1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

thảo luận lao động chương 1 2

23 1,3K 23

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 476,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

• - Quan hệ về việc làm• - Quan hệ học nghề • - Quan hệ về bồi thường thiệt hại • - Quan hệ về bảo hiểm xã hội • - Quan hệ giữa người sử dụng lao động với tổ chức Công đoàn, đại diện của

Trang 1

Bài thảo luận môn

LUẬT LAO ĐỘNG

Chương 1 – 2

Trang 2

• - Quan hệ về việc làm

• - Quan hệ học nghề

• - Quan hệ về bồi thường thiệt hại

• - Quan hệ về bảo hiểm xã hội

• - Quan hệ giữa người sử dụng lao động với tổ chức Công đoàn, đại diện của tậpthể người lao động

• - Quan hệ về giải quyết các tranh chấp lao động và các cuộc đình công

• - Quan hệ về quản lý lao động

(1) Quan hệ về việc làm và học nghề

Việc làm là vấn đề không thể thiếu khi nói đến quá trình lao động, không có việc làm thìkhông thể có sự làm việc Đối với người lao động, việc làm là điều được quan tâm đầutiên và đồng thời là điều quan tâm suốt cả cuộc đời Việc làm đầy đủ, việc làm có hiệuquả, việc làm được tự do lựa chọn - ba vấn đề đã được Tổ chức lao động quốc tế đặt ra vàmong muốn các quốc gia phải có những nỗ lực để đảm bảo

Quan hệ về việc làm là quan hệ được xác lập để đảm bảo việc làm cho người lao động.Quan hệ này vừa có tính chất tạo cơ hội, vừa có tác dụng nâng cao khả năng tham gia làmviệc ổn định của người lao động, đồng thời để nâng cao chất lượng của việc làm

Quan hệ về việc làm thể hiện ở ba loại chủ yếu sau đây :

• - Quan hệ về đảm bảo việc làm giữa Nhà nước và người lao động;

• - Quan hệ về đảm bảo việc làm giữa người sử dụng lao động và người lao động;

• - Quan hệ giữa người lao động và các trung tâm dịch vụ việc làm

Trình độ chuyên môn là một yếu tố rất cần thiết cho người lao động, vì nếu không cótrình độ chuyên môn thì người lao động sẽ ít có cơ hội tham gia quan hệ lao động, cũngnhư duy trì và ổn định quan hệ lao động Công nghệ ngày nay đã có những bước tiếnmạnh mẽ và nhanh chóng, đòi hỏi trình độ chuyên môn của người lao động phải ngày

Trang 3

càng được nâng cao Quan hệ học nghề vì thế vừa có thể là một quan hệ độc lập, vừa cóthể là một quan hệ phụ thuộc quan hệ lao động Việc học nghề phải tuân thủ các quy địnhcủa pháp luật lao động.

Ví dụ: trong quá trình lao động, người lao động sẽ được người sở hữu lao động cho đi

học các khóa nâng cao nghiệp vụ, nâng cao tay nghề nhằm phục vụ cho công việc họđang làm

(2) Quan hệ về bồi thường thiệt hại

Các chủ thể khi tham gia quan hệ lao động có các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định,chủ yếu là các quyền và nghĩa vụ trong lao động Khi thực hiện các quyền và nghĩa vụnày, nếu một trong các chủ thể gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, tài sản, lợi ích củabên kia thì giữa họ phát sinh quan hệ về bồi thường thiệt hại Những quan hệ về bồithường thiệt hại do các chủ thể của quan hệ lao động gây thiệt hại cho nhau khi thực hiệnquyền và nghĩa vụ lao động được pháp luật lao động quy định chặt chẽ

Các quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại này có thể chia thành ba loại :

• - Quan hệ bồi thường thiệt hại tài sản;

• - Quan hệ bồi thường do vi phạm hợp đồng;

• - Quan hệ bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe người lao động

Ví dụ: Trong quá trình và thời gian lao động, người lao động có xảy ra sự có gây thiệt hại

về sức khỏe, tính mạng thì người sử dụng lao động phải bồi thường phần thiệt hại đó

(3) Quan hệ về bảo hiểm xã hội

Việc bảo đảm đời sống cho người lao động khi họ mất hoặc giảm khả năng lao động, hayhết tuổi lao động được Nhà nước đảm bảo bằng nhiều loại quỹ khác nhau, trong đó cóquỹ bảo hiểm xã hội Quá trình đảm bảo các điều kiện vật chất cho người lao động cóliên quan chặt chẽ với quan hệ lao động, vì vậy được các quy phạm pháp luật lao độngđiều chỉnh

Quan hệ pháp luật về bảo hiểm xã hội gồm hai nhóm như sau :

• - Quan hệ pháp luật trong việc tạo thành quỹ bảo hiểm;

• - Quan hệ pháp luật trong việc chi trả bảo hiểm xã hội

Ví dụ: Mỗi người lao động đều có quyền được hưởng bảo hiểm để bù đắp đi phần thunhập bị thiếu hụt bị mất đi của người lao động

(5) Quan hệ giữa người sử dụng lao động với tổ chức Công đoàn, đại diện của tập thể

Trang 4

Công đoàn với tư cách là đại diện cho tập thể người lao động, tham gia vào mối quan hệvới bên sử dụng lao động nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động như :việc làm, tiền lương, tiền thưởng và các chế độ khác Vì vậy, quan hệ giữa người sử dụnglao động với tổ chức Công đoàn thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật lao động

Ví dụ: Công đoàn còn là người đại diện cho lực lượng lao động xã hội trong mối quan hệ

với Nhà nước khi hoạch định chính sách, pháp luật, trong việc kiểm tra, giám sát việcthực hiện pháp luật lao động

(4) Quan hệ về giải quyết các tranh chấp lao động và các cuộc đình công

Trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ lao động giữa các chủ thể của quan hệ laođộng có thể phát sinh những bất đồng về quyền và lợi ích Sự bất đồng đó làm phát sinhcác tranh chấp lao động, thậm chí trong một số trường hợp làm phát sinh các cuộc đìnhcông Việc giải quyết những tranh chấp và các loại tranh chấp mà các cơ quan có thẩmquyền là Hội đồng hòa giải ở cơ sở, Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh hay Tòa án nhândân, nhằm bảo đảm quyền lợi cho cả hai bên, đảm bảo sự hài hòa, ổn định của quan hệlao động Vì vậy, quan hệ này thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật lao động

2. Phân tích đặc điểm của quan hệ lao động cá nhân

Quan hệ pháp luật lao động được thiết lập chủ yếu dựa trên cơ sở giao kết hợp đồng laođộng Các bên tham gia phải là người trực tiếp giao kết và thực hiện các quyền và nghĩa

vụ đã thỏa thuận Trong quan hệ pháp luật lao động, người lao động phải tự mình hoànthành công việc được giao dựa trên trình độ chuyên môn sức khỏe của mình Nếu không

có sức khỏe và trình độ chuyên môn phù hợp với yêu cầu của công việc thì người laođộng không thể giao kết hợp đồng lao động được

Pháp luật lao động quy định: công việc theo hợp đồng lao động phải do người giao kếtthực hiện, không được giao cho người khác nếu không có sự đồng ý của người sử dụnglao động Quy định này dựa trên cơ sở là việc thực hiện công việc không chỉ liên quanđến tiền lương, mà còn liên quan đến rất nhiều yếu tố khác như: các quyền về nhân thân,trách nhiệm nghề nghiệp v.v

Trong quan hệ pháp luật lao động, người sử dụng lao động có quyền tổ chức, quản lý,kiểm tra, giám sát quá trình lao động của người lao động Khi tham gia quan hệ pháp luậtlao động, người lao động tự đặt hoạt động của mình vào sự quản lý của người sử dụng laođộng, phải tuân thủ kỷ luật lao động, nội quy doanh nghiệp, chế độ làm việc và nghỉ ngơi,phải chịu sự kiểm tra giám sát quá trình lao động của người sử dụng lao động Bù lại sự

Trang 5

lệ thuộc ấy, người lao động có quyền nhận được tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi củadoanh nghiệp cũng như các chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội mà Nhà nước đã quy định.Quyền này không có trong quan hệ dân sự (hay quan hệ dịch vụ), vì các bên trong quan

hệ dịch vụ thường chỉ có liên quan đến nhau về kết quả lao động và tiền công

Trong quá trình tồn tại, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật lao động thường có sựtham gia của đại diện tập thể lao động (tổ chức Công đoàn) Tùy từng trường hợp cụ thể

mà xác định mức độ tham gia của công đoàn trong khuôn khổ quy định của pháp luậtsong sự tham gia đó là bắt buộc nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người laođộng

1. So sánh quan hệ lao động cá nhân và quan hệ lao động của viên chức

Giống nhau:

- Đều phát sinh trên cơ sở hợp đồng

- Đều chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Lao động về tiền lương, giờ giấc làm việc,

- Có sự hoạt động của Công đoàn

Khác nhau:

Khái niệm

Viên chức là công dân Việt Namđược tuyển dụng theo vị trí việclàm, làm việc tại đơn vị sựnghiệp công lập theo chế độ hợpđồng làm việc, hưởng lương từquỹ lương của đơn vị sự nghiệpcông lập theo quy định của pháp

luật

Người lao động là người từ đủ 15tuổi trở lên, có khả năng lao động,làm việc theo hợp đồng lao động,được trả lương và chịu sự quản lý,điều hành của người sử dụng lao

động

Trang 6

Nhà nước.

Sử dụng tổ chức Công đoàn để tácđộng trực tiếp vào quan hệ lao động,đây là phương pháp đặc thù của quan

Trang 7

2. Tại sao pháp luật lao động lại điều chỉnh mối quan hệ lao động tập thể?

Quan hệ lao động tập thể bao gồm hai chủ thể là tập thể lao động và người sử dụng laođộng Về tương quan trong quan hệ lao động nói chung và quan hệ lao động tập thể nóiriêng, người sử dụng lao đông luôn ở vị thế cao hơn, xuất phát từ quyền quản lý và phânphối kết quả lao động, từ đó người lao động luôn bị phụ thuộc vào người sử dụng laođộng Vì thế, bảo vệ người lao động là xu hướng tất yếu của pháp luật lao động

Về phía tập thể lao động, pháp luật thừa nhận tổ chức công đoàn là đại diện chính thứccho tập thể lao động Công đoàn là tổ chức đại diện cho người tham gia tương tác vớingười sử dụng lao động trong quan hệ lao động tập thể, với các hoạt động chủ yếu là đốithoại, thương lượng tập thể, kí kết thỏa ước, giải quyết tranh chấp thông qua phương thứcđình công Công đoàn đại diện cho các công đoàn viên của mình, đồng thời đại diện chonhững người lao động không phải là công đoàn viên và giới lao động nói chung trongtoàn xã hội Hay nói cách khác, công đoàn chính là một hình thức điều chỉnh của phápluật lao động đối với quan hệ lao động tập thể

3. Phân tích các đặc điểm của quan hệ pháp luật lao động cá nhân.

Các đặc điểm của quan hệ pháo luật lao động cá nhân:

Về tính chất, QHLĐ cá nhân vùa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội Bởi lẽ, quan hệ hệ này được thiết lập trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc dịch vụ Quá trình đó được thực hiện nhằm hướng tới những lợi ích kinh tế (NSDLĐ thu lợi nhuận, NLĐ nhận tiền lương và các chế độ vật chất khác) Hệ quả của lợi ích vật chất là những đảm bảo về đời sống tinh thần của NLĐ nói riêng và cho xã hội nói chung

Về quy mô, QHLĐ cá nhân vừa là vừa là một quan hệ cá nhân vừa là một quan hệ có tínhtập thể QHLĐ được thiết lập trên cơ sở thỏa thuận giữa cá nhân NLĐ và NSDLĐ nhưng thường được thực hiện dưới hình thức lao động của xã hội, tồn tại trong một tập thể nhất định Tính tập thể càng thể hiện rõ nét trong trường hợp doanh nghiệp có thỏa ước lao động tập thể

Về pháp lý, QHLĐ cá nhân được hình thành trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng giữa các chủthể thông qua việc giao kết HĐLĐ Tuy nhiên, sau khi HĐLĐ được giao kết thì NLĐ ở một vị thế phụ thuộc vào NSDLĐ ( NSDLĐ xây dựng thang bảng lương, quyết định mức

Trang 8

thưởng, xử lý kỷ luật NLĐ… - điều mà NLĐ không thể có được trong quá trình làm việc cho NSDLĐ)

Về lợi ích, QHLĐ cá nhân vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn Mâu thuẫn về lợi ích là tất yếu trong nền kinh tế thị trường, khi mà NSDLĐ luôn hướng tới việc thu nhiều lợi nhuận,còn NLĐ luôn mong có thu nhập ngày càng cao hơn Tuy nhiên, trong một xã hội phát triển, vấn đề hài hòa QHLĐ là vấn đề đuovự nhà nước quan tâm Điều đó thúc đẩy

QHLĐ phát triển bền vững, mang lại lợi ích ổn định lâu dài cho cả hai bên

Nội dung của QHLĐ cá nhân tương đối phong phú trong đó chứa đựng những vấn đề cơ bản thuộc về tuyển chọn , bố trí, điều hành, quản lý lao đọng, thời gian làm việc, nghỉ ngơi, kỷ luật lao động an toàn, vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội…

4. Phân tích cơ sở lý luận và nội dung của nguyên tắc bảo vệ người lao động trongpháp luật lao động Việt Nam

Cơ sở của nguyên tắc:

- Về cơ sở lí luận:

Trong mối quan hệ với Người sử dụng lao động, Người lao động luôn ở vị trị yếu thếhơn, có sự phụ thuộc và chịu sự quản lí, điều hành của Người sử dụng lao động Chínhpháp luật cũng thừa nhận điều đó Với việc thừa nhận của pháp luật nên trên thực tế, xảy

ra hiện tượng lạm quyền của Người sử dụng lao động và dẫn tới những thiệt thòi choNgười lao động Từ đó, muốn tạo ra quan hệ lao động được bình đẳng hơn, pháp luật laođộng đã có những quy định để bảo vệ Người lao động, qua đó hạn chế sự lạm quyền củaNgười sử dụng lao động

- Về cơ sở thực tiễn:

Việc xác định nguyên tắc này trước hết là dựa trên cơ sở đường lối chính sách của Đảng

và Nhà nước Bởi, ngay từ những năm đầu phát triển nền kinh tế thị trường Đảng đã chủtrương là: “ Phải tăng cường bảo vệ người lao động, trọng tâm là ở các doanh nghiệp ”

Và để cụ thể hóa chủ trương này của Đảng, tại Hiến pháp năm 2013 đã có những quyđịnh ghi nhận vị trí vai trò của tổ chức tổ chức chính trị - xã hội của người lao động –Công đoàn ( Điều 10 ) và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của Người lao động ( Điều57) Từ những cơ sở trên mà Bộ luật lao động năm 1994 và sau này là Bộ luật lao độngnăm 2012 ra đời đều có những quy định, để cụ thể hóa nguyên tắc bảo vệ người lao động

Trang 9

Nội dung của nguyên tắc bảo vệ người lao động trong pháp luật lao động Việt Nam:

Nội dung của nguyên tắc bảo vệ người lao động rất rộng, đòi hỏi pháp luật phải thể hiệnquan điểm bảo vệ họ với tư cách bảo vệ con người, chủ thể của quan hệ lao động Vì vậy,

nó không chỉ nhằm bảo vệ sức lao động, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của ngườilao động, mà phải bảo vệ họ trên mọi phương diện như: việc làm, nghề nghiệp, thu nhập,tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, cuộc sống của bản thân và gia đình họ, thờigiờ nghỉ ngơi, nhu cầu nâng cao trình độ, liên kết và phát triển trong môi trường lao động

và xã hội lành mạnh Vì thế, nguyên tắc bảo vệ người lao động bao gồm các nội dung sauđây:

- Đảm bảo quyền tự do lựa chọn việc làm, nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử của người lao động

Trước hết, lao động được quy định là quyền và nghĩa vụ của công dân trong Hiến phápViệt Nam Bộ luật lao động cũng quy định: “Người lao động có quyền làm việc, tự do lựachọn việc làm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp và không bị phânbiệt đối xử” ( Điều 5, BLLĐ 2012 ) Nội dung của các quy định này là sự đảm bảo về mặtpháp lý cho người lao động trong phạm vi khả năng, nguyện vọng của mình có được cơhội tìm kiếm việc làm và có quyền làm việc Đồng thời cũng quy định trách nhiệm củaNhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội trong việc tạo điều kiện để người laođộng có việc làm và được làm việc

- Trả lương (tiền công) theo thỏa thuận

Vì sức lao động là hàng hóa, tiền lương là giá cả sức lao động, các quy định về tiền lương

do Nhà nước ban hành phải đảm bảo đúng giá trị sức lao động

Hơn nữa, thu nhập chính là mục đích cơ bản nhất của NLĐ khi tham gia quan hệ laođộng Tùy từng tính chất, đặc điểm khác nhau của từng loại lao động mà Nhà nước quyđịnh chế độ tiền lương hợp lý Bộ luật lao động đưa ra các quy định nhằm đảm bảo quyềnlợi của người lao động như: bắt buộc phải đảm bảo thông qua mức lương tối thiểu,khuyến khích NSDLĐ đảm bảo thu nhập cao hơn cho NLĐ, quy định cơ sở tiền lươngphải dựa trên năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc….Trong trường hợp, NLĐ khônglàm được việc do rủi ro khách quan hoặc do lỗi của NSDLĐ thì NLĐ đều được trả lươnghoặc bồi thường tiền lương Khi bị chuyển làm việc khác, NLĐ cũng được bảo vệ mứcthu nhập hợp lí theo mức đã thỏa thuận hoặc theo sức lao động đã hao phí cho công việcthực tế; khi họ bị khấu trừ lương thì mức trừ cũng được pháp luật giới hạn ở tỷ lệ nhấtđịnh,…

Trang 10

Như vậy, tuy không can thiệp vào quyền tự chủ về tài chính của NSDLĐ nhưng pháp luậtLao động đã thể hiện rõ quan điểm bảo vệ thu nhập cho NLĐ ở mức độ hợp lí.

- Thực hiện bảo hộ lao động đối với người lao động

Bộ luật lao động dành rất nhiều quy định để khẳng định quyền được bảo hộ của NLĐ,đặc biệt dành riêng một chương để quy định về an toàn lao động và vệ sinh lao động( chương IX ) Chứng tỏ bộ luật Lao động rất coi trọng vấn đề đảm bảo an toàn bảo hộđối với người lao động Các quy định này xuất phát từ quan điểm và nhận thức: conngười là vốn quý, là lực lượng lao động chủ yếu của xã hội Do vậy, được bảo hộ laođộng, làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn lao động, vệ sinh lao động là quyềncủa NLĐ và việc đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động là nghĩa vụ vàtrách nhiệm của Nhà nước và các doanh nghiệp

Những đảm bảo về mặt pháp lý để người lao động thực sự được hưởng quyền bảo hộ laođộng thể hiện ở các điểm sau: Được đảm bảo các biện pháp về kỹ thuật an toàn và phòngchống cháy nổ; Được đảm bảo các biện pháp về kỹ thuật vệ sinh lao động, cải thiện điềukiện làm việc; Được trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động; Được chămsóc sức khỏe, phòng ngừa bệnh nghề nghiệp; Được tuyên truyền, giáo dục, huấn luyện vềbảo hộ lao động

- Đảm bảo quyền được nghỉ ngơi của người lao động

Theo Điều 24 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) thì mọi người đều có quyềnnghỉ ngơi và thư giãn (right to rest and leisure) Quyền được nghỉ ngơi là một quyền cơbản được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật lao động Bộ luật Lao động(2012) hiện hành của Việt Nam quy định nội dung về thời gian lao động, thời giờ nghỉngơi tại Chương VII

Nhà nước ngoài việc quy định thời gian làm việc hợp lý, còn quy định thời gian nghỉngơi, thời gian nghỉ lễ, nghỉ việc riêng đối với người lao động nhằm tạo điều kiện cho họkhả năng phục hồi sức khỏe, tái sản xuất sức lao động và tăng năng suất lao động

- Tôn trọng quyền đại diện của tập thể lao động

Nội dung của nguyên tắc này được quy định trong Hiến pháp, Bộ luật lao động, và LuậtCông đoàn Những cơ sở pháp lý điều chỉnh về đại diện lao động trong Bộ luật lao độngtạo ra một “rào chắn an toàn” để bảo đảm quyền lợi của tập thể lao động trong quan hệlao động, xác lập vị thế bình đẳng giữa người lao động và người sử dụng lao động Theo

đó, tổ chức Công đoàn - tổ chức đại diện của NLĐ - đại diện và bảo vệ quyền, lợi íchhợp pháp chính đáng cho người lao động NLĐ có quyền được thành lập, gia nhập vàhoạt động công đoàn để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình là một trong các quyền

Trang 11

quan trọng của người lao động được pháp luật lao động ghi nhận và đảm bảo thực hiện.Các quyền này được quy định cụ thể trong Luật công đoàn.

- Thực hiện bảo hiểm xã hội đối với người lao động

Quyền được bảo hiểm xã hội là một trong các quyền cơ bản của người lao động đượcpháp luật ghi nhận và bảo vệ Nhà nước và các đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệmthực hiện các chế độ bảo hiểm đối với người lao động

Nội dung của nguyên tắc này là người lao động nếu có tham gia vào quan hệ lao động, cóđóng góp bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật lao động thì đều được đảm bảo cácđiều kiện về vật chất trong trường hợp tạm thời hoặc vĩnh viễn mất sức lao động, mấtviệc làm nhằm giúp họ khắc phục khó khăn, ổn định đời sống, tạo điều kiện để người laođộng an tâm lao động, thúc đẩy sản xuất phát triển

5. Phân tích cơ sở lý luận và nội dung của nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của người sử dụng lao động

Cơ sở của nguyên tắc lý luận:

- Xuất phát từ chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam Cụ thể là Nghị quyết đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ IX Nghị quyết đại hội đạo biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảngđưa ra chủ trương: “các doanh nghiệp được tự chủ trong việc trả lương và tiền thưởng…Nhà nước tôn trọng thu nhập hợp pháp của người kinh doanh”

- Từ Hiến pháp năm 1992, Điều 57,Điều 58 Hiến Pháp 1992: Công dân có quyền sở hữu

về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn vàtài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; đối với đất đượcNhà nước giao sử dụng thì theo quy định tại Điều 17 và Điều 18

Tầm quan trọng trong việc quản lí người sử dụng lao động đối với sự phát triển kinh tế

-xã hội và ổn định của quốc gia

- Nhu cầu cần được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động

Nội dung nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động:

Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động là tư tưởng chủ đạo xuyênsuốt quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật lao động Bởi lẽ, người sử dụng lao động làmột bên của quan hệ lao động, cùng với việc bảo vệ người lao động, không thể không

Ngày đăng: 18/01/2020, 08:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w