Lupus sơ sinh là một bệnh miễn dịch mắc phải thụ động. Chẩn đoán xác định dựa trên đặc điểm lâm sàng điển hình của bé và sự hiện diện của tự kháng thể từ mẹ mà cụ thể là anti-Ro, anti-La, anti-U1RNP. Biểu hiện lâm sàng của 1 bé lupus sơ sinh có thể thấy ở nhiều cơ quan, nhưng 2 cơ quan thường gặp nhất là tim và da.
Trang 1BÁO CÁO 2 CA LUPUS SƠ SINH BIỂU HIỆN Ở DA
Huỳnh Thoại Loan*, Nguyễn Hiếu Trung*, Phạm Hoàng Thắng*, Nguyễn Thụy Ý Nhi*
TÓM TẮT
Đại cương: lupus sơ sinh là một bệnh miễn dịch mắc phải thụ động Chẩn đoán xác định dựa trên đặc điểm
lâm sàng điển hình của bé và sự hiện diện của tự kháng thể từ mẹ mà cụ thể là anti-Ro, anti-La, anti-U1RNP Biểu hiện lâm sàng của 1 bé lupus sơ sinh có thể thấy ở nhiều cơ quan, nhưng 2 cơ quan thường gặp nhất là tim
và da
Ca lâm sàng: 2 trường hợp chúng tôi báo cáo ở đây có những tổn thương da điển hình của lupus sơ sinh Cả
2 đều được sinh ra ở 2 bà mẹ có tiền căn Lupus ban đỏ hệ thống Ca thứ nhất có đầy đủ tiêu chuẩn đòi hỏi để chẩn đoán xác định Ca thứ 2 có biểu hiện lâm sàng rất điển hình nhưng không tìm thấy kháng thể Trường hợp này chưa được báo cáo qua các bài báo trước đây
Kết luận: Tổn thương da trong lupus sơ sinh không nguy hiểm và thường hồi phục mà không để lại di
chứng Nhưng việc chẩn đoán chính xác lupus sơ sinh giúp ta tiên lượng về đứa bé sau này, bà mẹ và ngay cả bé
bị lupus sơ sinh cho dù tổn thương da đã hồi phục
Từ khóa: lupus sơ sinh, sang thương da, tự kháng thể
ABSTRACT
CUTANEOUS MANIFESTATIONS OF NEONATAL LUPUS: TWO CASE REPORTS
Huynh Thoai Loan, Nguyen Hieu Trung, Pham Hoang Thang
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 4 - 2016: 112 - 118
Background: Neonatal lupus(NL) or neonatal lupus erythematosus (NLE) is a passively acquired
autoimmune disease It’s diagnosed by characteristic clinical features of fetus or newborn and the presence of specific maternal auto antibodies (anti-SSA/Ro, anti-SSB/La, anti-U1RNP)
Two clinical cases:We present 2 cases with specific cutaneous lession of NLE Both are offspringsof SLE
mothers.One has clinical presences and laboratory tests consistent with a typical NLE One has the same appearance but negative autoantibodies that haven’t been reported beforein literature
Conclusion: Cutaneouslession in NLE is spontaneous regression but it’s important in prognosis of the next children especially in anti-Ro-positive mothers
Keywords: neonatal lupus erythematosus, cutaneous lession, autoantibodies
BÁO CÁO CA LÂM SÀNG
Ca 1
Bé gái 22 ngày tuổi nhập bệnh viện Nhi
Đồng 1 với lý do là khó thở Em là con thứ 2,
sanh mổ, đủ tháng, cân nặng lúc sanh là 2,7
kg Ngay sau sanh tại bệnh viện Từ Dũ em
được chẩn đoán viêm phổi và được điều trị với nhiều loại kháng sinh trong 19 ngày Sau xuất viện 3 ngày em được nhập bệnh viện Nhi Đồng 1 Thăm khám lúc nhập viện ghi nhận 2 bất thường chính: suy hô hấp và ban đỏ từ mặt đến thân mình
* Bệnh viện Nhi Đồng 1
Trang 2Mẹ em được chẩn đoán lupus ban đỏ hệ
thống tại bệnh viện Da liễu Tp Hồ Chí Minh 6
năm trước và không điều trị gì từ đó đến nay
Lý do phát hiện bệnh là nổi ban cánh bướm ở
mặt Trước khi được chẩn đoán Lupus 1 năm,
mẹ em có sinh 1 bé gái (hiện 7 tuổi, khỏe
mạnh)
Hình 1: Bé gái 22 ngày tuổi được chẩn đoán Lupus
Theo lời mẹ kể, bé gái này có ban da giống hệt như em bé đang nằm viện Vào thời điểm
đó các bác sĩ có cho sinh thiết da nhưng kết luận là viêm da không đặc hiệu Điều thú vị là lúc này các bác sĩ không thể biết được 1 năm sau bà mẹ này bị Lupus
Ban da tập trung chủ yếu quanh mắt và vùng thái dương và xuất hiện ngay sau sinh Ban dạng dát hồng ban không tẩm nhuận, không có vảy Sau 4 tháng ban nhạt dần rồi mất đi mà không để lại di chứng gì
Cận lâm sàng
Thiếu máu (được truyền máu), giảm tiểu cầu (không xử trí gì)
C3, C4 giảm
Tăng men gan
Anti-Ro(+), anti-La(+)
Siêu âm tim: PDA (tự đóng)
Bảng 1: Kết quả cận lâm sàng sau 2 tháng
Huyết đồ
Ca 2
Bé trai 7 ngày tuổi được chuyển bệnh viện
Nhi Đồng 1 với chẩn đoán nhiễm trùng sơ sinh
Ngay sau sanh, mẹ bé phát hiện nhiều ban nhỏ
đoán nhiễm trùng sơ sinh Sau 1 tuần điều trị em được chuyển bệnh viện Nhi Đồng 1 Trong thời gian đó em không sốt, không ho, không ói và bú tốt Em là con thứ 2, đủ tháng, sanh mổ, cân
nặng lúc sanh 2,6 kg
Trang 3cách đây hơn 10 năm (chỉ biểu hiện ở da) và điều
trị khoảng 2-3 năm Trong thời gian đó, mẹ bé
sảy thai 3 lần liên tiếp (đều trong tam cá nguyệt
thứ nhất) Sau đó mẹ em ngưng thuốc và sanh bé
đầu tiên (anh trai của bé này) Bé trai đầu tiên
nay được 8 tuổi, hoàn toàn khỏe mạnh mặc dù
lúc 2 tuần tuổi em cũng xuất hiện ban giống hệt
bé em đang nằm viện
Ban da dạng hồng ban, có ít vảy, hình vòng
tròn với trung tâm hơi nhạt màu, phần rìa hơi
nhô cao Ban tập trung chủ yếu ở phần đầu mặt,
ít ban ở thân mình Sau 4 tháng ban nhạt dần rồi
mất hẳn (không điều trị gì), thay vào đó là
telangiectasia
Cận lâm sàng
Giảm tiểu cầu: 13k/ul (1 tháng tuổi)
Test de coomb’s: âm tính
LE cell: âm tính
6 tự kháng thể: âm tính Điện tâm đồ: nhịp xoang đều 145 nhịp/ phút
Siêu âm tim: bình thường
Hình 2: Bé trai 7 ngày tuổi
Hình 3&4: Bé 6-9-Tuần tuổi
Trang 4Hình 5: Bé 5 tháng tuổi
BÀN LUẬN
Không giống với block tim bẩm sinh có thể
chẩn đoán dễ dàng qua siêu âm tim thai, ban da
trong lupus sơ sinh có thể bị bỏ qua hay chẩn
đoán lầm với những bệnh lý da khác ở tuổi sơ
sinh, nhũ nhi đặc biệt ở những bà mẹ hoàn toàn
khỏe mạnh Bởi vậy cho đến nay tỉ lệ block tim
bẩm sinh tương đối phù hợp ở các nghiên cứu
khác nhau nhưng tỉ lệ lupus sơ sinh biểu hiện ở
da vẫn chưa xác định được Chúng ta thường
chẩn đoán lupus sơ sinh ở những em bé có mẹ
với tiền sử lupus đỏ hệ thống, trong khi đó có
thể bỏ sót 1 số lớn những ca lupus sơ sinh ở
những bà mẹ khỏe mạnh (tỉ lệ này lên đến 50%)
Ban trong lupus sơ sinh có dạng giống với
lupus da bán cấp ở người lớn Ban dạng hồng
ban, hình tròn, có vảy, nhạy cảm ánh sáng, với
phần trung tâm bị teo da, phần rìa hơi gồ lên
Ban tập trung chủ yếu ở phần đầu, quanh mắt,
và thường phát hiện lúc 4-6 tuần tuổi(11) Ban kéo
dài khoảng 17 tuần và việc điều trị dường như
không ảnh hưởng đến dự hậu sau này(6) Mặc dù
vậy, việc điều trị với corticoid tại chỗ rút ngắn
thời gian ban tồn tại Bởi vì ban nhạy cảm với
ánh sáng nên việc tránh nắng giúp ban không
Trong phần trình bày ở trên, 2 ca lâm sàng đều có ban xuất hiện ngay sau sanh Mặc dù phần lớn ban xuất hiện ở độ 4-6 tuần tuổi nhưng tỉ lệ xuất hiện ngay sau sanh là 23%(3) Ban ở ca 1 tập trung chủ yếu quanh mắt nhưng có hình dạng không thật sự điển hình
Ca 2 có ban điển hình của lupus sơ sinh từ vị trí, hình dạng cho đến hậu quả để lại Vào lúc
5 tháng tuổi ban biến mất, thay vào đó trên mặt xuất hiện telangiectasia Dạng tổn thương
da này chỉ xuất hiện trong 20% trường hợp Lupus sơ sinh da và thường xuất hiện khoảng 6-12 tháng tuổi(6) Telangiectasia có thể xuất hiện ở vùng trước đó không có hồng ban Sang thương này không tự khỏi nếu không có sự can thiệp của laze liệu pháp
Theo The Research Registry for Neonatal Lupus, để chẩn đoán lupus sơ sinh chúng ta cần
2 tiêu chuẩn: block tim hoặc ban da điển hình và
sự hiện diện của tự kháng thể (anti-Ro và hoặc anti-La và hoặc anti- U1RNP)(6) Hầu hết các ca đều dương tính với anti-Ro, anti-La, chỉ 1 số rất ít
ca dương tính với anti-U1RNP Trong y văn, chưa có ca nào âm tính với cả 3 tự kháng thể trên Trong báo cáo ở trên, ca 1 có đủ 2 tiêu
Trang 5Như vậy, liệu rằng đây là lupus sơ sinh hay một
bệnh da nào khác?
Ca 2 có nhiều yếu tố hỗ trợ cho việc chẩn
đoán lupus sơ sinh như: sang thương da điển
hình, ban da tự khỏi mà không cần điều trị,
telangiectasia, mẹ Lupus, anh trai có ban y hệt
lúc sơ sinh (ban tự khỏi) Như vậy, để phù hợp
với chẩn đoán, chúng tôi nghĩ có vấn đề trong
việc phát hiện tự kháng thể Có 2 giả thuyết
được đưa ra: nồng độ tự kháng thể quá thấp,
phương pháp xét nghiệm không đủ nhạy để
phát hiện kháng thể Như chúng ta đã biết, thời
gian bán hủy của IgG là 25 ngày và khi nó được
truyền sang con lúc sanh nồng độ nó đã giảm đi
một nửa Em bé trong ca 2 được lấy máu để xét
nghiệm tự kháng thể lúc 16 ngày tuổi Như vậy
chúng ta có thể ước đoán nồng độ kháng thể lúc
này chỉ còn lại 1/3 Nhưng trong 1 nghiên cứu
trước đây, khi người ta so sánh nồng độ của
anti-U1RNP với nồng độ của kháng thể uốn ván ở
em bé sơ sinh, thì kết quả là nồng độ
anti-U1RNP giảm rất nhiều lần so với kháng thể uốn
ván(8) Từ đó người ta đưa ra kết luận: có thể
kháng thể này đã được sử dụng bởi các mô tổn
thương mà cụ thể là da Như vậy nếu giả thuyết
đầu đúng, có nghĩa là kháng thể âm tính ở trẻ
nhưng sẽ dương tính ở bà mẹ Nhưng thật
không may là test tìm kháng thể ở bà mẹ cũng
âm tính Chúng ta chỉ còn giả thuyết thứ 2 là:
phương pháp xét nghiệm không đủ độ nhạy để
giải thích cho chẩn đoán Phương pháp chúng
tôi sử dụng để tìm 6 tự kháng thể ở đây là
ELISA Test này có độ nhạy rất cao > 90% nhưng
có một nhược điểm là không thể phát hiện các
kháng thể đã bị biến tính (denatured) Mặc khác
hầu hết các phòng lab thương mại không có đủ
kháng nguyên Ro 52k để phát hiện kháng thể
anti-Ro(11) Trong 1 báo cáo của E Silveman và
cộng sự, 1 bà mẹ của em bé bị lupus sơ sinh có kết quả dương tính với anti-U1RNP nhưng âm tính với anti-Ro, anti-La (các test này được thử bằng phương pháp ELISA)(10) Sau đó người mẹ được test lại với phương pháp immunoblot và kết quả là dương tính với anti-La Chúng ta cũng
có thể thấy sự thay đổi độ nhạy của các test qua các nghiên cứu được thực hiện ở những mốc thời gian khác nhau Ví dụ như các nghiên cứu được thực hiện trước đây sử dụng phương pháp khuếch tán miễn dịch có tỉ lệ phát hiện anti-La chỉ 41% ở những ca block tim bẩm sinh Còn các nghiên cứu sau này sử dụng phương pháp immunoblot thì tỉ lệ phát hiện anti-La là >85% các ca tương tự(10) Sau cùng giả thuyết 2 có vẻ là phù hợp nhất để giải thích cho chẩn đoán lupus
sơ sinh ở ca 2
Biểu hiện về huyết học xảy ra ở 25-30% trường hợp lupus sơ sinh bao gồm: giảm tiểu cầu, thiếu máu và giảm bạch cầu hạt Những bất thường này thường tự khỏi lúc bé được 6 tháng-
1 tuổi Chúng ta thường không cần can thiệp gì ngoại trừ những trường hợp có xuất huyết hoặc thiếu máu ở bé bị suy hô hấp như ca 1 Tăng men gan chỉ là tạm thời và thường về bình thường khi trẻ được 6 tháng Giảm bổ thể C3, C4 chưa thấy đề cập trong các textbook nhưng đã được báo cáo trong 1 bài báo(7) Ở đây ta có thể thấy nồng độ C3, C4 giảm thấp trong ca 1 Mặc
dù chưa có dữ liệu nào nói về thời gian hồi phục C3, C4 nhưng chúng ta hy vọng nồng độ bổ thể
sẽ về bình thường khi tự kháng thể không còn xuất hiện trong máu bé (khoảng 6 tháng tuổi ) Trong 2 trường hợp trên, không có bất thường nghiêm trọng nào ở tim ngoại trừ PDA sau đó tự đóng ở ca 1 Biểu hiện ở tim thường gặp và nguy hiểm nhất ở trẻ lupus sơ sinh là block nhĩ thất độ 3 Lupus sơ sinh chiếm 90-95% các trường hợp block nhĩ thất đơn độc ở trẻ nhỏ hơn 6 tháng tuổi(3) Anti-Ro là điều
Trang 6kiện cần nhưng không đủ để 1 trẻ biểu hiện
block nhĩ thất hoàn toàn(1). Không phải tất cả
các bà mẹ có anti-Ro dương tính đều có con bị
block nhĩ thất Nguy cơ cho 1 trẻ bị block nhĩ
thất hoàn toàn là 2% ở những bà mẹ có anti-Ro
dương tính Và nguy cơ này tăng lên 10 lần từ
2% đến 20% ở những đứa bé tiếp theo nếu anh
hoặc chị của nó có block nhĩ thất hoàn toàn
Điều này cũng tương tự nếu anh, chị của nó có
lupus sơ sinh biểu hiện ở da Vì vậy, việc chẩn
đoán đúng lupus sơ sinh rất quan trọng trong
việc tiên lượng Hơn nữa trong số các bà mẹ
không triệu chứng của bé lupus sơ sinh, một
nửa số này sẽ có biểu hiện của bệnh tự miễn
trong tương lai(9) Một nghiên cứu từ The
Research Registry for Neonatal Lupus cho
thấy các bé lupus sơ sinh có thể tăng nguy cơ
mắc bệnh tự miễn sau này(5), nhưng nguy cơ
mắc lupus ban đỏ hệ thống thì không tăng
Một bà mẹ Lupus đỏ hệ thống, cho dù con có
bị lupus sơ sinh hay không thì nguy cơ mắc
Lupus sau này ở những đứa con là như nhau
Chúng ta đã biết được tầm quan trọng của
việc chẩn đoán đúng lupus sơ sinh Thêm vào
đó, nếu tỉ lệ của lupus sơ sinh không quá thấp thì
việc chẩn đoán đúng còn quan trọng hơn nữa
Có 0,5% phụ nữ bình thường trong dân số có
anti-Ro dương tính Như đã nói ở trên nguy cơ
block nhĩ thất hoàn toàn ở những phụ nữ anti-Ro
dương tính là 2% Từ đó chúng ta có thể ước
đoán được tỉ lệ mới mắc của block nhĩ thất hoàn
toàn là 1:10.000 trẻ sinh sống
Tỉ lệ lupus sơ sinh biểu hiện ở da thay đổi
giữa các nghiên cứu khác nhau Trong 1 nghiên
cứu được thực hiện ở Toronto và Milan tỉ lệ mắc
phải của lupus sơ sinh da và block nhĩ thất hoàn
thương da hiện diện ở 96% trường hợp, trong khi block nhĩ thất hoàn toàn chỉ là 2%(4) Trong 1 nghiên cứu hồi cứu được thực hiện ở Thái lan, 12/17 (70%) bé có có tổn thương da, 9/17 (53%) bé
có block nhĩ thất hoàn toàn(12) Hiện chưa có dữ liệu nào về lupus sơ sinh ở Việt Nam Trong textbook thì có đến 25% trẻ của bà mẹ có anti-Ro dương tính sẽ có biểu hiện lupus sơ sinh ở da Khi so sánh nguy cơ giữa da (25%) và block tim (2%) ta có thể ước đoán tỉ lệ mới mắc của lupus
sơ sinh biểu hiện da là 1:1.000 trẻ sinh sống Có lẽ việc thăm khám tiền sản được thực hiện một cách chặt chẽ và cẩn thận ở các nước phát triển nên tỉ lệ của block tim bẩm sinh khá cao so với lupus sơ sinh biểu hiện da Ngược lại, ở các nước đang phát triển việc theo dõi tiền sản không được tuân thủ bài bản Có thể có nhiều trường hợp sảy thai ở tam cá nguyệt thứ 2 do block nhĩ thất hoàn toàn mà không phát hiện được nguyên nhân Do đó tỉ lệ phát hiện block nhĩ thất hoàn toàn có vẻ thấp hơn ở các nước đang phát triển Tóm lại, lupus sơ sinh là một bệnh hiếm gặp với tỉ lệ mắc phải vẫn chưa xác định được Một
bé sơ sinh, nhũ nhi với những biểu hiện điển hình của ban da hay block tim bẩm sinh cần được sàng lọc tự kháng thể Việc chẩn đoán xác định lupus sơ sinh đóng vai trò quan trọng trong việc tiên lượng cho mẹ, bé, và các bé sau này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Buyon JP, Kim MY, Copel JA, Friedman DM (2001), Anti-Ro/SSA antibodies and congenital heart block: necessary but not sufficient Arthritis Rheum; 44:1723
2 Cimaz R, Spence DL, Hornberger L, Silverman ED (2003), Incidence and spectrum of neonatal lupus erythematosus: a prospective study of infants born to mothers with anti-Ro autoantibodies J Pediatr; 142:678
3 Jaeggi ET, Hamilton RM, Silverman ED et al (2002), Outcome
of children with fetal, neonatal or childhood diagnosis of isolated congenital atrioventricular block A single institution's experience of 30 years.J Am Coll Cardiol.; 39:130
4 Li YQ, Wang Q, Luo Y, Zhao Y (2015), Neonatal lupus
Trang 75 Martin V, Lee LA, Askanase AD (2002), Long-term followup
of children with neonatal lupus and their unaffected siblings
Arthritis Rheum.; 46:2377
6 Neiman AR, Lee LA, Weston WL, Buyon JP (2000),
Cutaneous manifestations of neonatal lupus without heart
block: characteristics of mothers and children enrolled in a
national registry J Pediatr.; 137:674
7 Perez MF, Torres ME, Buján MM et al (2011), Neonatal lupus
erythematosus: a report of four cases An Bras Dermatol.;
86:347
8 Provost TT, Watson R, Gammon WR et al.(1987), The neonatal
lupus syndrome associated with U1RNP (nRNP) antibodies
N Engl J Med.; 316:1135
9 Rivera TL, Izmirly PM, Birnbaum BK et al (2009) Disease
progression in mothers of children enrolled in the Research
Registry for Neonatal Lupus.Ann Rheum Dis.; 68:828
10 Sheth AP, Esterly NB, Ratoosh SL, Smith JP, Hebert AA, Silverman E (1995), U1RNP positive neonatal lupus erythematosus: association with anti-La antibodies?Br J Dermatol.; 132:520
11 Silverman E, Jaeggi E (2010), Non-cardiac manifestations of neonatal lupus erythematosus.Scand J Immunol; 72:223
12 Wisuthsarewong W, Soongswang J, Chantorn R (2011) Neonatal lupus erythematosus: clinical character, investigation, and outcome Pediatr Dermatol.; 28:115
Ngày nhận bài báo: 7/5/2016 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 7/6/2016 Ngày bài báo được đăng: 25/7/2016
Trang 8HIỆU QUẢ CỦA PHUN KHÍ DUNG NƯỚC MUỐI ƯU TRƯƠNG TRONG HÚT DỊCH KHÍ QUẢN Ở BỆNH NHI VIÊM PHỔI
Hồ Thiên Hương*, Trần Anh Tuấn*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của kích thích tiết đàm bằng khí dung nước muối ưu trương 3% trên kết quả
NTA (hút dịch khí quản qua đường mũi) xác định vi khuẩn gây bệnh viêm phổi ở trẻ em
Phương pháp: nghiên cứu tiền cứu
Kết quả: 100 bệnh nhân nhập viện vì viêm phổi được chỉ định xét nghiệm NTA từ tháng 12/2015 đến tháng
3/2016 được chia thành 2 nhóm được phun khí dung với nước muối ưu trương 3% và nhóm không phun khí dung Tuổi trung bình 2,4 tuổi, tỉ lệ nam/nữ là 1,5/1 So với nhóm không can thiệp, ở nhóm phun khí dung nước muối ưu trương ghi nhận có sự cải thiện chất lượng mẫu bệnh phẩm NTA: điểm số Barlett ≥ 3 (80% so với 40%,
p <0,001, 2) tỉ lệ tế bào trụ (84% so với 50%, p <0,001, 2), tế bào biểu mô (90% so với 40%, p<0,001, 2), nhuộm soi gram dương và gram âm ( 40% so với 5%, p=0,002, 2) Kết quả NTA phát hiện vi khuẩn kèm kháng sinh đồ ở nhóm phun khí dung nước muối ưu trương cũng cao hơn nhóm không can thiệp (10 trường hợp, 20%
so với 2%, p=0,005): Klebsiella ESBL(+) 4%,Klebsiella ESBL (-) 2%, Pseudomonas 4%, E.coli ESBL (+) 4%, E.coli ESBL(-) 2%, Acinobacter 4% Tỉ lệ cải thiện triệu chứng khi điều trị dựa theo kháng sinh đồ có được ở nhóm phun khí dung nước muối ưu trương cao hơn (7/10 trường hợp, 70% so với 30%, p<0,0001, 2) Không ghi nhận tác dụng phụ của phun khí dung nước muối ưu trương Không ghi nhận trường hợp tử vong hoặc chuyển hồi sức trong thời gian nghiên cứu
Kết luận: Áp dụng kĩ thuật kích thích tiết đàm bằng khí dung nước muối ưu trương 3% cải thiện rõ rệt chất
lượng mẫu bệnh phẩm NTA, tăng khả năng phát hiện vi khuẩn gây bệnh ở trẻ nhập viện vì viêm phổi mà không
có tác dụng phụ nào
Từ khóa: phun nước muối ưu trương, NTA, tế bào trụ
ABSTRACT
THE EFFECTIVENESS OF INDUCED SPUTUM USING NEBULIZED HYPERTONIC SALINE IN NASOTRACHEAL ASPIRATION AMONG CHILDREN HOSPITALIZED WITH PNEUMONIA
Ho Thien Huong, Tran Anh Tuan
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 20 - No 4 - 2016: 119 - 124
Objectives: To evaluate the effectiveness of sputum induction in NTA
Methods: Prospective study
Results: From December 2015 to March 2016, there were 100 pneumonia cases admitted to hospital in
Children’s Hospital No.1 that were seperated into two distinct groups: sputum induction by using nebulized hypertonic saline 3% and without intervention The average age was 2.4 years with male and female proportion was 1.5/1 After using nebulized hypertonic saline, the results of lab tests showed the improvement of NTA specimens quality: the Barlett’s score ≥ 3 (80% versus 40%, p <0,001, 2) the rate of columnar cell (84% versus 50%, p <0,001, 2), epithelial cell (90% versus 40%, p<0,001, 2), positive and negative-Gram bacteria stain ( 40% versus 5%, p=0,002, 2) In NTA results, the proportion of bacterial detection and antibiotic shown in