1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài khoa học: Nghiên cứu xác định hệ thống thông tin thống kê cấp tỉnh, thành phố để tính các chỉ tiêu thống kê quốc gia

11 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 264,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu xác định hệ thống thông tin thống kê cấp tỉnh để tính các chỉ tiêu thống kê quốc gia là việc làm rất cần thiết và có tính cấp bách. Sự cần thiết và tính cấp bách của việc nghiên cứu xác định hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh để tính các chỉ tiêu thống kê quốc gia xuất phát từ 3 điểm chủ yếu sau đây.

Trang 1

ĐỀ TÀI KHOA HỌC SỐ: 2.2.8-CS06

NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH HỆ THỐNG THÔNG TIN THỐNG KÊ CẤP TỈNH, THÀNH PHỐ ĐỂ TÍNH CÁC CHỈ TIÊU THỐNG KÊ

QUỐC GIA

2 Cấp đề tài : Cơ sở

3 Thời gian nghiên cứu : 2006

4 Đơn vị chủ trì : Vụ phương pháp chế độ

5 Đơn vị quản lý : Viện Khoa học Thống kê

6 Chủ nhiệm đề tài : CN Đào Ngọc Lâm

7 Những người phối hợp nghiên cứu:

PGS TS Tăng Văn Khiên

CN Đào Thị Kim Dung

CN Vũ Thị Mai

8 Điểm đánh giá nghiệm thu đề tài: 8,0 / Xếp loại: Khá

Trang 2

PHẦN I

SỰ CẦN THIẾT VÀ TÍNH CẤP BÁCH CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU

Việc nghiên cứu xác định hệ thống thông tin thống kê cấp tỉnh để tính các chỉ tiêu thống kê quốc gia là việc làm rất cần thiết và có tính cấp bách Sự cần thiết và tính cấp bách của việc nghiên cứu xác định hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh để tính các chỉ tiêu thống kê quốc gia xuất phát từ 3 điểm chủ yếu sau đây

1 Xuất phát từ yêu cầu pháp lý

Trong Quyết định số 305/2005/QĐ-TTg ngày 24/11/2005 ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, Thủ tướng chính phủ đã giao trách nhiệm cho Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê quy định hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh/huyện/xã

Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh bao gồm:

1) Những chỉ tiêu thống kê trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia có phân tổ theo tỉnh/thành phố;

2) Những chỉ tiêu phục vụ yêu cầu quản lý hoặc nhu cầu thông tin đặc thù của địa phương

Đầu vào của hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia không phải bao gồm tất

cả những nội dung trên do Cục Thống kê báo cáo Tổng cục Thống kê mà chỉ báo cáo những chỉ tiêu mà Tổng cục Thống kê cần thu thập ở cấp tỉnh qua kênh ngành dọc

Như vậy, yêu cầu pháp lý đòi hỏi phải có sự nghiên cứu xác định hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh để tính các chỉ tiêu thống kê quốc gia

2 Xuất phát từ vị trí, vai trò của hệ thống thông tin thống kê cấp tỉnh

a) Thông tin thống kê thu thập từ cấp tỉnh (ngành dọc) là một trong hai kênh thông tin quan trọng để tính các chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia

Việc tính toán thông tin theo hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, Tổng cục Thống kê phải tiến hành thu thập, tổng hợp theo hai kênh với hướng phân công như sau:

- Kênh thông tin từ ngành dọc, bao gồm chủ yếu những thông tin từ khu vực sản xuất kinh doanh và khu vực hộ gia đình

Trang 3

- Kênh thông tin từ Bộ, ngành, bao gồm những thông tin được tổng hợp

từ hồ sơ hành chính, từ báo cáo hành chính

b) Việc thu thập tổng hợp thông tin thống kê từ cấp tỉnh đòi hỏi tính chuyên nghiệp thống kê cao hơn

Đã gọi là hồ sơ hành chính, báo cáo hành chính thì thông tin từ kênh này gần như là một tất yếu, một sự tận dụng cái đã có sẵn phần lớn thu thập và tổng hợp từ dưới lên, thông qua việc quản lý hành chính; tính thống kê mà đặc trưng chủ yếu là số lớn, là mẫu ít được áp dụng Trái lại, thông tin từ sản xuất kinh doanh, từ hộ gia đình thì phần lớn được áp dụng bằng hình thức điều tra mẫu là chủ yếu, báo cáo định kỳ chủ yếu áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Đã nói đến điều tra, đặc biệt là điều tra mẫu là nói đến phương án điều tra, với các nội dung khác hẳn với việc thu thập, tổng hợp từ báo cáo, nhất là từ báo cáo hành chính Trong đó có những nội dung đòi hỏi trình độ nghiệp vụ thống kê cao hơn, có tính chuyên nghiệp hơn, như:

- Xác định phạm vi điều tra;

- Xác định các đơn vị điều tra, đối tượng điều tra;

- Xây dựng dàn chọn mẫu để điều tra;

- Phương pháp chọn đơn vị mẫu;

- Phương pháp điều tra;

- Tính toán suy rộng kết quả điều tra

c) Thông tin được thu thập từ kênh ngành dọc khối lượng nhiều hơn thu thập từ hồ sơ hành chính thuộc nhiều Bộ ngành quản lý nhà nước

3 Xuất phát từ thực trạng của hệ thống thông tin thống kê thu thập từ cấp tỉnh

Việc thu thập hệ thống thông tin thống kê từ cấp tỉnh, hiện nay có những kết quả ưu điểm và hạn chế, bất cập

a) Những kết quả, ưu điểm chủ yếu

- Thứ nhất, đây là nguồn thông tin thống kê chủ yếu để tính toán thông

tin thống kê quốc gia Hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu được thu thập, tổng hợp từ ngành dọc, từ cấp tỉnh, huyện, xã, từ các chỉ tiêu tổng hợp đến các chỉ tiêu chuyên ngành Cục Thống kê tỉnh trở thành đầu mối thu thập hầu hết các thông tin từ các doanh nghiệp, các sở ngành, các hộ gia đình và tổng hợp báo cáo

Trang 4

Tổng cục Thống kê; chỉ còn một số loại thông tin nếu không thu thập, tổng hợp đựơc từ Cục Thống kê (như thông tin từ các ngành quản lý ngành dọc chẳng hạn), hoặc những thông tin nếu thu thập, tổng hợp từ Cục Thống kê sẽ không chính xác (như thông tin về lĩnh vực xuất, nhật khẩu, thông tin về khách quốc tế đến Việt Nam nếu tổng hợp từ Cục Thống kê sẽ dễ trùng lắp)

- Thứ hai, do là một đầu mối, nên Cục Thống kê các tỉnh, thành phố có

điều kiện thu thập, tổng hợp thông tin tương đối toàn diện để phục vụ địa phương và báo cáo cho Tổng cục Thống kê

Cũng nhờ vậy mà thông tin do Cục Thống kê tổng hợp báo cáo có điều kiện tập trung và trở thành nguồn thông tin thống kê tổng hợp duy nhất để báo cáo cấp Uỷ, chính quyền và cung cấp cho các ngành, các cấp ở địa phương, nâng cao vị trí, vai trò của hệ thống thống kê ngành dọc

b) Những hạn chế, bất cập

Việc thu thập, tổng hợp thông tin thống kê từ Cục Thống kê, từ ngành dọc hiện cũng còn nhiều hạn chế, bất cập

- Thứ nhất, có sự trùng, chéo thông tin giữa hai kênh ngành dọc và kênh

Bộ, ngành, nhất là những thông tin được tổng hợp từ hồ sơ hành chính Những thông tin sau đây đã đựơc thu thập, tổng hợp từ cả hai kênh ngành dọc

và kênh Bộ ngành (cụ thể trong báo cáo tổng hợp)

- Thứ hai, gánh nặng thông tin cho hệ thống thống kê tập trung dồn cho

ngành dọc, trong khi không tập trung được các thông tin tổng hợp từ hồ sơ và báo cáo hành chính của các Bộ, ngành Tình hình này dẫn đến hai hậu quả:

Một, gánh nặng dồn vào hệ thống tổ chức thống kê tập trung, làm cho hệ

thống thống kê tập trung không có điều kiện tập trung vào các thông tin thuộc chức năng nhiệm vụ của mình mà không có Bộ, ngành nào có thể thay thế được

Đi kèm theo gánh nặng thông tin là gánh nặng biên chế, gánh nặng kinh phí

Hai, không tận dụng được các thông tin tổng hợp từ hồ sơ và báo cáo

hành chính của các Bộ, ngành vô hình dung đã giảm nhẹ vai trò của hệ thống thống kê Bộ, ngành cả về tổ chức, bộ máy, cả về chức năng nhiệm vụ, cả về

sự đa dạng phong phú của hệ thông thông tin thống kê

- Thứ ba, do tập trung chủ yếu vào việc thu thập thông tin từ hệ thống tổ

chức thống kê ngành dọc, trong khi nguồn số liệu để báo cáo từ hồ sơ hành chính, Cục Thống kê tỉnh, thành phố, phòng thống kê huyện, quận, thị xã,

Trang 5

thành phố trực thuộc tỉnh lại nằm ở các Sở ban ngành, ở các phòng ban chuyên môn thuộc ngành lĩnh vực do Bộ, ngành quản lý Một số Cục Thống

kê đã phải thốt lên:” Tổng cục Thống kê đã biến Cục Thống kê thành người

đi xin số liệu của các Sở, ngành”

- Thứ tư, Cục Thống kê phải thu thập, tổng hợp thông tin thống kê theo

địa bàn lãnh thổ, tức là phải thu thập, tổng hợp thông tin thống kê không chỉ của những đơn vị do địa phương quản lý, còn phải thu thập, tổng hợp thông tin thống kê của những đơn vị do trung ương quản lý Điều đó giải thích tại sao, nếu tính giá thực tế, Cục Thống kê tổng hợp vẫn còn thiếu theo số thực

tế phát sinh trên địa bàn

PHẦN II CÁC VẤN ĐỀ CHUNG CỦA VIỆC XÁC ĐỊNH HỆ THỐNG THÔNG TIN

THU THẬP TỪ CẤP TỈNH

1) Căn cứ để xác định những chỉ tiêu cần thu thập từ cấp tỉnh

Mục tiêu của đề tài là xác định những chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh để tính chỉ tiêu thuộc hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia Điều đó có nghĩa là phải xác định được những chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia phải thu thập từ cấp tỉnh Để thực hiện công việc này, cần lấy hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia làm chuẩn, rồi dùng những phương pháp loại trừ những chỉ tiêu thống kê cần thu thập từ kênh Bộ, ngành và những chỉ tiêu thống kê do cấp tỉnh thu thập Cụ thể cách làm như sau:

a) Căn cứ và hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia để xác định những chỉ tiêu thu thập từ kênh Bộ, ngành

Đó là cơ sở cho việc xây dựng chế độ báo cáo thống kê tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ ban hành áp dụng đối với các Bộ, ngành rất có ý nghĩa đối với

hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh Bởi vì Bộ, ngành sẽ ban hành chế độ báo cáo áp dụng đối với Sở ngành và các phòng ban chuyên môn đồng gửi cho các Cục Thống kê cấp tỉnh và phòng thống kê cấp huyện để phục vụ địa phương Cục Thống kê không phải tổng hợp những chỉ tiêu này để báo cáo Tổng cục Thống kê, nhằm khắc phục những nhược điểm trùng lắp như hiện nay và bảo đảm nguyên tắc tránh trùng lắp theo quy định của Tổng cục Thống kê; Tổng cục Thống kê vẫn có số liệu thu thập qua báo cáo của các Bộ, ngành, vừa tận dụng được thông tin tổng hợp từ hồ sơ và báo cáo hành chính, vừa tăng cường được công tác thống kê các Bộ, ngành

Trang 6

b) Căn cứ và hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia để xác định những chỉ tiêu do Tổng cục Thống kê thu thập tổng hợp

Trong các chỉ tiêu mà Thủ tuớng đã phân công cho Tổng cục Thống kê, không phải các chỉ tiêu nào cũng giao cho Tổng cục Thống kê cũng đều phải yêu cầu các địa phương báo cáo Bởi vì;

- Có một số chỉ tiêu do Tổng cục Thống kê trực tiếp tính toán từ các chỉ tiêu tổng hợp của cả nước, như các chỉ tiêu:

0308- Năng suất lao động xã hội do Tổng cục Thống kê trực tiếp tính từ GDP và lao động của cả nước

0411- Năng lực sản xuất của một số sản phẩm chủ yếu do Tổng cục Thống kê trực tiếp tổng hợp từ các Bộ, ngành

0502- Vốn đầu tư thực hiện so với tổng sản phẩm trong nước do Tổng cục Thống kê trực tiếp tính từ vốn đầu tư thực hiện và GDP của cả nước 0503- Hệ số sử dụng vốn đầu tư (ICOR) do Tổng cục Thống kê trực tiếp tính

từ các chỉ tiêu vốn đầu tư, GDP theo giá thực tế, giá so sánh, tốc độ tăng GDP 0603- Cơ cấu Tổng sản phẩm trong nước (giá thực tế) do Tổng cục Thống kê trực tiếp tính toán trên cơ sở GDP theo giá thực tế của toàn bộ nền kinh tế và của từng nhóm ngành (nông, lâm - thủy sản, công nghiệp - xây dựng, dịch vụ), của từng ngành cấp I ở tầm cả nước

0604- Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (giá so sánh) do Tổng cục Thống kê trực tiếp tính trên cơ sở GDP của cả nước tính theo giá so sánh 0605- Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người (tính bằng VNĐ theo giá thực tế, tính bằng đô la Mỹ theo tỷ giá hối đoái và sức muưa tương đương) do Tổng cục Thống kê trực tiếp tính cho cả nước

0606- Tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp do Tổng cục Thống

kê trực tiếp tính từ các chỉ tiêu của cả nước

0607- Tỷ trọng đóng góp của các yếu tố vốn, lao động, năng suất các nhân tổ tổng hợp vào tốc độ tăng trưởng chung do Tổng cục Thống kê trực tiếp tính từ các chỉ tiêu của cả nước

0608- Tính tích luỹ tài sản gộp (giá thực tế, giá so sánh) do Tổng cục Thống kê trực tiếp tính từ các chỉ tiêu chung của cả nước

0609- Tích luỹ tài sản thuần (giá thực tế, giá so sánh) do Tổng cục Thống kê trực tiếp tính từ các chỉ tiêu chung của cả nước

Trang 7

0610- Tiêu dùng cuối cùng của nhà nước (giá thực tế, giá so sánh) do Tổng cục Thống kê trực tiếp tính từ các chỉ tiêu chung của cả nước

0611- Tiêu dùng cuối cùng của cá nhân (giá thực tế, giá so sánh) do Tổng cục Thống kê trực tiếp tính từ các chỉ tiêu chung của cả nước

0612- Tổng thu nhập quốc gia (giá thực tế) do Tổng cục Thống kê trực tiếp tính từ các chỉ tiêu chung của cả nước

0613- Thu nhập quốc gia khả dụng (giá thực tế) do Tổng cục Thống kê trực tiếp tính từ các chỉ tiêu chung của cả nước

0614- Tiết kiệm so với tổng sản phẩm trong nước (giá thực tế) do Tổng cục Thống kê trực tiếp tính từ tiết kiệm và GDP cuả cả nước

0702- Thu ngân sách nhà nước so với tổng sản phẩm trong nước do Tổng cục Thống kê trực tiếp tính từ thu ngân sách nhà nứơc và GDP theo giá thực tế cuả cả nước

0705- Bội chi ngân sách nhà nứơc so với tổng sản phẩm trong nước do Tổng cục Thống kê trực tiếp tính từ mức bội chi ngân sách nhà nước và GDP tính theo giá thực tế của cả nước

0814 - Thu phí bảo hiểm do Tổng cục Thống kê thu thập trực tiếp từ Bộ Tài chính (hoặc Tổng công ty bảo hiểm), sau đó phân bổ các chỉ tiêu cho các địa phương; nếu có phân cho các địa phương cũng không phải báo cáo cho Tổng cục Thống kê

0815- Chi bồi thường bảo hiểm và trả tiền bảo hiểm, giống như 0814

1006 - Nguồn năng lượng và tiêu dùng năng lượng so Tổng cục Thống

kê cân đối trên phạm vi cả nước; nếu có thu thập tổng hợp ở địa phương thì chủ yếu lấy lượng tiêu dùng Tuy nhiên, Tổng cục Thống kê lấy số liệu ở Tổng công ty điện lực Việt Nam và một số nguồn khác thuận lợi hơn là yêu cầu cấp tỉnh báo cáo

1205 - Xuất, nhập khẩu với các châu lục, khối nước, nước vùng/vùng lãnh thổ do Tổng cục Thống kê trực tiếp thu thập, tổng hợp số liệu từ Bộ Tài chính (Tổng cục Hải Quan) không yêu cầu các Cục Thống kê tỉnh báo cáo

1206 - Xuất siêu/nhập siêu hàng hoá do Tổng cục Thống kê trực tiếp thu thập, tổng hợp số liệu từ Tổng cục Hải quan, không yêu cầu các Cục Thống

kê tỉnh báo cáo

1207 - Giá trị xuất khẩu dịch vụ

Trang 8

1208 - Giá trị nhập khẩu dịch vụ

1209 - Xuất siêu/nhập siêu dịch vụ

3 chỉ tiêu này Tổng cục Thống kê trực tiếp thu thập tổng hợp từ các Bộ ngành (Ngân hàng nhà nước và các bộ ngành có quản lý dịch vụ)

1304- 1305 Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ do do Tổng cục Thống kê trực tiếp số liệu của Tổng cục Hải Quan không yêu cầu các Cục Thống kê tính

1604- Số thuê bao điện thoại bình quân 100 dân do Tổng cục Thống kê tính từ số thuê bao và dân số bình quân

1807- Tỷ lệ đi học phổ thông do Tổng cục Thống kê trực tiếp tính trên

cơ sở số học sinh phổ thông và số dân số trong độ tuổi đi học tương ứng 1903- Số thầy thuốc, số bác sĩ bình quân 10.000 dân do Tổng cục Thống

kê trực tiếp tính từ số thầy thuốc, số bác sỹ do Bộ Y tế cung cấp và số dân số ngành Thống kê nắm

2101- Chỉ số phát triển con người (HDI) do Tổng cục Thống kê trực tiếp tính trên phạm vi cả nước dựa vào chỉ số thành phần là GDP bình quân đầu người, chỉ số tuổi thọ và chỉ số giáo dục

Số chỉ tiêu còn lại trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia phân công cho Tổng cục Thống kê chịu trách nhiệm chính thu thập, tổng hợp từ tỉnh Tuy nhiên trong những chỉ tiêu này, cũng còn một số chỉ tiêu được thu thập bằng các cuộc điều tra trực tiếp do Tổng cục Thống kê tiến hành theo phương

án điều tra thống nhất từ trên xuống dưới, phương án xử lý tập trung cả nước hay theo vùng, khi xử lý tổng hợp thông tin Tổng cục Thống kê sẽ chia số liệu theo tỉnh, thành phố chẳng hạn:

2010 - Dân số Tổng cục Thống kê tiến hành điều tra mẫu dân số hàng năm rồi tính suy rộng cho tỉnh, không yêu cầu tỉnh báo cáo; chỉ khi nào giữa Cục Thống kê và Tổng cục Thống kê có sự sai lệch mới yêu cầu báo cáo và trả lời

- Các chỉ tiêu về Dân số khác (0203,0204,0205,0206,0207,0208) cũng tương tự

2 Nguyên tắc xây dựng

Việc nghiên cứu xác định hệ thống thông tin thống kê cấp tỉnh để tính chỉ tiêu thống kê quốc gia phải đáp ứng các yêu cầu và nguyên tắc sau đây:

Trang 9

a) Đáp ứng yêu cầu thông tin (như trình bầy ở trên)

b) Bảo đảm tính khả thi, tức là có thể tính được hoặc muốn tính được thì phải có những điều kiện nhất định chẳng hạn:

0201- Dân số Tổng điều tra 10 năm 1 lần Nhưng hàng năm phải có số liệu này, nên phải điều tra mẫu Nếu chỉ phân tổ theo giới tính và thành thị nông thôn thì có thể thực hiện được; nhưng nếu phân tổ theo đơn vị hành chính (huyện/quận/thị xã/thành phố) thì có 2 vấn đề dặt ra:

+ Hoặc là phải mở rộng qui mô điều tra chọn mẫu để suy rộng đến cấp huyện chứ không thể chỉ có suy rộng đến cấp tỉnh như hiện nay; nếu vậy kinh phí rất lớn, ngành Thống kê không thể bảo đảm được

+ Hoặc là phải sử dụng số liệu do ngành Dân số - Gia đình và Trẻ em báo cáo từ thôn, xã lên, nếu sử dụng số liệu này sẽ rất khó chính xác và thường có chênh lệch lớn khi tính cho cấp tỉnh cũng như cả nước

Chúng tôi xin đề nghị đề xuất cách tính như sau: Sử dụng kết quả điều tra chọn mẫu suy rộng đến cấp tỉnh của ngành Thống kê như hiện nay So sánh số liệu cộng từ huyện lên tỉnh của ngành Dân số - Gia đình và Trẻ em với số liệu điều tra mẫu ở cấp tỉnh của ngành Thống kê, sau đó dùng hệ số đó nhân với số liệu từng huyện của ngành Dân số - Gia đình và Trẻ em để điều chính

0501- Vốn đầu tư thực hiện Đối với vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý, vốn của các doanh nghiệp, vốn đầu tư nước ngoài, của hộ cá thể hiện đã có nguồn thu thập; nguồn vốn ngân sách do Trung ương quản lý đầu tư trên địa bàn thu thập có khó khăn hơn, nhưng có thể lấy từ kho bạc nhà nước tỉnh; còn nguồn của hộ gia đình thì có thể cài đặt vào điều tra mức sống hộ gia đình 2 năm một lần Muốn có số liệu hàng năm thì phải dựa vào kết quả điều tra hộ gia đình năm trước để ước tính, hoặc Tổng cục cấp kinh phí để điều tra

1004- Số lượng nhà ở và tổng diện tích mặt sàn xây dựng nhà ở mới đã hoàn thành Tổng cục phải cho điều tra mới thu thập được số liệu này

1401- Số lượt khách quốc tế đến Việt Nam

1404- Số lượng, năng lực và công suất sử dụng cơ sở lưu trú Tổng cục phải cho điều tra mới thu thập được

1606- Số máy vi tính đang sử dụng Các đối tượng khác thì có thể cài đặt đựơc nhưng đối với cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thì chưa có nguồn lấy

Trang 10

1803- Tỷ lệ đị học phổ thông (phân tổ chính là chung/đúng tuổi, cấp học, giới tính) gặp khó khăn do mẫu số không thể cung cấp được hàng năm

1913 - Số người tàn tật có hai vấn đề: một là phải điều tra, hai là để ngành Thống kê điều tra hay ngành Lao động - Thương bình và Xã hội điều tra

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Kết luận

Việc nghiên cứu xác định hệ thống thông tin cấp tỉnh để tính chỉ tiêu thống kê quốc gia là việc làm rất cần thiết và có tính cấp bách Ngoài ý nghĩa

hệ thống thông tin này là cơ sở đầu vào quan trọng để tính chí tiêu thống kê quốc gia theo quyết định của Thủ tướng chính phủ, việc nghiên cứu xác định

hệ thống thông tin cấp tỉnh còn có ý nghĩa nhiều mặt

Một mặt, hệ thống chỉ tiêu này cùng với các thông tin do các Sở, ngành cung cấp (theo chế độ báo cáo tổng hợp của các Bộ, ngành quy định cho các

Sở, ngành khi báo cáo cho Bộ, ngành thì đồng thời báo cáo gửi cho Cục Thống kê) hình thành Bộ chỉ tiêu thống kê tương đối hoàn chỉnh của cấp tỉnh, phục vụ việc điều hành chỉ đạo của cấp Uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh và các nhu cầu thông tin thống kê của các đối tượng khác nhau đối với các tỉnh/thành phố trong điều kiện cơ chế và phân cấp quản lý cuả Việt Nam

Mặt khác, hệ thống thông tin này còn là cơ sở cho việc sửa đổi chế độ báo cáo thống kê hiện hành đối với cấp tỉnh hiện vừa thiếu vừa thừa, vừa nặng nề, trùng chéo và vừa khó có tính khả thi

Hệ thống thông tin thống kê cấp tỉnh còn bảo đảm tính thống nhất một nguyên tắc quan trọng của hoạt động thống kê theo quy định của Luật Thống

kê, đồng thời giảm nhẹ gánh nặng cho Cục Thống kê trong việc báo cáo Tổng cục Thống kê, có điều kiện tập trung vào việc thành lập, tổng hợp tính toán

và báo cáo những chỉ tiêu quan trọng nhất, phù hợp với chức năng chủ yếu của ngành Thống kê, theo mô hình tập trung kết hợp với phân tán

Kiến nghị

1) Kết quả cuả đề tài này là cơ sở để Tổng cục Thống kê:

- Ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã theo quy định của Thủ tướng Chính phủ trong Quyết định số 305/QĐ-TTg ngày 24/11/2005 về việc ban hành hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia

Ngày đăng: 07/01/2020, 14:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm