1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Trầm cảm trên bệnh nhân hội chứng chuyển hóa

6 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 357,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu với mục tiêu nhằm đánh giá tình trạng trầm cảm ở bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1-4/2011 trên 261 bệnh nhân chẩn đoán hội chứng chuyển hóa theo NCEP-ATP III, trầm cảm theo thang beck.

Trang 1

TRẦM CẢM TRÊN BỆNH NHÂN HỘI CHỨNG CHUYỂN HÓA

Võ Thị Thu Hà*, Trần Kim Trang*

TÓM TẮT

Mở đầu:Hội chứng chuyển hoá(HCCH) và trầm cảm đang trở nên phổ biến và thường cùng xuất hiện Mục tiêu:Khảo sát tình trạng trầm cảm ở bệnh nhân có HCCH

Phương pháp: Tiền cứu mô tả cắt ngang từ tháng 1- 4/2011 trên 261 bệnh nhân chẩn đoán HCCH theo

NCEP-ATP III, trầm cảm theo thang Beck

Kết quả:21,6% bệnh nhân HCCH bị trầm cảm.Tỉ lệ trầm cảm tăng theo số yếu tố HCCH Thành phần của HCCH liên quan đến trầm cảm là tăng huyết áp và tăng vòng eo

Kết luận: cần nhận diện và điều trị trầm cảm ở bệnh nhân có HCCH

Từ khoá: : hội chứng chuyển hoá,trầm cảm

ABSTRACT

DEPRESSION IN METABOLIC SYNDROME PATIENTS

Vo Thi Thu Ha, Tran Kim Trang

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 362 - 367

Background: Metabolic syndrome (MS) and depression are becoming more prevalent They may frequently

co-exist

Objective: To characterize depression among metabolic syndrome subjects

Methods: A prospective cross – sectional survey was conducted during January - April 2011 in 261 patients

met the criteria for the MS by Asian modified NCEPT ATPIII and completed Beck Depression Inventory

Results: 21.6% of patients having MS were depressed The more components of MS the higher incidence of

depression Metabolic components correlating to depression were hypertension and elevated waist circumference

Conclusion: There is a great need to recognize and treat depression in patients with MS

Key words: Metabolic syndrome, depression, NCEPT ATPIII, Beck Depression Inventory

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội chứng chuyển hoá (HCCH) và trầm cảm

là hai rối loạn riêng biệt nhưng có những điểm

chung: mãn tính, có chiều hướng gia tăng tỉ lệ

mắc, là nguy cơ bệnh tim mạch và đái tháo

đường Mối liên hệ giữa trầm cảm và HCCH đã

thu hút nhiều nghiên cứu trên thế giới nhưng

chưa tìm thấy công bố nào của nước ta

Mục tiêu nghiên cứu

Khảo sát tình trạng trầm cảm ở bệnh nhân có

HCCH

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế

Tiền cứu, cắt ngang mô tả có phân tích

Nơi thực hiện

Khoa nội tim mạch, nội tiết và ngoại chẩn tại bệnh viện Nhân dân 115

Thời gian

Tháng 01-4/2011

*BM Nội – ĐH Y Dược TP.HCM

Tác giả liên lạc: TS.BS Trần Kim Trang, ĐT: 0989694263, Email: bskimtrang@yahoo.com.vn

Trang 2

Đối tượng

Bệnh nhân được chẩn đoán HCCH theo

NCEP ATP III cho người Châu Á

Cỡ mẫu

Theo công thức N= Z21- α/2 P(1-P)/d2 chọn mẫu

tối thiểu là 246

Z : trị số từ phân phối chuẩn, với sai lầm loại

1 α=0,05 => Z = 1,96

d : sai số cho phép, chọn d =0,05

Ứớc lượng p = 0,2 dựa theo tần suất trầm

cảm trên HCCH của các nghiên cứu sau:

Skilton MR 2007(9): 22,5% ở nam và 38,6% ở

nữ

Koponen H(6):21,7% ở nữ và 16,7% ở nam

Takeuchi T 2009(10) 12,6%, Dunbar JA 2008(3)

16,9% Lucile Capuron 2008(1) 15%

Tiêu chuẩn lọai trừ

Đang có bệnh lý ác tính, cấp tính

Không khả năng giao tiếp chính xác

Không phải dân tộc kinh

Thu thập, xử lý số liệu

Phân mức độ trầm cảm theo thang Beck:

< 14 điểm = không biểu hiện trầm cảm

14- 19 điểm = trầm cảm nhẹ

20- 29 điểm = trầm cảm vừa

≥ 30 điểm = trầm cảm nặng

Các dữ liệu và thông số ghi nhận và xử lý

bằng phương pháp thống kê y học thông qua

phần mềm SPSS 18

Biến số định lượng được biểu thị dưới dạng

số trung bình (± độ lệch chuẩn), kiểm định sự

khác biệt thống kê bằng test student (T-test)

Biến số định tính được trình bày dưới dạng

tỷ lệ phần trăm (n%), kiểm định sự khác biệt

thống kê bằng test Chi-square

Khi p < 0,05: sự khác biệt có ý nghĩa thống

KẾT QUẢ

Khảo sát 261 bệnh nhân HCCH tuổi trung

bình là 60 ± 11,9; thấp nhất là 33 và cao nhất

là 91

Điểm trung bình của thang Beck 9,7 ± 3,9

Bảng 1 Tỉ lệ trầm cảm trên bệnh nhân HCCH

Không trầm cảm 205 78,5 Trầm cảm 56 21,5

- Nhẹ (14-19 điểm) 54 20,7 (96,4%)

- Vừa (20-29 điêm) 2 0,8 (3,6%)

- Nặng (≥ 30 điểm) 0 0

Bảng 2 Đặc điểm dân số - xã hội của nhóm có và

không trầm cảm

Trầm cảm

N = 56 (%)

Không TC

N = 205 (%)

Giá trị P

Tuổi trung bình 65,2 ± 12,3 54,7 ± 10,8 0,000 Giới

-Nam -Nữ

10 (17,9)

46 (82,1)

82 (40)

123 (60)

0,002

Địa chỉ -TPHCM -Các tỉnh

12 (21,4)

44 (87,6)

41 (20)

164 (80)

0,85

Học vấn -Mù chữ -Cấp 1 -Cấp 2-3 -Cao đẳng

10 (17,9)

23 (41,1)

20 (35,7)

3 (5,4)

11 (5,4)

68 (33,2)

102 (49,8)

24 (11,7)

0,005

Việc làm -Có -Không -Nghỉ hưu

13 (23,2)

8 (14,3)

35 (62,5)

116 (56,6)

24 (11,7)

65 (31,7)

0,000

Hôn nhân -Độc thân -Có gia đình -Li dị - góa

1 (1,8)

38 (67,9)

17 (30,4)

6 (2,9)

169 (82,4)

30 (14,6)

0,024

Gia đình -Sống chung -Sống1mình

56 (100)

0 (0)

201 (98)

4 (2)

0,58

Kinh tế -Khó khăn -Đủ ăn -Khá giả

1 (1,8)

33 (58,9) 22(39,3)

1 (0,5) 113(55,1)

91 (44,4)

0,51

Tiền căn gia đình bệnh tâm thần

2 (3,6) 4 (2,0) 0,76

Tiền căn bản thân bệnh khác

24 (42,9) 45 (22) 0,003

Uống rượu 2 (3,6) 21 (10,2) 0,18 Hút thuốc lá

- Hiện có

- Bỏ hút

- Không hút

4 (7,1)

3 (5,4)

49 (87,5)

34 (16,6)

28 (13,7)

143 (69,8)

0,028

Trang 3

Không vận động 37 (66,1) 102 (49,8) 0,035

21.3

21.7

22.3 23.5 24.4

21.5

19.5

20

20.5

21

21.5

22

22.5

23

23.5

24

24.5

25

ĐH cao HDL-C giảm TG cao HA tăng Eo to HCCH

80.4 85.7

91.1

100 89.3

81 84.4 86.8

88.8

75.6

0 20 40 60 80 100 120

Đh cao HDL-C giảm TG cao HA tăng Eo to

Trầm cảm Không TC

Biểu đồ 1: Tỉ lệ trầm cảm trên từng yếu tố của HCCH Biểu đồ 2: Tỉ lệ các yếu tố của HCCH ở bệnh nhân có

và không trầm cảm

Bảng 3 Tỉ lệ dạng kết hợp yếu tố của HCCH

Số yếu

tố

Trầm cảm:

N = 56 (%)

Không Trầm Cảm:

N=205 (%)

P

3 6 (10,7) 39 (19,0)

0,013

4 18 (32,1) 93 (45,4)

5 32 (57,1) 73 (35,6)

Bảng 4 Phân tích đa biến liên quan giữa trầm cảm

với các yếu tố dân số - xã hội ở BN có HCCH

Tuổi 1,096 1,043-1,152 0,000

Giới (nữ/nam) 1,819 0,407-8,136 0,434

Học vấn 0,844 0,273-2,602 0,767

Việc làm 1,631 0,538-4,940 0,387

Hôn nhân 1,125 0,121-10,441 0,917

Kinh tế 9,595 0,193-476,044 0,256

Tiền căn bệnh 2,486 1,181-5,231 0,016

Uống rượu 0,868 0,114-6,636 0,892

Hút thuốc 2,389 0,371-15,370 0,359

Vận động thể lực 1,194 0,579-2,462 0,631

Bảng 5 Phân tích đa biến liên quan giữa các yếu tố

của HCCH với trầm cảm

Đường huyếtcao 1,444 0,611-3,412 0,402

TG tăng 2,038 0,642-6,462 0,227

HDL-C giảm 1,264 0,476-3,358 0,638

HA tăng 2310E8 0,000- 0,998

Vòng eo to 2,719 1,034-7,151 0,043

BÀN LUẬN

Về đặc điểm mẫu

Tuổi trung bình cao do chọn mẫu từ phòng

khám tim mạch và nội tiết nên phần đông bệnh

nhân lớn tuổi

Tỉ lệ nữ 64,8%, phù hợp xu hướng chung là

nữ mắc HCCH nhiều hơn nam giới

Mù chữ và tiểu học là 43%, trình độ học vấn thấp hơn so với các nghiên cứu khác Vì thế việc ứng dụng các thang đánh giá trầm cảm vào thực

tế lâm sàng cần được linh hoạt: chọn cách hỏi – trả lời

Tỉ lệ hút thuốc, uống rượu trong nghiên cứu của chúng tôi không cao, do mẫu có tỉ lệ nữ cao

và văn hóa Người Á Đông, nữ ít hút thuốc

Tỉ lệ vận động thể lực của chúng tôi thấp

so với nhiều nghiên cứu, có thể do mẫu đa số bệnh nhân lớn tuối và mắc các bệnh mãn tính kết hợp (26,4%)

Bảng 6 Tỉ lệ dùng thuốc trong các nghiên cứu trầm

cảm – HCCH

Tác giả Hạ đường Hạ áp Hạ mỡ

Chúng tôi 55,6% 74,7% 54% Skilton 2007(9) 30,5% 16,1%

Miettola 2008(7) 9% 43% 22%

Chúng tôi có tỉ lệ đang điều trị thuốc cao hơn mà tỉ lệ trầm cảm trên bệnh nhân HCCH tương đương nhau Lẽ ra hiệu quả của thuốc điều trị giúp ổn định huyết áp, ổn định đường huyết và các chỉ số lipid phải làm bệnh nhân thấy tốt hơn Điều này tương ứng với không ít khuyến cáo: thuốc càng nhiều và càng lâu sẽ càng giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh

Trang 4

Tỉ lệ trầm cảm trên bệnh nhân HCCH của

các nghiên cứu dao động từ 12-38%(3,6,9) Tỉ lệ

trầm cảm của chúng tôi 21,5% nằm trong

khoảng kết quả này, cao hơn tỉ lệ trầm cảm

trong dân số chung có ý nghĩa thông kê (6,6%

dân số TPHCM theo Đặng Hoàng Hải, 2008(2)

Về liên quan trầm cảm trên bệnh nhân

HCCH với các yếu tố dân số- xã hội

Tuổi

Các nghiên cứu về trầm cảm trong các bệnh

thực thể, trong đó có HCCH, cho nhiều kết quả

trái ngược nhau Hoặc không có liên hệ tuổi và

trầm cảm, như Takeuchi, Capuron, Yoon DH,

Skilton(1,10,15,9) hoặc ngược lại như nghiên cứu của

Toker 2007(13), trong khi xem xét khác biệt về

giới, tác giả thấy liên hệ về tuổi và mức độ trầm

cảm, ở nữ tuổi lớn hơn nam Nghiên cứu của

Koponen, mối liên hệ có kết quả trái ngược, tuổi

trung bình ở bệnh nhân trầm cảm thì thấp hơn

(52,3 ± 6,5 so với 53,8 ± 6,0 ở nữ và 52,8 ± 6,3 so

với 55,1 ± 5,0 ở nam) Kết quả của chúng tôi cho

thấy có liên quan giữa tỉ lệ trầm cảm và tuổi (P<

0,001), nhóm trầm cảm có độ tuổi cao hơn

không trầm cảm khoảng 10 tuổi

Giới

Tương tự như tuổi, tổng quan các nghiên

cứu cho thấy mối liên hệ tỉ lệ trầm cảm và giới

tính trên người có HCCH có nhiều ý kiến

trái ngược

Những nghiên cứu cho thấy có liên quan

trầm cảm và giới như của Koponen(6), tỉ lệ nữ

trầm cảm 16,7% cao hơn nam 12.1% Theo

Skilton(9), tỉ lệ trầm cảm ở nữ 32,1% cũng cao

hơn ở nam 20% Theo Toker(13), liên hệ tỉ lệ trầm

cảm và HCCH phụ thuộc giới tính, nữ trầm cảm

cao hơn Theo kết quả của Kinder(5) tỉ lệ trầm

cảm ở nữ 14% so với nam 5,9% hay trong nhóm

trầm cảm, nữ chiếm 67,5% Kết quả của chúng

tôi tương tự, cho thấy có liên quan giữa tỉ lệ

trầm cảm và giới, tỉ lệ nữ ở nhóm trầm cảm

82,1% cao hơn so với nam 17,9% (P< 0,002)

Ngược lại, nhiều nghiên cứu không thấy có

liên quan trầm cảm và giới như của Skilton,

Dunbar JA hay Miettola Theo Miettola(7) điểm BDI trung bình của nam có HCCH 7,17 và không HCCH 5,52 (p=0,456) cao hơn so với nữ

có HCCH 6,97 và không HCCH 5,46(p=0,178), như vậy liên quan về giới không có ý nghĩa

Học vấn

Hầu hết các nghiên cứu trầm cảm đều quan tâm đến học vấn, các tác giả cho thấy nhiều mức

độ khác nhau về liên quan trầm cảm và học vấn Theo Miettola J(7), học vấn thấp chiếm 69% mẫu nghiên cứu, trình độ học vấn có liên quan trầm cảm ở nữ (p=0,060) nhưng không có liên quan ở nam (p=0,442) Còn theo Kinder(5) nhóm trầm cảm có tỉ lệ học vấn thấp 28,3% so với 23,84% ở nam, nhưng ở nữ ngược lại 18,94% so với 21,04% Koponen(6) đánh giá có liên quan, nhóm trầm cảm có tỉ lệ học vấn thấp hơn ở cả nam và nữ

Theo Raikkonen(8) trình độ học vấn thấp có liên quan đến trầm cảm (p< 0,02) Tương tự, Toker(13) nữ giới học vấn thấp có liên quan đến trầm cảm nhiều hơn nam giới (p< 0,05) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng có liên quan giữa trầm cảm và trình độ học vấn (p=0,005)

Hôn nhân

Dịch tễ học trầm cảm đề cập trong dân số chung, những người độc thân, ly dị, góa có tỉ lệ trầm cảm cao đáng kể so với nhóm có vợ chồng Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận có liên quan này Về tỉ lệ ly dị- góa, nhóm trầm cảm cao gấp đôi không trầm cảm (30,4% so với 14,6%)

Về tỉ lệ độc thân và tỉ lệ có vợ chồng, nhóm trầm cảm thấp hơn Như vậy tỉ lệ trầm cảm cao ở nữ

ly dị- góa

So sánh kết quả của Koponen(6), ở nữ giới, tỉ

lệ độc thân ở nhóm trầm cảm cao hơn (12,5 so với 6,9%), còn ở nam giới, tỉ lệ độc thân ở nhóm trầm cảm thấp hơn (6,9% so với 8,4%) Tỉ lệ có

vợ chồng ở nhóm trầm cảm và không trầm cảm cũng trái ngược nhau ở nam (93,1% so với 86,2%) và nữ (81,3% so với 84,4%) Tỉ lệ trầm cảm cao ở nữ độc thân và nam có gia đình Nghiên cứu của Miettola có phân tích vấn đề

Trang 5

này, kết quả không thấy liên hệ trầm cảm và

tình trạng hôn nhân

Việc làm

Dịch tễ học trầm cảm cho thấy thất nghiệp

hoặc khó khăn về tài chính thì thường bị trầm

cảm hơn trong dân số chung(5)

Theo tác giả Đặng Hoàng Hải(2), Miettola(7) tỉ

lệ trầm cảm ở người không có việc làm cao hơn,

nhưng phân tích đa biến, không có khác biệt về

tỉ lệ trầm cảm và việc làm

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận có liên

quan này, có việc làm ổn định trầm cảm ít hơn,

thất nghiệp và nghỉ hưu có tỉ lệ trầm cảm cao

hơn (p<0,001)

Uống rượu

Theo WHO(14), có liên hệ mật thiết giữa rượu

và trầm cảm Uống nhiều rượu dẫn đến trầm

cảm, trầm cảm có thể dẫn đến thói quen uống

rượu nguy hiểm và những rối loạn liên quan

đến uống rượu Nhưng kết quả của Koponen(6) tỉ

lệ uống rượu ở nữ trầm cảm 4,2% thấp hơn ở nữ

không trầm cảm 7,6% và tỉ lệ uống rượu ở nam

trầm cảm 24,1% thấp hơn ở nam không trầm

cảm 28,9% Ghi nhận rằng tỉ lệ trầm cảm ở người

uống rượu không cao hơn người không uống

rượu Tương tự khi Raikkonen(8) đánh giá

nghiện rượu không liên quan trầm cảm mà có

liên quan với lo âu

Nghiên cứu của chúng tôi cũng thấy không

có liên quan giữa trầm cảm và uống rượu

(p= 0,18)

Ngược lại, kết quả của Kinder(5) tỉ lệ uống

rượu ở nữ trầm cảm 70,9% cao hơn ở nữ không

trầm cảm 63,4% và tỉ lệ uống rượu ở nam trầm

cảm 83,96% cao hơn ở nam không trầm cảm

81,81% Tỉ lệ trầm cảm ở người uống rượu có

cao hơn, nhưng không có ý nghĩa thống kê (p <

0,10)

Hút thuốc

Có nhiều công bố đối lập nhau về liên quan

hay không giữa trầm cảm và hút thuốc, tương tự

trầm cảm và rượu

Vận động thể lực

Nhiều lý giải và đồng thuận về liên hệ trầm cảm và HCCH, lối sống khỏe mạnh như thể dục đều đặn làm giảm rối loạn trầm cảm, lối sống ít vận động làm tăng béo bụng ở HCCH vì thế tăng trầm cảm

Về liên quan trầm cảm và HCCH

Đường huyết

Các nghiên cứu về liên quan trầm cảm và đường huyết cao cho kết quả trái ngựơc nhau, điều này cho thấy mối liên quan này khá phức tạp, chịu tác động của nhiều yếu tố và cần nghiên cứu nhiều hơn nữa

Nhìn lại kết quả của chúng tôi, tỉ lệ có đường huyết cao và đái tháo đường khá cao, trong khi tỉ lệ trầm cảm không cao, phải chăng với nhiều kiến thức về bệnh lý đái tháo đường

và khả năng kiểm soát đường huyết tốt đã không ảnh hưởng nhiều đến tâm lý bệnh nhân

Lipid máu

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ TG cao

và HDL-C giảm ở nhóm trầm cảm và không trầm cảm khác biệt này không có ý nghĩa Thực tế hiện nay tại các phòng khám, nhiều bệnh nhân quan tâm và rất sợ “mỡ máu cao” Có lẽ nhờ quan tâm và lo sợ nên bệnh nhân đi khám và điều trị sớm, cộng với thói quen ăn uống (ít ăn thức ăn nhanh, ít dùng bơ sữa, ít dùng bia rượu, dùng nhiều rau xanh…) nên các rối loạn lipid máu chưa thật sự gây

hậu quả rối loạn trầm cảm

Tăng huyết áp

Hầu hết các nghiên cứu nêu trên đều không thấy liên quan trầm cảm và tăng huyết áp, nhưng nghiên cứu của chúng tôi lại khác, có thể

do nhận thức về bệnh tật và các biến chứng của

tăng huyết áp tác động đến tâm lý: người Việt

Nam hiểu biết về bệnh này khá rõ và rất sợ nhồi máu cơ tim hay liệt

Vòng eo

Liên quan trầm cảm và vòng eo to được tìm thấy nhiều nhất trong các nghiên cứu về liên hệ trầm cảm và HCCH Các nghiên cứu cho thấy có liên quan: Yoon(15), Dunbar(3), Takeuchi(10), một số

Trang 6

nghiên cứu cho thấy liên quan chỉ ở nữ giới

như: Skilton(9), Miettola(7) Nghiên cứu của chúng

tôi có kết quả tương tự, tỉ lệ vòng eo to ở nhóm

trầm cảm là 89,3% và không trầm cảm là 75,6%

(p= 0,028), khác biệt có ý nghĩa Điều thú vị, theo

Miettola tăng vòng eo 1cm làm tăng 7% nguy cơ

trầm cảm

HCCH nói chung

Nhiều nghiên cứu nhận định có liên quan

trầm cảm và số yếu tố của HCCH, càng nhiểu

yếu tố càng dễ trầm cảm, như Skilton(9),

Yoon(15) (p < 0,001) và kết quả của chúng tôi

tương tự (p= 0,013)

KẾT LUẬN

Bệnh nhân có HCCH cần được lưu ý vấn đề

trầm cảm, đặc biệt ở nữ giới, thất nghiệp, hôn

nhân không hạnh phúc…hay khi có bệnh mãn

tính kèm theo, có tăng huyết áp và vòng eo to

TÀI LIỆU THAM KHẢO

syndrome: Is Inflammation the underlying link ? Biol Psychiatry,

64(10), 896-900

Hồ Chí Minh, tỉ lệ mắc và hiệu quả của giáo dục trong điều trị

Luận án tiến sĩ y học, Đại học Y Dược TP HCM

Metabolic Syndrome in a General Population.Diabetes Care

vol.31(12), 2368-2373

12-month prevalence of DSM-III-R psychiatric disorders in the

United States : Results from the National Comorbidity Survey

Arch Gen Psychiatry 51, pp 8-19

metabolic syndrome in young adults : finding frome the Third National Health and Nutrition Examination Survey Psychosom Med 66, 316-322

predisposes to depressive symptoms: a population-based 7-year follow-up study J Clin Psychiatry, 69(2):178-82

University of Kuopio, Finland Metabolic syndrome is associated with self-perceived depression Scandinavian Journal of Primary Health Care, Vol 26, Issue 4 2008, pages 203 – 210

between psychological risk attributes and the metabolic syndrome in heathy women : antecedent or consequence ? Metabolism 51, 1573-1577

for Research In Human Nutrition (CRNH), University of Lyon,

the Metabolic Syndrome Biol Psychiatry, 62(11) : 1251-7

syndrome with depression and anxiety in Japanese men: a 1-year

cohort study Diabetes Metabolism Research And Reviews, 25(8),

762-767

syndrome with depression and anxiety in Japanese men: a 1-year

cohort study Diabetes Metabolism Research And Reviews, 25(8),

762-767

Independent Dominant Antiatherogenic Effect in Elderly Women Circulation, 107(12), 1626-1631

metabolic syndrome: gender-dependent associations Depress Anxiety, 25(8): 661-9

health WHO European Ministerial Conference in Mental Health, Helsinki, Finland 12-15 Jan 2005

Symptomatology and Metabolic Syndrome in Korean Women Korean J Obes, 14(4), 213-219

Ngày đăng: 22/01/2020, 06:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm