Bài viết này nghiên cứu giá trị chẩn đoán của FDG PET/CT trong phát hiện tổn thương tái phát/di căn BN UTTG biệt hóa có Tg huyết thanh cao và xạ hình toàn thân với 131I âm tính. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết của tài liệu.
Trang 1146
GIÁ TRỊ CỦA 18 FDG-PET/CT TRONG PHÁT HIỆN TỔN THƯƠNG
TÁI PHÁT-DI CĂN Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ TUYẾN GIÁP
BIỆT HÓA CÓ NỒNG ĐỘ THYROGLOBULIN HUYẾT THANH CAO
VÀ XẠ HÌNH TOÀN THÂN VỚI 131 I ÂM TÍNH
Bùi Quang Biểu*; Lê Ngọc Hà* và CS
TÓM TẮT
Nghiên cứu này nhằm nghiên cứu giá trị của FDG PET/CT trong phát hiện tổn thương tái phát
và di căn ở 69 bệnh nhân (BN) ung thư tuyến giáp (UTTG) biệt hóa có thyroglobulin huyết thanh cao
và xạ hình toàn thân (XHTT) với 131
I âm tính, được chụp PET/CT và CT phát hiện tổn thương tái phát/di căn Kết quả: PET/CT phát hiện được 92 tổn thương ở 43 BN (62,3%), nhiều hơn rõ rệt so với CT (39 tổn thương ở 26 BN (37,7%) FDG PET/CT có độ nhạy 87%, độ chính xác 88%, giá trị dự đoán âm 76%, cao hơn so víi CT (54,3%; 67,2% và 48,8%) Độ đặc hiệu và giá trị dự đoán dương tính của PET/CT (90,5% và 95,2%) tương đương với CT.Khi so sánh diện tích dưới đường cong ROC, FDG PET/CT có giá trị chẩn đoán tái phát/di căn ở BN UTTG biệt hóa tốt hơn rõ rệt so với CT Ngưỡng SUV có giá trị cao chẩn đoán tổn thương tái phát/di căn là 4,5 với độ nhạy 92,3%, độ đặc hiệu 100% FDG PET/CT giúp làm thay đổi chiến thuật điều trị ở 33/69 BN (47,8%)
* Từ khóa: Ung thư tuyến giáp biệt hóa; FDG - PET/CT; Thyroglobulin
Value of 18 FDG-PET/CT in detection of reccurent/metastatic lesions in post-surgical differentiated thyroid carcinoma
patients with high serum thyroglobulin and negative 131 I
whole body scan Summary
The object of this study was to evaluate value of FDG-PET/CT in detecting reccurent/metastatic
lesions in post-surgical differentiated thyroid carcinoma (DTC) patients with high serum thyroglobulin
and negative 131 I whole body scanWe performed FDG-PET/CT in 69 post-surgical DTC patients with high serum thyroglobulin and negative 131 I whole body scan whom already underwent 131 I therapy in Department of Nuclear Medicine, 108 Hospital Results: 92 lesions were detected in 43/69 patients (62.3%) with positive PET/CT scan compared to only 39 lesions in 26/69 patients (37.7%) detected
on positive CT scan The sensitivity, accuracy and NPV of FDG-PET/CT were 87%, 88% and 76% higher than those of CT (54.3%, 67.2% and 48.8%, respectively) Specificity and PPV of FDG-PET were similar to those of CT SUVmax threshold with good diagnostic value were 4.5 (sensitivity 92.3%, specificity 100%) FDG-PET/CT had altered treatment plan in 33/49 patients (47.8%)
* Key words: Differentiated thyroid carcinoma; FDG PET/CT; Thyroglobulin
* Bệnh viện TWQĐ 108
Người phản hồi: (Corresponding): Lê Ngọc Hà (lengocha108@yahoo.com)
Ngày nhận bài: 25/12/2013; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 18/1/2014
Ngày bài báo được đăng: 20/1/2014
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư tuyến giáp là loại bệnh ung thư khá
hiếm gặp, chiếm khoảng 1% các bệnh ung
thư, nhưng chiếm 90% ung thư tuyến nội tiết
và 70% tử vong ở BN ung thư nội tiết UTTG
biệt hóa chiếm 90% BN UTTG và thường có
tiên lượng tốt do khả năng bắt giữ iod, nhưng
có tỷ lệ tái phát và di căn xa sau điều trị khá
cao Sau khi được phẫu thuật cắt giáp toàn
bộ và điều trị xóa mô giáp còn lại bằng 131
I,
BN UTTG biệt hóa được theo dõi bằng hai
xét nghiệm chính: nồng độ thyroglobulin (Tg)
huyết thanh và chụp xạ hình toàn thân
(XHTT) với 131I để phát hiện tái phát, di căn
và quyết định điều trị Trên thực tế lâm sàng,
khoảng 15 - 20% BN UTTG có nồng độ Tg
huyết thanh cao, nhưng hình ảnh XHTT với
131I lại âm tính Những BN này không đáp
ứng với điều trị 131I vàcó tiên lượng xấu hơn
BN có XHTT dương tính Do XHTT với 131
I không phát hiện được vị trí tổn thương tái
phát/di căn ở nh÷ng BN này, nên cần sự trợ
giúp của các phương pháp chẩn đoán hình
ảnh khác Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho
thấy vai trò chẩn đoán và tiên lượng của
FDG-PET/CT ở BN UTTG biệt hóa có nồng
độ Tg huyết thanh cao và XHTT với 131I âm
tính Tại Khoa Y học Hạt nhân, Bệnh viện
TWQĐ 108, chúng tôi đã điều trị-theo dõi cho
hàng ngàn BN UTTG biệt hóa và nhận thấy
việc xử trí BN UTTG biệt hóa có nồng độ Tg
huyết thanh cao, XHTT với 131I âm tính vẫn là
một vấn đề khó khăn trong thực hành lâm
sàng
Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục
tiêu: Nghiên cứu giá trị chẩn đoán của FDG
PET/CT trong phát hiện tổn thương tái phát/di
căn BN UTTG biệt hóa có Tg huyết thanh cao và
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
69 BN UTTG biệt hóa điều trị và theo dõi tại
Khoa Y học Hạt nhân, Bệnh viện TWQĐ 108
(49 BN hồi cứu và 20 BN tiến cứu)
Thời gian tiến hành: 4 - 2010 đến
8 - 2013
* Tiêu chuẩn lựa chọn BN:
+ BN UTTG biệt hóa đã phẫu thuật cắt toàn
bộ tuyến giáp và điều trị bằng 131I
+ Nồng độ Tg huyết thanh khi đã ngừng sử dụng hormon tuyến giáp xét nghiệm 2 lần cách nhau 3 ngày > 2 ng/ml (theo NCCN Guidelines, 2013)
+ Nồng độ kháng thể kháng Tg (A-Tg) ≤
115 IU/ml
+ XHTT với 131I âm tính
+ Không có thai và không có bệnh lý nặng kết hợp
+ Đồng ý tham gia vào nghiên cứu
2 Phương pháp nghiên cứu
* Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang, theo
dõi dọc, hồi cứu kết hợp tiến cứu
* Các bước tiến hành:
- Chẩn đoán xác định UTTG biệt hóa bằng kết quả giải phẫu bệnh lý sau phẫu thuật
- BN được khai thác tiền sử bệnh, hồ sơ (sổ khám bệnh, giấy ra viện, biên bản phẫu thuật, kết quả giải phẫu bệnh lý sau phẫu thuật cắt giáp ) và thăm khám lâm sàng tỉ
mỉ, giải thích mục đích, quy trình chụp hình, điều trị và theo dõi định kỳ
- Chẩn đoán giai đoạn theo Liên Ủy ban Ung thư Mỹ năm 2010 (AJCC 7)
- Đo nồng độ Tg huyết thanh trên máy Elecsys (Hãng Roche) tại Khoa Sinh hóa, Bệnh viện TWQĐ 108
- Chụp XHTT với 131I: tiến hành 2 ngày sau uống 5 mCi 131I và đang ngừng hormon tuyến giáp để đạt TSH > 30 ml/l trên máy Gamma Camera Millennium MG (Hãng GE, Mỹ)
- Chụp 18FDG PET/CT khi XHTT với 131
I âm tính và BN vẫn đang ngừng hormon tuyến giáp Liều 18FDG 0,14 - 0,2 mCi/kg tiêm tĩnh mạch Hình ảnh PET/CT được trình bày và phân tích trên phần mềm chuyên dụng trên máy tính Kết quả PET/CT được hai bác sỹ y học hạt nhân và bác sỹ chẩn đoán hình ảnh phân tích để đưa ra kết luận thống nhất
- Chiến thuật điều trị BN UTTG biệt hóa có
Tg huyết thanh cao và XHTT với 131I âm tính dựa trên hình ảnh PET/CT: (1) Tổn thương
Trang 3kích thước lớn, khu trú, có thể phẫu thuật:
BN được chỉ định phẫu thuật, làm mô bệnh
học xác chẩn; (2) Tổn thương kích thước lớn, ở
nhiều vị trí, không thể phẫu thuật triệt để: kết
hợp phẫu thuật và/hoặc xạ trị ngoài; (3) Tổn
thương kích thước nhỏ (< 10 mm) ở các vị trí
khó phẫu thuật hoặc không phát hiện tổn
thương: cân nhắc điều trị 131I bổ sung hoặc
theo dõi sát (wait and watch)
- Nếu kết quả chụp PET/CT âm tính, tiếp tục
theo dõi định kỳ BN sau mỗi 6 tháng: lâm
sàng, Tg huyết thanh, siêu âm cổ
* Các tiêu chuẩn đánh giá:
- Tiêu chuẩn kết quả PET/CT dương tính:
xuất hiện tăng bắt giữ 18FDG khu trú xác định
bằng giá trị hấp thu chuẩn hóa (SUV -
standardised uptake value) ≥ 3 g/ml và/hoặc
hạch trên CT có kích thước ≥ 10 mm
- Tiêu chuẩn hạch nghi ngờ di căn trên CT:
đường kính trục ngắn của hạch ≥ 10 mm
- Đối chiếu kết quả 18FDG PET/CT với thông
tin thu được trong quá trình theo dõi BN, bao
gồm kết quả giải phẫu bệnh lý bệnh phẩm
phẫu thuật (tiêu chuẩn vàng cho chẩn đoán),
kết quả chẩn đoán hình ảnh như siêu âm cổ,
CT, diễn biến nồng độ Tg huyết thanh
- Thời gian theo dõi BN ít nhất 12 tháng Nếu
nồng độ Tg có xu hướng tăng lên trong quá
trình theo dõi, BN được coi còn tổn thương
tái phát/di căn Nếu nồng độ Tg có xu hướng
giảm dần và trở về < 10 ng/ml trong quá theo
dõi, nồng độ Tg tăng có thể được coi là
dương tính giả
- Căn cứ vào kết quả giải phẫu bệnh lý sau
phẫu thuật và xu hướng Tg trong quá trình
theo dõi BN, xác định BN UTTG có tái phát-di
căn khi có một trong hai tiêu chuẩn sau: (1)
Kết quả giải phẫu bệnh lý sau phẫu thuật xác
nhận UTTG; (2) Nồng độ Tg huyết thanh tăng
lên trong quá trình theo dõi
* Xử lý số liệu: bằng phần mềm SPSS 18.0
- Tính toán các giá trị chẩn đoán của PET/CT
và CT dựa vào bảng 2 x 2
- So sánh giá trị chẩn đoán của CT và
PET/CT căn cứ vào diện tích dưới đường
cong ROC (receiver operating characteristic)
- Xác định ngưỡng SUV có giá trị chẩn đoán UTTG tái phát/di căn tốt nhất dựa vào phân tích đường cong ROC
- Khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bảng 1: Tuổi, giới của BN nghiên cứu
(1) (n = 69)
(2) (n = 13)
Ữ (3) (n = 56) p (2,3) Tuổi trung bình
(20-80) 45,6 ± 13,2 47,7 ±
16,8
45,1 ± 12,4 > 0,05
Nhóm tuổi
< 45 36 (52,2%)
8 (61,5%) 28 (50%)
> 0,05
≥45 33 (47,8%)
5 (38,5%) 28 (50%)
Tuổi trung bình của BN nghiên cứu 45,6; nhóm tuổi < 45 và ≥ 45 chiếm tỷ lệ tương ứng (52,2% và 47,8%) BN nữ 81,2%, cao gấp 4 lần so với BN nam (18,8%) Chưa có
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tuổi trung bình và phân bố nhóm tuổi giữa nam và nữ
Bảng 2: Thể mô bệnh học và chẩn đoán giai
đoạn TNM
Thể mô bệnh học
Giai đoạn bệnh theo TNM
UTTG thể nhú chiếm tỷ lệ đa số, UTTG giai đoạn I và IV chiếm tỷ lệ lớn (54,2% và 31,2%)
giá trị Tg, A-Tg trước chụp PET/CT
ỐI THIỂU ĐA ỐI ĐỘ LỆCH CHUẨNBÌNH
I
Số lần điều trị và tổng liều điều trị 131
I trung bình của BN nghiên cứu là 3,5 lần và
Trang 4468,6 mCi Nồng độ Tg huyết thanh trước
chụp PET/CT dao động rất lớn (11,4 - 1000
ng/ml), giá trị trung bình 218,3 ng/ml Nồng
độ A-Tg của tất cả BN nghiên cứu đều < 115
IU/ml
Bảng 4: Đặc điểm tổn thương trên CT và
PET/CT
Kích thước
tổn thương
(mm)
PET/CT phát hiện được 92 tổn thương ở 43
BN (62,3%) nhiều hơn rõ rệt so với CT (39
tổn thương ở 26 BN, 37,7%) Kích thước trung
bình của tổn thương trên PET/CT là 9,6 mm,
nhỏ hơn trên CT (12,8 mm) Giá trị SUV trung
bình của tổn thương trên PET/CT là 7,8
Giường
Phổi
10 20
4 5 20
55
12
5 0
50
100
PET/CT CT
Biểu đồ 1: Vị trí tổn thương phát hiện trên
PET/CT và CT
PET/CT phát hiện được nhiều tổn thương ở
giường tuyến giáp, hạch cổ và trung thất hơn
so với CT Phát hiện được 5 tổn thương phổi
trên cả CT và PET/CT
87.0 90.5 88.0 95.2 76.0
54.3 95.2 67.2 96.2 48.8
0 20 40 60 80 100 120
Độ nhạy
Độ đặc hiệu
Độ chính xác
Giá trị dự đoán dương
Giá trị dự đoán âm
CT PET/CT
Biểu đồ 2: Giá trị chẩn đoán UTTG tái phát/di
căn của CT và PET/CT
PET/CT có độ nhạy 87%, độ chính xác 88%, giá trị dự đoán âm tính 76% cao hơn rõ rệt so với CT (các giá trị tương ứng 54,3%; 67,2%
và 48,8%) Độ đặc hiệu và giá trị dự đoán dương tính của cả hai phương pháp khá cao
và tương đương nhau (PET/CT tương ứng là 90,5% và 95,2%, CT tương ứng là 95,2% và 96,2%)
0 20 40 60 80 100
100-Specificity
PET/CT
CT SCAN
Hình 1: So sánh đường cong ROC của
PET/CT và CT trong chẩn đoán UTTG tái
phát/di căn
Diện tích dưới đường cong ROC của PET/CT (0,887) lớn hơn của CT (0,748) có ý nghĩa thống kê (p < 0,01) Điều đó cho thấy, PET/CT có giá trị tốt hơn CT trong chẩn đoán UTTG tái phát/di căn
SUV
0 20 40 60 80 100
100-Specificity
Sensitivity: 92.3 Specificity: 100.0 Criterion : >4.5
Hình 2: Đường cong ROC của giá trị SUV
phát hiện tổn thương trên PET/CT trong chẩn
đoán UTTG tái phát/di căn
Diện tích dưới đường cong ROC của giá trị SUV tổn thương trên PET/CT là 0,955, khác biệt có ý nghĩa thống kê với 0,5 (p < 0,001) Phân tích đường cong này cho thấy ngưỡng SUV thích hợp cho chẩn đoán UTTG tái phát/di căn là 4,5 (độ nhạy 92,3%; độ đặc hiệu 100%)
Tuy nhiên, diện tích dưới đường cong ROC của kích thước tổn thương trên PET/CT là
AUC PET/CT 0,887 AUC CT SCAN 0,748
p = 0,001
AUC = 0,955
p < 0,001
Gi-êng
tuyÕn gi¸p H¹ch cæ Trung
thÊt Phæi
PET/CT
CT
Trang 50,664, khác biệt không có ý nghĩa thống kê
với 0,5 (p > 0,05)
* Thay đổi chiến thuật điều trị sau chụp
ngoài: 2 BN (2,9%); tiếp tục điều trị 131
I: 27
BN (39,1%); theo dõi sát: 9 BN (13,1%)
BÀN LUẬN
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng
minh giá trị của 18FDG PET và PET/CT trong
xác định vị trí bệnh tái phát hoặc di căn và
thay đổi chiến thuật điều trị ở BN UTTG thể
biệt hóa có nồng độ Tg huyết thanh tăng và
XHTT âm tính Nghiên cứu của Schlutter B
và CS (2001) trên 64 BN UTTG có nồng độ
Tg huyết thanh tăng, xạ hình âm tính được
chụp 18FDG PET cho thấy 44 BN có kết quả
18FDG PET dương tính, trong đó 34 BN
dương tính thật, từ đó dẫn tới thay đổi chiến
thuật điều trị cho 19/34 BN (phẫu thuật
và/hoặc xạ trị ngoài) và 20 BN có kết quả
18FDG PET âm tính Giá trị dự báo dương
tính của 18FDG PET là 83%, nhưng giá trị dự
báo âm tính chỉ 25% Nghiên cứu của Chung
và CS (1999) ở 54 BN có XHTT với 131I âm
tính được chụp 18FDG PET sau khi ngừng
thyroxin cho thấy 18FDG PET có độ nhạy
93,9% và độ đặc hiệu 95,2% Tác giả nhận
thấy 18FDG PET phát hiện tỷ lệ di căn hạch
cổ rất cao (87,9%), tỷ lệ di căn phổi, trung
thất và xương thấp hơn (tương ứng 27,3%,
33,3% và 9,1%) ở những BN này Gần đây
nhiều nghiên cứu đã chứng minh vai trò của
PET/CT trong cải thiện độ chính xác chẩn
đoán so với PET đơn thuần ở BN UTTG
Palmedo H và CS (2006) nghiên cứu 40 BN
UTTG có xét nghiệm Tg dương tính và XHTT
âm tính thấy độ chính xác chẩn đoán của
18FDG PET/CT là 93%, cao hơn có ý nghĩa
thống kê so với PET (78%) (p < 0,05)
Nghiên cứu này cũng cho thấy, PET/CT cung
cấp thông tin hữu ích hơn về vị trí tổn thương
so với PET hoặc CT riêng lẻ và PET/CT đã
làm thay đổi phương pháp điều trị ở 48% BN
Một nghiên cứu khác của Shammas S và CS
(2007) trên 61 BN UTTG có Tg huyết thanh
cao và XHTT âm tính cho thấy độ nhạy, độ
đặc hiệu và chính xác chẩn đoán chung của
18FDG PET/CT tương ứng là 68,4%, 82,4%
và 73,8% PET/CT đã làm thay đổi phương pháp điều trị ở 44% BN, bao gồm phẫu thuật,
xạ trị ngoài và điều trị hóa chất
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 43/69 BN (62,3%) có kết quả PET/CT dương tính, trong khi chỉ có 26/69 BN (37,7%) có kết quả
CT dương tính PET/CT phát hiện được 92 tổn thương ở 43 BN, nhiều hơn rõ rệt so với
CT (39 tổn thương ở 26 BN) Tổn thương nhỏ nhất phát hiện được trên PET/CT có kích thước 4 mm, trong khi tổn thương nhỏ nhất trên CT có kích thước 5 mm Kích thước trung bình của tổn thương trên PET/CT là 9,6
mm, nhỏ hơn so với trên CT (12,8 mm) Điều này cho thấy ưu thế tuyệt đối của PET/CT trong việc phát hiện tổn thương tái phát/di căn ở BN UTTG biệt hóa có Tg cao và XHTT với 131I âm tính so với CT PET/CT có ưu điểm kết hợp được cả hai khả năng chẩn đoán chuyển hóa của PET và chẩn đoán hình ảnh của CT Thông thường, tiêu chuẩn
để xác định nghi ngờ hạch cổ di căn trên CT
là đường kính trục ngắn của hạch ≥ 1 cm Tuy nhiên, 16/43 BN có kích thước tổn thương < 10 mm mà kết quả PET/CT dương tính, trong đó, 10 BN được phẫu thuật tổn thương UTTG tái phát/di căn Do đó, nếu sử dụng tiêu chuẩn này để phân tích kết quả CT
sẽ có nguy cơ bỏ sót tổn thương PET/CT phát hiện được nhiều tổn thương ở cả giường tuyến giáp (20 tổn thương), hạch cổ (55 tổn thương) và trung thất (12 tổn thương)
so với CT (tương ứng 10, 20 và 4 tổn thương) Trong 31 BN có kết quả PET/CT dương tính được phẫu thuật, 30 BN phát hiện UTTG, 1 BN không phát hiện tổn UTTG trên giải phẫu bệnh lý sau phẫu thuật 3 BN
có kết quả PET/CT âm tính được phát hiện di căn hạch cổ 6 - 12 tháng sau chụp PET/CT Điều đó cho thấy PET/CT cũng có thể cho kết quả dương tính giả do tổn thương viêm tăng bắt giữ FDG hoặc âm tính giả do tổn thương vi di căn dưới ngưỡng phân giải của PET Vì vậy, cần kết hợp phân tích kết quả PET/CT với thông tin về bệnh cảnh lâm sàng của BN, đối chiếu với phương pháp chẩn đoán khác cũng như cần tiếp tục theo dõi định kỳ lâm sàng, Tg huyết thanh, siêu âm cổ đối với BN có kết quả PET/CT âm tính
Trang 6Khi so sánh giá trị chẩn đoán của PET/CT và
CT, chúng tôi nhận thấy PET/CT có độ nhạy
(87%), độ chính xác (88%), giá trị dự đoán
âm tính (76%) cao hơn rõ rệt so với CT (các
giá trị tương ứng 54,3%; 67,2% và 48,8%)
Độ đặc hiệu và giá trị dự đoán dương tính
của PET/CT (90,5% và 95,2%) tương đương
với CT (tương ứng 95,2% và 96,2%)
So sánh diện tích dưới đường cong ROC cho
thấy PET/CT có giá trị tốt hơn CT trong chẩn
đoán UTTG tái phát/di căn có ý nghĩa thống kê
(p < 0,01) Tuy nhiên, nhược điểm của
PET/CT là chi phí đắt và hiện nay không sẵn
có ở nhiều cơ sở y học hạt nhân tại Việt
Nam Vì vậy, việc sử dụng phối hợp các
phương pháp chẩn đoán hình ảnh như siêu
âm cổ, CT cổ-ngực và xạ hình SPECT MIBI
cổ-ngực vẫn là một cách tiếp cận thích hợp
đối với BN UTTG biệt hóa có Tg cao và xạ
hình với 131I âm tính ở những bệnh viện chưa
được trang bị PET/CT Qua phân tích đường
cong ROC của PET/CT, chúng tôi thấy SUV
là một tiêu chuẩn đáng tin cậy, nhưng kích
thước tổn thương trên PET/CT không phải là
một tiêu chuẩn tốt trong chẩn đoán UTTG tái
phát/di căn Có thể giải thích kết quả này: do
SUV là giá trị đại diện cho chuyển hóa của tế
bào nên sẽ phản ánh trung thực bản chất của
tổn thương, còn kích thước tổn thương trên
PET/CT thường khó đánh giá chính xác do
hiện tượng tán xạ của hình ảnh PET nên ít
có giá trị hơn Chúng tôi xác định được
ngưỡng SUV cho giá trị chẩn đoán tốt nhất là
4,5 (độ nhạy 92,3%; độ đặc hiệu 100%) Căn
cứ vào ngưỡng SUV này và tùy thuộc vào
bệnh cảnh lâm sàng của BN, chúng ta có thể
quyết định phương pháp điều trị tiếp theo cho
BN một cách thích hợp
Ở nghiên cứu này, trong 69 BN nghiên cứu,
31 BN được phẫu thuật và 2 BN xạ trị ngoài,
do đó đã làm thay đổi chiến thuật điều trị ở
47,8% BN Chiến thuật điều trị cụ thể như
sau: nếu PET/CT phát hiện tổn thương
UTTG tái phát-di căn có khả năng phẫu
thuật, BN sẽ được hội chẩn với phẫu thuật
viên để phẫu thuật Nếu tổn thương tái
phát-di căn không có khả năng phẫu thuật, BN sẽ
được gửi đi xạ trị ngoài hoặc cân nhắc điều
trị 131I liều theo kinh nghiệm Nếu không phát
hiện tổn thương tái phát-di căn, BN sẽ được
theo dõi sát lâm sàng, Tg huyết thanh, siêu
âm cổ định kỳ mỗi 3 - 6 tháng và có thể cân nhắc khả năng tiếp tục điều trị liều 131
I theo kinh nghiệm
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 69 BN UTTG biệt hóa sau phẫu thuật cắt giáp toàn bộ và điều trị 131I có nồng độ Tg huyết thanh cao và XHTT với 131I
âm tính, được chụp PET/CT và CT chẩn đoán tổn thương tái phát-di căn, theo dõi tại Khoa Y học Hạt nhân, Bệnh viện TWQĐ 108 từ tháng
4 - 2010 đến 8 - 2013, chúng tôi rút ra một
số kết luận:
- PET/CT phát hiện được 92 tổn thương ở 43
BN (62,3%) nhiều hơn rõ rệt so với CT (39 tổn thương ở 26 BN, 37,7%)
- Trong chẩn đoán UTTG biệt hóa tái phát/di căn, PET/CT có độ nhạy (87%), độ chính xác (88%), giá trị dự đoán âm tính (76%) cao hơn
so với CT Độ đặc hiệu và giá trị dự đoán dương tính của PET/CT tương đương với
CT Căn cứ vào so sánh diện tích dưới đường cong ROC, PET/CT có giá trị chẩn đoán UTTG biệt hóa tái phát/di căn tốt hơn
CT có ý nghĩa thống kê (p < 0,01)
- Ngưỡng SUV tốt nhất trong chẩn đoán UTTG tái phát-di căn là 4,5, tương ứng với
độ nhạy 92,3% và độ đặc hiệu 100%
- PET/CT giúp làm thay đổi chiến thuật điều trị cho 33/69 BN (47,8%), với 31 BN được phẫu thuật và 2 BN xạ trị ngoài
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lê Ngọc Hà và CS Nghiên cứu đặc điểm hình
ảnh 18
F-FDG PET/CT ở BN UTTG biệt hóa có nồng độ Tg huyết thanh cao và xạ hình toàn thân
131I âm tính Tạp chí Y Dược lâm sàng 108 2010, tập 6, tr.46-53
2 Chung JK et al Value of FDG PET in papillary
thyroid carcinoma with negative 131I whole-bogy
scan J Nucl Med 1999, 40, pp.986-92
3 David SC et al Revised American thyroid
association management guidelines for patients with thyroid nodules and differentiated thyroid cancer Thyroid 2009, 19 (11), pp.1167-1214
4 Palmedo H et al Integrated PET/CT in
differentiated thyroid cancer: Diagnostic accuracy and impact on patient management J Nucl Med
2006, 47, pp.616-624
Trang 75 Shammas A et al 18FDG PET/CT in patients with
suspected recurrent or metastatic
well-differentiated thyroid cancer J Nucl Med 2007,
48, pp.221-226
6 Schluter B et al Impact of FDG PET on patients
with differentiated thyroid cancer who present with
elevated thyroglobulin and negative 131I scan J
Nucl Med 2001, 42, pp.71-76