sự xuất hiện trầm cảm sau

sinh(8)

87,5% bà mẹ quá lo lắng cho sức khỏe của

con Điều này cũng phù hợp với nhận xét của

tác giả Glasser (Israel) cho rằng các vấn đề sức

khỏe kéo dài ở đứa con cũng là một trong

những yếu tố dự báo tốt nhất về sự xuất hiện

của trầm cảm sau sinh hay theo tác giả ManlKD

(USA) thì mẹ dễ bị trầm cảm sau sinh nếu trẻ sơ

sinh có >1 vấn đề phải khám đa khoa hay phải

nhập phòng cấp cứu dù chỉ 1 lần(8)

45,8% bà mẹ không mong muốn có con, điều

này cũng phù hợp với nhận định của tác giả

Neter E (USA) cho rằng những sản phụ cảm

thấy hài lòng với lần sanh này thì sẽ ít bị trầm

cảm hơn hoặc với tác giả Như Ngọc (VN) cho

rằng không mong đợi có liên quan có ý nghĩa

thống kê với trầm cảm sau sinh(8)

Có 70,8% bà mẹ thiếu sự nâng đỡ tâm lý

75% bà mẹ có nhu cầu được trò chuyện tâm

sự trong đó 41.7% tâm sự riêng tư (nâng đỡ

tâm lý cá nhân) 27,1% bà mẹ mong được chia

sẻ với những bà mẹ khác (nâng đỡ tâm lý

nhóm) 6,2% bà mẹ mong được nâng đỡ tâm

lý cá nhân và nhóm

Mức độ trầm cảm dựa trên thang lượng giá

EPDS

Điểm EPDS trung bình trong khảo sát 15,83

± 5,785 (5 – 28)

29,2% bà mẹ có EPDS <13 điểm 70,8% bà mẹ

có EPDS ≥ 13 điểm

27,1% bà mẹ có tư tưởng tự tử

Tỷ lệ trầm cảm ở bà mẹ có con sinh non

nằm viện

Chúng tôi thực hiện khảo sát trên 48 bà mẹ

có con sinh non đang nằm điều trị tại khoa sơ

sinh bệnh viện Nhi Đồng I qua bảng EPDS, số

bà mẹ có EPDS ≥ 13 điểm chiếm 70,8% (34 bà mẹ) Trong nghiên cứu của Lương Bạch Lan (2009) trầm cảm sau sinh của bà mẹ là 11,6%, nhóm sản phụ có con gửi dưỡng nhi của Nguyễn Mai Hạnh (2005)(9) là 29,6%, kết quả của Lâm Xuân Điền (2002)(8) là 10,8% Điều này có thể do cách tiến hành nghiên cứu chọn mẩu của chúng tôi, đây là các bà mẹ có con bệnh nặng nằm phòng cấp cứu của khoa sơ sinh Các bà mẹ này có địa chỉ cư trú ở tỉnh là 81,2%, có nghĩa là trẻ đã được sinh ra ở địa phương và trẻ bị cách

ly mẹ-con trước khi trẻ được nhập viện tại khoa

Sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng 1 Cũng có thể do căng thẳng của môi trường khoa Sơ sinh, sự cách ly thể chất và sự cảm xúc của bà mẹ đối với trẻ Sinh ra một trẻ thiếu tháng là một cú sốc Tất

cả công việc mang thai cũng như chuẩn bị cho chuyển dạ và sự ra đời của đứa trẻ bị cắt đứt Đối với bà mẹ, đẻ non là một trải nghiệm đau đớn và mặc cảm tội lỗi có thể dẫn bà mẹ tới trầm cảm và tự đánh giá thấp mình(11) Sự ra đời và nằm viện của một trẻ sinh non là sự đau khổ tâm lý rất lớn cho bà mẹ Bà mẹ đau buồn và tự buộc tội mình Đặc biệt sự thiếu nâng đỡ xã hội, xung đột vợ chồng, gia đình và các biến cố gây căng thẳng trong cuộc sống làm tăng có ý nghĩa

sự trầm cảm sau sinh(2) Trong khảo sát của chúng tôi 13 bà mẹ có tư tưởng tự tử chiếm 27,1% ít hơn tỷ lệ 41,2% của Lâm Xuân Điền(8) nhưng là một thực trạng đáng được quan tâm hỗ trợ kịp thời, nếu không được phát hiện và điều trị, trầm cảm ở bà mẹ sau sinh

có thể làm tăng nguy cơ bệnh tâm thần và ảnh hưởng đến sự phát triển tâm thần và nhân cách của trẻ trong tương lai

KẾT LUẬN

Theo Tổ chức Y Tế Thế Giới ước tính đến năm 2020, rối loạn ức chế tâm thần sẽ là nguyên nhân đứng thứ hai trong gánh nặng về sức khỏe toàn cầu(13) Vì thế, chúng tôi nghĩ rằng điều quan trọng là nhân viên y tế phát hiện các bà mẹ trầm cảm để giúp cho sự tương tác mẹ - con tốt hơn Với số điểm EPDS cao trong khảo sát này, chúng tôi mong muốn các bà mẹ có con nằm ở

Trang 6

phòng cấp cứu khoa sơ sinh được tầm soát về

trầm cảm sau sinh thường quy hơn Đồng thời

có sự chăm sóc thích hợp nhất cho các bà mẹ

này về y tế và tâm lý trong thời gian có con

đang nằm điều trị trong bệnh viện, cũng như

hướng dẫn tái khám, theo dõi sau khi ra viện

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Appleby L, Warner R, Whitton A, and Faragher B (1997), “A

controlled study of fluoxetine and cognitive-behavioural

counselling in the treatment of postnatal depression,” British

Medical Journal, vol 314, no 7085, pp 932–936

2 Cox JL., Holden JM., and Sagovsky R (1987), “Detection of

postnatal depression: development of the 10-item Edinburgh

Postnatal Depression Scale,” British Journal of Psychiatry, vol 150,

pp 782–786

3 Đặng Phương Kiệt (2000) “Những vấn đề tâm lý và văn hóa hiện

đại.” Tâm lý sản phụ sơ sinh và quan hệ sớm mẹ-con Nhà xuất bản

Văn hóa Thông tin Hà Nội: 236 - 238

4 Halbreich U (2005), “The association between pregnancy

processes, preterm delivery, low birth weight, and postpartum

depressions—the need for interdisciplinary integration,”

American Journal of Obstetrics and Gynecology, vol 193, no 4, pp

1312–1322

5 Halbreich U and Karkun S (2006), “Cross-cultural and social

diversity of prevalence of postpartum depression and depressive

symptoms,” Journal of Affective Disorders, vol 91, no 2-3, pp 97–

111

6 Hall PL and Wittkowski (2006), “An exploration of negative

thoughts as a normal phenomenon after childbirth,” Journal of

Midwifery and Women's Health A, vol 51, no 5, pp 321–330

7 Jason J et al (1983), “Homicide as a cause of pediatric mortality

in the United”, Pediatric,72

8 Lâm Xuân Điền, Lê Quốc Nam (2002), “Khảo sát tỉ lệ rối loạn trầm cảm sau sanh ở các sản phụ đến sanh tại bệnh viện Từ Dũ”

Kỷ yếu các công trình nghiên cứu khoa học năm 2002 Bệnh viện Tâm Thần TPHCM

9 Nguyễn Mai Hạnh (2005), “Yếu tố nguy cơ của Trầm cảm sau sinh” Luận án tốt nghiệp chuyên khoa II Trường Đại Học Y Dược Tp.HCM

10 Vũ Dũng (2008) “Từ điển Tâm lý học” Viện khoa học xã hội Việt Nam- Viện tâm lý học 619-620

11 Vũ Thị Chín (1997) “Bước đầu tìm hiều tâm lý sản phụ và quan hệ

sớm mẹ con ở Việt Nam ”; 1997:4.12:221-341

12 Wisner KL, Parry BL, and Piontek CM (2002), “Postpartum

depression,” The New England Journal of Medicine, vol 347, no 3,

pp 194–199

13 World Health Organization (2001), “World Health Report Mental Health: New Understanding, New Hope.” Geneva: World Health Organization

Ngày đăng: 22/01/2020, 12:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w