Đề tài nghiên cứu đổi mới và chuẩn hoá các hệ thống chỉ tiêu thống kê nói chung và hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện nói riêng đã được triển khai khá sớm nhưng đến nay mới hoàn thành được hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, còn các hệ thống chỉ tiêu thống kê khác, trong đó có hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh. Mời các bạn tham khảo!
Trang 1ĐỀ TÀI KHOA HỌC SỐ: 01-TC-2004
NGHIÊN CỨU CHUẨN HÓA HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ
KINH TẾ – XÃ HỘI CẤP TỈNH VÀ HUYỆN
2 Thời gian nghiên cứu : 2004 – 2005
6 Những người phối hợp nghiên cứu:
Trang 2Thống kê là một ngành chuyên môn sâu, mọi hoạt động đều phải tuân thủ quy trình nghiệp vụ chặt chẽ Tuỳ từng hoạt động cụ thể mà xây dựng quy trình với các bước khác nhau, nhưng bất cứ hoạt động nào của công tác thống kê thì việc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê bao giờ cũng là bước thứ nhất và là một trong những nội dung quan trọng nhất Sở dĩ như vậy vì hệ thống chỉ tiêu thống kê thể hiện đầy đủ nhất, rõ ràng nhất cái đích phải hướng tới của mỗi hoạt động thống kê
Trên một góc độ khác, hệ thống chỉ tiêu thống kê còn là sự thể hiện tập trung nhất mức độ đáp ứng của hoạt động kê đối với người dùng tin và qua
đó phản chiếu năng lực của cơ quan thống kê Khi xem xét số lượng chỉ tiêu, kết cấu của hệ thống chỉ tiêu và mức độ phân tổ của các chỉ tiêu trong một hệ thống chỉ tiêu thống kê nào đó, cho dù đó là hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia hay hệ thống chỉ tiêu thống kê của một ngành, một lĩnh vực, một vùng, một địa phương, người ta sẽ nhận ra trình độ thống kê hiện tại đang ở mức nào, nhất là khi đối chiếu hệ thống chỉ tiêu của cơ quan thống kê này với hệ thống chỉ tiêu thống kê tương ứng của cơ quan thống kê khác Như vậy, vai trò quan trọng của hệ thống chỉ tiêu thống kê không chỉ được thể hiện trong các hoạt động thống kê mà nó còn là chân dung phản ánh trình độ, vị thế của ngành Thống kê nói chung và của mỗi cơ quan thống kê nói riêng
Hệ thống chỉ tiêu thống kê bao gồm nhiều loại, tuỳ theo mục đích xây dựng, công dụng và cách phân loại Nếu căn cứ theo cách tổ chức thống kê của nước ta hiện nay thì hệ thống chỉ tiêu thống kê phản ánh tình hình kinh
Trang 3tế-xã hội được bao gồm 5 loại chủ yếu: (1) Hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội tổng hợp quốc gia, gọi tắt là hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; (2)
Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, gọi tắt là hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh; (3) Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp huyện, gọi tắt là hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp huyện; (4) Hệ thống chỉ tiêu thống
kê kinh tế-xã hội cấp xã, gọi tắt là hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp xã; (5) Hệ thống chỉ tiêu thống kê Bộ/ngành
Khoản 1 và 2, Điều 5, Nghị định 40/2004/NĐ-CP ngày 13/02/2004 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thống kê đã khẳng định: (1) Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia là tập hợp những chỉ tiêu thống kê phản ánh tình hình kinh tế-xã hội chủ yếu của đất nước để thu thập thông tin thống kê, phục vụ các cơ quan, lãnh đạo Đảng và Nhà nước các cấp trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội từng thời kỳ và đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân; (2) Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia là cơ sở để phân công, phối hợp trong việc thu thập, tổng hợp, phân tích và công bố thông tin thống kê, xây dựng chương trình điều tra thống kê quốc gia, xây dựng chế độ báo cáo thống kê tổng hợp
và chế độ báo cáo thống kê cơ sở
Mặc dù, hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia giữ vai trò đặc biệt quan trọng như trên nhưng không thể thay thế và càng không thể phủ định các
hệ thống chỉ tiêu thống kê khác, trong đó có hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện, vì:
(1) Xét về cấu thành tổng thể thì hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế xã hội cấp tỉnh và cấp huyện đều là những thành tố cùng với hệ thống chỉ tiêu quốc gia và các hệ thống chỉ tiêu thống kê khác hợp thành tổng thể các hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội thống nhất từ trung ương đến địa phương;
(2) Xét về căn cứ xây dựng hệ thống chỉ tiêu thì hệ thống chỉ tiêu thống
kê quốc gia luôn là một trong những căn cứ, đồng thời cũng là một trong những mục tiêu chủ yếu mà hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh
và cấp huyện phải hướng tới; nhưng xét về đường đi của thông tin thì hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện là một trong những nguồn quan trọng cung cấp thông tin đầu vào cho hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, không có những thông tin được cung cấp từ hệ thống chỉ tiêu thống
Trang 4kê kinh tế xã hội cấp tỉnh và cấp huyện thì hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia khó có đủ thông tin để tổng hợp;
(3) Ngoài ra, hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện còn có vai trò đặc biệt quan trọng phục vụ trực tiếp các cấp, các ngành quản lý và điều hành tình hình kinh tế-xã hội trên địa bàn; đồng thời đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê cho các đối tượng dùng tin khác mà những thông tin trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và các hệ thống chỉ tiêu thống kê khác không đáp ứng được Sở dĩ như vậy vì cấp tỉnh, cấp huyện được coi là những vùng lãnh thổ kinh tế hành chính, có cơ cấu tổ chức mang tính độc lập tương đối và có chức năng, nhiệm vụ quản lý hành chính kinh tế-xã hội trên lãnh thổ theo Hiến pháp và pháp luật quy định như: Xây dựng quy hoạch, chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội; xây dựng kết cấu hạ tầng; trực tiếp quản lý hành chính về tài nguyên, môi trường, dân cư và các vấn đề
xã hội; quản lý các hoạt động kinh tế, quản lý ngân sách; giữ gìn trật tự an ninh và các vấn đề khác trên địa bàn
1.2 Xuất phát từ thực trạng của hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế - xã hội cấp tỉnh và cấp huyện
Bộ máy tổ chức hành chính ở nước ta hiện nay bao gồm 4 cấp: Cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Để phục vụ bộ máy công quyền này cũng như đáp ứng nhu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin thống kê khác, trong thời kỳ nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây, ngoài hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia được ban hành theo Quyết định số 168/TTg ngày 17/9/1970 của Thủ tướng Chính phủ với 297 chỉ tiêu thì ngành Thống kê còn có các hệ thống chỉ tiêu thống kê Bộ/ngành; hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế xã hội cấp tỉnh, hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế xã hội cấp huyện và hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp xã Nhưng khi nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì các hệ thống chỉ tiêu thống kê này đã trở nên lạc hậu Do vậy, trong những năm đổi mới vừa qua ngành Thống kê đã quan tâm đặc biệt đến việc nghiên cứu chuẩn hoá các hệ thống chỉ tiêu thống kê cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn Ngoài việc triển khai nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống
kê quốc gia phục vụ sự quản lý, điều hành và hoạch định các chính sách vĩ
mô ở các cấp ở trung ương, ngành Thống kê còn tiến hành nhiều hoạt động xây dựng các hệ thống chỉ tiêu thống kê khác, trong đó có các hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện Tuy nhiên, kết quả thu được còn rất khiêm tốn
Trang 5Mặc dù việc nghiên cứu đổi mới và chuẩn hoá các hệ thống chỉ tiêu thống
kê nói chung và hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện nói riêng đã được triển khai khá sớm nhưng đến nay mới hoàn thành được hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, còn các hệ thống chỉ tiêu thống kê khác, trong đó có hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp huyện vẫn chưa được xây dựng hoàn chỉnh
để sử dụng thống nhất trên phạm vi cả nước Tình trạng chậm trễ trong việc xây dựng và chuẩn hoá hệ thống chỉ tiêu kinh tếxã hội cấp tỉnh và cấp huyện
đã dẫn đến một thực tế là, hiện nay các Cục Thống kê tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương đang phải triển khai cùng một lúc nhiều hệ thống chỉ tiêu thống kê khác nhau do các Vụ Thống kê chuyên ngành của Tổng cục Thống kê xây dựng và chỉ đạo thực hiện Tương tự như vậy, các Phòng Thống kê huyện/quận/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh cũng phải triển khai các hệ thống chỉ tiêu thống kê chuyên ngành do Cục Thống kê và Tổng cục Thống kê biên soạn, yêu cầu cung cấp số liệu Đó là chưa kể các Cục Thống kê tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương và các Phòng Thống kê huyện/quận/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh còn phải xây dựng một số hệ thống chỉ tiêu thống kê khác để thu thập và tổng hợp những số liệu phục vụ các cấp, các ngành theo yêu cầu của địa phương
Sự tồn tại cùng một lúc đồng thời nhiều hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện với số lượng chỉ tiêu nhiều ít khác nhau, phân
tổ chi tiết khác nhau, nguồn số liệu khác nhau, chu kỳ thu thập, tổng hợp và công bố khác nhau, thậm chí phương pháp tính toán nhiều khi cũng chưa thống nhất với nhau, không những đang là gánh nặng đối với thống kê các địa phương, mà còn làm cho số liệu thống kê vừa thừa, vừa thiếu, trùng chéo và mâu thuẫn nhau Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng số liệu thống kê của các Phòng Thống kê huyện/quận/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh không thống nhất với số liệu thống kê của Cục Thống kê tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương; số liệu thống kê của các Cục Thống kê tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương cũng không thống nhất với số liệu mà Tổng cục Thống kê đã công bố
Sự sai khác về số liệu đã nêu ở trên được bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chưa chuẩn hoá được hệ thống chỉ tiêu thống
kê nói chung và hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện nói riêng Thực trạng này càng khẳng định tính cần thiết phải nghiên
Trang 6cứu chuẩn hoá hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp huyện
2 Khả năng chuẩn hoá hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế - xã hội cấp tỉnh và cấp huyện ở nước ta hiện nay
Sự chậm trễ trong việc xây dựng và chuẩn hoá hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp huyện bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau, nhưng đến nay đã xuất hiện nhiều tiền đề quan trọng, tạo khả năng triển khai một cách có hiệu quả các hoạt động chuẩn hoá hai hệ thống chỉ tiêu thông kê này, đó là các tiền đề sau:
2.1 Qua 20 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, ngành Thống kê đã tích luỹ được kinh nghiệm chuẩn hoá hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế - xã hội cấp tỉnh và cấp huyện
Kể từ khi thành lập đến nay, ngành Thống kê đã trải qua lịch sử 60 năm xây dựng và phát triển, nhưng phần lớn thời gian này nền kinh tế vận hành theo
cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp nên các hệ thống chỉ tiêu thống
kê, trong đó có hệ thống chỉ tiêu kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện được xây dựng chủ yếu phù hợp với hệ thống chỉ tiêu kế hoạch Thực trạng này đã thể hiện rõ trong khái niệm Hệ thống chỉ tiêu thống kê của cuốn Từ điển thống kê
do Tổng cục Thống kê biên soạn và xuất bản năm 1977 như sau: “ Các hệ thống chỉ tiêu thống kê phải phù hợp với các hệ thống chỉ tiêu kế hoạch tương ứng về các mặt: tên gọi, nội dung kinh tế, phương pháp tính toán, nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng và kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch )6
Từ năm 1986 đến nay, ngành Thống kê đã triển khai nhiều hoạt động nghiệp vụ nhằm đổi mới và hoàn thiện phương pháp nghiệp vụ cho phù hợp với tiến trình đổi mới của đất nước và hội nhập quốc tế về thống kê Tuy nhiên, đổi mới không phải là một bước nhảy mà là cả một quá trình nên nhiều vấn đề
lý luận và thực tiễn về thống kê trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải qua hàng loạt các bước nghiên cứu
và thử nghiệm Đến nay công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước nói chung và của ngành Thống kê nói riêng đã trải qua 20 năm nên hầu hết cán
bộ, công chức ngành Thống kê từ trung ương đến địa phương đều đã trưởng thành và đã tích luỹ được những kinh nghiệm quý báu về đổi mới và hoàn thiện phương pháp nghiệp vụ chuyên môn, trong đó có kinh nghiệm xây dựng
Trang 7
các hệ thống chỉ tiêu thống kê phù hợp với yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước và thông lệ quốc tế
Riêng về hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện cũng đã triển khai một số nghiên cứu và thử nghiệm, trong đó có hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội tổng hợp áp dụng đối với Cục Thống kê cấp tỉnh
và Phòng Thống kê cấp huyện do Vụ Thống kê Tổng hợp phối hợp với các Vụ Thống kê chuyên ngành thuộc Tổng cục Thống kê và với các Cục Thống kê xây dựng năm 2000 Hai hệ thống chỉ tiêu này đã đưa vào áp dụng từ năm
2001 đến nay, trong đó hệ thống áp dụng đối với cấp tỉnh gồm 104 chỉ tiêu và
hệ thống áp dụng đối với cấp huyện gồm 79 chỉ tiêu
Số chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội tổng hợp cấp tỉnh và
cấp huyện do Vụ Thống kê Tổng hợp xây dựng năm 2000
Số chỉ tiêu của hệ thống chỉ tiêu cấp tỉnh Số chỉ tiêu của hệ thống chỉ tiêu cấp huyện
Trang 8Trong khuôn khổ Chương trình Chia sẻ hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Thụy Điển, các chuyên gia cũng đã nghiên cứu và đề xuất
Hệ thống chỉ tiêu phân tích hiện trạng kinh tế-xã hội cấp huyện với 57 chỉ tiêu, bao gồm: (1) Thông tin khái quát về hiện trạng cấp huyện 4 chỉ tiêu; (2)
Y tế 7 chỉ tiêu; (3) Giáo dục 10 chỉ tiêu; (4) Tình trạng kinh tế/đói nghèo 4 chỉ tiêu; (5) Cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội 32 chỉ tiêu Ngoài ra, trong quá trình xây dựng Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia trình Chính phủ ban hành,
Tổ nghiên cứu đổi mới và chuẩn hoá các hệ thống chỉ tiêu thống kê do Vụ Phương pháp Chế độ Thống kê, Tổng cục Thống kê làm thường trực cũng đã
sơ bộ dự thảo và đưa ra hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và
hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp huyện Đây cũng là tài liệu tham khảo quan trọng
Những thành công cũng như những hạn chế, bất cập của việc xây dựng
và chuẩn hoá hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện đến nay về cơ bản đã được xác định Nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn ngày càng rõ ràng hơn Đơn cử, trong hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp huyện do Vụ Thống kê Tổng hợp hoặc các Vụ thống kê chuyên ngành của Tổng cục Thống kê xây dựng trước đây thường không có chỉ tiêu tổng hợp đánh giá khái quát thực trạng và động thái phát triển kinh tế-xã hội trên toàn địa bàn tương tự như chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước của cả nền kinh tế, nhưng đến nay đã nhận rõ nhất thiết phải có một chỉ tiêu tổng hợp nào đó có khả năng phản ánh khái quát tình hình kinh tế-xã hội của địa bàn cấp huyện, để phục vụ sự quản lý, điều hành của các cấp, các ngành ở địa phương và cung cấp cho các nhà đầu tư cũng như các đối tượng khác
2.2 Các văn bản pháp quy ban hành trong những năm gần đây đã tạo tiền
đề pháp lý đẩy mạnh việc chuẩn hoá hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện
Như phần mở đầu đã nêu, trong quá trình đổi mới công tác thống kê những năm vừa qua và những năm tiếp theo, ngành Thống kê đã có thêm những cơ sở pháp lý quan trọng như Luật Thống kê; Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thống kê; Nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục
Trang 9Thống kê; Định hướng phát triển thống kê Việt Nam đến năm 2010 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và đặc biệt là Quyết định số 305/2005/QĐ-TTg ngày 24 tháng 11 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Hệ thống chỉ tiêu quốc gia Hệ thống chỉ tiêu quốc gia vừa ban hành có ý nghĩa to lớn đối với nhiều hoạt động thống kê Riêng đối với việc chuẩn hoá hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện thì việc ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê này có ý nghĩa trên những mặt chủ yếu sau:
- Một là, Điều 3, Quyết định 305/2005/QĐ-TTg về việc ban hành Hệ
thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, Thủ tướng Chính phủ đã giao cho “Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê có trách nhiệm chuẩn hoá khái niệm, nội dung, phương pháp tính và nguồn số liệu của từng chỉ tiêu trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và quy định Hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh, huyện, xã để thống nhất thực hiện trong cả nước” Trong mục “Những quy định chung” của Hệ thống chỉ tiêu thống kê ban hành kèm theo Quyết định 305/2005/QĐ-TTg nêu trên, Thủ tướng Chính phủ còn giao cho “Tổng cục Thống kê căn cứ Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và yêu cầu đặc thù của các địa phương để quy định Hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh, huyện, xã” Đây chính là cơ sở, là tiền đề pháp lý để Tổng cục Thống kê tiến hành chuẩn hoá hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện
áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước
- Hai là, về mặt nghiệp vụ, hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp
tỉnh và cấp huyện là những bộ phận cấu thành tổng thể các hệ thống chỉ tiêu thống kê; đồng thời là một trong những nguồn cung cấp số liệu đầu vào quan trọng của hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia nên việc xây dựng và chuẩn hoá
hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện chỉ đạt được kết quả mong đợi một khi hai hệ thống chỉ tiêu thống kê này coi hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia là một trong những căn cứ và cũng là một trong những cái đích phải hướng tới Do vậy, trong quy trình công nghệ xây dựng và hoàn thiện các hệ thống chỉ tiêu thống kê thì việc xây dựng và chuẩn hoá hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia luôn luôn là bước thứ nhất, sau đó mới tiến hành xây dựng và chuẩn hoá các hệ thống chỉ tiêu thống kê khác Đây không chỉ là học thuật mà còn là một yêu cầu có tính bắt buộc Trong những năm đổi mới
Trang 10vừa qua Tổng cục Thống kê và các Cục Thống kê triển khai rất nhiều các hoạt động nghiên cứu xây dựng và chuẩn hoá hệ thống chỉ tiêu kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện nhưng kết quả đạt được rất hạn chế một phần do chưa
có hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia Đến nay, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành hệ thống chỉ tiêu này, tức là đã tạo khả năng cho phép ngành Thống kê triển khai tiếp bước chuẩn hoá các hệ thống chỉ tiêu thống kê còn lại, trong đó
có hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện
PHẦN II
ĐỀ XUẤT CHUẨN HOÁ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ KINH TẾ
XÃ HỘI CẤP TỈNH VÀ CẤP HUYỆN ÁP DỤNG ĐẾN NĂM 2010
1 Yêu cầu đặt ra đối với việc chuẩn hoá hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh
tế - xã hội cấp tỉnh và cấp huyện
1.1 Phải đáp ứng cao nhất nhu cầu thông tin thống kê của các đối tượng dùng tin
Mục đích của người làm thống kê là sản xuất ra các sản phẩm thông tin thống kê định lượng, đáp ứng tốt nhu cầu của người sử dụng thông tin Do vậy, mọi hoạt động thống kê nói chung cũng như việc xây dựng và chuẩn hoá
hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện nói riêng đều phải hướng về người sử dụng thông tin thống kê Nếu không thực hiện theo phương châm này thì mọi hoạt động đổi mới phương pháp nghiệp vụ thống
kê nói chung và chuẩn hoá hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh
và cấp huyện nói riêng cho dù hoàn thiện đến mức nào cũng sẽ kém hiệu quả Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay thông tin đang trở thành sức mạnh của quyền lực và thông tin thống kê đang lên ngôi nên đối tượng sử dụng thông tin thống kê ngày càng nhiều và tương đối đa dạng, nhu cầu thông tin của các đối tượng ngày càng tăng Nếu một hệ thống chỉ tiêu thống kê nào đó được xây dựng nhằm thoả mãn mọi nhu cầu thông tin thống kê của tất cả các đối tượng dùng tin thì sẽ rất dàn trải, nặng nề và rất khó thực hiện được Do vậy, nguyên
tắc này chỉ đề ra yêu cầu đáp ứng cao nhất nhu cầu thông tin thống kê của các
đối tượng dùng tin, chứ không phải và không có thể đáp ứng mọi nhu cầu về thông tin thống kê của tất cả các đối tượng
Trang 11Do đối tượng sử dụng thông tin thống kê ngày càng đa dạng và khả năng đáp ứng của ngành Thống kê chỉ có giới hạn nên khi xây dựng và chuẩn hoá hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện cần phải phân các đối tượng sử dụng thông tin thống kê thành các nhóm lớn
để tìm cách tiếp cận Về mặt lý luận cũng như xuất phát từ kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, có thể phân những đối tượng sử dụng thông tin của hai hệ thống chỉ tiêu thống kê nêu trên thành 2 nhóm: (1) Nhóm thứ nhất, bao gồm các cơ quan thống kê tổng hợp cấp trên; (2) Nhóm thứ hai, bao gồm các đối tượng dùng tin trên địa bàn tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương và huyện/quận/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh cũng như một số đối tượng khác
Sở dĩ hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện phải coi việc đáp ứng nhu cầu thông tin của các cơ quan thống kê tổng hợp cấp trên là đối tượng phục vụ đầu tiên vì các cơ quan này là cấp trên đúng nghĩa thông thường về tổ chức bộ máy và chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ, trong đó cấp trên trực tiếp của Cục Thống kê cấp tỉnh là Tổng cục Thống kê
và của Phòng Thống kê cấp huyện là Cục Thống kê cấp tỉnh và Tổng cục Thống kê Ngành Thống kê hiện nay tổ chức theo ngành dọc từ trung ương đến địa phương nên hoạt động của cơ quan thống kê cấp dưới phải phục vụ trực tiếp cho hoạt động của tổ chức thống kê cấp trên là một yêu cầu có tính nguyên tắc
Mặt khác, theo quy trình công nghệ sản xuất thông tin thống kê thì những thông tin thu thập được từ hệ thống các chỉ tiêu thống kê kinh tế xã hội cấp tỉnh và cấp huyện là một trong những nguồn thông tin đầu vào quan trọng phục vụ việc tổng hợp thông tin đầu ra của cơ quan thống kê tổng hợp cấp trên Cụ thể là, những thông tin trong hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-
xã hội cấp tỉnh là một trong những nguồn thông tin quan trọng để Tổng cục Thống kê tổng hợp số liệu chung của cả nước Tương tự, những thông tin trong hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp huyện cũng là một trong những nguồn thông tin quan trọng để Cục Thống kê tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương cũng như Tổng cục Thống kê tổng hợp các chỉ tiêu thông tin đầu ra trên địa bàn cấp tỉnh hoặc cấp quốc gia
Trang 12Ngoài nhiệm vụ phải đáp ứng nhu cầu thông tin của các cơ quan thống kê tổng hợp cấp trên, Cục Thống kê tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương và Phòng Thống kê huyện/quận/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh còn phải đáp ứng nhu cầu thông tin của các đối tượng sử dụng thông tin thống kê trên địa bàn và các đối tượng dùng tin khác, trước hết là lãnh đạo Đảng và chính quyền địa phương Do vậy, hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện phải thoả mãn cao nhất nhu cầu sử dụng thông tin thống kê của các đối tượng dùng tin trên địa bàn và các đối tượng khác Đây cũng là yêu cầu có tính nguyên tắc vì chính quyền cấp tỉnh cũng như cấp huyện ngày càng có vai trò to lớn trong việc quản lý, điều hành hoạt động kinh tếxã hội trên địa bàn nên các cấp này cũng rất cần được cung cấp thông tin thống kê một cách thường xuyên, kịp thời, đầy đủ và chính xác để cập nhật và xử lý tình hình
1.2 Phải phù hợp với hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và các hệ thống chỉ tiêu thống kê khác tạo thành một hệ thống các chỉ tiêu thống kê thống nhất
Như trên đã nêu, hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội bao gồm 5 loại:
Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; Hệ thống chỉ tiêu thống kê Bộ/ngành; Hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh; Hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-
xã hội cấp huyện; Hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp xã Các hệ thống chỉ tiêu thống kê này có mối liên hệ mật thiết với nhau, thống nhất với nhau và bổ sung cho nhau vì chúng đều là hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội, hợp thành tổng thể hệ thống các chỉ tiêu thống kê Do vậy việc xây dựng và chuẩn hoá
hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện đòi hỏi phải phù hợp với việc xây dựng và chuẩn hoá các hệ thống chỉ tiêu thống kê khác, trước hết là phải phù hợp với hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 24/11/2005 Ngoài ra, việc xây dựng và chuẩn hoá hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện còn phải phù hợp với thông lệ quốc tế vì thống kê Việt Nam đang trên đường đổi mới và hội nhập quốc
Trang 13chỉ tiêu: (1) Cấp xã; (2) Cấp huyện; (3) Cấp tỉnh; (4) Cấp quốc gia cần phải được thiết kế theo sơ đồ hình thang ngược, trong đó đáy lớn biểu thị số lượng chỉ tiêu của hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia; tiếp đến biểu thị số lượng chỉ tiêu của hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh, rồi đến hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp huyện và cuối cùng, đáy nhỏ của hình thang biểu thị số lượng chỉ tiêu của hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp xã Sơ đồ này được minh họa như sau:
AB: Biểu hiện số lượng chỉ tiêu của hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia
MN: Biểu hiện số lượng chỉ tiêu của hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh EF: Biểu hiện số lượng chỉ tiêu của hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp huyện
CD: Biểu hiện số lượng chỉ tiêu của hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp xã
Theo sơ đồ trên thì hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp xã có
số lượng chỉ tiêu ít nhất và hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia có số lượng chỉ tiêu nhiều nhất Điều này hoàn toàn phù hợp với lý luận và thực tiễn vì trên địa bàn một huyện/quận/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh hay địa bàn một xã/phường/thị trấn có nhiều chỉ tiêu không thể hoặc không cần tính toán Trong Công văn số 621/TCTK-TKQG ngày 29/8/2003 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê về tăng cường chất lượng số liệu thống kê tổng sản phẩm trong nước và đói nghèo đã yêu cầu các Cục Thống kê báo cáo với cấp ủy và lãnh đạo UBND địa phương những hạn chế về phương pháp luận, nguồn thông tin, tính không khả thi trong việc tính toán chỉ tiêu GDP, HDI ở cấp huyện trong điều kiện hiện nay
Quan hệ tỷ lệ về số lượng các chỉ tiêu nêu trên là rất cần thiết, nhưng vấn đề quan trọng hơn là hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh
và cấp huyện phải có sự phù hợp với các hệ thống chỉ tiêu thống kê khác
về tên gọi, khái niệm, nội hàm và phương pháp tính toán Có như vậy thì
Trang 14các hệ thống chỉ tiêu thống kê được xây dựng mới thống nhất với nhau, bổ sung cho nhau và cung cấp số liệu được cho nhau Sự thống nhất về tên gọi, nội hàm và phương pháp tính toán giữa các hệ thống chỉ tiêu thống kê của nước ta với các hệ thống các chỉ tiêu thống kê của các nước trên thế giới và trong khu vực cũng rất quan trọng vì nó cho phép tiến hành các phân tích và so sánh quốc tế; đồng thời cũng tạo điều kiện cho các đối tượng dùng tin nước ngoài dễ dàng tiếp cận và sử dụng các số liệu thống
kê nói chung và số liệu thống kê cấp tỉnh, cấp huyện của nước ta nói riêng
1.3 Phải đảm bảo được tính gọn nhẹ, thiết thực và khả thi
Việc xây dựng và chuẩn hoá hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện là một đòi hỏi bức xúc của thực tiễn Điều đó cũng có nghĩa
là việc xây dựng và chuẩn hoá hai hệ thống chỉ tiêu này hướng tới mục tiêu là
nó phải được áp dụng một cách có hiệu quả trong thực tiễn Do vậy, dù tiến hành theo cách nào, với những nội dung gì thì cũng phải đáp ứng được yêu cầu gọn nhẹ, thiết thực và hoàn toàn có thể áp dụng vào thực tiễn của nước ta Yêu cầu này một mặt đòi hỏi trong quá trình xây dựng và chuẩn hoá các
hệ thống chỉ tiêu nêu trên phải chống tư tưởng thoát ly điều kiện cụ thể của nước ta, đơn thuần tiến hành theo lý luận và tư duy thuần túy khoa học hoặc chỉ xuất phát từ nhu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin mà không tính đến những khó khăn, hạn chế về nguồn lực của ngành Thống kê nói chung và của thống kê cấp tỉnh và cấp huyện nói riêng ở nước ta hiện nay Nếu không thống nhất được quan điểm thực tiễn này thì rất có thể dẫn đến việc đưa ra hệ thống chỉ tiêu vượt quá khả năng thu thập, xử lý và tổng hợp của thống kê cấp tỉnh và cấp huyện Xuất phát từ yêu cầu nêu trên, trong hệ thống chỉ tiêu thống
kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp huyện không nên bố trí quá nhiều chỉ tiêu, nhất là những chỉ tiêu đòi hỏi phải thu thập, xử lý và tính toán phức tạp Tuy nhiên, cũng cần chống tư tưởng quá nhấn mạnh những khó khăn tạm thời hoặc riêng biệt của một số Cục Thống kê tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương hoặc của một số Phòng Thống kê huyện/quận/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh hiện nay mà đưa ra hệ thống chỉ tiêu thống kê quá sơ sài, không đáp ứng cao nhất nhu cầu thông tin thống kê của các đối tượng dùng tin đã được đề ra trong yêu cầu thứ nhất
Trang 15Một nội dung quan trọng khác của yêu cầu gọn nhẹ, thiết thực và khả thi
là khi xây dựng và chuẩn hoá hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh
và cấp huyện phải tính tới những đặc điểm kinh tế-xã hội riêng có của các vùng, miền trong từng thời gian nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu quản lý, điều hành và các yêu cầu khác về thông tin thống kê kinh tế-xã hội đặc thù của các địa phương Để thể hiện yêu cầu này, các hệ thống chỉ tiêu phải được xây dựng theo nguyên tắc mở, tức là trong hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện, Tổng cục Thống kê chỉ nên quy định những chỉ tiêu chung nhất, có tính phổ biến; còn các địa phương tuỳ tình hình của địa phương mình
mà bổ sung thêm một số chỉ tiêu cụ thể Tuy nhiên việc bổ sung chỉ tiêu cũng cần phải cân nhắc, tránh tư tưởng nhấn mạnh một chiều tính đặc thù mà đưa thêm vào hệ thống chỉ tiêu mở này quá nhiều chỉ tiêu, không những làm mất
đi tính phổ biến, mà còn không thực hiện được mục tiêu đề ra là gọn nhẹ, thiết thực và khả thi
Một nội dung quan trọng khác của nguyên tắc mở là hệ thống chỉ tiêu thống kê nói chung và hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh và cấp huyện nói riêng cho dù đã được xây dựng hoàn hảo thì cũng chỉ có ý nghĩa thiết thực và khả thi trong khoảng thời gian nhất định, sau đó phải tiếp tục đổi mới và chuẩn hoá cho phù hợp với tình hình và yêu cầu cụ thể, nhất là trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Do xuất phát từ quan điểm mở về thời gian như vậy nên các hệ thống chỉ tiêu đề xuất trong đề tài này đề ra giới hạn là chỉ áp dụng đến năm 2010
2 Hệ thống chỉ tiêu kinh tế-xã hội đề xuất áp dụng đến năm 2010
Hệ thống chỉ tiêu thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh đề xuất bao gồm 160 chỉ tiêu với 11 nhóm: (1) Các chỉ tiêu về đơn vị hành chính, thời tiết và đất đai: 3 chỉ tiêu; (2) Các chỉ tiêu dân số và lao động: 13 chỉ tiêu; (3) Các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: 22 chỉ tiêu; (4) Các chỉ tiêu nông lâm nghiệp và thủy sản: 24 chỉ tiêu; (5) Các chỉ tiêu công nghiệp: 4 chỉ tiêu; (6) Các chỉ tiêu thương mại, giá cả và du lịch: 11 chỉ tiêu; (7) Các chỉ tiêu giao thông vận tải
và bưu chính viễn thông: 17 chỉ tiêu; (8) Các chỉ tiêu khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo: 17 chỉ tiêu; (9) Các chỉ tiêu y tế và kế hoạch hoá gia
Trang 16đình: 15 chỉ tiêu; (10) Các chỉ tiêu văn hoá và thể dục thể thao: 20 chỉ tiêu; (11) Các chỉ tiêu mức sống dân cư và các vấn đề xã hội khác: 14 chỉ tiêu
Dưới đây là danh mục, phân tổ, nguồn số liệu và kỳ tổng hợp, công bố của các chỉ tiêu trong hệ thống thống kê kinh tế-xã hội cấp tỉnh đề xuất áp dụng đến năm 2010
STT Tên chỉ tiêu Phân tổ chính Nguồn số liệu chủ yếu
Kỳ tổng hợp và công bố
hành chính
Huyện/quận/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh Sở Nội vụ và Phòng Thống kê cấp huyện Năm
không khí và nhiệt độ không khí
Sở Tài nguyên và Môi trường
thuộc tỉnh; (2) Giới tính; (3) Dân tộc
Sở Tư pháp và Phòng Thống kê cấp huyện
Năm
7 Số người và tỷ suất nhập cư, xuất
cư và di cư thuần
(1) Huyện/quận/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh; (2) Giới tính; (3) Thành thị/nông thôn; (4) Dân tộc
Sở Công an và Phòng Thống kê cấp huyện
Năm
8 Tỷ suất sinh, tỷ suất chết, tỷ suất
tăng tự nhiên và tỷ lệ tăng dân số
(1) Huyện/quận/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh; (2) Giới tính; (3) Thành
thị/nông thôn
Phòng Thống kê cấp huyện và Cục Thống kê
và ngành kinh tế cấp I
Cục Thống kê và Sở Lao động, Thương binh
và Xã hội
Năm
12 Số lao động được tạo việc làm mới (1) Huyện/quận/thị xã/thành phố trực
thuộc tỉnh; (2) Giới tính; (3) Loại hình kinh tế; (4) Ba khu vực kinh tế
và ngành kinh tế cấp I
Cục Thống kê và Sở Lao động, Thương binh và Xã
hội
6 tháng, năm
13 Tỷ lệ lao động đang làm việc trong
nền kinh tế đã qua đào tạo
(1) Giới tính; (2) Nhóm tuổi;
(3) Trình độ chuyên môn
Cục Thống kê và Sở Lao động, Thương binh và Xã
hội
Năm
14 Tỷ lệ thất nghiệp của lao động
trong độ tuổi ở khu vực thành thị
(1) Giới tính; (2) Nhóm tuổi;
(3) Trình độ chuyên môn
Cục Thống kê và Sở Lao động, Thương binh và Xã
hội
Quý, năm
15 Tỷ lệ thời gian làm việc của lao
động trong độ tuổi ở khu vực nông
thôn được sử dụng
Trang 17STT Tên chỉ tiêu Phân tổ chính Nguồn số liệu chủ yếu
Kỳ tổng hợp và công bố
16 Số vụ, số người chết và số người bị
thương do tai nạn lao động xảy ra
trên địa bàn
(1) Huyện/quận/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh; (2) Giới tính; (3) Ngành kinh tế cấp I; (4) Nguyên nhân
Phòng Thống kê cấp huyện và Sở Lao động, Thương binh và Xã hội
Tháng, quý, năm
17 Số hộ kinh tế cá thể phi nông lâm
nghiệp và thủy sản
(1) Huyện/quận/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh; (2) Ngành kinh tế
18 Số trang trại, diện tích, số lao động
thường xuyên và số vốn đầu tư của
trang trại
(1) Huyện/quận/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh; (2) Loại hình trang trại
Phòng Thống kê cấp huyện và Sở Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn
Năm
19 Số doanh nghiệp và số lao động, số
vốn, giá trị TSCĐ, doanh thu thuần
và số lãi, lỗ của các doanh nghiệp
(1) Huyện/quận/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh; (2) Giới tính; (3) Thành thị/nông thôn; (4) Dân tộc
Sở Kế hoạch và Đầu tư và Phòng Thống kê cấp huyện
Năm
thuộc tỉnh; (2) Cấp quản lý; (3) Loại hình kinh tế; (4) Ba khu vực và ngành kinh tế cấp I
Sở Kế hoạch và Đầu tư và Cục Thống kê
22 Vốn đầu tư thực hiện của các dự án
thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà
nước tập trung
Sở, ngành và Huyện/quận/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh
24 Vốn thực hiện của các dự án đầu tư
trực tiếp của nước ngoài
6 tháng, năm
thuộc tỉnh; (2) Cấp quản lý;
(3) Ngành kinh tế
Sở Kế hoạch và Đầu tư và Cục Thống kê
6 tháng, năm
27 Số lượng nhà ở và tổng diện tích
sàn nhà ở được xây dựng hoàn
thành
(1) Huyện/quận/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh; (2) Loại nhà
Phòng Thống kê cấp huyện và Sở Xây dựng
30 Cơ cấu tổng giá trị tăng thêm trên
địa bàn theo giá thực tế
(1) Loại hình kinh tế; (2) Ba khu vực
và ngành kinh tế cấp I
31 Tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm
trên địa bàn theo giá so sánh
(1) Loại hình kinh tế; (2) Ba khu vực
và ngành kinh tế cấp I
32 Giá trị tăng thêm bình quân đầu
người tính bằng nội tệ và USD
theo tỷ giá hối đoái