1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bài tập lớn Nhập môn Luật dân sự

27 618 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 65,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tập lớn Nhập môn luật dân sự: Phân tích, đánh giá và nêu ví dụ minh họa đối với các quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự năm 2015 I. Khái niệm II. Phân tích, đánh giá các quy định về giám hộ trong Bộ luật Dân sự năm 2015 4 1. Chủ thể của giám hộ 1.1. Người được giám hộ 1.2. Người giám hộ 2. Các cơ chế xác định người giám hộ 2.1. Giám hộ đương nhiên 2.2. Giám hộ cử, chỉ định 3. Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ 3.2. Quyền của người giám hộ 4. Thay đổi, chấm dứt giám hộ và hậu quả pháp lý

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TẬP CÁ NHÂN

MÔN: NHẬP MÔN LUẬT DÂN SỰ

ĐỀ BÀI: 05

“Phân tích, đánh giá và nêu ví dụ minh họa đối với các quy định về giám hộ

trong Bộ luật dân sự năm 2015”

Trang 2

MỤC LỤC

A LỜI MỞ ĐẦU 3

B NỘI DUNG 3

I Khái niệm 3

II Phân tích, đánh giá các quy định về giám hộ trong Bộ luật Dân sự năm 2015 4

1 Chủ thể của giám hộ 4

1.1 Người được giám hộ 5

1.2 Người giám hộ 7

2 Các cơ chế xác định người giám hộ 10

2.1 Giám hộ đương nhiên 10

2.2 Giám hộ cử, chỉ định 11

3 Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ 12

3.1.Nghĩa vụ của người giám hộ 12

3.2 Quyền của người giám hộ 14

4 Thay đổi, chấm dứt giám hộ và hậu quả pháp lý 16

C KẾT LUẬN 20

2

Trang 3

A L I M Đ U ỜI MỞ ĐẦU Ở ĐẦU ẦU

Giám hộ là một chế định quan trọng trong pháp luật dân sự Việt Nam, các quy địnhcủa chế định thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Nhà nước và xã hội ta đối với ngườichưa thành niên có hoàn cảnh đặc biệt, người mất năng lực hành vi dân sự và người cókhó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi Việc áp dung chế định giám hộ nhằm đảmbảo quyền lợi của những người yếu thế này, đồng thời đảm bảo sự tương đồng khi họtham gia các quan hệ dân sự với những cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.Nhìn chung, những quy định về chế định giám hộ trong Bộ luật dân sự năm 2015 đãphần nào đáp ứng được những đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn cuộc sống, góp phầnkhông nhỏ trong việc tạo lập một chế định pháp lý thống nhất, giải quyết hiệu quảnhững nhu cầu bức thiết trong nhân dân liên quan đến việc giám hộ Tuy nhiên việc ápdụng các quy định này vấn còn gặp nhiều khó khăn và bất cập trên thực tế Mặc dù Bộluật dân sự 2015 mới được sửa đổi, bổ sung để bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyềncông dân, nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số những hạn chế cần được phân tích,nghiên cứu Bởi vậy nên em lựa chọn ĐỀ 5: Phân tích, đánh giá và nêu ví dụ minh họađối với các quy định về giám hộ trong Bộ luật Dân sự năm 2015

B N I DUNG ỘI DUNG

có điều kiện chăm sóc Ngoài ra, chế định giám hộ điều chỉnh các quan hệ với mụcđích nhằm khắc phục tình trạng không tương đồng giữa sự bình đẳng về năng lực phápluật với không bình đẳng về năng lực hành vi dân sự của những người có năng lựchành vi một phần, những người không có năng lực hành vi, bị mất năng lực hành vi.Những quy định của chế định này xác định việc quản lí tài sản, thực hiện các quyền vànghĩa vụ về tài sản của người được giám hộ Ngoài ra, chế định giám hộ còn có nhữngquy định mang tính hành chính như các quan hệ về cử người giám hộ, giám sát việcgiám hộ,

1 Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức hoặc cơ quan nhà nước được pháp luật quy địnhhoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ngườiđược giám hộ

1 Điều 48 BLDS năm 2015

Trang 4

 Như vậy, giám hộ là chế định nhằm khắc phục tình trạng của người có năng lựcpháp luật dân sự nhưng không thể bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện đượcquyền, nghĩa vụ của họ vì họ là những người chưa thành niên mà không có sự chămsóc, giáo dục của cha mẹ, người có khó khắn trong nhận thức và điều khiển hành vi,người mất năng lực hành vi dân sự.

II Phân tích, đánh giá các quy đ nh v giám h trong B lu t Dân s năm ịnh về giám hộ trong Bộ luật Dân sự năm ề giám hộ trong Bộ luật Dân sự năm ộ trong Bộ luật Dân sự năm ộ trong Bộ luật Dân sự năm ật Dân sự năm ự năm 2015

1 Ch th c a giám h ủ thể của giám hộ ể của giám hộ ủ thể của giám hộ ộ trong Bộ luật Dân sự năm

Điều 46 Giám hộ

a Phân tích:Điều luật này khái quát bốn nội dung chính, bao gồm: các hình thức giám

hộ, mục đích của việc giám hộ, người được giám hộ và thủ tục xác lập việc giảm hộ.Theo đó, quan hệ giám hộ có thể được xác lập thông qua bốn hình thức là: theo quyđịnh của pháp luật, theo việc cử cảu UBND cấp xã; theo sự chỉ định của Tòa án; theo

sự chỉ định của chính người được giám hộ ở thời điểm họ có đầy đủ năng lực hành vidân sự Mục đích của việc giám hộ là: chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp củangười được giám hộ Người được giám hộ gồm có 3 trường hợp quy định tại khoản 1Điều 47 BLDS năm 2015

Thủ tục xác lập việc giám hộ yêu cầu phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩmquyền (theo quy định của pháp luật về hộ tịch) Với trường hợp xác lập việc giám hộcho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì còn cần có sự đồng ý củangười đó (nếu họ có năng lực thể hiện ý chí của mình tại thời điểm yêu cầu) Đối vớingười giám hộ đương nhiên, trong trường hợp thủ tục đăng ký việc giám hộ chưa đượcthực hiện thì họ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của người giám hộ (điều 55, 56, 57)

b Đánh giá: So sánh với quy định của BLDS năm 2005 thì Điều 46 đã khái quát

những quy định chung về giám hộ và để những nội dung chi tiết được quy định cụ thểtrong các điều luật kế tiếp Điều 46 cũng đã mở rộng thêm hai hình thức giám hộ là:Giám hộ do Tòa án chỉ định và giám hộ do chính bản thân người được giám hộ chỉđịnh (khi họ vẫn trong tình trạng có năng lực hành vi dân sự đầy đủ) Người đượcgiám hộ cũng bổ sung thêm người có khó khăn do nhận thức và làm chủ hành vi Thủtục giám hộ được yêu cầu phải thực hiện việc đăng ký và chi tiết của thủ tục được chỉdẫn tới các quy định trong pháp luật về hộ tịch

Điểm mới rất hay trong quy định này đó chính là cho phép cá nhân lựa chọn cho mìnhngười giám hộ ngay từ trước khi bị rơi vào tình trạng không nhận thức và làm chủhành vi (khoản 2 Điều 46) Điều này được coi là hoàn toàn phù hợp và được coi là có

sự học hỏi pháp luật các nước trên thế giới Theo

quy định của BLDS Campuchia, người không đủ khả năng nhận thức và dự liệu đượckết quả mang tính pháp lý từ hành vi của mình gây ra do những khiếm khuyết về mặt

4

Trang 5

trí tuệ và những người hạn chế năng lực hành vi dân sự được bảo vệ bằng cơ chế bảotrợ (Điều 28 và Điều 32)2

Tuy nhiên, trong quy định tại khoản 2 và 3 của Điều 46 có sự chưa rõ ràng và có thểdẫn đến những cách hiểu chưa thống nhất Cụ thể, khoản 2 có đưa ra yêu cầu khi xáclập việc giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì phải có

“sự đồng ý của người đó nếu họ có năng lực thể hiện ý chí của mình tại thời điểm yêucầu” Trong quy định này, “thời điểm yêu cầu” là một nội dung chưa thực sự rõ ràng.Bởi vì, nếu hiểu thời điểm yêu cầu là thời điểm chỉ định người giám hộ theo khoản 2điều 48 thì quy định tại điều 46 là không cần thiết vì đương nhiên người giám hộ đượclựa chọn theo chính sự chỉ định của người sau này rơi vào tình trạng có khó khăntrong nhận thức và làm chủ hành vi Nếu hiểu thời điểm yêu cầu là thời điểm chínhthức xác lập việc giám hộ thì việc đồng ý của người được giám hộ cũng là không cầnthiết vì họ đã có văn bản chỉ định có công chứng hoặc chứng thực Còn nếu hiểu việcđồng ý này chỉ đặt ra đối với những trường hợp giám hộ không theo chỉ định của bảnthân người được giám hộ (theo pháp luật, theo cử của UBND, theo chỉ định của Tòaán) thì quy định như khoản 2 Điều 46 là chưa đầy đủ Trong sự thống nhất giữa cácđiều luật, khoản 2 này có lẽ cần bổ sung thêm nội dung yêu cầu về sự đồng ý củangười có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi khi được xác lập người giám

hộ chỉ đặt ra trong những trường hợp không thuộc vào khoản 2 điều 48

Theo quy định tại khoản 3 Điều 46 thì hậu quả pháp lý của việc người giám hộ đươngnhiên không đăng ký việc giám hộ cũng có thể dẫn đến những cách hiểu khác nhau.Như cách quy định hiện tại thì việc đăng ký là bắt buộc đối với giám hộ nhưng nếukhông đăng ký thì người giám hộ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của người giám hộ.Điều này có thể hiểu là: người giám hộ đương nhiên vẫn xác lập việc giám hộ khôngcần thực hiện thủ tục đăng ký; hoặc người giám hộ đương nhiên khi không đăng kýchỉ có nghĩa vụ của người giám hộ chứ không có quyền của người giám hộ Cả haicách hiểu này đều có những bất cập nhất định Nếu loại trừ thủ tục đăng ký cho ngườigiám hộ đương nhiên thì không cần thiết phải ghi thêm việc người này chỉ có nghĩa

vụ Do đó, ý tưởng của các nhà làm luật trong quy định này cần được thể hiện hợp lý

và nhất quán hơn

1.1 Ng ười được giám hộ ược giám hộ i đ c giám h ộ trong Bộ luật Dân sự năm

Điều 47 Người được giám hộ

a Phân tích: Trên cơ sở quy định khái quát tại Điều 46, người được giám hộ được quy

định cụ thể tại Điều 47 Theo đó, người được giám hộ bao gồm các cá nhân:

2 Phạm Văn Tuyết, Quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về giám hộ và vướng mắc cần khắc phục, Luật học, Số 6/2018,tr.72-81

Trang 6

- Người chưa thành niên (người chưa đủ mười tám tuổi 3) thuộc các trường hợp đượcquy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 BLDS năm 2015 Từ quy định này có thể suy ra,những cá nhân chưa thành niên có cha mẹ và cha mẹ có năng lực hành vi dân sự đầy

đủ có điều kiện chăm sóc, giáo dục con thì không thuộc diện những người được giámhộ

- Người mất năng lực hành vi dân sự Một người được coi là mất hành vi dân sự đượcquy định tại điều 22 BLDS năm 2015 BLDS năm 1995 quy định người được giám hộ

là người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủhành vi của mình Nhưng từ BLDS năm 2005 trở đi thay đổi quy định này thành ngườimất năng lực hành vi dân sự Hai loại chủ thể này không trùng nhau về năng lực hành

vi dân sự

- Người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi Đối tượng này được quyđịnh tại Điều 23 BLDS năm 2015

Khoản 2 Điều 47 cũng đưa ra yêu cầu cá nhân được giám hộ chỉ có một người giám

hộ duy nhất Quy định này nhắm hướng tới việc tập trung trách nhiệm của người giám

hộ đối với những cá nhân được giám hộ Bởi vì nếu có nhiều hơn một người giám hộ,mục đích giám hộ có thể không được đảm bảo vì sự không rõ ràng trong phân chiatrách nhiệm, nghĩa vụ giữa các chủ thể giám hộ

Ngoại lệ đặt ra đối với người giám hộ là cha, mẹ đối với con mất năng lực hành vi dân

sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc ông, bà cùng giám hộ chocháu thì người giám hộ có thể là cả cha và mẹ; cả ông và bà Trường hợp này là ngoại

lệ bởi vì xem xét cả khía cạnh pháp lý và tình cảm, cha mẹ đối với con, ông bà đối vớicháu, tuy bao gồm nhiều hơn một người nhưng đều ngang bằng như nhau

b Đánh giá: So sánh với BLDS năm 2005, Điều 47 đã bổ sung người có khó khăn

trong nhận thức, làm chủ hành vi vào những người giám hộ Sự ghi nhận và quyếtđịnh về đối tượng này trong BLDS năm 2015 đã tạo ra hành lang pháp lý quan trọng

để giải quyết những vướng mắc, khó khăn trên thực tiễn (bởi các nguyên do tuổi tác,tai nạn,…) Tuy nhiên, một người chỉ bị coi là có khó khăn trong nhận thức và làmchủ hành vi khi có sự tuyên bố của Tòa án, trong khi Điều 46 BLDS năm 2015quyđịnh người được giám hộ là người có khó khan trong nhận thức, làm chủ hành vi Vôhình chung, những người này chưa bị Tòa tuyên bố thì không cần người giám hộ.Theo quan điểm cá nhân, quy định này có phần chưa rõ ràng và là bước thụt lùi so vớiBLDS năm 1995

VD: A 8 tuổi, vẫn còn đang đi học nhưng bố mẹ đã mất do tai nạn giao thông, trong trường hợp này A cần có người giám hộ chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ.

3 Khoản 1 Điều 21 BLDS năm 2015

6

Trang 7

1.2 Ng ười được giám hộ i giám h ộ trong Bộ luật Dân sự năm

Người giám hộ là cá nhân hoặc pháp nhân, thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ ngườigiám hộ và đại diện cho người giám hộ trong các giao dịch dân sự vì lợi ích của ngườiđược giám hộ.Người giám hộ được xác định theo quy định của pháp luật nhưng đề caotính tự nguyện, bởi ngoài nghĩa vụ làm người đại diện thì việc chăm sóc, bảo vệ, chữabệnh cho người được giám hộ muốn đạt hiệu quả cao thì cần đến tâm của người giámhộ

Theo quy định tại Điều 48 BLDS năm 2015

Điều 48 Người giám hộ

Điều 48 là 1 điều luật mới, so với quy định tại BLDS năm 2005 Bởi vì trước đây chỉ

có những quy định cụ thể về người giám hộ như người giám hộ đương nhiên củangười chưa thành niên, người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vidân sự… nhưng chưa có quy định khái quát để nhận diện người giám hộ nói chung.Ngoài ra, điều luật còn là sự thể hiện rõ ràng và nhất quán nguyên tắc cơ bản của phápluật dân sự, theo đó, chủ thể của các quan hệ pháp luật dân sự được xác định là cánhân, pháp nhân

- Giám hộ là cá nhân

Theo quy định tại Điều 49 BLDS năm 2015 thì cá nhân có đủ các điều kiện sau đượclàm người giám hộ:

Điều 49 Điều kiện của cá nhân làm người giám hộ

a Phân tích: Điều 49 quy định về các điều kiện cụ thể để cá nhân có thể trở thànhngười giám hộ Theo đó, cá nhân là người giám hộ phải đáp ứng bốn nhóm điều kiện:

về mức độ năng lực hành vi dân sự, về tư cách đạo đức, về lý lịch tư pháp liên quanđến trách nhiệm hình sự và về lý lịch tư pháp của cá nhân Các điều kiện này được quyđịnh để đảm bảo việc giám hộ được thực hiện đúng mục đích cũng như đảm bảoquyền và lợi ích hợp pháp của người được giám hộ

Cụ thể, năng lực hành vi dân sự của cá nhân phải ở mức độ đầy đủ mới đáp ứng đượcđiều kiện đầu tiên trong khả năng trở thành người giám hộ Quy định này hướng tớiyêu cầu về khả năng nhận thức và làm chủ hành vi đầy đủ của cá nhân giám hộ Bởi vìchỉ có người có mức độ năng lực hành vi dân sự như vậy mới có thể chăm sóc, bảo vệcũng như đủ điều kiện pháp lý để thay mặt người được giám hộ tham gia các giao dịchtrong cuộc sống Cá nhân giám hộ được yêu cầu có tư cách đạo đức tốt, cùng các điềukiện cần thiết cho việc giám hộ Điều kiện này là cơ sở cho các hoạt động giáo dục,nuôi dưỡng người được giám hộ Lý lịch tư pháp của cá nhân làm người giám hộ cũngkhông thuộc trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự và xóa án tích liên quan đếncác tội xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản củangười khác; cũng như không thuộc trường hợp đã bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyềncủa cha mẹ đối với con chưa thành niên

Trang 8

b Đánh giá: So sánh với BLDS năm 2005 quy định về điều kiện của người giám hộ là

cá nhân được quy định tại Điều 60 BLDS năm 2005 thì Điều 49 BLDS năm 2015 đãquy định một cách chặt chẽ hơn, Điều 49 bổ sung thêm điều kiện về trường hợp không

bị Tòa án tuyên hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên Xét tổng thể,các điều kiện được quy định trong điều luật đều đảm bảo các yếu tố cần thiết được đặt

ra cho người giám hộ Tuy nhiên, vì các điều kiện chỉ dừng ở mức định tính nên việcxem xét thế nào là phù hợp không phải là đơn giản Ví dụ: Điều kiện về tư cách đạođức tốt là khó có thước đo để đánh giá, hoặc điều kiện về các điều kiện cần thiết cũngtương đối mơ hồ, không rõ ràng

- Giám hộ là pháp nhân

Trước đây, BLDS năm 2005 quy định ngoài cá nhân, tổ chức có thể làm người giám

hộ, tuy nhiên bộ luật này không quy định điều kiện của cơ quan, tổ chức khi làm giám

hộ Để khắc phục sự thiếu sót này thì BLDS năm 2015 đã lần đầu quy định pháp nhân

là người giám hộ tại khoản 1 Điều 46 và điều kiện của pháp nhân làm người giám hộtại Điều 50 BLDS năm 2015

Điều 50 Điều kiện của pháp nhân làm người giám hộ

a Phân tích: Điều 50 quy định về các điều kiện mà người giám hộ là pháp nhân cần

phải đáp ứng Có 2 nhóm điều kiện được quy định tại khoản 1 và 2 Điều 50 BLDSnăm 2015

Cụ thể, pháp nhân là người giám hộ cần phải có năng lực pháp luật dân sự phù hợp vớiviệc giám hộ Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân cócác quyền, nghĩa vụ dân sự Yêu cầu về sự phù hợp của năng lực pháp luật dân sự củapháp nhân không được giải thích cụ thể trong điều luật và rất khó để xác định Có thểsuy đoán rằng điều kiện này yêu cầu pháp nhân thực hiện các hoạt động trong các lĩnhvực có thể đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người giám hộ Ví dụ như phápnhân là tổ chức giáo dục, là cơ sở chữa bệnh Tuy nhiên, với những pháp nhân liênquan đến hoạt động giải trí đơn thuần (như Karaoke) hoặc liên quan đến các sản phẩmkhông được sử dụng ở lứa tuổi chưa thành niên (như bia, rượu, thuốc lá, ) sẽ khôngthực sự phù hợp với mục đích nuôi dưỡng, giáo dục và bảo vệ người được giám hộ.Bên cạnh đó, cũng như cá nhân, khi trở thành người giám hộ, pháp nhân được yêu cầuphải đáp ứng các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.Điều này có thể suy luận về các yêu cầu liên quan đến tài chính, nhân sự cũng như vịtrí địa lý nơi có trụ sở, văn phòng, chi nhánh của pháp nhân

b Đánh giá: Điều 50 là một điều luật hoàn toàn mới so với BLDS 2005 Trước đây,

quy định của BLDS chỉ dừng lại ở điều kiện của cá nhân mà khuyết thiếu quy định vềpháp nhân là người giám hộ Do đó, BLDS 2015 đã bổ sung về điều kiện này và sự bổsung này là hợp lí để tránh tình trạng có người hiểu sai rằng bất cứ cơ quan hợp phápnào cũng có thể trở thành người giám hộ Tuy nhiên, có thể nhận thấy, các điều kiện

8

Trang 9

được quy định tại Điều 50 là rất chung chung và mang tính khái quát quá cao Cáchquy định này khó có khả năng trở thành căn cứ hiệu quả và thiết thực để có thể ápdụng trên thực tế.

VD: Giống như ví dụ trên thì người giám hộ có thể là người thân của A như ông, bà,…

- Người giám sát

Điều 51 BLDS năm 2015 đã quy định về người giám sát việc giám hộ như sau

Điều 51 Giám sát việc giám hộ

a Phân tích: Người giám hộ là người chăm sóc, bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp

của người giám hộ và đồng thời cũng giúp người được giám hộ quản lý tài sản, thựchiện các giao dịch liên quan đến các tài sản này Chính vì thế, việc giám hộ ảnh hưởngtới toàn bộ cuộc sống vật chất cũng như tinh thần của người được giám hộ Do đó, cầnthiết phải có cơ chế giám sát, kiểm tra để đảm bảo việc giám hộ được thực hiện vì lợiích của người được giám hộ Điều 51 quy định cụ thể về giảm sát việc giám hộ xuấtphát chính từ yêu cầu đảm bảo mục đích giám hộ như đã nêu

Người giám sát việc giám hộ được xác định theo một trong ba phương thức là: (1)theo thỏa thuận cử hoặc theo sự lựa chọn của người thân thích của người giám hộ; (2)theo quyết định cử của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của ngừi được giám hộ(trong trường hợp không có người thân thích hoặc những người này không cử, chọnđược người giám sát việc giám hộ); (3) theo quyết định của Tòa án (trong trường hợp

có tranh chấp về việc cử, chọn người giám sát việc giám hộ)

Thủ tục xác định người giám sát việc giám hộ yêu cầu phải có sự đồng ý của ngườinày, trường hợp giám sát việc giám hộ liên quan đến quan đến quản lý tài sane củangười được giám hộ thì người giám sát còn phải đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp xãnơi cư trú của người được giám hộ

Người giám sát việc giám hộ có thể là cá nhân hoặc pháp nhân Cá nhân có thể trong

số những người thân thích (được xác định lần lượt theo ba thứ tự: (i) vợ, chồng, cha,

mẹ, con của người giám hộ; (ii) ông, bà, anh ruột, chị ruột của người được giám hộ;(iii) bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của những người được giám hộ) hoặc

cá nhân khác có đủ điều kiện Cơ quan, tổ chức phải có tư cách pháp nhân Những cơquan, tổ chức không có tư cách pháp nhân không thể trở thành người giám sát việcgiám hộ

Điều kiện của người giám sát việc giám hộ là: (i) có năng lực hành vi dân sự đầy đủ(với cá nhân) hoặc có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với việc giám sát (với phápnhân); (ii) có điều kiện cần thiết để thực hiện việc giám sát Điều kiện thứ nhất là căn

cứ để người giám sát có khả năng thực hiện việc giám sát (liên quan đến yếu tố nhận

Trang 10

thức và làm chủ hành vi của cá nhân một cách đầy đủ; liên quan đến khả năng thựchiện việc giám sát không trái với lĩnh vực, ngành nghề hoạt động của pháp nhân).Điều kiện thứ hai là điều kiện để đảm bảo việc giám sát là thực tế, không phải trêndanh nghĩa.

Người giám sát việc giám hộ có ba nhóm quyền và nghĩa vụ được quy định tại khoản

4 Điều 51

b Bình luận: Điều 51 của BLDS năm 2015 kế thừa các quy định từ Điều 59 BLDS

năm 2005 Tuy nhiên, so với BLDS năm 2005, Điều 51 của BLDS năm 2015 đã bổsung rất nhiều nội dung để xác định rõ về giám sát việc giám hộ như bổ sung phươngthức xác định người giám sát theo theo quyết định của Tòa án; bổ sung về người giámsát có thể là pháp nhân; bổ sung các quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của ngườigiám sát Những nội dung mới này là điểm tiến bộ của BLDS năm 2015 và có giá trịthực thi trên thực tế khi áp dụng điều luật đã được quy định chi tiết và cụ thể hơn

2 Các c ch xác đ nh ng ơ chế xác định người giám hộ ế xác định người giám hộ ịnh về giám hộ trong Bộ luật Dân sự năm ười được giám hộ i giám h ộ trong Bộ luật Dân sự năm

2.1 Giám h đ ộ trong Bộ luật Dân sự năm ươ chế xác định người giám hộ ng nhiên

Giám hộ đương nhiên là hình thức do pháp luật quy định, người giám hộ đương nhiênvới người giám hộ là người thân thiết, được xác định theo quan hệ hôn nhân, huyếtthống, do đó người giám hộ đương nhiên chỉ có thể là cá nhân Đối với quyền giám hộ

và việc giám hộ này có thể đăng kí việc giám hộ hoặc không đăng kí nhưng vẫn phảithực hiện nghĩa vụ của người giám hộ (khoản 3 Điều 46 BLDS năm 2015)

- Giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên

Điều 52 Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên

a Phân tích: Điều 52 quy định về các cá nhân có thể trở thành người giám hộ đương

nhiên của người được giám hộ là người chưa thành niên Việc xác định người giám hộđương nhiên được xem xét lần lượt theo 3 thứ tự, theo đó, trường hợp không có cánhân có thể trở thành người giám hộ đương nhiên ở thứ tự trước mới chuyển xuốngxem xét thứ tự kế tiếp sau Và trong mỗi thứ tự cũng có sự ưu tiên lần lượt

Ba thứ tự xác định người giám hộ đương nhiên bao gồm: Thứ nhất, 1) anh ruột là anh

cả hoặc chị ruột là chị cả, 2) anh ruột hoặc chị ruột tiệp theo hoặc có thỏa thuận anhruột hoặc chị ruột khác; Thứ hai: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại hoặc theo thỏathuận của những ng này cử một hoặc một số ng trong số họ; Thứ ba: bác ruột, chúruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột

b Đánh giá: Điều 52 của BLDS 2015 kế thừa quy định của Điều 61 BLDS 2005 So

với BLDS 2005, Điều 52 của BLDS 2015 đã tách trường hợp giám hộ đương nhiêncủa ông, bà nội ngoại thành một thứ tự riêng và bổ sung thêm yếu tố thỏa thuận khixác định người giám hộ

10

Trang 11

Ví dụ: Trong một gia đình cha mẹ vừa qua đời trong một tai nạn giao thong, còn lại 4người con là A (25 tuổi), B (20 tuổi), C (14 tuổi) và D (5 tuổi) Trong trường hợp này,

A sẽ là người người giám hộ đương nhiên cho 2 em chưa thành niên là C và D Tuynhiên, giả sử rằng A bị bệnh tâm thần, thì khi đó B sẽ là người giám hộ đương nhiêncho các em (và cả cho A nữa)

- Giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự

Điều 53 Người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự

a Phân tích: Điều 53 quy định về các trường hợp cá nhân có thể trở thành người giám

hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự khi người này không có ngườigiám hộ được xác định theo khoản 2 Điều 48 của BLDS năm 2015 (giám hộ theo chỉđịnh của chính người mất năng lực hành vi dân sự khi họ vẫn đang trong tình trạngnhận thức và làm chủ hành vi dân sự của mình bình thường)

Cá nhân được xác định là người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vidân sự được xác định theo ba trường hợp như sau: thứ nhất, nếu vợ hoặc chồng mấtnăng lực hành vi dân sự thì người kia sẽ là người giám hộ; thứ hai, nếu cha, mẹ đềumất năng lực hành vi dân sự hoặc chỉ một người mất năng lực hành vi dân sự nhưngngười kia không đủ điều kiện làm người giám hộ thì con cả sẽ là người thứ ba, nếungười mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ (chồng), con hoặc những người nàykhông có đủ điều kiện thì cha, mẹ của những người mất năng lực hành vi dân sự làngười giám hộ

b Đánh giá: Điều 53 BLDS năm 2015 kế thừa nguyên vẹn Điều 62 BLDS năm 2005,

chỉ bổ sung thêm trường hợp liên hệ đến người giám hộ theo chỉ định đã được quyđịnh tại khoản 2 Điều 48 năm 2015 Khoản 2 Điều 53 đã phát huy truyền thống giađình tốt đẹp của dân tộc ta, không những cha mẹ có nghĩa vụ và trách nhiệm với concái mà con cái cũng phải có nghĩa vụ đối với cha mẹ Tuy nhiên, BLDS 2015 cũngchưa quy định rõ trường hợp con làm giám hộ cho cha mẹ là con đẻ hau con nuôi, consinh ra trong thời kì hôn nhân hay ngoài thời kì hồn nhân của cha và mẹ

Ví dụ:

2.2 Giám h c , ch đ nh ộ trong Bộ luật Dân sự năm ử, chỉ định ỉ định ịnh về giám hộ trong Bộ luật Dân sự năm

Điều 54 Cử, chỉ định người giám hộ

a Phân tích: Các quy định tại Điều 54 xác định người giám hộ khi không có người

giám hộ đương nhiên theo Điều 52 và Điều 53 Theo đó, người giám hộ được xác địnhtheo 1 trong 2 phương thức: 1) Theo quyết định cử người giám hộ của UBND cấp xãnơi cư trú của người được giám hộ; 2) Theo quyết định chỉ định người giám hộ củaTòa án khi có tranh chấp giữa những người giám hộ đương nhiên

Đối với người được giám hộ có độ tuổi từ đủ sáu tuổi trở lên thì việc cử, chỉ địnhngười giám hộ phải xem xét nguyện vọng của người được giám hộ Quy định này thể

Trang 12

hiện sự tương thích với khả năng nhận thức là làm chủ hành vi bắt đầu có một phầncủa cá nhân đủ sáu tuổi trở lên Ngoài ra, giám hộ cũng tương tự như việc chăm sóc,nuôi dưỡng, giáo dục con của cha mẹ, do đó, yếu tố tình cảm rất quan trọng giữangười được giám hộ người giám hộ Đứa trẻ chưa thành niên đủ sáu tuổi trở lên có thểyêu quý hoặc không có thiện cảm với người giám hộ sẽ ảnh hưởng đến quan hệ giám

hộ sau này

Thủ tục cử người giám hộ yêu cầu: 1) Lập thành văn bản ghi rõ: lý do cử người giámhộ; quyền, nghĩa vụ cụ thể của người giám hộ; tình trạng tài sản cảu người được giámhộ; 2) Phải được sự đồng ý của người được cử

Việc chỉ định người giám hộ cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành viđược Tòa án thực hiện (khi ng này không lựa chọn người giám hộ của mình khi vẫncòn minh mẫn Người giám hộ được chỉ định là: 1) 1 trong những ng thân thích có thểtrở thành người giám hộ đương nhiên của mất năng lực hành vi dân sự (quy định tạiĐiều 53); 2) Cá nhân hoặc pháp nhân khác

b Đánh giá: So với Điều 72 BLDS 1995 thì Điều 63 BLDS 2005 ngoài việc thay cụm

từ “người mất NLHV dân sự” cho cụm từ “người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình”, còn bỏ quy định:

“những người thân thích của người được giám hộ cử một người trong số họ làm ngườigiám hộ; nếu không có ai trong số những người thân thích có đủ điều kiện làm người giám hộ, thì họ có thể cử một người khác làm người giám hộ”

Việc bỏ quy định nêu trên là chính xác, vì Điều 61 và Điều 62 BLDS 2005 đã quy định cụ thể người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên và của người mất NLHV dân sự trong đó quy định rõ thứ tự những người thân thích của người được làmgiám hộ sẽ đảm nhiệm việc làm giám hộ

Hơn nữa theo quy định của Điều 72 BLDS 1995 những người thân thích của người được giám hộ nếu không có ai đủ điều kiện làm giám hộ thì họ có thể cử một người khác làm giám hộ Quy định này là không thực tế vì những người thân thích của ngườiđược giám hộ có quyền gì để cử người khác làm giám hộ và cử ai, luật lại không quy định

3 Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ

3.1.Nghĩa vụ của người giám hộ

Nghĩa vụ của người giám hộ được quy định tại các điều 55,56,57 BLDS năm 2015, bao gồm

- Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ chưa đủ mười lăm tuổi

Điều 55 Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ chưa đủ mười lăm tuổi

Điều 55 quy định những nghĩa vụ mà người giám hộ phải thực hiện đối với ngườiđược giám hộ chưa đủ mười lăm tuổi Theo đó, người giám hộ có bốn nhóm nghĩa vụsau:

12

Trang 13

Thứ nhất, người giám hộ có nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục người được giám hộ Xuấtphát từ việc người được giám hộ là trẻ chưa thành niên, dưới mười lăm tuổi, vì thế vaitrò của người giám hộ ở đây cũng tương tự như cha mẹ Người giám hộ phải thực hiệnviệc chăm sóc, bảo vệ về sức khở và an toàn cho đứa trẻ Bên cạnh đó phải phối hợpvới nhà trường, cơ sở giáo dục để đảm bảo quyền học tập của đứa trẻ.

Thứ hai, người giám hộ có nghĩa vụ đại diện cho người được giám hộ trong các giaodịch dân sự mà người được giám hộ không thể tự mình xác lập, thực hiện Điều 55 xácđịnh việc đại diện của người giám hộ trong những trường hợp này là nghĩa vụ, khôngphải là quyền Có nghĩa là việc đại diện để tham gia vào các giao dịch dân sự chongười được giám hộ cũng là hành vi đảm bảo quyền lợi về tài sản của người đượcgiám hộ Đặc biệt khi người giám hộ là người quản lý tài sản và người được giám hộtrong hầu hết các giao dịch dân sự không thể tự mình xác lập, thực hiện

Thứ ba, người giám hộ có nghĩa vụ quản lý tài sản của người được giám hộ Nghĩa vụnày của người giám hộ yêu cầu trách nhiệm của người giám hộ đối với việc chiếmhữu, quản lý và đưa tài sản của người được giám hộ vào các giao dịch dân sự, trên tinhthần đảm bảo quyền và lợi ích tốt nhất cho người được giám hộ

Thứ tư, người giám hộ có nghĩa vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người đượcgiám hộ Nghĩa vụ này của người giám hộ có thể coi là sự tổng hợp các nghĩa vụ bêntrên và nhằm đảm bảo mục đích giám hộ

Điều 55 BLDS năm 2015 đã kế thừa nguyên vẹn quy định tại Điều 66 BLDS năm2005

Ví dụ: Bản án 190/2012/DSPT 4

Chị NĐ_Huỳnh Thị Lợi và anh Đặng Đình Tuấn là vợ chồng hợp pháp Anh tuấn là con của ông BĐ_Đặng Hùng và bà BĐ_Lê Thị San Chị và anh Tuấn có 01 con chung

là LQ_Đặng Trần Bảo An, sinh ngày 19/8/2005 Ngày 21/1/2010, anh Tuấn qua đời

do bị ung thư, trước khi qua đời, anh Tuấn có lập Di chúc ngày14/01/2010 để lại căn nhà nêu trên cho con LQ_Đặng Trần Bảo An, giao cho ông BĐ_Đặng Hùngvà anh LQ_Đặng Đình Vũ quản lý di sản thừa kế cho đến khi LQ_Đặng Trần Bảo An đủ 18 tuổi

- Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi

Điều 56 Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi

Điều 56 quy định về nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ từ đủ 15tuổi đến chưa đủ 18 tuổi Theo đó, người giám hộ có ba nhóm nghĩa vụ So với các

4 https://caselaw.vn/tim-kiem-ban-an?alphabet=&tukhoa=gi%C3%A1m+h%E1%BB%99

Ngày đăng: 07/01/2020, 09:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w