1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quan điểm và thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản tuổi vị thành niên

8 166 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 375,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam là một trong 10 nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới, bình quân có khoảng 600.000 trường hợp phá thai hàng năm. Các nghiên cứu trong nước cho thấy vị thành niên (VTN) Việt Nam thiếu kiến thức và kỹ năng về chăm sóc sức khỏe sinh sản. Vì vậy đề tài nhằm nghiên cứu mức độ quan tâm của cha mẹ, thầy cô và nhân viên y tế về chăm sóc sức khỏe trẻ vị thành niên.

Trang 1

QUAN ĐIỂM VÀ THỰC HÀNH VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN

TUỔI VỊ THÀNH NIÊN

Võ Triệu Đạt*, Nguyễn Duy Tài**

TÓM TẮT

Giới thiệu: Việt Nam là một trong 10 nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới, bình quân có khoảng 600.000

trường hợp phá thai hàng năm Các nghiên cứu trong nước cho thấy vị thành niên (VTN) Việt Nam thiếu kiến thức và kỹ năng về chăm sóc sức khỏe sinh sản

Mục tiêu: Nghiên cứu mức độ quan tâm của cha mẹ, thầy cô và nhân viên y tế về chăm sóc sức khỏe trẻ vị

thành niên

Phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi thực hiện một nghiên cứu định tính sử dụng phương pháp phỏng

vấn sâu bán cấu trúc cho 36 đối tượng nghiên cứu là cha mẹ, thầy cô và nhân viên y tế

Kết quả: Đối tượng phụ huynh: 4/10 các bà mẹ tán thành giáo dục giới tính (GDGT) toàn diện cho con họ

độ tuổi VTN, 3/10 các bà mẹ không muốn GDGT cho con mình quá sớm, 3/10 bà mẹ không đồng ý GDGT cho con họ Chỉ có 1 bà mẹ là quan tâm sâu sắc đến con mình, số còn lại thừa nhận ít hoặc không quan tâm đến con

họ Đối tượng thầy cô: 15/20 các thầy cô ủng hộ chương trình GDGT toàn diện, 3/20 thầy cô muốn trì hoãn đợi đến lúc các em học lên cấp 3, 2/20 thầy cô giáo phản đối GDGT ở nhà trường Đối tượng nhân viên y tế: tất cả đều ủng hộ GDGT toàn diện cho các em VTN Họ cũng là những nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản cho các em VTN

Kết luận: Mức độ quan tâm của phụ huynh và thầy cô đối với trẻ VTN trên phương diện quan điểm và

thực hành vẫn chưa có sự đồng thuận về GDGT toàn diện cho các em Đối với nhân viên y tế thì mức độ quan tâm về sức khỏe sinh sản VTN rất cao Nhân viên y tế là người trực tiếp tư vấn và truyền thông về sức khỏe sinh sản hiệu quả

Từ khóa: kiến thức, kỹ năn của chăm sóc sức khỏe sinh sản, trẻ vị thành niên

ABSTRACT

VIEWPOINT AND PRACTICE IN ADOLESCENT REPRODUCTIVE HEALTH CARE

Vo Trieu Dat, Nguyen Duy Tai

Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 1 - 2011: 145 - 152

Background: Vietnam is one of 10 countries having the highest abortion rate in the world, with an average

of 600.000 cases of abortion each year National researchs have shown lack of knowledge and skills for reproductive health care in vietnamese adolescents

Objectives: To learn about concern level (in the field of point of view and practice) of the subjects involved

(parents, teachers, health care professionals) to adolescents about reproductive health

Methods: Qualitative research conducted by a semi-structured interview on 36 subjects including parents,

teachers and health care professionals All the interviews were recorded The later collection and information analysis were based on the listening of recording tape of the conversations between interviewer and study subjects

Results: In parents:4/10 of the mothers agree with comprehensive sex education to their children, 3/10 don’t

* Bác sĩ Bệnh viện Pháp - Việt, ** Bộ môn Sản, Đại học Y Dược TPHCM

Tác giả liên lạc: BS Võ Triệu Đạt ĐT: 0903856439 Email: dr.nguyenduytai@yds.edu.com

Trang 2

approve this sex education too early to their children, 3/10 oppose teaching their children about sex Only one mother has real and deep concern and overall closeness to her child, the others admit to having little or no concerns of their children In teachers: 15/20 support comprehensive sex education program, 3/20 want to delay until their pupils getting to high schools, and 2/20 protest against sex education in school In health professionals: all of them support teaching comprehensive sex education to adolescents They are also suppliers of reproductive health care services to adolescents

Conclusions: Concern level of parents and teachers to adolescents in the field of viewpoint and practice is

not unanimous on the matter of comprehensive sex education With health care professionals, concern level about adolescent reproductive health is very high Health professionals are those who directly communicate and give adolescents advices about reproductive health effectively

Key words: knowledge, skills for reproductive health care, adolescents

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam là một trong 10 nước có tỷ lệ phá

thai cao nhất thế giới, bình quân có khoảng

600.000 trường hợp phá thai hàng năm(2) Theo

số liệu của Trung tâm Chăm sóc Sức khoẻ Sinh

sản TP.HCM, tỷ lệ phá thai của vị thành niên

(VTN) nữ có xu hướng gia tăng trong những

năm gần đây tại TP HCM (tỷ lệ phá thai VTN

/tổng số phá thai trong các năm 2005, 2006, 2007

lần lượt là 0,79;0,85;và 2,01%)(11)

Tỷ lệ quan hệ tình dục ở VTN đang có

khuynh hướng gia tăng 0,62% (trong số này, tỷ

lệ ở trẻ nam là 0,5% và ở trẻ nữ là 0,12%)(3) , đồng

thời tuổi bắt đầu quan hệ tình dục của các em

còn quá sớm (14 tuổi)(1) Ở độ tuổi này, trẻ VTN

vẫn chưa đủ kiến thức và kinh nghiệm để thực

hiện 1 hành vi tình dục an toàn Việc quan hệ

tình dục sớm và dễ thay đổi bạn tình ở trẻ VTN

đã dẫn đến một số vấn đề trong xã hội hiện nay:

tăng tỷ lệ mang thai ở trẻ VTN (62,6% ở nông

thôn và 71% ở thành thị), tăng tỷ lệ phá thai ở

VTN (10%)(1), tăng nguy cơ nhiễm HIV và các

bệnh lây truyền qua đường tình dục

Cho đến nay, các nghiên cứu trong nước đã

cho thấy VTN Việt Nam thiếu kiến thức và kỹ

năng về chăm sóc sức khỏe sinh sản Và hiện

đang có đề tài nghiên cứu tìm hiểu các yếu tố

nguyên nhân góp phần làm tăng tỷ lệ có thai

ngoài ý muốn ở VTN như thiếu sự quan tâm

chăm sóc của gia đình , nhà trường và các cơ

quan y tế Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đi

sâu phân tích về quan điểm của ngành giáo dục

nói chung và những người đóng vai trò giáo dục

và chăm sóc sức khỏe sinh sản cho VTN nói riêng trong mối liên quan đến việc mang thai tuổi VTN Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Quan điểm và thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản tuổi vị thành niên” với mục tiêu: Tìm hiểu mức độ quan tâm (trên phương diện quan điểm và thực hành) của các đối tượng có liên quan (cha mẹ, thầy cô, nhân viên y tế) đối với trẻ vị thành niên về sức khỏe sinh sản

TỔNG QUAN Y VĂN

Trên toàn thế giới, tỷ lệ có thai ở VTN thay đổi từ 143/1000 trẻ VTN ở các nước Châu Phi cho đến 2,9 /1000 ở Hàn Quốc(13) Theo báo cáo của Ngân Hàng Dữ Liệu Trẻ Em thuộc tổ chức Child Trends, hơn 1/3 các trường hợp thai VTN kết thúc bằng việc phá thai(8) Sở dĩ các trẻ lại quyết định phá thai vì chúng có mối quan tâm to lớn về việc liệu đứa bé trong bụng sẽ làm thay đổi cuộc sống của chúng (như kết thúc việc học hành), các trẻ quan tâm về vấn đề tài chính hay nhận thấy rằng chúng chưa đủ trưởng thành để

có thể làm mẹ

Dù các bậc cha mẹ có nghĩ thế nào, họ vẫn có sức ảnh hưởng rất lớn trên quyết định của con

họ về tình dục Nghiên cứu của tác giả Blum, R.M và Rinehard, P.M (1998) khẳng định về vai trò của mối quan hệ là trên hết Sự gần gũi giữa cha mẹ và con cái, chia sẻ mọi hoạt động, cha

mẹ thường xuyên có mặt ở nhà, sự quan tâm, chăm sóc và hỗ trợ của cha mẹ, tất cả đều kết hợp với việc giảm nguy cơ quan hệ tình dục

Trang 3

sớm và mang thai tuổi VTN Những trẻ VTN

có sự liên kết gần gũi với bố mẹ có khả năng

kiêng tình dục cao hơn, đợi được đến khi

chúng lớn hơn để có thể bắt đầu quan hệ, có ít

bạn tình hơn, và sử dụng biện pháp tránh

thánh thường xuyên hơn(5)

Giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản tại

nhà trường góp phần không nhỏ tạo nền tảng

kiến thức cho các em lứa tuổi VTN Nhìn chung,

chương trình GDGT được áp dụng ở nhà trường

tại các nước trên thế giới hiện nay đi theo 1 trong

2 khuynh hướng là giáo dục giới tính toàn diện

(Comprehensive Sex Education) và giáo dục giới

tính chỉ dựa vào kiêng quan hệ tình dục (Abstinence

- Only Sex Education) Nhiều bằng chứng cho

thấy chương trình GDGT chỉ dựa vào kiêng

quan hệ tình dục dẫn đến hậu quả nặng nề

không dự đoán được do từ chối VTN tiếp cận

thông tin cần thiết để tự bảo vệ bản thân Trong

khi đó chương trình GDGT toàn diện có thể dẫn

đến những thay đổi hành vi tích cực ở VTN và

làm giảm thai ngoài ý muốn và các bệnh lây qua

đường tình dục Các bằng chứng cũng cho thấy

chương trình này không khuyến khích VTN bắt

đầu tuổi quan hệ tình dục sớm hơn và không

khuyến khích VTN có nhiều bạn tình hơn(6)

Các chuyên gia, tổ chức và viện chăm sóc

sức khỏe sinh sản có thể là những lực lượng

nòng cốt trong nỗ lực của cộng đồng để ngăn

ngừa thai tuổi VTN Trong khi các nhà chăm sóc

sức khỏe là những người cung cấp các dịch vụ

và giáo dục ban đầu cho VTN và cha mẹ tại các

văn phòng, phòng khám, bệnh viện hay những

cơ sở y tế khác, bản thân họ cũng có thề tham

gia và liên minh có ý nghĩa trong công tác phòng

ngừa thai tuổi VTN trong cộng đồng(12)

Ở Việt Nam, theo Điều tra Quốc gia về Vị

thành niên và Thanh niên (SAVY) năm 2003 lần

đầu tiên được thực hiện ở Việt Nam với 7.584

thanh thiếu niên trong độ tuổi 14-25 ở 42 tỉnh,

thành phố từ những vùng thành thị lớn nhất cho

tới vùng nông thôn xa xôi với sự phối hợp giữa

Bộ Y tế, Tổng cục Thống kê, Tổ chức Y tế Thế

giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp quốc

(UNICEF) thấy rằng(3): Phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt Tivi, là nguồn thông tin phổ biến nhất về sức khỏe sinh sản Các nhà chuyên môn (thầy thuốc, giáo viên) xếp thứ hai, nhóm thiếu niên ở trường thường nhận được thông tin từ giáo viên Nhóm thanh niên nam 22-25 tuổi thường nhận được thông tin từ bạn bè Thanh thiếu niên nữ thường kiếm tìm nguồn thông tin

từ gia đình đặc biệt từ cha mẹ nhiều hơn thanh thiếu niên nam Nhóm nữ 14-17 tuổi kể hoặc hỏi người khác về hiện tượng dậy thì của mình nhiều hơn các chị lớn đã từng hỏi/kể; đây là một điều đáng khích lệ cho thấy nhận thức đã tăng lên và có sự cởi mở hơn trong việc trao đổi những vấn đề thầm kín

PHƯƠNG PHÁP – ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thiết kế là nghiên cứu định tính sử dụng phương pháp “Phỏng vấn sâu bán cấu trúc” dành cho từng đối tượng nghiên cứu

là cha mẹ, thầy cô và nhân viên y tế

Dân số nghiên cứu

Những bậc phụ huynh của nữ VTN sinh từ năm 1992 – 1997 đến khám, tư vấn, phá thai hoặc sanh tại BV Hùng Vương; những cán bộ giảng dạy ở trường học; nhân viên y tế tại BV Hùng Vương

Cỡ mẫu

Chúng tôi lập kế hoạch tính số lượng từng đối tượng nghiên cứu như sau:

Đối tượng thầy cô

Chọn phỏng vấn tại một trường phổ thông cấp hai và một trường phổ thông cấp ba của Huyện Củ Chi; một trường phổ thông cấp hai và một trường phổ thông cấp ba của quận 3 tại TP.HCM Đối với mỗi trường, phỏng vấn lần lượt 01 hiệu trưởng, 01 thầy hoặc cô giáo chủ nhiệm, 01 phụ trách y tế trường, 01 giám thị và

01 cán bộ công tác Đoàn

Đối tượng cha mẹ

Dự tính phỏng vấn 10 người là cha, mẹ của các nữ VTN có thai đến BV HV để thực hiện các dịch vụ về chăm sóc sức khỏe sinh sản

Trang 4

Đối tượng nhân viên y tế

Dự kiến phỏng vấn 10 nhân viên y tế gồm

Bác sĩ và nữ hộ sinh đang công tác tại BV

Hùng Vương, có tham gia chăm sóc sức khỏe

sinh sản VTN

Như vậy, tổng số các đối tượng nghiên cứu

cho cả 3 nhóm dự tính sẽ là 40 người

Nghiên cứu được thực hiện tại hai nơi: BV

Hùng Vương và Trường học Phỏng vấn được

thực hiện từ tháng 12/2009 đến tháng 06/2010

Các biến số nghiên cứu

Gồm 2 loại sau

- Biến số về sự quan tâm của cha mẹ dành

cho con cái của họ, được chia thành 3 mức độ:

+ Mức độ 1: Cha mẹ luôn dành sự quan tâm

một cách tốt nhất cho con của họ

+ Mức độ 2: Cha mẹ có quan tâm đến con em

của họ nhưng không thường xuyên và không

sâu sắc

+ Mức độ 3: Cha mẹ thường xuyên và hầu

như không nói chuyện với con cái của họ

- Biến số về quan điểm của cha mẹ, thầy cô

và nhân viên y tế về vấn đề GDGT toàn diện cho

các em VTN:

+ Quan điểm 1: Hoàn toàn đồng ý và ủng hộ

phải GDGT toàn diện cho các em VTN

+ Quan điểm 2: Đồng ý với việc GDGT toàn

diện cho các em VTN, nhưng muốn trì hoãn

đến lúc các em học lên cấp 3 là thích hợp và

đúng lúc

+ Quan điểm 3: Không đồng ý việc GDGT

toàn diện cho các em cũng như hạn chế chương

trình GDGT ở nhà trường

Nội dung phỏng vấn sâu

Những vấn đề phỏng vấn sâu cha mẹ:

- Quan điểm của cha mẹ về GDGT toàn diện

(trong đó có hướng dẫn phòng tránh thai và

dùng bao cao su) và GDGT chỉ dựa trên kiêng

quan hệ tình dục

- Thực hành của cha mẹ về GDGT toàn diện cho con họ Bản thân họ đã làm gì để cung cấp thông tin cho con cái họ

Những vấn đề phỏng vấn sâu thầy cô

- Quan điểm của thầy cô về GDGT toàn diện và GDGT chỉ dựa trên kiêng nhịn quan hệ tình dục

- Ý kiến của thầy cô về việc triển khai GDGT trong nhà trường, mức độ triển khai

- Kỹ năng thực hành của thầy cô về giảng dạy GDGT học đường

Những vấn đề phỏng vấn sâu cán bộ y tế

- Quan điểm của cán bộ y tế về GDGT toàn diện và GDGT chỉ dựa trên kiêng nhịn quan hệ tình dục

- Việc triển khai công tác tư vấn sức khỏe sinh sản trong nhà trường với sự hỗ trợ của cán

bộ y tế

- Việc cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản cho VTN tại cơ sở y tế hiện nay

Quá trình phỏng vấn sẽ được ghi âm lại Phần thu thập và phân tích thông tin sau đó sẽ dựa vào việc nghe lại đoạn băng ghi âm đoạn đối thoại giữa phỏng vấn viên và đối tượng nghiên cứu

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Đối tượng phụ huynh

Quan điểm

Quan điểm 1: Chỉ có 4/10 các bà mẹ tán thành GDGT cho con của họ độ tuổi VTN Họ cho rằng giáo dục sớm cho các em sẽ là hành trang giúp các em tự tin bước vào đời, vẽ cho các

em những hướng đi đúng giúp các em chủ động phòng tránh việc mang thai ngoài ý muốn nếu

có quan hệ với bạn trai Suy nghĩ của một số bà

mẹ khi được hỏi về GDGT toàn diện so sánh với GDGT chỉ dựa vào kiêng QHTD cho rằng tình dục là một bản năng, mà bản năng thì không thể nào ngăn cản được Họ thích nói với con họ một cách đầy đủ hơn là chỉ ép con họ không được quan hệ

Trang 5

- Quan điểm 2: Gặp ở 3/10 các bà mẹ Có

nhiều lý do được đưa ra để biện hộ cho việc

không muốn dạy cho các con biết quá sớm về

những chuyện “tế nhị” như vậy, nhưng điều

dẫn đến một điểm chung là sợ các con hư hỏng

sớm, biết càng trễ càng tốt Và họ chỉ muốn nói

chuyện với con họ về tình dục khi các em đã đến

giai đoạn cấp 3 vì theo họ thời điểm đó là vừa

phải, không sớm cũng không muộn

- Quan điểm 3: chiếm 3/10 Họ cho rằng, dạy

cho các em về giới tính và tình dục là vẽ đường

cho hươu chạy, là điều không nên làm

Thực hành

- Quan tâm mức độ 1: Trong số 10 bà mẹ thì

chỉ có duy nhất 1 bà mẹ thể hiện sự quan tâm

đến con mình một cách rất cụ thể: Dành thời

gian nói chuyện với con mình, theo dõi mọi sinh

hoạt của con, nói chuyện với con về sức khỏe

sinh sản, có tư vấn về ngừa thai, thậm chí người

mẹ còn để ý đến tình trạng kinh nguyệt của con

hàng tháng, theo dõi lượng máu kinh, lượng

băng vệ sinh, ngày hành kinh để chắc chắn là

con mình có kinh vào tháng đó

- Quan tâm mức độ 2: Chiếm 2/10 Họ có

quan tâm đến con em của họ nhưng không

thường xuyên và không sâu sắc Họ cũng có hỏi

han về việc học của con, có nói chuyện tâm sự

với con nhưng chỉ một cách chung chung và

không đào sâu tìm hiểu cặn kẽ những suy nghĩ

cũng như những khó khăn, sở thích, hay tâm sự

mà con họ đang gặp phải

- Quan tâm mức độ 3: Đa số các bà mẹ (7/10)

đều thừa nhận không có sự quan tâm, lo lắng và

gần gũi đến con của mình Điều đó bao gồm cả

việc không bao giờ truyền đạt vấn đề GDGT cho

con mình

Đối tượng thầy cô giáo

Quan điểm

- Quan điểm 1: 15/20 các thầy cô ủng hộ

chương trình GDGT toàn diện và cho rằng cần

thiết phải đưa GDGT vào trường học Khi được

hỏi về thời điểm nào cần đưa GDGT vào học

đường thì tất cả đều ủng hộ quan điểm GDGT

cho các em ngay từ sớm sẽ hướng dẫn các em đi đúng đường và góp phần làm giảm tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn ở lứa tuổi rất trong sáng của các em

- Quan điểm 2: 3/20 thầy cô giáo chưa đồng

ý với việc GDGT cho các em ngay từ sớm mà muốn trì hoãn đợi đến lúc các em trưởng thành hơn một chút Họ cho rằng, nếu cung cấp cho học sinh những thông tin quá sớm và giúp chúng phòng ngừa thai cũng như các bệnh lây truyền qua đường tình dục sẽ tạo điều kiện đẩy các học trò này vào hoạt động tình dục sớm và bừa bãi

- Quan điểm 3: Có 2/20 thầy cô giáo phản đối việc áp dụng GDGT vào nhà trường Họ kịch liệt phản đối và cho rằng điều đó là hoàn toàn không có lợi mà ngược lại là “con dao hai lưỡi”

sẽ tạo điều kiện cho các em tò mò đưa đến hành

vi không tốt Vả lại, các em còn quá nhỏ, chưa thể hiểu được vấn đề một cách thấu đáo

Thực hành

- Trong số 20 giáo viên đang công tác tại 4

trường học thì chỉ có 4 người là đang đứng trực tiếp giảng dạy các bài học giới tính cho các em học sinh Đó chính là các cán bộ phụ trách y tế tại 4 trường học Cả 4 giáo viên đều thấy rằng nội dung GDGT hiện tại vẫn chưa đầy đủ, chưa

đi sát với thực tế, nhất là thiếu những buổi dạy cho các em về thực hành các biện pháp tránh thai nào thích hợp với lứa tuổi của các em Họ rất đồng tình với việc bổ sung thêm một số nội dung GDGT vào chương trình học chính khoá cũng như đưa môn học này thành một môn học

cụ thể dành cho các em học sinh

- Tại hai trường học ở quận 3 Tp.HCM có hợp tác với các Bác sĩ ở Bệnh Viện Phụ Sản hay các chuyên gia tâm lý tổ chức những buổi học,

tư vấn và giải đáp những thắc mắc của các bạn học sinh về mọi khía cạnh tâm sinh lý sức khoẻ sinh sản Đây là chương trình nằm trong khuôn khổ của GDGT học đường đang được triển khai trong tất cả các trường học, cao đẳng và Đại Học tại TP.HCM thời gian gần đây Đối với những thầy cô giáo ở ngoại thành, họ cũng mong muốn

Trang 6

có những buổi học ngoại khoá có chuyên viên

tâm lý về hướng dẫn cho các em, nhưng có lẽ

chưa có điều kiện tổ chức như ở thành phố nên

vẫn chưa triển khai được

Đối tượng nhân viên y tế

Dự kiến của chúng tôi là phỏng vấn 10 nhân

viên y tế tại Phòng sanh, phòng khám phụ khoa

và Khoa kế hoạch hoá gia đình BV Hùng

Vương Nhưng sau khi phỏng vấn đến người

thứ 6, chúng tôi thấy tất cả đều trả lời cùng một

ý kiến và quan điểm Lúc này, mục tiêu nghiên

cứu đã đạt được nên chúng tôi dừng lại không

phỏng vấn nữa

Quan điểm

- Tất cả các đối tượng phỏng vấn đều ủng

hộ quan điểm 1, tức hoàn toàn đồng ý và ủng

hộ phải GDGT toàn diện cho các em VTN nhất

là ở giai đoạn cấp 2 của các em (lớp 7 - 8) nhằm

trang bị sớm cho các em về kiến thức giới tính

và tính dục, đặc biệt là các biện pháp ngừa thai

thích hợp để các em tự tin và không bị bỡ ngỡ

trước những tình huống bất ngờ và “nhạy

cảm”, đồng thời giảm được tỷ lệ mang thai và

nạo phá thai VTN

Thực hành

- Nhân viên y tế là những người tư vấn,

cung cấp kiến thức cho các em về sức khỏe sinh

sản tại Bệnh Viện đồng thời cũng là những nhà

cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản

cho các em Vị thành niên

- Ngoài việc chăm sóc SKSS cho các em tại

trường, các nhân viên y tế còn sẵn sàng hợp tác

với nhà trường để tổ chức những buổi nói

chuyện, tư vấn SKSS cho các em khi có yêu cầu

BÀN LUẬN

Quan điểm của các bậc phụ huynh vẫn chưa

có sự thống nhất về GDGT cho các em VTN

Vẫn còn tồn tại cả 3 quan điểm 1, 2 và 3 trong số

phụ huynh mà chúng tôi phỏng vấn Điều này

tương đồng với nghiên cứu của hai tác giả Bùi

Thanh Mai và Hoàng Thị Hoa tiến hành nghiên

cứu ở VTN cho thấy cha mẹ và người thân

không được coi là nguồn cung cấp thông tin chính cho vấn đề này(4) Kết quả là các em tự tìm hiểu, thu nhận kiến thức qua sách báo và qua những người bạn nên kiến thức không những không đầy đủ mà đôi lúc còn sai

Hầu như tất cả phụ huynh đều thừa nhận sự quan tâm dành cho các con họ tập trung ở mức

độ 2 và mức độ 3 Nghĩa là chỉ dừng lại ở mức

độ quan tâm ít, không thường xuyên đến không quan tâm kèm theo không có cơ hội nói chuyện với con họ về giới tính kể cả hướng dẫn con họ

về biện pháp tránh thai Kết quả này cũng đã ủng hộ cho nghiên cứu của tác giả Blum, R.M và Rinehard, P.M (1998) khẳng định về vai trò của mối quan hệ là trên hết(5)

Mặc dù quan điểm của một số cha mẹ rất muốn GDGT cho con họ từ sớm, nhưng thực tế

họ không có nhiều thời gian để gần gũi con nên kéo theo đó là không có cơ hội để trò chuyện với con họ Thật vậy, hiện nay dưới sức ép của nền kinh tế thị trường, nhiều người cho rằng thước

đo sự thành đạt trong xã hội là làm ra càng nhiều tiền càng tốt Điều này đưa đến một thực trạng là cha mẹ trong nhiều gia đình mải mê làm việc kiếm tiền dẫn đến không có hoặc thiếu sự quan tâm, lắng nghe tâm sự của con Trong nghiên cứu của chúng tôi, đa số các bà mẹ thừa nhận không có thời gian để trò chuyện với con cái của họ, vì nhiều lý do khác nhau: Bận rộn với công việc, đi công tác thường xuyên, hay do tôn trọng cuộc sống riêng của mỗi cá nhân Mặt khác, việc nói chuyện với con em họ về sức khỏe giới tính cũng đặt ra cho họ nhiều khó khăn do không có thói quen và rằng đây là một vấn đề tế nhị mà không phải một ông bố bà mẹ nào cũng

có thể làm được

Nhà trường và các thầy cô giáo hiện nay dù

có sự quan tâm nhưng chưa đúng mức về chương trình GDGT ở học đường Trong khi chính các em là những người rất cần tìm hiểu những thông tin này Một nghiên cứu của tác giả Huỳnh Nguyễn Khánh Trang năm 2005 ở đối tượng học sinh cấp 3 tại TP.HCM cho thấy: Nhu cầu được học về giới tính tính dục gia tăng theo

Trang 7

tuổi và lớp với mức độ mong muốn rất cần

chiếm 62,1% so với số không có nhu cầu

15,43%(5) Một nghiên cứu khác về kiến thức, thái

độ và hành vi tính dục của 1.017 học sinh tại 4

trường phổ thông trung học tại TP.HCM năm

1999 ghi nhận: Các em mong muốn được biết

thêm các thông tin về tình yêu (68,7%), có thai –

ngừa thai (56,9%), mong muốn nhà trường là nơi

cung cấp thông tin về sức khỏe sinh sản (50,8

%)(8) Điều này có nghĩa là không thể phủ nhận

vai trò của nhà trường trong việc trang bị kiến

thức cho các em Quan điểm của các giáo viên

chưa thực sự nhất quán về thời điểm cần đưa

chương trình GDGT vào nhà trường Mặc dù

vậy, quan điểm của các thầy cô lại rất nhất quán

về phương pháp giáo dục Họ đồng loạt chọn

lựa GDGT toàn diện, trong đó quan trọng là

phải hướng dẫn cho học sinh về các biện pháp

tránh thai, phải có những buổi ngoại khoá

hướng dẫn thực hành sử dụng bao cao su Quan

điểm này hoàn toàn ủng hộ cho nghiên cứu của

tác giả Kohler và cộng sự (2008) cho thấy rằng(9)

Những trẻ VTN nào được GDGT toàn diện thì

khả năng mang thai ít hơn 60 % so với những trẻ

không được GDGT

Một điều đáng vui mừng là tất cả các cán bộ

y tế tại BV Hùng Vương được phỏng vấn đều

thể hiện quan điểm rõ ràng, nhất quán về việc

GDGT cho các em càng sớm càng tốt (quan điểm

1) Họ rất đồng tình với phương pháp GDGT

toàn diện cung cấp cho các em những kiến thức

về sinh sản, đặc biệt là cung cấp và hướng dẫn

cho các em về các biện pháp ngừa thai có hiệu

quả và phù hợp cho lứa tuổi VTN như hướng

dẫn cách sử dụng bao cao su, hướng dẫn cách sử

dụng thuốc ngừa thai khẩn cấp hay thuốc viên

ngừa thai uống kết hợp Họ phản đối việc

GDGT chỉ dựa vào kiêng quan hệ tình dục vì

như thế sẽ không có hiệu quả, vì tình dục là một

bản năng Có lẽ vì là những người làm trong

nghề y, có kiến thức , có hiểu biết và có tiếp xúc

với các em nên các nhân viên y tế bản thân họ

rất hiểu về những khó khăn và những biến đổi

tâm sinh lý cũng như nhu cầu tìm hiểu về tình

dục ở đối tượng VTN Họ luôn luôn chủ trương

với quan niệm “hướng dẫn cho hươu chạy đúng đường, vì không vẽ đường thì hươu vẫn chạy” Đây là một quan điểm đúng đắn và phù hợp trong đời sống xã hội hiện nay, bởi vì bằng chứng là theo một nghiên cứu thuộc Chiến dịch Quốc gia Ngăn ngừa Mang thai VTN (Mỹ) đã nghiên cứu 250 chương trình GDGT Kết luận của nghiên cứu này là "đại đa số bằng chứng cho thấy GDGT có đề cập tới tránh thai không làm gia tăng hoạt động tình dục"(14)

Ngoài quan điểm nhất quán và đồng loạt trong việc tư vấn GDGT cho các em VTN thì bản thân các nhân viên y tế còn làm tốt mảng thực hành “chăm sóc sức khỏe sinh sản” cho các em, thể hiện ở việc cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS đầy đủ và “giải quyết” những hậu quả do thiếu kiến thức về biện pháp ngừa thai của các em VTN

KẾT LUẬN

Qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi có một số

kết luận sau:

- Mức độ quan tâm của phụ huynh đối với trẻ VTN trên phương diện quan điểm và thực hành vẫn chưa có sự đồng thuận về GDGT toàn diện cho các em và sự tiếp xúc, gần gũi giữa cha mẹ - con cái (không thường xuyên hay tích cực) Điều này ảnh hưởng đến mức độ truyền đạt và tư vấn thông tin về sức khỏe sinh sản cho trẻ VTN

- Mức độ quan tâm của thầy cô đối với trẻ VTN là nhất quán về chủ trương GDGT toàn diện Tuy nhiên, thời điểm bắt đầu chương trình GDGT cho các em vào đầu cấp 2 hay đầu cấp 3 chưa được thống nhất

- Đối với nhân viên y tế thì mức độ quan tâm

về sức khỏe sinh sản VTN rất cao Nhân viên y

tế là người trực tiếp tư vấn và truyền thông về sức khỏe sinh sản hiệu quả

TÀI LIỆU THAM KHẢO

niên và thanh niên Việt Nam (SAVY), trang 36 – 62

Trang 8

4 Bùi Thanh Mai, Hoàng Thị Hoa (1998) Trẻ vị thành niên và

các biện pháp tránh thai: Thực trạng và những câu hỏi Đại

học Y Khoa Hà Nội

Connections that make a difference in the lives of youth

Center for Adolescent Health and Development, University

of Minnesota Minneapolis, MN

Education: What is the arguments ? What is the evidence ? p

8 – 15

quan hoạt động tình dục ở học sinh cấp 3 tại Thành Phố Hồ

Chí Minh Y Học TP.Hồ Chí Minh, tập 9 – Phụ bản số 1 –

2005: trang 146 – 151

socioeconomic characteristics of women obtaining abortions

in 2000-2001 Perspectives on Sexual and Reproductive

Health, 34(5), p 226 - 235

and comprehensive sex education and the initiation of sexual

activity and teen pregnancy J Adolesc Health 42 (4) p 344 –

350

độ và hành vi tính dục của học sinh phổ thông trung học tại Thành Phố Hồ Chí Minh Luận văn thạc sĩ y học, trang 21 –

50

Báo cáo tổng kết Chương trình bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em

và Kế hoạch hoá gia đình và Chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em

Get Organized: A Guide to Preventing Teen Pregnancy Washington, DC: Author, chapter 10, p 101 – 109

worldwide problem Nederlands tijdschrift voor geneeskunde, 147(47), p 2320 – 5 Retrieved July 7, 2006

Four Title V Section 510 Abstinence Education Programs p

59 – 61

Ngày đăng: 20/01/2020, 09:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w