Nội dung nghiên cứu nhằm báo cáo 2 ca lâm sàng tử vong do biến chứng viêm tụy cấp sau mổ cắt dạ dày và xem lại y văn nhằm tìm kiếm những đặc điểm nổi bật của thể bệnh này nhằm giúp nhận ra sớm hơn trong thực hành lâm sàng. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.
Trang 1VIÊM TỤY CẤP SAU MỔ CẮT DẠ DÀY:
BÁO CÁO 2 CA LÂM SÀNG VÀ XEM LẠI Y VĂN
Nguyễn Ngọc Anh*, Lê Hoàng Quân*
TÓM TẮT
Viêm tụy cấp sau mổ là biến chứng hiếm gặp nhưng nghiêm trọng và thường gây tử vong trong thời gian hậu phẫu, chủ yếu xảy ra sau phẫu thuật gần tụy như phẫu thuật dạ dày và đường mật Cơ chế bệnh sinh vẫn chưa hoàn toàn sáng rõ nhưng có thể nói là hậu quả của nhiều yếu tố: chấn thương tụy trong mổ, tổn thương nhu
mô tụy do đốt điện hoặc do kéo, tổn thương ống tụy trong quá trình cắt dạ dày và di động tá tràng quá mức được cho là nguyên nhân chính Biểu hiện lâm sàng không rõ ràng và thường bị bỏ sót dẫn đến chậm trễ trong chẩn đoán và điều trị Chúng tôi báo cáo 2 ca lâm sàng tử vong do biến chứng viêm tụy cấp sau mổ cắt bán phần dạ dày kèm nạo hạch rộng, và xem lại y văn để tìm hiểu thêm về thể bệnh này
Từ khóa: Viêm tụy cấp sau mổ, cắt dạ dày bán phần
SUMMARY
POST-GASTRECTOMY ACUTE PANCREATITIS: 2 CASES REPORT AND LITERATURE REVIEW
Nguyen Ngoc Anh, Le Hoang Quan
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 18 - Supplement of No 4- 2014: 166 - 171
Postoperative acute pancreatitis is a rare complication but serious and often fatal postoperative complication
It has been described principally after operations on or adjacent to the pancreas such as biliary tract and gastric surgery The pathogenesis of this condition is less clear but it may be a result of several factors: pancreatic parenchymal injury by electrocauterization or traction, or direct injury to the pancreatic duct might occur during gastrectomy and excess mobilization of the duodenum which have been suggested to induce postoperative pancreatitis The clinical manifestations of postoperative pancreatitis are less specific and might lead to misdiagnose We describe 2 fatal acute pancreatitis cases following partial gastrectomy plus widen lymph node dissection and review current literature
Key words: postoperative acute pancreatitis, partial gastrectomy
ĐẶT VẤN ĐỀ
Mặc dù hiếm gặp nhưng viêm tụy cấp sau
mổ (VTCSM) đã được y văn ghi nhận(1,2,6) Chủ
yếu xảy ra sau phẫu thuật gần tụy như phẫu
thuật dạ dày và đường mật nhưng cũng có thể
sau một phẫu thuật xa tụy VTCSM là biến
chứng nặng và thường gây tử vong trong thời
gian hậu phẫu Tỉ lệ tử vong của VTCSM từ 17
đến 50%(2,7) Những biến chứng nặng khác
thường gặp ở 2/3 bệnh nhân (bn) bao gồm sốc,
nhiễm trùng huyết quanh tụy, nang giả tụy,
dò tụy, hoại tử ruột và xuất huyết nặng(7)
Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận đặc tính gây chết người cao của thể bệnh này Tuy nhiên, nhiều trường hợp biểu hiện lâm sàng không rõ ràng và thường bị bỏ sót gây chậm trễ trong việc chẩn đoán và điều trị Chúng tôi báo cáo 2 trường hợp VTCSM cắt dạ dày và xem lại y văn nhằm tìm kiếm những đặc điểm nổi bật của thể bệnh này nhằm giúp nhận ra sớm hơn trong thực hành lâm sàng
BÁO CÁO CA LÂM SÀNG
Ca lâm sàng 1
Bn nữ 58 tuổi có tiền sử tăng huyết áp đang
* Khoa Gây Mê Hồi Sức BV Nhân Dân 115
Trang 2điều trị và loét dạ dày tá tràng, nhập viện vì đau
thượng vị với kết quả nội soi dạ dày: loét khổng
lồ nhiễm cứng góc bờ cong nhỏ lan sang hang vị
Các xét nghiệm tiền phẫu trong giới hạn bình
thường Bn được điều trị trước mổ 6 ngày với
nexium 40mg/ngày, amlor 5mg/ngày, diazepam
5mg/ngày và được mổ chương trình cắt bán
phần dạ dày và nạo hạch rộng với gây mê cân
bằng qua nội khí quản Thuốc gây mê sử dụng
gồm propofol 100mg, sevofluran 30ml,
sufentanyl 20mcg và esmeron 45mg
Quá trình phẫu thuật ghi nhận 1 u to vùng
hang vị và mạc nối nhỏ dạ dày xâm lấn đến
thanh mạc, nhiều hạch nhóm 1-6 khoảng 1cm
(T4N2M0) Tiến hành cắt toàn bộ mạc nối lớn, cắt
2/3 dạ dày, đóng mỏm tá tràng, nối vị tràng 2
lớp, nạo hạch nhóm 1-6
Ngày 1-5 sau mổ: đau bụng vùng vết mổ,
không sốt, bụng chướng nhẹ, dẫn lưu dưới gan
không ra dịch Hemoglobin (Hb) là 13,5 g/dl (Hb
trước mổ 12,7 g/dl), bn được bổ sung giảm đau
với perfangan, Mobic và morphine
Ngày 6 sau mổ: đau thượng vị và hạ sườn
trái, đề kháng thành bụng rõ Bạch cầu 21 K/ul
(Neutro chiếm 84%) Hb 11,6 g/dl, toan chuyển
hóa với pH máu 7,34 PaO2 68 mmHg PaCO2 23
mmHg và HCO3 12,1 mmol/L Bn không được
xét nghiệm amylase/lipase máu trong suốt quá
trình nằm viện
CT scan bụng cản quang ghi nhận dịch tự do
trong ổ bụng, quanh gan trái, mặt trước tụy, dưới
hoành trái, quanh lách, mạc nối lớn Thâm nhiễm
mỡ mạc nối lớn và đông đặc vùng đáy 2 phổi
Bn được chuyển mổ cấp cứu với kết quả là
viêm tụy hoại tử xuất huyết, phù nề chảy dịch
màu đen không hôi (khoảng 200ml trong ổ
bụng), nhiều vết vảy nến ở mô mỡ dưới gan trái,
trên mạc nối nhỏ trước tụy và rãi rác các quai
ruột Kiểm tra miệng nối vị tràng tốt, không có
dò mỏm tá tràng
Sau mổ bn được điều trị tại khoa Hồi Sức
Ngoại 2 ngày trong bệnh cảnh sốc, vô niệu, suy
đa cơ quan Sau đó người nhà xin về
Ca lâm sàng 2
Bn nam 58 tuổi, nhập viện vì nôn ói và gầy sút khoảng 1 tháng Không tiền sử bệnh lý đặc biệt Nội soi dạ dày ghi nhận phần sát tiền môn
vị có loét nhiễm cứng dễ chảy máu gây hẹp môn
vị Bn được điều trị trước mổ12 ngày với rabeloc 20mg/ngày Các xét nghiệm tiền phẫu bình thường Bn được mổ chương trình cắt bán phần
dạ dày và nạo hạch rộng với gây mê cân bằng qua nội khí quản Thuốc sử dụng trong gây mê gồm propofol 100mg, sevofluran 30ml, sufentanyl 20mcg và atracurium 50mg
Quá trình phẫu thuật ghi nhận 1khối u ở tiền môn vị gây hẹp môn vị Bn được cắt bỏ toàn bộ mạc nối lớn, cắt bán phần dạ dày, nạo hạch nhóm 1-6 và nối vị tràng theo phương pháp Finsterer
Sau mổ 7 giờ: bn than đau bụng quanh vết
mổ, mạch 86 lần/phút và tụt huyết áp (HA) 80/50 mmHg Bn được truyền dịch nhanh nhưng không cải thiện, bắt đầu lơ mơ, mạch 97 lần/phút, HA 70/40 mmHg Bn được chuyển vào khoa Hồi Sức Ngoại trong tình trạng lơ mơ, thở không hiệu quả phải đặt nội khí quản, thở máy
và dùng thuốc vận mạch Hb máu thời điểm này
là 9,9 g/dl (Hb trước mổ 13,4 g/dl) Tiểu cầu giảm
79 K/ul (trước mổ là 219 K/ul) Đường máu: 537mg phẫu thuật viên kinh nghiệm Trước đây, phần lớn phẫu thuật cắt dạ dày điều trị loét dạ dày hoặc tá tràng lành tính Tỉ lệ VTCSM có thể cao đến 40,8% và tỉ lệ tử vong nhóm này từ 12,6-62/dl (trước mổ là 129mg/dl) BUN 37,7mg/dl và creatinine 1,62mg/dl (trước mổ: BUN 11mg/dl và creat 0,8mg/dl) Toan chuyển hóa với pH máu 6,8, PaO2 250mmHg, PaCO2 19mmHg và HCO3 2,8mmol/L
Ngày thứ 2 sau mổ: bn hôn mê, thở máy, HA 70/40 mmHg mặc dù duy trì 2 vận mạch liều cao,
vô niệu, bụng chướng Sonde dạ dày ra khoảng 50ml dịch đỏ sậm, dẫn lưu dưới gan ra khoảng 25ml dịch hồng nhạt Xét nghiệm amylase máu
là 2909 U/L, amylase dịch dẫn lưu dưới gan là
2424 U/L Siêu âm bụng tại giường không ghi
Trang 3nhận bất thường và tình trạng bn nặng nên
không thể đưa đi chụp CT scan bụng
Ngày thứ 3 sau mổ: bn mê sâu, HA 60/30
mmHg dù duy trì 2 thuốc vận mạch liều rất
cao, bụng chướng căng Sau đó người nhà xin
về trong tình trạng sốc không hồi phục và suy
đa cơ quan
BÀN LUẬN
Cắt dạ dày là phẫu thuật phổ biến trong thực
hành lâm sàng để điều trị cả tổn thương lành và
ác tính ở dạ dày Biến chứng chủ yếu là xì dò
miệng nối, dò gốc tá tràng, chảy máu sau mổ và
chậm thoát lưu dạ dày(6) Những biến chứng này
không thể hoàn toàn tránh được ngay cả
với,5%(6) Gần đây, phẫu thuật cắt dạ dày chủ
yếu điều trị bệnh dạ dày ác tính, tỉ lệ biến chứng
và tử vong giảm nhiều do cải thiện kỹ thuật mổ
và chăm sóc hậu phẫu tốt hơn
Ngày nay, tỉ lệ mới mắc VTCSM giảm trong
bối cảnh can thiệp phẫu thuật trên biến chứng
loét tiêu hóa giảm dần nhờ kiểm soát bằng thuốc
và nội soi ngày càng cải thiện Mặc dù, tỉ lệ
VTCSM khó đánh giá chính xác và báo cáo với tỉ
lệ <5%(6) Tuy nhiên, tỉ lệ tử vong có thể cao đến
33,3-50% và cao hơn viêm tụy cấp (VTC) do các
nguyên nhân khác(6) Chen(6) báo cáo tỉ lệ mới
mắc VTCSM của phẫu thuật cắt dạ dày toàn bộ
cao hơn so với các phẫu thuật cắt dạ dày khác
(7,4% so với 0,8%) với tỉ lệ tử vong 33,3% Một
nghiên cứu khác báo cáo VTCSM cao hơn ở bn
có nạo hạch rộng(6) Phương pháp phẫu thuật cắt
dạ dày qua nội soi mặc dù có nhiều thuận lợi
hơn, nhưng tỉ lệ VTCSM nội soi cũng khoảng
0,7-2,3%(6) Tiên lượng xấu hơn của VTCSM có
thể liên quan đến ức chế miễn dịch sau mổ, tăng
chảy máu có liên quan với viêm tụy do nạo hạch
hoặc cắt bỏ mô rộng hoặc dò miệng nối thứ phát
sau viêm tụy hoại tử và nhiễm trùng huyết từ ổ
bụng
Schneider và Sebening lần đầu tiên nói
đến bệnh này năm 1928 trong tranh luận
chung về VTC(1) Năm 1949, Millbourn(1) làm
cuộc khảo sát đầu tiên về VTC sau cắt dạ dày
và ghi nhận 90% ca có tăng amylase máu sau
mổ, tăng cao nhất khi di động tá tràng quá mức và thấp nhất khi không cố gắng cắt bỏ các
ổ loét dính chặt Ông đi đến kết luận VTCSM xảy ra phụ thuộc vào những điều kiện sau: (1) tổn thương cơ học trực tiếp tụy và đặc biệt là ống tụy, (2) bệnh mạch máu, (3) co thắt cơ vòng oddi và (4) ứ đọng trong tá tràng
Ngày nay, mặc dù cơ chế gây VTCSM vẫn chưa hoàn toàn sáng rõ nhưng có thể nói nó là hậu quả của nhiều yếu tố:
Chấn thương tụy trong mổ, chấn thương do nạo hạch, tổn thương nhu mô tụy do đốt điện hoặc do kéo, tổn thương trực tiếp ống tụy xảy ra trong quá trình cắt dạ dày(6) và di động tá tràng quá mức được cho là nguyên nhân chính(1,2) Nguyên nhân khác gồm tổn thương mạch máu tụy, thiếu máu cục bộ do sốc giảm thể tích hoặc do thuyên tắc huyết khối hoặc tắc ống tụy(1,2) Tăng áp lực trong tá tràng và co thắt nhú lớn sau mổ cũng đã được giả thuyết(5)
Trong trường hợp phẫu thuật không liên quan tới tụy, VTCSM được cho là do nguyên nhân của viêm toàn thân, sốc, giảm oxy máu và viêm phúc mạc(6)
Biểu hiện giống viêm tụy (amylase máu cao
và đau thượng vị) thấy ở hầu hết bn tắc quai tới sau phẫu thuật cắt dạ dày, chủ yếu sau phẫu thuật Billroth II Wallensten(5) phân tích số lượng lớn phẫu thuật cắt dạ dày Billroth I và II Phát hiện đáng chú ý là có 12 ca tử vong do VTCSM/1.769 ca cắt dạ dày Billroth II so với 0 ca/605 ca cắt dạ dày Billroth I Như vậy, ngoài nguyên nhân di động quá mức tá tràng trong
mổ, VTCSM cắt dạ dày theo Billroth II không chỉ đơn thuần do chấn thương tụy, ống tụy, hoặc mạch máu nuôi tụy, Wallensten cho rằng còn do các nguyên nhân sau: (1) phẫu thuật Billroth II thay đổi hình dạng tá tràng và đoạn đầu hổng tràng thành 1 túi cụt gây ứ dịch và có thể nhiễm trùng, (2) trào ngược dịch ứ đọng trong tá tràng vào ống tụy hoặc lan rộng nhiễm trùng (trực
Trang 4tiếp, theo hạch bạch huyết hoặc dòng máu) có
thể gây ra viêm tụy
Cần chú ý thể bệnh này vì tiên lượng bệnh,
thời gian can thiệp và lựa chọn điều trị rất khác
nhau giữa VTCSM có và không có quai ruột tới
bị tắc Nhấn mạnh sự cần thiết của phẫu thuật
nhanh chóng giải quyết tắc nghẽn có thể tránh
VTC xảy ra trong thời gian hậu phẫu, các tác giả
Paulino Netto and Dreiling(5) cũng đồng tình với
quan điểm của này
Tăng áp lực trong hệ thống ống tụy được
chấp nhận rộng rãi là yếu tố sinh bệnh quan
trọng gây viêm tụy Sự tăng áp lực này có thể do
nhiều nguyên nhân khác nhau Ống tụy có thể bị
tắc ngay trong tuyến tụy do sỏi tụy, dị sản biểu
mô hoặc dịch tụy đậm đặc Theo Berens(4) ống
wirsung có thể bị tắc nghẽn do viêm, phù nề, sỏi
hay co thắt cơ vòng oddi Menguy(4)() thấy có sự
tăng đáng kể áp lực ống tụy do co thắt cơ vòng
oddi và cơ tá tràng sau dùng morphine,
methadone, dromoran và demerol Bơm rữa ống
mật chủ sau tắc nhú vater làm trào ngược mật
vào ống tụy ở 75% ca theo Millbourn cũng như
Cameron và Noble(4) Snyder và Lium(4) nhận
thấy bài tiết dịch tụy giảm do atropine, mất nước
và gây mê với ête, những yếu tố đi kèm phẫu
thuật lớn Tăng độ nhớt của dịch tụy cũng xảy ra
sau thao tác hoặc cầm nắm tuyến tụy Dunphy(4)
báo cáo 8 ca được hút tá tràng trước phẫu thuật,
thấy độ nhớt dịch tụy tăng ý nghĩa ở 4 ca và đặc
biệt các ca này có đụng chạm trực tiếp lên tụy
Vài nghiên cứu đề xuất đặt sonde dạ dày
hoặc sonde tá tràng/mở thông tá tràng để giảm
áp và giải phóng tăng áp lực tá tràng Hsu(6) báo
cáo không có sự khác nhau trong VTCSM bất kể
có đặt sonde dạ
và Sebening(6) thấy 11/91 ca VTCSM dạ dày là
do thắt ống santorini
Ferris(4) báo cáo 2 bn > dày hay không
Sự bất thường về giải phẫu ống tụy cũng có
một ý nghĩa đáng kể Ming Kuo(6) báo cáo 1 bn
ung thư dạ dày và đồng thời có tụy chia đôi bị
VTCSM và chết do suy đa cơ quan Tụy chia đôi
là bất thường bẩm sinh phổ biến của tụy, với tần suất 4-10%(6) bn tụy chia đôi có thể dễ bị tổn thương hơn ngay cả tổn thương nhỏ ở tụy và mất cân bằng vi tuần hoàn Ống santorini dẫn một phần dịch tụy trong khoảng 10% trường hợp có thể bị tắc nghẽn và cũng dễ bị tổn thương
do thắt hoặc trong quá trình cắt dạ dày Schmieden 70 tuổi bị VTCSM cắt đốt tiền liệt tuyến và cho rằng đặc quánh dịch tụy do thuốc, gây mê và mất nước có thể là nguyên nhân Renner đã ghi nhận phẫu thuật cắt mô tiền liệt tuyến làm giải phóng các proteolytic enzyme (hay protease) có thể gây viêm tụy(4) 2 nghiên cứu của Cope năm 1938 và 1939(1) khi quan sát cắt tuyến thượng thận kéo theo tăng amylase máu và cortison máu và giảm đi khi cho desoxy-corticosteron
VTCSM được định nghĩa gồm đau bụng và amylase/lipase máu cao và/hoặc có hình ảnh VTC trên CT scan Amylase máu cao được định nghĩa là >3 lần giới hạn trên bình thường VTCSM cũng có thể xác minh bằng phẫu thuật
mở bụng và/hoặc dựa vào kết quả phẫu tích(2) Horsley và Brunsgaard khẳng định khó để nhận ra biến chứng VTCSM(1) Trong 52 ca VTCSM báo cáo bởi Frey và Beal(7), hơn ½ không thể phát hiện nếu không có mổ bụng hoặc autopsy Nghiên cứu của Blom(2) trên 1000 bn mổ thực quản, tỉ lệ VTCSM chỉ khoảng 0,4% (4 bn)
và chỉ 1 trong 4 bn có tăng amylase máu bên cạnh dấu viêm phúc mạc Điều này nhấn mạnh khả năng không chẩn đoán ra VTC sau phẫu thuật bụng như phẫu thuật cắt dạ dày và phẫu thuật đường mật
Chẩn đoán VTC chủ yếu phụ thuộc vào biểu hiện lâm sàng gợi ý và xét nghiệm Lâm sàng thường đa dạng và không đặc hiệu trên bn sau
mổ vì đau và những triệu chứng liên quan đến phẫu thuật Tăng lipase máu ≥3 lần giới hạn bình thường xảy ra trong vòng 48 giờ là xét nghiệm đáng tin cậy nhất(6) Tuy nhiên, nồng độ bình thường của men tụy cũng không thể loại trừ hoàn toàn VTC(6) Giá trị tiên lượng dương tính
để chẩn đoán VTC của amylase máu cao là
Trang 515-72% và lipase máu cao là 90%(2) Theo
McCutcheon(5) định lượng lipase trong dịch phúc
mạc là chỉ dẫn chính xác hơn amylase máu hoặc
lipase máu CT bụng đặc biệt hữu ích để xác
định chẩn đoán và loại trừ các nguyên nhân
khác như dò miệng nối, áp xe và chảy máu trong
ổ bụng(6) Tuy nhiên, hình ảnh giải phẫu thay đổi
sau mổ thường làm cho CT khó chẩn đoán chính
xác
Biểu hiện lâm sàng của VTCSM thường xuất
hiện trong vòng vài ngày đầu sau mổ Trong số
các báo cáo trong y văn, đa số biến chứng xuất
hiện vào ngày thứ 1 (33.3%), chủ yếu xảy ra ở
tuần đầu tiên sau mổ, cá biệt có ca xuất hiện ở
ngày 30 Không có sự khác nhau về giới tính và
tất cả bn đều >40 tuổi (trung bình 65 tuổi,
46-83)(1,2,3,6,7) Trong báo cáo của chúng tôi, VTCSM
cắt dạ dày bán phần trên 2 bn 58 tuổi Một ca xảy
ra ngày 1 và 1 ca có lẽ vào ngày thứ 3 sau mổ (ca
này có biểu hiện lâm sàng gợi ý, không có xét
nghiệm có lẽ do không nghĩ đến)
Đau bụng kèm tụt HA từ trung bình đến rõ
rệt là triệu chứng báo trước chủ yếu của biến
chứng này trong đa số các trường hợp Triệu
chứng khởi đầu khác là đau bụng đơn thuần, sốc
và thiểu niệu Buồn nôn, nôn ói, sốt và chướng
bụng là những triệu chứng lâm sàng nổi bật Đặc
trưng của cơn đau là dữ dội, không giảm, có thể
nằm ở thượng vị và giữa bụng hoặc vùng bụng
dưới Tụt HA thường rõ và không giải thích
được lý do Hemoglobin và hematocrit bình
thường hoặc tăng Sốc đáp ứng chậm với
phương pháp điều trị thông thường Do đó, cần
phải nghĩ đến VTCSM nếu bn hậu phẫu bị sốc
mà không giải thích được
Trong 2 ca báo cáo của chúng tôi, triệu chứng
khởi phát là đau bụng kèm chướng bụng 1 ca
đau bụng kéo dài 5 ngày và được điều trị giảm
đau, đến ngày 6 khi có dấu viêm phúc mạc và
chụp CT ghi nhận tụ dịch ổ bụng và bn được
chuyển mổ cấp cứu với kết quả viêm tụy hoại tử
xuất huyết 1 ca đau bụng kèm tụt HA và tiến
triển tới sốc nhanh chóng sau mổ khoảng 8 giờ
Thiểu niệu, tăng nitơ máu, giảm Clo máu và nhiễm toan máu thường rõ trong tiến triển của bệnh Chỉ ½ số ca VTCSM báo cáo trong y văn có xét nghiệm amylase máu Giá trị amylase máu rất thay đổi, dao động từ 64-2000 U/L(1,2,3,6,7) Vì vậy, không nên bỏ qua chẩn đoán dù kết quả amylase máu bình thường Vì amylase máu thường trở về bình thường trong vòng 48 giờ sau khởi phát viêm tụy(4)
Trong báo cáo này, chỉ 1 ca được xét nghiệm với amylase máu là 2909 U/L và amylase dịch dẫn lưu dưới gan là 2424 U/L Các biểu hiện như thiểu niệu, tăng BUN, giảm Clo, nhiễm toan máu xảy ra rõ trong tiến triển của ca này với biểu hiện sốc không giải thích được lý do dù đã được bồi hoàn đủ dịch Cả hai ca đều tử vong trong bệnh cảnh sốc, vô niệu và suy đa cơ quan
Hơn 85 thuốc đã báo cáo là nguyên nhân gây VTC đa dạng từ đơn trị đến kết hợp(3) Cơ chế khác nhau của viêm tụy do thuốc đã được đưa
ra Người ta cho rằng hoặc do tụy quá nhạy cảm hoặc do sự tích lũy chất độc chuyển hóa(3) Hai bn trong báo cáo của chúng tôi, sử dụng đồng thời thuốc có thể gây viêm tụy mặc dù không phải là nhóm thuốc thường gặp gây viêm tụy (1bn dùng esomeprazol và amlordipine, 1 bn dùng rabeprazol)(3) Tuy nhiên, 2 bn này đã dùng thuốc đều đặn trước đó (1 bn dùng 6 ngày và 1
bn dùng 12 ngày) Vì vậy, có vẻ như việc dùng thuốc không phải là nguyên nhân gây ra VTCSM
ở 2 bn này
Một khi viêm tụy nghi ngờ, việc kiểm soát bao gồm hút dạ dày liên tục, cân bằng dịch và điện giải, kháng sinh phổ rộng, thuốc giảm tiết dịch dạ dày, tránh dùng morphine và dẫn xuất Cho an thần khi có triệu chứng nhiễm độc thần kinh Trong trường hợp VTCSM cắt dạ dày Billroth II
do tắc quai tới có thể phòng tránh nhờ cẩn trọng trong quá trình mổ và phẫu thuật giải áp
Chỉ định octreotide phòng bệnh trong giai đoạn hậu phẫu đã được đề xuất nhằm cố gắng tránh phát triển VTCSM(6) Vai trò phòng bệnh
Trang 6bằng cách nong nhú bé, đặt stent, và cắt cơ vòng
còn đang nghiên cứu
KẾT LUẬN
VTCSM là biến chứng ít gặp sau phẫu thuật
cắt dạ dày trong thời này Tuy nhiên, nó là một
biến chứng nặng và khả năng gây tử vong cao
trong thời gian hậu phẫu Nhận ra và điều trị
nhanh chóng là chìa khóa trong việc giảm tỉ lệ tử
vong từ biến chứng này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Archibald EC et al (1956) Post-Operative Pancreatitis
Postgrad Med J, Vol 32, pp.248-258
2 Blom RL, van Heijl M, Busch OR, van Berge Henegouwen MI
(2009) Acute Pancreatitis in the Postoperative Course after
Esophagectomy: A Major Complication Described in 4
Patients Case Rep Gastroenterol, Vol 3, pp.382-388
3 Chirag D et al (2005) Drug-Induced Pancreatitis J Clin
Gastroenterol, Vol 39, No 8, pp.709–716
4 Deward OF, Thomas EL, James CC and Archie HB (1957)
Fatal Postoperative Pancreatitis Annals of Surgery, Vol 146, No
2, pp.263-273
5 McCutcheon AD, Race D (1962) Experimental Pancreatitis: A
Possible Etiology of Postoperative Pancreatitis Annals of
Surgery, Vol 155, No 4, Pp.523-531
6 Kuo IM, Wang F, Liu KH, Jan YY (2009) Post-Gastrectomy Acute Pancreatitis In A Patient With Gastric Carcinoma And
Pancreas Divisum World J Gastroenterol, Vol 15, No 36,
pp.4596-4600
7 Schein M Saadia R, Decker GAG (1988) Postoperative
pancreatitis - of anastomotic leaks? SAMJ, Vol 73, pp.550-551
Ngày nhận bài báo: 05/02/2014 Ngày phản biện đánh giá bài báo: 24/04/2014 Ngày bài báo được đăng: 30/06/2014