1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản và một số yếu tố liên quan của học sinh trường trung học phổ thông đông thụy anh, tỉnh thái bình năm 2018

102 987 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH VŨ THỊ QUYÊN KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐÔNG THỤY ANH

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

VŨ THỊ QUYÊN

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐÔNG THỤY ANH,

TỈNH THÁI BÌNHNĂM2018

LUẬN VĂNTHẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

THÁI BÌNH - NĂM 2019

Trang 2

VŨ THỊ QUYÊN

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE SINH SẢN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐÔNG THỤY ANH,

Trang 3

Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, dạy bảo tận tình và hỗ trợ chân thành của các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp, sự động viên của gia đình và những người thân

Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Đảng Ủy, Ban Giám hiệu, PhòngQuản lý Đào tạo Sau đại học, Khoa Y tế Công cộng Trường Đại học Y Dược Thái Bình cùng các thầy giáo, cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy,hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôixin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS.Nguyễn Đức Thanh, GS.TS Trần Quốc Kham,những người thầy đã trực tiếp hướng dẫn tận tình chỉbảo và đóng góp những ý kiến quý báu trong suốt quá trình tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn tới Ban lãnh đạo Trung tâm Y tế Thái Thụy, Ban giám hiệu Trường Trung học Phổ thông Đông Thụy Anh đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin được cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn

bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Xin trân trọng cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Vũ Thị Quyên

Trang 4

Tôi tên là Vũ Thị Quyên, học viên khóa đào tạo trình độ Thạc sỹ năm 2017-2019, chuyên ngành Y tế Công cộng của Trường Đại học Y Dược Thái Bình, xin cam đoan:

1.Đây là bản luận văn do bản thân tôi trực tiếp tham gia thực hiện đề tài“Kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản và một số yếu tố liên quan của học sinh Trường Trung học phổ thông Đông Thụy Anh” thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Đức Thanh, GS.TS Trần Quốc Kham

2 Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác được công bố tại Việt Nam Các số liệu và thông tin công bố trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của nơi nghiên cứu

NGƯỜI CAM ĐOAN

Vũ Thị Quyên

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Tuổi vị thành niên và sức khỏe sinh sản 3

1.1.1 Một số khái niệm 3

1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của tuổi vị thành niên 5

1.1.3 Các nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản 7

1.2 Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan của vị thành niên về chăm sóc sức khỏe sinh sản 9

1.2.1 Trên Thế giới 9

1.2.2 Tại Việt Nam 15

Chương 2:ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Địa bàn, đối tượng và thời gian nghiên cứu 22

2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 22

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 23

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 23

2.2 Phương pháp nghiên cứu 24

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 24

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 24

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 27

2.2.4 Biến số, chỉ số nghiên cứu 28

2.2.5 Các biện pháp khống chế sai số 30

2.2.6 Phương pháp xử lý thông tin 30

2.2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 30

Trang 7

thành niên 313.1.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 313.1.2 Kiến thức của học sinh về sức khỏe sinh sản vị thành niên 323.1.3 Thái độ và thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên 453.2 Mối liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên ở học sinh 50

Chương 4:BÀN LUẬN 55

4.1 Kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh về sức khỏe sinh sản vị thành niên 554.1.1 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 554.1.2 Kiến thức của học sinh về sức khỏe sinh sản vị thành niên 564.1.3 Thái độ, thực hành của học sinh về sức khỏe sinh sản vị thành niên 644.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh

về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên 67

KẾT LUẬN 74 KHUYẾN NGHỊ 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

Bảng 3.2 Đặc điểm hoàn cảnh sống của đối tượng nghiên cứu …………32

Bảng 3.3 Tỷ lệ học sinh biết về thời điểm dễ có thai nhất trong 33

Bảng 3.4 Tỷ lệ học sinh biết các dấu hiệu của phụ nữ được cho là có thai 34

Bảng 3.5 Tỷ lệ học sinh biết về hậu quả khi làm mẹ quá trẻ 35

Bảng 3.6 Tỷ lệ học sinh biết các cơ sở nạo phá thai an toàn 37

Bảng 3.7 Tỷ lệ học sinh biết về các biện pháp tránh thai 38

Bảng 3.8 Quan điểm của học sinh về các biện pháp tránh thai phù hợp nhất với vị thành niên 39

Bảng 3.9 Tỷ lệ học sinh biết về nơi cung cấp bao cao su 40

Bảng 3.10 Tỷ lệ học sinh biết về các bệnh LTQĐTD 41

Bảng 3.11 Tỷ lệ học sinh biết về các biểu hiện khi mắc các bệnh LTQĐTD 41

Bảng 3.12 Tỷ lệ học sinh biết về các biện pháp phòng tránh bệnh LTQĐTD 42 Bảng 3.13 Tỷ lệ học sinh biết về đường lây truyền của HIV 43

Bảng 3.14 Tỷ lệ học sinh biết về cách phòng tránh lây nhiễm HIV 43

Bảng 3.15 Thái độ của học sinh khi nói chuyện/hỏi người thân bạn bè về lĩnh vực SKSS VTN 45

Bảng 3.16 Mức độ quan tâm đến chăm sóc SKSS VTN của học sinh 45

Bảng 3.17 Thái độ của học sinh với truyền thông về SKSS trường học 47

Bảng 3.18 Cách thức học sinh được tư vấn chăm sóc SKSS 48

Bảng 3.19 Tỷ lệ học sinh trong năm vừa qua đã đi khám bệnh liên quan tới SKSS VTN 48

Bảng 3.20 Các nguồn thông tin học sinh biết về chăm sóc SKSS VTN 50

Bảng 3.21 Tỷ lệ học sinh được truyền thông chăm sóc SKSS tại trường 51

Bảng 3.22 Các loại hình truyền thông mà học sinh mong muốn được 51

Bảng 3.23 Các địa điểm thích hợp để khám chữa bệnh về SKSS VTN 52

Trang 9

Bảng 3.25 Mối liên quan giữa việc ngại nói chuyện với người thân bạn bè

theo khu vực 53 Bảng 3.26 Mối liên quan giữa thái độ với chăm sóc SKSS VTN theo giới 54 Bảng 3.27 Mối liên quan giữa việc được tư vấn về chăm sóc SKSS VTN

với giới tính 54

Trang 10

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ đối tượng tham gia nghiên cứu theo khối học 31

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ học sinh biết về độ tuổi vị thành niên 32

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ học sinh biết về hậu quả của nạo phá thai 36

Biểu đồ 3.4 Mức độ hiểu biết về chăm sóc sức khỏe VTN của học sinh 44

Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ học sinh được truyền thông về SKSS qua môn học 46

Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ học sinh được tư vấn truyền thông chăm sóc SKSS 47

Biểu đồ 3.7 Địa điểm học sinh đi khám bệnh liên quan đến SKSS 49

Biểu đồ 3.8 Người đi cùng học sinh khi khám bệnh về SKSS 52

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vị thành niên là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em thành người trưởng thành Vị thành niên có đặc điểm tâm sinh lý đặc thù như thích thử nghiệm, thích khám phá năng lực bản thân, năng động, sáng tạo Với những đặc điểm này, tuổi vị thành niên liên tục đối mặt với những thách thức cũng như nguy

cơ Trong bối cảnh trên, vị thành niên cần được cung cấp thông tin chính xác

và đúng đắn giúp các em hiểu quá trình phát triển bản thân, nguy cơ cho sức khỏe, điều kiện cần thiết để khỏe mạnh Vị thành niên cần dịch vụ y tế dự phòng, điều trị và nâng cao sức khỏe mang tính toàn diện bao gồm các dịch

vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục [12]

Chăm sóc sức khỏe sinh sản (SKSS) tuổi vị thành niên là một vấn đề thời sự đang rất được quan tâm ở nước ta Bộ Y tế cũng đã đưa ra “Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ CSSKSS” năm 2016 cho lứa tuổi vị thành niên

Vị thành niên là người trong độ tuổi 10 - 19, được phân làm 3 giai đoạn: Vị thành niên sớm: từ 10-13 tuổi Vị thành niên trung bình: từ 14-16 tuổi Vị thành niên muộn: từ 17-19 tuổi [6]

Theo Quỹ dân số Liên Hợp Quốc, thì Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới Các trường hợp nạo phá thai ở tuổi vị thành niên chiếm tới 20%số ca nạophá thai trên cả nước, trong đó có 5% em gái sinh con trước tuổi 18, 15% sinh con trước tuổi 20 [40].Lứa tuổi vị thành niên vẫn có tỷ lệ nhất định mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt là HIV/AIDS Côngtácgiáo dục giới tínhvà chăm sóc sức khỏe sinh sản ở Việt Nam tuy đã được triển khai từ rất sớm nhưng vẫn còn nhiều bất cập do đây là một công việc phức tạp và tế nhị, không chỉ đòi hỏi quan tâm của ngành y tế mà còn của cả xã hội cùng phối hợp thực hiện.Nhiều thống kê cho thấy có sự gia tăng rõ rệt các vấn đề như mang thai sớm, mang thai ngoài

ý muốn, nạo phá thai, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, kể cả HIV/AIDS ở vị thành niên ở nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam

Trang 12

Hiện naytrên địa bàn huyện Thái Thụy có 5 trường THPT, trong đó có

4 trườ ng công lâ ̣p: THPT Đông Thụy Anh, THPT Tây Thụy Anh, THPT Thái Ninh, THPT Thái Phúc, 1 trườ ng dân lâ ̣p là THPT Dân lâ ̣p Diêm Điềnvà 1 Trung tâmgiáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên huyện Thái Thu ̣y Các em học sinh theo học tại các trường này đều nằm trong lứa tuổi vị thànhniên Cho đến nay tại các trường học nàyvẫn chưa có một nghiên cứu nào tìm hiểuvấn đề kiến thức, thái độ, thực hànhvề sức khỏe sinh sản vị thành niên, thanh niên của các em học sinh đang học tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn của huyện nói chung và Trường THPT Đông Thụy Anh nói riêng

Vấn đề đặt ra là kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe sinh sản vị thành niên của các em học sinh tại các trường trung học phổ thông huyện Thái Thụy như thế nào? Sự hiểu biết của các em về các bệnh lây truyền qua đường tình dục, các biện pháp tránh thai, thái độ về vấn đề quan hệ tình dục ra sao? Nhu cầu của các em học sinh về thông tin, giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên như thế nào? Có những yếu tố nào liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe sinh sản vị thành niên Vì những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với mục tiêu sau:

thành niên của học sinh Trường Trung học phổ thông Đông Thụy Anh, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình năm 2018

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên của các đối tượng tại địa bàn nghiên cứu

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Tuổi vị thành niên và sức khỏe sinh sản

1.1.1 Một số khái niệm

Tuổi vị thành niên: Vị thành niên (VTN) là giai đoạn trong quá trình

phát triển của con người với đặc điểm lớn nhất là sự tăng trưởng nhanh chóng

để đạt đến sự trưởng thành về cơ thể , sự tích lũy kiến thức , kinh nghiê ̣m xã

hô ̣i và đi ̣nh hình nhân cách để có thể lãnh trách nhiệm đầy đủ trong cuộc sống sau này Giai đoa ̣n này được hiểu mô ̣t cách đơn giản là giai đoa ̣n : "sau trẻ con

và trước người lớn”

Theo định nghĩa của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) và Tổ chức

Y tế thế giới (WHO) thì VTN là những người trong độ tuổi từ 10 đến 19 tuổi Đây là giai đoạn phát triển về thể chất, trí tuệ và những thay đổi hành vi, tâm

lý được nhận biết qua việc nâng cao mức độ tự chủ bản thân, nhận thức về cái

“tôi”, lòng tự trọng và tính độc lập [65], [68]

Theo Bộ Y tế thì VTN là nh ững ngườ i trong đ ộ tuổi từ 10 đến 18 Độ tuổi vi ̣ thành niên chia thành 3 giai đoa ̣n: giai đoa ̣n tiền VTN: 10-13 tuổi; giai đoa ̣n trung VTN: 14-16 tuổi; giai đoa ̣n hâ ̣u VTN: 17-18 tuổi [6]

Sức khỏe sinh sản

Hội nghị Quốc tế về Dân số và phát triển họp tại Cairo năm 1994 định nghĩa về sức khỏe sinh sản: “Sức khỏe sinh sản là tình trạng khỏe mạnh về thể lực, tinh thần và xã hội của tất cả những gì liên quan đến hoạt động và chức năng của bộ máy sinh sản chứ không phải là không có bệnh hay khuyết tật của bộ máy đó” [12], [17]

Sức khỏe sinh sản vị thành niên: là những nội dung nói chung của

SKSS nhưng được ứng dụng phù hợp cho lứa tuổi VTN

Trang 14

Tại Việt Nam, công tác chăm sóc SKSS cho phụ nữ ở nước ta trong những thập kỷ qua đã đạt được nhiều tiến bộ đáng khích lệ, đã được Đảng và Nhà nước đánh giá cao Mặc dù công tác chăm sóc SKSS cho sản phụ giữ một vai trò hết sức quan trọng; tuy nhiên, chưa được thực hiện như mong đợi, nhất là đối với phụ nữ ở các vùng khó khăn, vùng núi cao và dân tộc thiểu số [8], [13], [22], [23] Theo tác giả Bùi Thị Thu Hà [11] tập quán của các vùng dân tộc có ảnh hưởng, có thể là tích cực hoặc tiêu cực, tới việc chăm sóc người mẹ và trẻ sơ sinh

Bên cạnh đó, năng lực cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS cho người dân nói chung, vị thành niên nói riêng tại y tế tuyến cơ sở còn hạn chế [25], [33], [34], [35] Trình độ kỹ thuật, điều kiện cơ sở vật chất, dịch vụ chăm sóc y tế thiếu thốn, lạc hậu cùng với các thói quen và kiến thức hạn chế của các bà mẹ trong khi mang thai và khi sinh là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình sức khỏe bà mẹ [16], [20], [30] Ngoài ra, một số vấn đề về thực hành khám thai, sử dụng biểu đồ chuyển dạ và tư vấn sau sinh của các cán bộ y tế, trong đó có các cán bộ TYT xã còn thấp hơn so với yêu cầu của Hướng dẫn Quốc gia Đây cũng là một trong những lý do dẫn tới việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ CSSKSS của người dân còn hạn chế [21], [31], [41], [44]

Các nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tử vong mẹ là các tai biến sản khoa trong quá trình thai nghén (thời kỳ mang thai, chuyển dạ và sau sinh), do can thiệp sản khoa, chẩn đoán sai, điều trị không đúng Cụ thể như băng huyết, nhiễm trùng, tiền sản giật/sản giật, đẻ khó, nạo hút thai không an toàn, chửa ngoài tử cung, tắc mạch ối và các trường hợp tử vong có liên quan đến gây

mê do mổ lấy thai… trong đó nguyên nhân gây tử vong mẹ nhiều nhất là băng huyết Đây là nguyên nhân chính gây ra tử vong mẹ ở các nước đang phát triển, chiếm hơn 25% tổng số ca tử vong Nhiễm khuẩn sau đẻ là nguyên nhân quan trọng xếp thứ 2 của chết mẹ ở các nước đang phát triển, chiếm đến 20% tổng số ca chết mẹ [19], [20], [42], [43]

Trang 15

Người ta nhận thấy, tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới ở phụ

nữ có liên quan đến các yếu tố như: thu nhập, trình độ học vấn, tiền sử mắc nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới Theo Trịnh Hữu Vách (2013), tỷ lệ mắc bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới ở nhóm phụ nữ có thu nhập thấp, trình độ học vấn thấp, thiếu hiểu biết về bệnh, có tiền sử mắc bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục, hành vi tình dục không an toàn, cao hơn so với nhóm khác [45]

Vai trò của truyền thông trực tiếp trong cung cấp thông tin về chăm sóc SKSS cho nhóm phụ nữ nói chung, vị thành niên nói riêng, đã được chứng minh có hiệu quả trong một số tài liệu và nghiên cứu khác Bên cạnh đó, phải

kể đến vai trò của truyền thông lồng ghép vào các hoạt động chăm sóc sức khỏe khác cũng đã mang lại hiệu quả rất đáng khích lệ [38]

1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của tuổi vị thành niên

Thời kỳ vị thành niên là một trong những giai đoạn chuyển đổi quan trọng cả về thể chất lẫn tâm thần, đặc trưng bởi tốc độ phát triển nhanh chóng

để đạt tới sự trưởng thành về cơ thể Tích lũy kiến thức, kinh nghiệm xã hội, định hình nhân cách Đây là giai đoạn đặc biệt của cuộc sống, đánh dấu sự thay đổi về tâm- sinh lý, bước đầu hình thành nhân cách với loạt những biến đổi: sự chín muồi về thể chất, sự điều chỉnh của tâm lý và các quan hệ xã hội Mặt khác, những biến đổi sinh học ở lứa tuổi này đã tạo nên sự mất cân bằng tạm thời về tâm lý Lứa tuổi này luôn nỗ lực tìm kiếm sự độc lập, khuynh hướng khẳng định cái tôi cá nhân, muốn thoát ra khỏi phạm vi gia đình và bước đầu gia nhập vào xã hội

Trong giai đoạn tuổi vị thành niên, có một giai đoạn cực kỳ quan trọng diễn ra, đó là giai đoạn dậy thì, thường ở lứa tuổi 14-17 tuổi Bắt đầu từ giai đoạn này, cả nam và nữ đều có những chuyển biến lớn về thể chất, tâm-sinh

lý và đặc biệt là các hoạt động chức năng của hệ thống sinh sản

Trang 16

Những biến đổi về thể chất:

Tuổi dậy thì bắt đầu với những thay đổi của hormone trong cơ thể Các hormone này khiến cho cơ thể có những biến đổi sinh học cả bên trong và bên ngoài, có sự biến đổi nhanh về vóc dáng cơ thể, cơ quan sinh dục phát triển, các đặc điểm giới tính khác như lông, râu, ngực trở nên rõ rệt Ở trẻ trai, mốc đánh dấu tuổi dậy thì bắt đầu đó là thể tích tinh hoàn tăng trên 4ml Còn mốc đánh dấu thời điểm dậy thì hoàn toàn, đó là lần xuất tinh đầu tiên Ở trẻ gái, hai buồng trứng bắt đầu hoạt động thể hiện bằng việc sinh giao tử và bài tiết hormone sinh dục nữ progesteron, trong đó dấu hiệu đặc biệt quan trọng đánh dấu thiếu nữ đã dậy thì, đó là xuất hiện kinh nguyệt hằng tháng [6]

Sự biến đổi về chiều cao và hình dáng là do sự phát triển nhanh của các xương dài ở tay, chân Ở các em nữ bắt đầu có sự tích tụ mỡ ở ngực, chậu hông và đằng sau vai, ở các em nam có sự phát triển và tích tụ mỡ ở các khối

cơ Đến cuối tuổi dậy thì, các em đã trở thành những chàng trai, cô gái với vóc dáng, khả năng thể chất và sức mạnh khác nhau

Những biến đổi về tâm lý:

Tuổi dậy thì là thời kỳ chuyển tiếp từ giai đoạn trẻ thơ sang tuổi trưởng thành, là giai đoạn không còn là trẻ con nhưng vẫn chưa là người lớn Ở giai đoạn này, tâm lý có những biểu hiện thay đổi so với thời niên thiếu như: buồn vui bất chợt, hay tư lự, mộng mơ, có cảm giác xấu hổ khi đứng gần hoặc giao tiếp với bạn khác giới cùng lứa tuổi Các em ý thức được mình không còn là trẻ con nữa, lúc nào cũng muốn thử sức mình và muốn khám phá những điều mới lạ Các em thường quan tâm đến những thay đổi của cơ thể, nhất là các

em gái dễ băn khoăn, lo lắng, buồn rầu về những nhược điểm ở cơ thể khi so sánh với các bạn cùng lứa Các em cũng bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến bạn

bè, xã hội và muốn thoát khỏi sự bảo hộ của gia đình Cũng trong lứa tuổi này, các em thường có muốn tìm hiểu về khả năng hoạt động tình dục của mình [6]

Trang 17

Sự phát triển tâm lý, tình cảm của tuổi vị thành niên có sự khác nhau giữa các cá nhân và phụ thuộc không ít vào môi trường sống của vị thành niên trong gia đình, nhà trường và xã hội Có thể nói cách sống và ứng xử của các bậc phụ huynh, thầy cô giáo và đặc biệt là bạn bè cùng lứa có ảnh hưởng không nhỏ đến sự hình thành và phát triển tâm lý, tình cảm của các em trong lứa tuổi này

1.1.3 Các nội dung chăm sóc sức khỏe sinh sản

1.1.3.1 Nội dung chính của chăm sóc sức khỏe sinh sản ở Việt Nam

Tại Việt Nam, chăm sóc sức khỏe sinh sản chia thành 10 nội dung [6]

- Làm mẹ an toàn

- Chăm sóc sơ sinh

- Kế hoạch hóa gia đình

- Phá thai an toàn

- Giáo dục sức khỏe sinh sản cho vị thành niên

- Phòng các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản và các bệnh lây truyền qua đường tình dục

- Nam học

- Một số nội dung khác (khám sức khỏe trẻ em, ngăn chặn bạo hành phụ nữ, theo dõi sức khỏe bà mẹ và trẻ em, tình dục đồng giới)

1.1.3.2 Nội dung chính về giáo dục sức khỏe sinh sản cho vị thành niên

- Giáo dục sinh lý kinh nguyệt

- Giáo dục vệ sinh cho vị thành niên nữ, vệ sinh kinh nguyêt

- Giáo dục tình bạn, tình yêu lành mạnh

- Giáo dục về sức khỏe tình dục và tình dục an toàn nhằm giảm gánh nặng dân số, bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản kể cả nhiễm HIV/AIDS cũng như lợi ích của việc sử dụng bao cao su

- Giáo dục sinh lý thụ thai và các biện pháp tránh thai Những dấu hiệu

có thai

- Những nguy cơ do thai nghén sớm Nguy cơ có thai ngoài ý muốn [12]

Trang 18

1.1.3.3 Các dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe vị thành niên

- Kinh nguyệt và xuất tinh ở vị thành niên

- Những đặc điểm giải phẫu, tâm sinh lý trong thời kỳ vị thành niên

- Tình dục an toàn và đồng thuận

- Các biện pháp tranh thai cho vị thành niên và thanh niên

- Mang thai ở vị thành niên

- Vị thành niên và thanh niên với vấn đề bạo hành

- Kỹ năng sống liên quan đến sức khỏe sinh sản/sức khỏe tình dục của

vị thành niên

- Dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên và thanh niên

- Thăm khám sức khỏe sinh sản cho vị thành niên và thanh niên

- Sử dụng chất gây nghiện ở vị thành niên và thanh niên

- Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho nhóm vị thành niên/thanh niên yếu thế

- Tư vấn sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên [6]

1.1.3.4 Dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên

Lứa tuổi vị thành niên là lứa tuổi phải đối mặt với nhiều rủi ro và thách thức, thậm chí có những rủi ro vượt ngoài phạm vi kiểm soát của gia đình Do

đó, sự quan tâm của xã hội là một đòi hỏi cần thiết trong quá trình chăm sóc sức khỏe vị thanh niên Các dịch vụ và hỗ trợ và chăm sóc y tế vị thanh niên

đã ra đời nhằm đáp ứng những yêu cầu trên.Trong đó, dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên là một trong những dịch vụ tiêu biểu trong việc hỗ trợ

và chăm sóc sức khỏe vị thành niên một cách hiệu quả

Dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên đáp ứng nhu cầu của những thanh thiếu niên trong lứa tuổi này một cách tế nhị và có hiệu quả.Dịch

vụ này sử dụng tối đa các nguồn lực y tế nhằm đảm bảo quyền lợi và chăm sóc sức khỏe vị thành niên một cách hiệu quả nhất

Trang 19

Dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên phải là các dịch vụ có thể tiếp cận được và phù hợp với vị thành niên Dịch vụ sức khỏe thân thiện với

vị thành niên cần đảm bảo các tiêu chuẩn như địa điểm, giá cả phù hợp, an toàn, phục vụ theo những cách thức mà vị thành niên chấp nhận được nhằm đáp ứng nhu cầu của vị thành niên và khuyến khích các em trở lại cơ sở y tế khi cần, cũng như giới thiệu dịch vụ với bạn bè [6]

1.1.3.5 Những rào cản khiến vị thành niên khó tiếp cận các lĩnh vực sức khỏe sinh sản

- Quan niệm của xã hội về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên còn hạn chế

- Các chính sách, chiến lược về sức khỏe sinh sản cho vị thành niên còn

ít, chưa cụ thể, chưa có nhiều chính sách động viên vị thành niên

- Thiếu các cơ sở cung cấp dịch vụ sức khỏe thân thiện với vị thành niên

- Thái độ định kiến của thầy cô giáo, cha mẹ, cộng đồng đối với việc cung cấp thông tin và dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản

- Đa số cán bộ cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản còn chưa được huấn luyện để tiếp xúc và làm việc với vị thành niên [6]

1.2 Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan của vị thành niênvề chăm sóc sức khỏe sinh sản

1.2.1 Trên Thế giới

Khoảng 1,2 tỷ người hay 1/6 dân số toàn cầu, thuộc nhóm tuổi vị thành niên từ 10 đến 19 tuổi Sức khỏe của lứa tuổi vị thành niên là một vấn đề được các nhà chức trách của nhiều nước quan tâm, bởi đây chính là nguồn lực tương lai của các quốc gia với tiềm năng rất lớn

Tuy nhiên, theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trong năm

2016 đã có 1,1 triệu người ở nhóm tuổi vị thành niên tử vong, tức là hơn 3000 người mỗi ngày, trong đó có các nguyên nhân liên quan đến vấn đề SKSS, cụ

Trang 20

thể là các bệnh lây truyền qua đường tình dục (trong đó có HIV/AIDS), mang thai và sinh con sớm [63]

Mỗi năm, ước tính có khoảng 21 triệu nữ vị thành niên và 2 triệu trẻ gái dưới 15 tuổi mang thai ở các nước đang phát triển Cũng tại các quốc gia này,

có gần 16 triệu nữ vị thành niên và khoảng 2,5 triệu trẻ gái dưới 16 tuổi sinh con mỗi năm [51], [58], [66] Tỷ suất sinh ở lứa tuổi vị thành niên dao động khá lớn giữa các khu vực: 115/1000 phụ nữ ở Tây Phi; 64/1000 phụ nữ ở khu vực Mỹ Latin, khu vực Đông Nam Á là 45/1000 phụ nữ và Đông Á chỉ là 7/1000 phụ nữ Sự khác biệt này cho thấy, dù tỷ suất sinh toàn cầu của lứa tuổi vị thành niên đã giảm (từ 65/1000 phụ nữ năm 1990 xuống còn 47/1000 phụ nữ năm 2015)nhưng đây vẫn là một vấn đề rất đáng quan tâm [47], [48]

Mang thai và sinh con sớm ở lứa tuổi này không chỉ dẫn đến nguy cơ cho những đứa trẻ mà nó còn ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe của các nữ vị thành niên Các bà mẹ ở lứa tuổi từ 10 đến 19 phải đối diện với nguy cơ tiền sản giật, viêm nội mạc tử cung, nhiễm khuẩn huyết cao hơn so với các phụ nữ

ở lứa tuổi từ 20 đến 24 Hơn nữa, nhu cầu về tình cảm, tâm lý và xã hội đối với các nữ vị thành niên mang thai cũng cao hơn so với phụ nữ ở các lứa tuổi khác [54], [69]

Bên cạnh vấn đề mang thai sớm, mỗi năm, có khoảng 3,9 triệu nữ giới trong độ tuổi 15 đến 19 nạo phá thai không an toàn [51] Nên biết rằng, 8% nguyên nhân tử vong thai kỳ ở phụ nữ là do nạo phá thai Đối với vị thành niên, nguy cơ này càng nguy hiểm hơn vì các em có xu hướng tìm đến các cơ

sơ nạo phá thai không an toàn và khi có các triệu chứng về sức khỏe sau khi nạo phá thai, các em cũng sợ sệt, trì hoãn việc đến các cơ sở y tế vì lo lắng Điều này càng làm tăng nguy cơ tử vong, ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản của các em sau này [59], [69]

Trang 21

Một vấn đề sức khỏe quan trọng khác ở lứa tuổi vị thành niên đó là HIV/AIDS Theo thống kê của WHO, năm 2017 có khoảng 1,8 triệu trẻ vị thành niên mắc HIV trên toàn cầu, chiếm 5% tổng số người nhiễm HIV Tuy nhiên, vị thành niên mới nhiễm HIV lại chiếm tới 16% số người trẻ mới mắc HIV [64], [69]

Từ năm 2010 đến 2015, số trẻ vị thành niên từ 10 đến 14 tuổi tử vong liên quan đến AIDS đã giảm (còn khoảng 20,000 ca vào năm 2015), nhưng số

vị thành niên từ 15 đến 19 tuổi chết liên quan đến AIDS lại tăng lên tới 20,800 ca vào năm 2015 Trên thực tế, nhóm tuổi vị thành niên là nhóm duy nhất có tỷ lệ tử vong liên quan đến AIDS không giảm trong khoảng từ năm

2000 đến 2015, ngược lại, nó còn tăng lên gấp đôi trong khoảng thời gian này [61], [67]

Việc tìm hiểu về kiến thức, thái độ đối với sức khỏe sinh sản ở lứa tuổi

vị thành niên có vai trò quan trọng, nó hỗ trợ cho việc đưa ra các giải pháp can thiệp hiệu quả nhằm giảm thiểu các hậu quả gây nên bởi các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản

Trong bài báo cáo tổng quan hệ thống về sức khỏe sinh sản vị thành niên tại Bồ Đào Nha của Mendes và cộng sự, kết quả cho thấy: tỷ lệ quan hệ tình dục ở tuổi vị thành niên thông qua các nghiên cứu là cao (từ 44% - 95%), trong khi tuổi lần đầu quan hệ tình dục tăng lên (trung bình là 15,6 tuổi) Biện pháp tránh thai được sử dụng nhiều nhất là bao cao su với 76% - 96% (qua các nghiên cứu) trong lần quan hệ tình dục đầu tiên và 52% - 69% cho các lần quan hệ tiếp theo Trong khi tỷ suất sinh ở nữ vị thành niên vẫn cao (14,7/1000 nữ vị thành niên từ 15 -19 tuổi), thì chỉ có 1/3 người vị thành niên

Bồ Đào Nha tới các cơ sở y tế để được tư vấn về cách phòng tránh thai, các bệnh LTQĐTD và dưới 1/2 số vị thành niên đã từng tham gia học các lớp giáo dục về sức khỏe sinh sản Kiến thức về Chlammydia ở trẻ vị thành niên

là rất thấp (chỉ có 12,0%) biết về bệnh này [56]

Trang 22

Nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành đối với vấn đề sức khoẻ sinh sản và tình dục do Nair và cộng sự, tiến hành tại Kerala, Ấn Độ trên đối tượng vị thành niên và thanh niên (từ 10 đến 24 tuổi) cho thấy: cả nam giới và

nữ giới tại đều có các kiến thức đúng nhất định về sức khỏe sinh sản Cụ thể,

tỷ lệ nam giới biết cách phòng tránh thai bằng bao cao su cao hơn so với nữ (chiếm 95,1%) và nữ giới biết về dụng cụ tử cung chiếm tỷ lệ cao hơn (56,5%) Trên 90% vị thành niên và thanh niên (cả nam và nữ) mong muốn có các dịch vụ tư vấn đề sức khỏe sinh sản vị thành niên [57]

Theo tác giả Yayat Suryati, khi tiến hành nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về sức khỏe sinh sản của học sinh trung học cơ sở tại các trường tư thục và công lập tại thành phố Cimahi, Indonesia, kết quả cho thấy: các học sinh của cả trường công lập và tư thục đều có kiến thức, thái độ và thực hành khá tốt về SKSS Thông qua việc thiết kế các câu hỏi để học sinh tự trả lời sau

đó đánh giá bằng tính điểm, nghiên cứu cũng so sánh sự khác biệt của hai nhóm học sinh tại 2 mô hình trường (công lập và tư thục) đối với các vấn đề SKSS Tuy nhiên, các test kiểm định đã chỉ ra, những sự khác biệt về kiến thức, thái độ, thực hành đối với SKSS của học sinh tại trường công lập và tư thục là không có ý nghĩa thống kê [70]

Khi tìm hiểu về kiến thức, thái độ và thực hành của nữ vị thành niên liên quan đến SKSS tại các trường trung học cơ sở ở thành phố Riyadh, Ả Rập Xê Út, Sharifa và cộng sự đã nhận thấy, có tới hơn 2/3 số học sinh nữ tham gia nghiên cứu có kiến thức về SKSS chưa đúng Cụ thể, với vấn đề phòng tránh thai và kế hoạch hóa gia đình, đa số các học sinh có kiến thức đúng về thuốc tránh thai (87,1%) và 72% biết rằng việc cho con bú cũng là một biện pháp hỗ trợ cho kế hoạch hóa gia đình; trong khi các em biết rất ít về hình thức triệt sản ở nam và nữ Với các bệnh LTQĐTD, tỷ lệ học sinh trả lời đúng cao nhất là đối với HIV/AIDS, các bệnh khác (lậu, Chlamydia, Herpes sinh dục) có tỷ lệ trả lời đúng thấp hơn nhiều [60]

Trang 23

Nghiên cứu cũng chỉ ra, có tới 95,4% nữ sinh thực hành vệ sinh đúng cách trong chu kỳ kinh nguyệt cũng như có 88,3% học sinh có thái độ tích cực

về vấn đề SKSS Nguồn cung cấp thông tin chủ yếu về SKSS của các nữ sinh chính là mẹ của các em [60]

Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng bao cao su trong lần quan hệ tình dục đầu tiên của vị thành niên tại Việt Nam do Trang Do và cộng sự tiến hành, dựa trên các số liệu của điều tra SAVY 1 cho thấy: trong

605 vị thành niên có quan hệ tình dục trước hôn nhân thì có 28,6% có sử dụng bao cao su trong lần QHTD đầu tiên Việc sử dụng bao cao su trong lần QHTD đầu tiên ở nữ giới thấp hơn so với nam giới và không phổ biến ở những người QHTD do sự xúi giục, tác động của bạn bè Ngược lại, nếu người QHTD là bạn/người quen, hoặc là gái mại dâm/người lạ, thì việc sử dụng bao cao su là phổ biến hơn [62]

Theo Ivanova và cộng sự, khi nghiên cứu về kiến thức, thực hành và việc tiếp cận các dịch vụ sức khỏe của các nữ vị thành niên độ tuổi từ 13 - 19 tại Uganda cho thấy: có 11,7% không biết cách phòng tránh nhiễm HIV và 15,7% không biết về các bệnh LTQĐTD Có 13,8% không biết về các biện pháp tránh thai Đa phần các thông tin về SKSS được cha mẹ hoặc người giám hộ chia sẻ với các em, mặc dù vậy, đa phần các em đều có cảm giác ngại ngùng khi thảo luận về vấn đề này.Có khoảng 30% nữ vị thành niên đã từng

đi khám tại các cơ sở y tế, chủ yếu là xét nghiệm HIV và điều trị các vấn đề liên quan đến kinh nguyệt [55]

Nghiên cứu về thời điểm quan hệ tình dục lần đầu, vấn đề sử dụng biện pháp tránh thai và mang thai ở vị thành niên tại Hoa Kỳ do Finer và cộng sự tiến hành năm 2013 đã sử dụng kết quả cuộc Điều tra Quốc gia về Phát triển gia đình (NSFG) kéo dài từ năm 2006 đến 2010 của Hoa Kỳ Kết quả nghiên cứu cho thấy: có sự khác biệt về tuổi QHTD lần đầu giữa nam và nữ Tỷ lệ nữ

Trang 24

giới có QHTD ở lứa tuổi dưới 15 là rất thấp, sau đó tăng dần ở độ tuổi 15 (19%) và 16 (32%) Có khoảng 26% phụ nữ dưới 20 tuổi chưa có QHTD.Trong khi đó, tỷ lệ QHTD lần đầu ở nam độ tuổi 13 - 14 là khoảng 5 - 10% Tỷ lệ này cũng tăng lên ở độ tuổi 15 (22%) và 16 (35%) [53]

Tỷ lệ vị thành niên nữ sử dụng các biện pháp tránh thai cho lần quan

hệ tình dục đầu tiên khác nhau ở các lứa tuổi Với vị thành niên nữ độ tuổi

từ 12 - 14, chỉ có khoảng 52% sử dụng các biện pháp tránh thai trong lần QHTD đầu tiên Trong khi đó, có 82% nữ giới 16 tuổi sử dụng trong lần QHTD đầu tiên và con số này ở nữ giới 17 tuổi, đã QHTD là 95%

Về vấn đề mang thai và nạo phá thai, đa phần ở nữ giới từ 13 tuổi trở xuống, khi mang thai, họ sẽ lựa chọn giải pháp phá thai Việc phá thai giảm dần khi lứa tuổi tăng lên và ở nữ giới trên 17 tuổi, số ca phá thai chỉ bằng 1 nửa so với số trường hợp quyết định sinh con [53]

Một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao kiến thức về sức khỏe sinh sản ở vị thành niên, đó chính là sự chia sẻ, hướng dẫn và hỗ trợ từ gia đình

Để tìm hiểu về vấn đề này, Abubakar và cộng sự đã tiến hành một nghiên cứu cắt ngang trên 790 người trong độ tuổi từ 10 đến 24, tại Ghana Kết quả thu được cho thấy: khoảng 82,3% cha mẹ có dành một số khoảng thời gian để thảo luận với con cái về vấn đề sức khỏe sinh sản Tỷ lệ này khá khác biệt ở người mẹ và người bố Trong khi có 78,8% đối tượng cho biết rằng mẹ của họ

có trò chuyện với họ về vấn đề này, thì chỉ có 53,5% đối tượng cho biết rằng,

bố của họ cũng chia sẻ với họ về chủ đề SKSS VTN Đồng thời, các chủ đề được người mẹ đưa ra cũng đa dạng và bao quát hơn Đa phần các chủ đề được nhắc tới là: hạn chế QHTD sớm (73,6%), kinh nguyệt ở nữ giới (63,3%)

và HIV/AIDS (61,5%) Trong khi đó, việc sử dụng bao cao su là 5,2% và sử dụng các biện pháp tránh thai khác là 9,3% Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, phần lớn các cuộc nói chuyện này đều do cha mẹ chủ động với con cái [49]

Trang 25

Bên cạnh các nghiên cứu định lượng, một số nghiên cứu định tính về các vấn đề liên quan đến SKSS cũng đã được tiến hành nhằm tìm hiểu rõ hơn một số vấn đề như bệnh LTQĐTD, mang thai ngoài ý muốn…

Nghiên cứu tìm hiểu về các rào cản của xét nghiệm các bệnh LTQĐTD

ở 24 sinh viên tại New Zealand cho thấy: có rất nhiều các loại rào cản khác nhau đang ngăn cản các đối tượng đi xét nghiệm Có thể là rào cản cá nhân (không đánh giá được nguy cơ mắc bệnh của bản thân, cho rằng mắc bệnh LTQĐTD là không nghiêm trọng, sợ việc xét nghiệm hay quá bận) Một số nguyên nhân khác khách quan như vấn đề chi phí xét nghiệm, thái độ của nhân viên tại các cơ sở xét nghiệm hoặc lo sợ bị phân biệt đối xử bởi mọi người [52]

Một nghiên cứu định tính khác được tiến hành tại Ghana để tìm hiểu về vấn đề mang thai ngoài ý muốn của vị thành niên cho thấy: bản thân các nữ vị thành niên khi mang thai ngoài ý muốn đều có tâm lý buồn rầu, lo sợ Và việc tiếp tục mang thai, sinh con hay phá thai của các em chịu ảnh hưởng nhiều từ

sự phản ứng của cha mẹ và xã hội [50]

Có thể thấy rằng, lứa tuổi vị thành niên chính là giai đoạn chuyển tiếp

từ trẻ con sang người lớn, do đó, trẻ ở lứa tuổi này phải ở đối mặt với những thay đổi về tâm sinh lý Việc trang bị cho trẻ những kiến thức về sức khỏe sinh sản, nâng cao thái độ về tình dục an toàn sẽ giúp phòng tránh được những vấn đề sức khỏe như HIV/AIDS, mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai… góp phần nâng cao sức khỏe vị thành niên của cộng đồng

1.2.2 Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, qua 2 cuộc Điều tra quốc gia Vị thành niên và thanh niên (SAVY) diễn ra vào 2 năm 2003 và 2008, đã cho chúng ta một cái nhìn tổng thể về các vấn đề ở nhóm tuổi vị thành niên, cũng như một số khía cạnh liên quan đến SKSS

Trang 26

Về vấn đề QHTD, theo SAVY2 có 9,5% thanh thiếu niên cho biết họ

đã từng có QHTD trước hôn nhân (tỷ lệ này ở SAVY1 là 7,6%) Tuy nhiên, tuổi QHTD lần đầu ở vị thành niên có xu hướng giảm qua 2 cuộc điều tra, cụ thể là ở SAVY1, tuổi trung bình QHTD lần đầu là 19,6 trong khi ở SAVY2 là 18,1 Việc QHTD trước hôn nhân cũng có sự khác nhau giữa thanh thiếu niên

ở nông thôn và thành thị (tỷ lệ ở nông thôn là 7,1% trong khi ở thành thị là 9%) [4], [5]

Về các biện pháp tránh thai/ KHHGĐ, hầu hết các thanh niên trong điều tra SAVY2 đã nghe nói về chủ đề mang thai, KHHGĐ ở các nguồn thông tin khác nhau Chỉ có 7,0% người được hỏi cho biết, họ chưa nghe về chủ đề này từ nguồn nào Hệ thống thông tin đại chúng gồm tivi, radio, sách báo, tạp chí, tờ rơi và cả hệ thống loa truyền thanh tại địa phương là những nguồnthông tin quan trọng nhất cung cấp thông tin về chủ đề này cho thanh niên Các nguồn thông tin quan trọng khác bao gồm thầy cô giáo và nhà trường (19,0%), bạn bè hay người yêu (18,0%); nhân viên y tế hay dân số (14,0%) Các trung tâm tư vấn hay các câu lạc bộ thanh thiếu niên chỉ là nguồn cung cấp thông tin về mang thai và kế hoạch hóa gia đình cho một bộ phận rất nhỏ thanh thiếu niên [5]

Theo số liệu từ SAVY2 cho thấy, tỷ lệ sử dụng bao cao su cho lần quan

hệ tình dục lần đầu tiên ở nữ giới thấp hơn đáng kể so với nam giới (14,5% so với 36,5%) Thanh niên thành thị có tỷ lệ sử dụng bao cao su trong lần đầu quan hệ tình dục cao hơn so với thanh niên nông thôn Ngoài ra, tỷ lệ sử dụng

ở nhóm tuổi trẻ hơn (16-19 tuổi) cao hơn so với nhóm lớn tuổi (20-24 tuổi), điều này cho thấy đã có sự cải thiện về thực hành quan hệ tình dục an toàn trong nhóm tuổi trẻ hơn [5]

Theo tác giả của Trần Minh Hậu về “Kiến thức, thái độ, thực hành của

vị thành niên về sức khỏe sinh sản” có tới 92,9% VTN hiểu đúng QHTD

Trang 27

không an toàn là quan hệ không dùng các biện pháp bảo vệ Về hậu quả của việc QHTD ở tuổi VTN vẫn còn 13,0% cho rằng không có vấn đề gì Chỉ có 47,9% VTN hiểu rằng QHTD có thể gây ảnh hưởng tới học tập, 58,7% biết có thể mắc bệnh LTQĐTD Hậu quả khi QHTD làm bạn gái có thể mang thai được 82,7% VTN biết đến [15]

Biện pháp tránh thai được VTN biết nhiều nhất là thuốc tránh thai (92,7%) và BCS (95,8%), 82,1% VTN biết tác dụng phòng bệnh LTQĐTD của BCS, 88,1% biết tác dụng tránh thai tạm thời của viên tránh thai, 88,8% biết các BPTT từ internet 20% VTN hiểu đúng thời điểm dễ có thai nhất trong chu kỳ kinh, 58,4% biết khi có thai kinh nguyệt, 6,9% cho rằng nạo hút thai ở tuổi VTN không để lại hậu quả gì Có đến 6,2 – 8,8% hiểu sai về bệnh LTQĐTD, 81,4% - 93,1% biết HIV và giang mai lây qua đường tình dục, 92,9% biết dùng BCS có thể phòng được bệnh LTQĐTD [15]

Nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Hải Vân về “Kiến thức và thái độ của học sinh Trung học phổ thông huyện Hoài Đức, Hà Nội về chăm sóc sức khỏe sinh sản vị thành niên” cho kết quả:73,1% học sinh biết ít nhất một biện pháp tránh thai (BPTT), chỉ có 13,7% biết thời điểm giữa chu kỳ kinh nguyệt

dễ mang thai nhất và 67,0% biết rằng bạn gái có thể mang thai dù chỉ quan hệ một lần Tỷ lệ học sinh không chấp nhận việc có thai trước hôn nhân và quan

hệ tình dục trước hôn nhân khá cao (91,0% và 82,0%) [46]

Trong nghiên cứu này, tác giả cũng phát hiện ra một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức về dậy thì, kiến thức về mang thai và BPTT của học sinh THPT Hoài Đức bao gồm: khối lớp, kết quả học tập, trình độ học vấn của bố

và giới của học sinh Các yếu tố về giới tính, việc sống chung với bố mẹ có ảnh hưởng đến thái độ của học sinh về việc QHTD trước hôn nhân của học sinh [46]

Trang 28

Theo tác giả Trần Minh Hậu có đến 70,4% VTN quan tâm đến vấn đề SKSS, 62,7% lo lắng nếu mắc bệnh LQĐTD, 93,1% đồng ý sử dụng các BPTT trong QHTD, 60,4% phản đối QHTD ở tuổi VTN [15]

Theo nghiên cứu của Vũ Thị Kim Liên về "Thực trạng kiến thức và thực hành về sức khỏe sinh sản vị thành niên của học sinh phổ thông tại Hải Phòng năm 2010" cho thấy tỷ lệ VTN có QHTD là 6,21%; trong đó tỷ lệ học sinh thành phố QHTD thấp hơn các vùng khác, tỷ lệ nam QHTD cao hơn nữ, nhóm tuổi 10 - 14 QHTD thấp hơn nhóm tuổi 15 - 19 VTN có QHTD lần đầu tiên ở độ tuổi trung bình 15,8 tuổi VTN nam là 16,1 tuổi, VTN nữ là 15,74 tuổi Tuổi QHTD lần đầu nhỏ nhất là 9 tuổi Khi điều tra về việc có sử dụng BPTT trong lần QHTD đầu tiên, có 50% VTN dùng BPTT trong lần QHTD đầu tiên, 33,3% không sử dụng BPTT trong lần QHTD đầu tiên Sự khác biệt giữa nam và nữ về sử dụng BPTT trong lần QHTD đầu tiên không có ý nghĩa thống kê với p>0,05 [24]

Kết quả nghiên cứu của Trần Thị Bích Hồi và cộng sự về “Kiến thức về sức khỏe sinh sản của học sinh Trường Trung học phổ thông Ngô Sĩ Liên tỉnh Bắc Giang năm 2015” cho thấy: 76,3% học sinh có kiến thức về quan hệ tình dục an toàn, nhưng một số vẫn còn hiểu sai về khái niệm an toàn Có 93,9% học sinh có nghe tới các biện pháp tránh thai, nhiều nhất là bao cao su (98,8%) và thuốc tránh thai khẩn cấp (86,9%) nhưng hiểu biết về các biện pháp tránh thai này còn hạn chế 15,7% em không biết nguyên nhân có thai ngoài ý muốn và 16,8% em không biết về tai biến do nạo hút thai [18]

Với các bệnh LTQĐT, hầu hết các em đều nghe tới ít nhất một bệnh trong đó HIV/AIDS chiếm tỉ lệ cao nhất 93,9% Đa số các em nghe tới ít nhất một bệnh lây truyền qua đường tình dục đều có hiểu biết về biểu hiện bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nữ trong đó tỉ lệ hiểu biết của các em nữ đều cao hơn nam Tỷ lệ các em biết biểu hiện “ra khí hư bất thường” chiếm cao

Trang 29

nhất với 57% (nữ 59,1%, nam 54,9%) Có 62,1% học sinh đạt kiến thức chung về sức khỏe sinh sản ở vị thành niên [18]

Tình dục an toàn ở lứa tuổi vị thành niên, không chỉ giúp tránh mang thai ngoài ý muốn, mà còn giúp phòng tránh các bệnh LTQĐTD Xu hướng hiện nay VTN dậy thì sớm hơn, xu hướng xây dựng gia đình muộn hơn Mặt khác nhiều tác động có tính kích dục trên thông tin đại chúng nên vấn đề QHTD trước hôn nhân có chiều hướng gia tăng hơn trước Vì thế, cần chú trọng phòng bệnh LTQĐTD ở lứa tuổi này, đặc biệt là phòng lây nhiễm HIV/AIDS

Kết quả điều tra mô tả cắt ngang 300 VTN về kiến thức về bệnh LTQĐTD và HIV/AIDS của vị thành niên trên địa bàn huyện Kiến Xương-Thái Bình năm 2012 của Nguyễn Đức Thanh cho thấy: phần lớn VTN cho rằng nguyên nhân gây bệnh LTQĐTD do sinh hoạt tình dục với người mắc bệnh mà không dùng bao cao su (63,0%) Tỷ lệ lớn nhất VTN biết hậu quả bệnh LTQĐTD là làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV (66,3%); còn có 23,3% số VTN được hỏi không biết hậu quả nào của bệnh LTQĐTD Tỷ lệ VTN biết lây nhiễm HIV qua đường tình dục, đường máu và mẹ truyền cho con chiếm

tỷ lệ cao (trên 90%) Còn tới 16% số VTN có nhận đinh sai rằng có thể nhận biết người nhiễm HIV thông qua hình dáng bề ngoài và lối sống của họ Tỷ lệ VTN biết cách phòng lây nhiễm HIV chưa cao, cao nhất là tỷ lệ biết không dùng chung bơm kim tiêm mới chỉ chiếm 69,7%; còn tới 9% số VTN không biết cách nào để phòng lây nhiễm HIV [36]

Theo nghiên cứu “Thái độ đối với HIV/AIDS, hiểu biết về nguồn cung cấp thông tin và nơi điều trị HIV/AIDS của học sinh trung học phổ thông” của tác giả Nguyễn Đức Thanh trên đối tượng là học sinh THPT huyện Thái Thụy cho thấy: thái độ của học sinh đối với người nhiễm HIV/AIDS chưa thực sự tích cực Mới chỉ có 48,4% học sinh có thái độ tìm cách chia sẻ và giúp đỡ,

Trang 30

còn tỷ lệ khá cao học sinh có thái độ xa lánh người nhiễm HIV/AIDS (7,4%), nông thôn cao hơn thành thị (8,6% so với 6,2%) Tỷ lệ học sinh biết về cơ sở

y tế nhà nước cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh cho người nhiễm HIV/AIDS khá cao (91,7%); tuy nhiên tỷ lệ học sinh không biết nơi nào cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh cho người nhiễm HIV/AIDS còn khá cao (2,6%), nông thôn cao hơn thành thị (2,9% so với 2,3%) Tỷ lệ học sinh cho biết địa chỉ xét nghiệm HIV là Trung tâm phòng chống HIV/AIDS cao (75,1%), Trung tâm Y

tế Dự phòng tỉnh (48,0%), Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản tỉnh (43,8%) [37]

Kết quả từ cuộc điều tra cắt ngang trên 768 học sinh trung học phổ thông tại địa bàn tỉnh Thái Bình năm 2013 của Nguyễn Đức Thanh và Đỗ Duy Bình cho thấy: hầu hết các đối tượng đều nghe về bệnh LTQĐTD Cụ thể, tỷ lệ nghe về các bệnh HIV/AIDS đạt đến 99,0%; các bệnh khác như lậu, giang mai cũng đạt trên 80% Về các biện pháp phòng chống bệnh LTQĐTD, các học sinh biết nhiều nhất về biện pháp sử dụng bao cao su với 96,0% Tỷ lệ học sinh biết hậu quả của bệnh LTQĐTD làm tăng nguy cơ lâu nhiễm HIV cao đạt 82,6% Tỷ lệ học sinh biết các hậu quả khác thấp hơn như lây nhiễm sang trẻ sơ sinh (74,6%), vô sinh (62,5%)… Về nguyên nhân gây bệnh LTQĐTD, 79,0% học sinh biết là do sinh hoạt tình dục với nhiều người mà không dùng các biện pháp bảo vệ.Tỷ lệ học sinh cho biết dịch vụ khám chữa bệnh LTQĐTD là cơ sở y tế nhà nước chiếm tỷ lệ cao nhất (89,1%), tiếp theo

là phòng khám tư nhân: 8,5% [32]

Về vấn đề nạo phá thai, ở lứa tuổi vị thành niên nước ta chiếm đến 20%

tỷ lệ nạo phá thai chung của phụ nữ từ 15 đến 49 tuổi [7] Nguyên nhân của vấn đề này có liên quan nhiều đến hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân Theo SAVY2, có 7,6% đối tượng được điều tra trả lời đã có hoạt động tình dục trước hôn nhân Tuy nhiên, tỷ lệ nạo phá thai theo SAVY 2 chỉ có 7,2%

Trang 31

từng nạo hút Số liệu này có nhiều khác biệt so với các số liệu của các cuộc điều tra trước và sau đó, nguyên nhân được giải thích một phần do bản chất tế nhị của câu hỏi, một phần do việc lựa chọn các đối tượng - đa phần là các phụ

nữ trẻ mới cưới, mong muốn có con cùng với đó, việc cung cấp thông tin cũng là vấn đề nhạy cảm [5]

Theo Báo cáo Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình thời điểm 1/4/2016, tỷ lệ nạo phá thai/hút điều hòa kinh nguyệt của phụ nữ từ 15 đến 49 tuổi hiện đang có chồng của cả nước năm 2016 là 0,3% Trong đó, nữ giới từ 15 đến 19 tuổi chủ yếu phá thai/hút điều hòa kinh nguyệt với lý do

“sức khỏe thai” và chỉ có 13,3% với lý do “mang thai ngoài ý muốn” [39]

Có thể thấy, vấn đề nạo phá thai ở vị thành niên đang tăng cao và là một vấn đề vô cùng nhức nhối Do đó, tăng cường quan tâm đến vấn đề truyền thông, giáo dục SKSS cho lứa tuổi này là cần thiết để góp phần giảm thiểu tình trạng trên

Trang 32

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa bàn, đối tượng và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Địa bàn nghiên cứu

Địa bàn nghiên cứu được chọn là Trường Trung học phổ thông Đông Thụy Anh, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình

- Một số đặc điểm huyện Thái Thụy:

Huyện Thái Thụy nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Thái Bình, có 48 xã, thị trấn Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện gần 300 km² (bao gồm cả diện tích bãi triều) Dân số khoảng 28.190 người, mật độ dân số đông trung bình khoảng 1090 người/ Km2 ) gấp 4 lần bình quân chung của cả nước và có vị trí địa lý:

+ Phía Bắc giáp Hải Phòng

+ Phía Đông giáp vịnh Bắc Bộ

+ Phía Nam giáp huyện Kiến Xương, Tiền Hải

+ Phía Tây giáp huyện Đông Hưng, Quỳnh Phụ

Hiện nay trên địa bàn huyện có 06 trường THPT bao gồm: THPT Đông Thụy Anh, THPT Tây Thụy Anh, THPT Thái Ninh, THPT Thái Phúc, THPT Dân lâ ̣p Diêm Điền và mộtTrung tâm giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên huyê ̣n Thái Thu ̣y

- Đặc điểm Trường THPT Đông Thụy Anh:

Trường THPT Đông Thụy Anh được thành lập vào tháng 9 năm 1965 tại Thôn Trà Hồi- Xã Thụy Bình- Huyện Thụy Anh (nay là huyện Thái Thụy) Đến tháng 6/1970, trường được chuyển về vùng ven biển Thụy Hải, tại đây, thầy và trò Trường THPT Đông Thụy Anh đã cùng nhau xây dựng và phát triển trường Tới năm 2011, Trường THPT Đông Thuỵ Anh đã chuyển về cơ

sở mới tại xã Thụy Hà- huyện Thái Thụy với quy mô 40 lớp trên tổng số gần

2000 học sinh

Trang 33

Trường THPT Đông Thụy Anh là trường trọng điểm luôn giữ vững vị trí trường tiên tiến xuất sắc ở tốp đầu đáng tin cậy của khối THPT tỉnh Thái Bình, đồng thời cũng là trường có truyền thống lâu năm nhất trong khối các trường THPT trên địa bàn huyện Thái Thụy

Hàng năm nhà trường liên tục tuyển sinh các em học sinh trên địa bàn huyện Mỗi năm có khoảng trên 600 em học sinh được vào học tại trường theo chỉ tiêu được giao của nhà trường Địa bàn tuyển sinh của trường gồm có thị trấn, các xã ven thị trấn và hầu hết các xã thuộc phía đông sông Trà Lý

Số lượng học sinh của trường năm 2018 là 1930 em học sinh với 42 lớp học được chia đồng đều cho mỗi khối học: Trong đó khối lớp 10 có 14 lớp, khối lớp lớp 11 có 14 lớp, khối lớp 12 có 14 lớp học, trung bình mỗi lớp học

có tứ 46-47 học sinh Trong nhiều năm trở lại đây nhà trường luôn duy trì từ

1800 em học sinh đến 1950 học sinh tại nhà trường

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

Các em học sinh đang theo học khối lớp 10, khối lớp 11, khối lớp 12 tương đương với độ tuổi từ 16-19 tuổi tại Trường THPT Đông Thụy Anh

* Tiêu chuẩn lựa chọn

Học sinh đang theo học tại Trường THPT Đông Thụy Anh, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình

*Tiêu chuẩn loại trừ

Các học sinh không đồng ý tham gia nghiên cứu

Các học sinh vắng mặt trong thời gian nghiên cứu

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 09/2018 đến tháng 02/2019

Trang 34

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích nhằm mô tả và đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành và xác định một số yếu tố liên quan với chăm sóc SKSS vị thành niên của học sinh Trường THPT Đông Thụy Anh

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Cỡ mẫu:

Cỡ mẫu cho điều tra được tính theo công thức sau:

2

2 ) 2 / 1 (

) 1 (

.

d

p p

Z

Trong đó:

- Z1   / 2: Là hệ số tin cậy của nghiên cứu được lấy ở ngưỡng xác suất

α Trong đề tài này ngưỡng xác suất α được lấy là 0,05, độ tin cậy 95% (Z

- d: là sai số mong muốn,d được ước tính bằng = 0,05

Thay số ta có n= 385 học sinh Thực tế nghiên cứu trên 408 học sinh

Trang 35

- Thực tế đã chọn được 137 học sinh khối lớp 10, 137 học sinh khối lớp

11 và 134 học sinh khối lớp 12.Số học sinh điều tra là 408 học sinh

Trang 37

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu

- Công cụ thu thập số liệu:

Bộ câu hỏi có cấu trúc dành cho học sinh trung học phổ thông về kiến thức, thái độ, thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản và một số yếu tố liên quan của học sinh Trường THPT Đông Thụy Anh

- Cấu trúc bộ câu hỏi:

+ Đặc điểm chung của đối tượng: 5 câu hỏi(C1 đến C5) nhằm thu thập các thông tin chung về đối tượng phỏng vấn như giới tính, khối học, gia đình bạn đang ở xã nào của huyện, bạn theo đạo gì và hiện giờ bạn sống với ai?

+ Kiến thức về sức khỏe sinh sản vị thành niên: 17 câu hỏi (C6 đến C22)nhằm đánh giá kiến thức cũng như các nội dung liên quan của các em học sinh về sức khỏe sinh sản vị thành niên như; độ tuổi vị thành niên, trong chu kỳ kinh nguyệt, thời điểm nào dễ có thai nhất, làm mẹ quá trẻ dẫn đến hậu quả gì, nạo phá thai gây nguy hiểm gì và phá thai ở nơi nào là an toàn nhất, những biện pháp tránh thai, các bệnh lấy qua đường tình dục,…

+ Thái độ, thực hành về sức khỏe sinh sản vị thành niên: 16 câu hỏi (C23 đến C38) nhằm đánh giá thái độ cũng như thực hành về CSSKSS vị thành niên như; bạn có ngại khi nói chuyện hoặc hỏi người thân, bạn bè về lĩnh vực SKSS VTN không, bạn có thường xuyên quan tâm đến thông tin về chăm sóc SKSS không, đâu là nguồn thông tin quan trọng đến kiến thức, thái

độ, thực hành của các bạn, và các dịch vụ khám sức khỏe phù hợp với các bạn…

- Hình thức thu thập số liệu: Phỏng vấn trực tiếp

+ Liên hệvới Ban giám hiệuTrường THPTĐông Thụy Anh lên lịch thời gian để thực hiện phỏng vấn

+ Thảo luận, xây dựng kế hoạch về triển khai thu thập số liệu tại trường +Phỏng vấn trực tiếp học sinh THPT bằng bộ câu hỏi đã được chuẩn bị trước đối với các đối tượng học sinh được chọn tại trường điều tra

Trang 38

- Điều tra viên:

+ Điều tra viên nghiên cứu định lượng là cán bộ Trung tâm Y tế huyện Thái Thụy và 01 học viên của lớp Cao học Y tếCông cộng Trường Đại học Y Dược Thái Bình

+ Các điều tra viên tham gia nghiên cứu được tập huấn kỹ về nội dung

và yêu cầu của cuộc điều tra, các kỹ năng tiếp cận và phỏng vấn để đảm bảo

độ chính xác cao

+ Các điều tra viên như đã lựa chọn ở trên có những thuận lợi trong việc giải thích, tiếp cận địa chỉ với đối tượng nghiên cứu

2.2.4 Biến số, chỉ số nghiên cứu

a Đặc điểm chung của đối tượng: Giới tính, khối học

- Khu vực sinh sống

- Đặc điểm tôn giáo của học sinh

- Người đang sống cùng

b Kiến thức, thái độ, thực hành về tuổi VTN và nạo phá thai, SKSS

- Biết về độ tuổi vị thành niên

- Cảm nhận khi nói chuyê ̣n về SKSS, giới tính, tình dục với bố mẹ

- Sự quan tâm đối đối với các thông tin về SKSS VTN

- Tuổi xuất hiện kinh nguyê ̣t/xuất tinh đầu tiên

- Thờ i điểm dễ có thai nhất trong chu kỳ kinh nguyệt

- Biết về những dấu hiê ̣u có thai

- Nguy hiểm của nạo phá thai

- Địa điểm nạo phá thai an toàn

- Biện pháp được sử du ̣ng để tránh thai

- Biện pháp tránh thai phù hợp với VTN

- Nơi có thể cung cấp các biê ̣n pháp tránh thai

- Hậu quả làm mẹ quá trẻ, cơ thể phát triển chưa đầy đủ

Trang 39

c Hiểu biết về bệnh LTQĐTD, HIV/AIDS

- Các bệnh LTQĐTD

- Biểu hiện khi mắc bệnh LTQĐTD

- Các biện pháp có thể phòng tránh bệnh LTQĐTD

- Đường lây truyền HIV

- Cách phòng tránh lây nhiễm HIV

d Tiếp cận dịch vụ CSSKSS

- Dich vụ khám chữa bệnh về SKSS thích hợp cho VTN

- Dịch vụ khám chữa bệnh về SKSS của Nhà nước thích hợp với VTN

- Tư vấn của cán bộ y tế thôn xóm, cộng tác viên Dân số về CSSKSS

e Tiếp cận thông tin truyền thông - GDSK

- Sự tham gia của nhà trường về giáo dục, truyền thông về CSSKSS

- Môn học trong nhà trường về chăm sóc SKSS VTN

- Tính cần thiết của việc giáo dục, truyền thông về CSSKSS trong trường học

f Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh về SKSS VTN

- Nguồn thông tin chính về chăm sóc SKSS VTN

- Tỷ lệ học sinh được truyền thông

- Loại hình truyền thông chăm sóc SKSS VTN học sinh mong muốn

- Địa điểm thích hợp để đi khám chữa bệnh về SKSS cho VTN

- Người đi cùng khi đi khám chữa bệnh về SKSS

- Giới tính và việc tiếp nhận thông tin SKSS nam giới

- Thái độ ngại khi chia sẻ về vấn đề SKSS VTN với người thân, bạn bè

- Giới tính và thái độ về việc chăm sóc SKSS VTN

- Giới tính và tư vấn về chăm sóc SKSS VTN

Trang 40

- Tiến hành giám sát chặt chẽ và kiểm tra tổng thể toàn bộ các khâu trong quá trình nghiên cứu

2.2.6 Phương pháp xử lý thông tin

Số liệu được làm sạch trước khi nhập vào máy tính, sử dụng chương trình EPI DATA để nhập số liệu Phân tích số liệu được tiến hành bằng chương trình SPSS 20.0 So sánh giữa các tỷ lệ sử dụng kiểm định khi bình phương Khoảng tin cậy là 95% được áp dụng cho toàn bộ các kiểm định Nhận định có sự khác biệt khi giá trị p <0,05

2.2.7 Đạo đức trong nghiên cứu

- Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được giải thích cụ thể

về mục đích, nội dung nghiên cứu để đối tượng tham gia tự nguyện và cungcấp các thông tin chính xác

- Chỉ tiến hành nghiên cứu khi các đối tượng nghiên cứu ký vào phiếu đồng ý thamgia nghiên cứu Tất cả các đối tượng nghiên cứu không cần ghi tên, địa chỉ Mọi từ chối trả lời đều được chấp nhận

- Tất cả các thông tin thu thập được chỉphục vụ cho việc nghiên cứu của đề tài, không nhằm mục đích khác

- Đề tài nghiên cứu này chỉ được tiến hành khi được Hội đồng Nhà trường chấp nhận thông qua

Ngày đăng: 22/08/2019, 00:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w