Bài tập học kỳ môn Luật hôn nhân và gia đình Đề: Phân tích và đánh giá quyền yêu cầu ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014 1. Khái niệm ly hôn và quyền yêu cầu ly hôn 2. Nội dung quyền yêu cầu ly hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 3. Ý nghĩa của quyền yêu cầu ly hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 4. Đánh giá quyền yêu cầu ly hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014
Trang 1BÀI TẬP HỌC KỲ MÔN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Đề: Phân tích và đánh giá quyền yêu cầu ly hôn
theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 2
1 Khái niệm ly hôn và quyền yêu cầu ly hôn: 2
2 Nội dung quyền yêu cầu ly hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: 4
2.1 Quyền yêu cầu ly hôn của vợ, chồng: 4 2.2 Quyền yêu cầu ly hôn của cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng 5 2.3 Hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng 7
3 Ý nghĩa của quyền yêu cầu ly hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 10
4 Đánh giá quyền yêu cầu ly hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 11 KẾT LUẬN 12
Trang 3MỞ ĐẦU
Gia đình là tế bào của xã hội, quan hệ hôn nhân và gia đình có vai trò đặc biệt quan trọng đối với xã hội và Nhà nước, bởi vậy, Việt Nam luôn quan tâm sát sao, có các chính sách kịp thời nhằm phát huy vai trò của hôn nhân và gia đình, cập nhật, thay đổi Luật hôn nhân và gia đình sao cho bắt kịp với xu thế phát triển của xã hội Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 được ban hành với rất nhiều những thay đổi cần phải chú ý, trong đó có quy định về quyền yêu
cầu ly hôn Vì vậy, em xin lựa chọn đề tài: “Phân tích và đánh giá quyền
yêu cầu ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014” để nghiên cứu kĩ
càng hơn
Trang 4NỘI DUNG
1 Khái niệm ly hôn và quyền yêu cầu ly hôn:
Quan hệ hôn nhân có đặc điểm tồn tại lâu dài, bền vững cho đến suốt cuộc đời con người vì nó được xác lập trên cơ sở tình yêu thương, gắn bó giữa vợ chồng Tuy nhiên, khi có mâu thuẫn sâu sắc nảy sinh, đời sống hôn nhân không thể duy trì, thì vấn đề ly hôn là một giải pháp cần thiết cho các
gia đình và cho cả xã hội Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Ly
hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án” “Nếu như kết hôn là khởi đầu để xác lập nên quan hệ
vợ chồng thì ly hôn có thể được coi là điểm cuối của hôn nhân khi quan hệ này thực sự tan rã” 1 Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng, vì vậy nó
ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi, hạnh phúc của vợ chồng, đến lợi ích của gia đình và xã hội Căn cứ cho ly hôn được quy định tại Điều 56 Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014: “căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia
đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”
Pháp luật nước ta công nhận quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, không cấm hoặc đặt ra những những điều kiện nhằm hạn chế quyền tự do ly hôn, điều này được thể hiện qua những quy định tại Điều 36 Hiến pháp năm
2013, văn bản pháp lý bảo vệ quyền dân sự của cá nhân được quy định tại Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015 và được cụ thể hóa chi tiết trong Luật hôn nhân và gia đình và các văn bản hướng dẫn thi hành Quyền yêu cầu ly hôn được xuất phát từ quyền tự do ly hôn Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:
“Điều 42 Quyền ly hôn: Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà
1 Nguyễn Thị Bích Ngọc (2017), Thực tiễn áp dụng quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn tại Tòa án nhân
dân tỉnh Sơn La, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 5án giải quyết việc ly hôn” Quyền ly hôn khác với quyền yêu cầu ly hôn, nếu
như “quyền ly hôn là quyền tự nhiên có ngay khi vợ chồng kết hôn, là quyền
dân sự tuyệt đối không bị hạn chế, bất kỳ chủ thể nào cũng có quyền ly hôn cho dù có hay không có đủ năng lực hành vi dân sự và được thực hiện bằng chính hành vi của chủ thể có quyền”, thì “quyền yêu cầu ly hôn không phải là quyền tự nhiên mà là quyền vợ chồng được thông qua việc thực hiện quyền ly hôn của mình trước pháp luật (Tòa án) và chỉ có được khi các chủ thể có yêu cầu và thực hiện theo đúng các thủ tục pháp luật quy định” 2
Pháp luật thời kỳ Pháp thuộc quy định “chỉ có vợ, chồng mới có thể người
nọ xin li dị nguời kia hoặc vợ chồng cùng xin li dị nhau” 3 Từ khi nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời (nay là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) cho đến trước khi ban hành Luật hôn nhân và gia đình năm
2014, pháp luật đều chỉ quy định quyền yêu cầu ly hôn thuộc về vợ, chồng4 Tuy nhiên, nếu quy định như vậy, trên thực tế sẽ có rất nhiều khó khăn, bất cập, bởi vậy, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về quyền yêu cầu
ly hôn có một số điểm mới so với các Luật trước đó: “Điều 51 Quyền yêu
cầu giải quyết ly hôn
1 Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
2 Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
3 Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.”
2 Lê Thị Huyền Trang (2017), Quyền yêu cầu ly hôn theo Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Luận văn thạc
sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội
3 Xem Điều 117 Bộ dân luật Bắc Kỳ năm 1931
4 Xem Điều 25, Điều 26 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959; Điều 40 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986; khoản 1 Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
Trang 62 Nội dung quyền yêu cầu ly hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014:
2.1 Quyền yêu cầu ly hôn của vợ, chồng:
Điều 36 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly
hôn… Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ
và trẻ em.” Quy định này cho thấy Nhà nước Việt Nam bảo vệ và bảo đảm
quyền tự do hôn nhân, trong đó quyền được yêu cầu giải quyết ly hôn của vợ chồng Quyền yêu cầu ly hôn của vợ chồng được quy định cụ thể hơn tại
khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “1 Vợ, chồng hoặc cả
hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.”
Người hiểu được rõ ràng nhất về thực chất của một mối quan hệ vợ chồng là hai người tham gia vào mối quan hệ này Bởi vậy, ly hôn nên dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, là kết quả của hành vi có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền ly hôn của mình Khi vợ, chồng hoặc cả hai người nhận thức được tình trạng quan hệ của mình đã không còn đúng với bản chất của quan hệ hôn nhân nữa thì họ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, chấm dứt về mặt
pháp lý mối quan hệ hôn nhân này “Kết hôn và li hôn là quyền nhân thân và
là quyền dân sự cơ bản của con người Pháp luật công nhận cho nam, nữ quyền quyết định việc kết hôn để xác lập quan hệ vợ chồng thì cũng quy định cho vợ, chồng quyền yêu cầu li hôn để chấm dứt quan hệ hôn nhân.” 5 Nếu như hôn nhân phải được xây dựng trên nền tảng tự nguyện, tiến bộ và nam nữ bình đẳng, không ai có quyền buộc hai người phải kết hôn, thì ly hôn cũng vậy, không ai có thể buộc hai người không còn yêu nhau phải tiếp tục làm vợ
chồng, “Người ta không thể là một người dân chủ và xã hội chủ nghĩa nếu
ngay từ bây giờ không đòi quyền hoàn toàn ly hôn, vì thiếu quyền tự do ấy là một sự ức hiếp lớn đối với giới bị áp bức, đối với phụ nữ” 6
5 Ngô Thị Hường (2015), “Quyền yêu cầu li hôn theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014”, Tạp chí Luật
học, (12), tr.40-46
6 Ly hôn – về một sự biếm họa của chủ nghĩa Mác và về chủ nghĩa kinh tế đế quốc, Toàn tập, Tập 30, Nxb
Tiến bộ, Matxcova 1981, tr.163
Trang 72.2 Quyền yêu cầu ly hôn của cha, mẹ, người thân thích khác của
một bên vợ, chồng
Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, quyền nhân thân luôn gắn với mỗi cá
nhân mà không thể chuyển giao cho người khác: “1 Quyền nhân thân được
quy định trong Bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác” (khoản 1 Điều 25 Bộ luật dân sự năm 2015) Do vậy, về nguyên
tắc, quyền yêu cầu ly hôn chỉ thuộc về vợ, chồng Cho đến trước khi Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 ra đời, thì pháp luật nước ta cũng chỉ quy định quyền yêu cầu ly dị thuộc về vợ, chồng
Tuy nhiên, trên thực tế, có một số trường hợp đặc biệt mà nếu chỉ công nhận cho vợ, chồng có quyền yêu cầu ly hôn thì sẽ không thể bảo vệ được quyền lợi chính đáng của họ, ví dụ như trường hợp một bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình mà lại bị ngược đãi, hành hạ… Khi đó, để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bên vợ hoặc bên chồng bị tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, Điều 51 Luật Hôn nhân
và Gia đình 2014 quy định: “2 Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu
cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.”
Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giải thích: “19 Người thân
thích là người có quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời.”, “17 Những người cùng dòng máu về trực hệ là những người có quan hệ huyết thống, trong đó, người này sinh ra người kia kế tiếp nhau.” Như vậy, người thân thích gồm: vợ, chồng;
Trang 8cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha
mẹ, anh, chị em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em
rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột Khi quy định về quyền yêu cầu ly hôn, khoản 2 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã tách cha, mẹ ra khỏi những người thân thích khác, nên có thể hiểu: trong trường hợp này, quyền yêu cầu ly hôn được ưu tiên trao cho cha, mẹ của bên vợ hoặc chồng
Quy định này có nghĩa là thay vì chỉ vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng mới
có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn như trước đây thì cha, mẹ, người thân thích khác cũng có thể yêu cầu giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng
bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của
họ Đây là quy định có tính ngoại lệ về quyền yêu cầu ly hôn
Nhưng điều này không có nghĩa là mọi trường hợp vợ, chồng bị tâm thần hoặc mắc các bệnh khác dẫn đến không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì cha, mẹ, người thân thích cha, mẹ, người thân thích đều có quyền yêu cầu
ly hôn Cha, mẹ, người thân thích khác của một bên vợ, chồng chỉ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết li hôn khi có đủ ba yếu tố: (1) Một bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình; (2) bên vợ hoặc chồng là nạn nhân của bạo lực gia đình do vợ hoặc chồng của họ gây ra; (3) tính mạng, sức khỏe, tinh thần của nạn nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng Không đủ ba yếu tố này thì cha, mẹ, người thân thích khác của vợ, chồng không có quyền yêu cầu ly hôn
Việc đánh giá năng lực chịu trách nhiệm hành vi của người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác khiến họ không thể nhận thức, làm chủ được hành
Trang 9vi của mình phải dựa vào tiêu chuẩn y học và tiêu chuẩn pháp luật Người mắc bệnh phải đáp ứng đủ hai tiêu chuẩn này, còn người khởi kiện phải cung cấp được bằng chứng chứng minh điều này
Vấn đề bạo lực gia đình được quy định cụ thể tại Luật phòng, chống bạo
lực gia đình, trong đó khoản 2 Điều 1 giải thích: “Bạo lực gia đình là hành vi
cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình” Các hành vi
bạo lực gia đình cụ thể cũng được quy định tại Điều 2 của Luật này Trong trường hợp này, người vợ hoặc chồng bị mắc bệnh phải là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng hoặc vợ mình gây ra Phải có bằng chứng, căn cứ để xác nhận được có hành vi bạo lực gia đình (ví dụ như biên bản xử lí hành chính đối với người có hành vi bạo lực,…)
Đồng thời, phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi bạo lực gia đình của một bên vợ, chồng và tình trạng tính mạng, sức khỏe, tinh thần bị ảnh hưởng nghiêm trọng của nạn nhân
Quy định này xuất phát từ tính nhân đạo và phù hợp với thực tế, tháo gỡ cho nhiều trường hợp người vợ hoặc chồng cần phải được ly hôn để có thể đảm bảo lợi ích hợp pháp của mình nhưng không thể vì mất năng lực hành vi dân sự dẫn đến không có năng lực hành vi tố tụng dân sự để xin ly hôn, tuy nhiên, khi áp dụng vào thực tế vẫn còn rất nhiều khó khăn, bất cập
2.3 Hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng
Nước ta đã có sự quan tâm đến vấn đề hạn chế quyền yêu cầu ly hôn từ rất
sớm Xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ bà mẹ và trẻ em, từ tính nhân đạo của pháp luật, luật hôn nhân và gia đình của Nhà nước ta quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng trong một số trường hợp Cả Luật hôn nhân gia đình năm 1959, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật hôn nhân và
Trang 10gia đình năm 2000 và Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đều quy định về vấn đề này Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, Luật hôn nhân và gia đình
năm 1986 quy đỉnh: “Trong trường hợp người vợ có thai, chồng chỉ có thể
xin ly hôn sau khi vợ đã sinh con được một năm” 7 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng khi người vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi.8
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 kế thừa quy định của cả ba luật này
về vấn đề hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng: “3 Chồng không
có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.”
Về nguyên tắc, vợ, chồng, hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn Tuy nhiên, pháp luật lại quy định về hạn chế quyền yêu cầu
ly hôn dành riêng cho nam giới (người chồng), nhằm bảo đảm bình đẳng thực chất cho người phụ nữ khi mà xã hội Việt Nam ta vẫn còn đang tồn tại tình trạng bất bình đẳng nam nữ Đây là một quy định cụ thể hóa nguyên tắc bảo
vệ bà mẹ và trẻ em, bảo vệ phụ nữ và thai nhi Nguyên tắc này “thể hiện sâu
sắc tính nhân văn và tiến bộ trong tư tưởng cũng như bản chất nội dung pháp luật nước ta nói chung và pháp luật về hôn nhân và gia đình nói riêng Quyền lợi của trẻ em và phụ nữ - những người yếu thế - được pháp luật tôn trọng, đề cao và bảo vệ chặt chẽ” 9 Việc quy định trong trường hợp này là phù hợp với
khoản 4 Điều 6 Luật Bình đẳng giới năm 2006: “Chính sách bảo vệ và hỗ trợ
người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới”; và Điều 7: “Bảo vệ, hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ, tạo điều kiện để nam
nữ chia sẻ công việc gia đình”, và do đó, “quy định này không bị coi là phân biệt đối xử về giới, cụ thể là đối với giới nam (người chồng)” 10
7 Xem Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 và Điều 41 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986.
8 Xem Khoản 2 Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000
9 Nguyễn Thị Bích Ngọc (2018), Thực tiễn áp dụng quy định hạn chế quyền yêu cầu ly hôn tại Tòa án nhân
dân tỉnh Sơn La, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội
10 Hoàng Thị Hải Yến (2016), “Một số ý kiến về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng theo Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2014”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (292): tr 25-27