1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ CƯƠNG môn luật HNGĐ

14 152 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 37,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1. Hãy phân tích các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật HNGĐ năm 2014? Câu 2. Nêu khái niệm kết hôn trái pháp luật, các trường hợp kết hôn trái pháp luật và cách thức xử lí. Câu 3. Hãy trình bày quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng đối với tài sản chung Câu 4. Hãy trình bày quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng đối với tài sản riêng Câu 5. Ai có quyền yêu cầu ly hôn? Ai có thẩm quyền giải quyết ly hôn Câu 6. Hãy trình bày và nêu hậu quả pháp lý của việc ly hôn

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG MÔN

LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Câu 1 Hãy phân tích các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật HNGĐ năm 2014?

Kết hôn là việc hai bên nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của luật HNGĐ về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn Điều kiện kết hôn là một trong những nội dung quan trọng của LHNGĐ Điều kiện kết hôn là chuẩn mực pháp

lý để xác lập quan hệ hôn nhân và xây dựng gia đình theo khuôn mẫu nhất định phù hợp với lợi ích chung của nhà nước và xã hội Các điều kiện kết hôn đã đi vào cuộc sống và trở thành thói quen tốt đẹp của cuộc sống hôn nhân và gia đình ở nước ta Điều kiện kết hôn được quy định theo điều 8 luật HNGĐ năm 2014:

1 Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:

a, Nam từ ‘đủ 20t, nữ từ đủ 18t trở lên”

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “ Nam từ đủ 20t trở lên, nữ từ đủ 18t trở lên” mới được phép đăng kí kết hôn Trong xã hội tiến

bộ như ngày này, Luật quy định độ tuổi kết hôn nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện về mọi mặt của người nam và nữ Đủ chính chắn, trách nhiệm để làm cha mẹ, con cái được sinh ra phải đủ tình thương của một gia đình, phải được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và phát triển 1 cách bình thường Đồng thời việc quy định về độ tuổi này là để đảm bảo sức khỏe cộng đồng Một số nghiên cứu chỉ ra rằng: Các bà mẹ sinh con trước tuổi 18 thường hay gặp các vấn đề về sức khỏe

Việc quy định độ tuổi kết hôn có sự chênh lệnh giữa nam và nữ cũng là điều thường thấy trong pháp luật Hôn nhân và Gia đình của các quốc gia Hơn nữa, chúng ta đều phải công nhận một thực tế rằng trong hầu hết các gia đình Việt Nam thì người đàn ông thường đóng vai trò trụ cột Để làm được như vậy đòi hỏi người nam khi kết hôn phải đạt đến một mức độ phát triển nhất định về thể chất và nhận thức

Việc tính tuổi tròn như Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (nam từ đủ 20, nữ từ

đủ 18) sẽ tránh vận dụng tùy tiện các quy định về độ tuổi kết hôn Trước đây, chỉ cần bước sang tuổi 18 đối với nữ và 20 tuổi đối với nam là được phép kết hôn Điều đó dễ dàng tạo ra những khe hở nhất định để các bên kết hôn vi phạm điều kiện về độ tuổi, tránh các trường hợp tảo hôn

b, việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định

Quy định này nhằm đề cao tính độc lập về suy nghĩ và sự tự nguyện, chủ động quyết định dựa trên tình cảm, tình yêu của mỗi bên nam, nữ khi kết hôn Đây cũng là đặc điểm quan trọng của chế độ hôn nhân tiến bộ, khác với chế độ hôn nhân cổ hủ thời phong kiến với quan niệm “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”,

ép buộc một bên hoặc cả 02 bên nam nữ phải kết hôn trái với ý chí, nguyện vọng, tình cảm của mình Đồng thể hiện sự bình đẳng giới trong vấn đề hôn nhân, con gái không còn bị yếu thế, không còn hình ảnh các cô gái trong tình tình trạng gọi là “ bắt vợ” Tạo nên một cuộc sống hôn nhân tiến bộ, gia đình hạnh phúc, vợ chồng cùng đồng thuận, tự do thể hiện ý chí của bản thân Hôn nhân 1 vợ 1 chồng

Trang 2

Để đảm bảo việc kết hôn hoàn toàn tự nguyện thì pháp luật cũng có một

số quy định như sau chấm:

+ Thứ nhất, Những người muốn kết hôn phải cùng có mặt tại cơ quan đăng ký kết hôn nộp tờ khai đăng ký kết hôn và kí đủ 3 chữ kí

+ Thứ hai, pháp luật không cho phép cử người đại diện trong việc đăng

ký kết hôn đồng thời cũng không cho phép những người kết hôn vắng mặt tại lễ đăng ký kết hôn

+ Thứ ba, pháp luật quy định việc kết hôn phải không có hành vi cưỡng

ép kết hôn, lừa dối để kết hôn hoặc cản trở việc kết hôn tự nguyện, tiến bộ

c, Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

Người bị mất năng lực hành vi dân sự là người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, TA ra quyết định tuyên bố người này là người người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám đinh pháp y tâm thần

Nếu người bị mất năng lực hành vi dân sự kết hôn với người khác sẽ không đạt được mục tiêu xây dựng được gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; sẽ ảnh hưởng đến khả năng quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ người bạn đời của mình cũng như các thành viên khác trong gia đình Chưa kể người bị mất năng lực hành vi dân

sự kết hôn với người khác có thể ảnh hưởng đến chức năng sinh sản Sở dĩ pháp luật quy định người mất năng lực hành vi dân sự thì không được phép kết hôn xuất phát từ tính nhân đạo để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng, của con cái và của các thành viên khác trong gia đình bởi vì sau khi kết hôn thì

họ phải thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của một người vợ, người chồng đối với người còn lại và trách nhiệm, nghĩa vụ của người cha, người mẹ đối với các con của mình.Mặt khác nếu một người mất năng lực hành vi dân sự mà kết hôn thì việc kết hôn của họ không thể nào mà xác định được là họ có tự nguyện kết hôn hay không bởi vì họ không có khả năng nhận thức, không có khả năng làm chủ hành vi của mình thì sự thể hiện mong muốn tự nguyện kết hôn của họ cũng là bất khả thi Chính vì thế mà người mất năng lực hành vi dân sự không thể kết hôn

d, việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.

Theo đó, Cấm các hành vi sau đây kết hôn:

a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;

b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;

c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;

d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;

Mọi

Trang 3

2

Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính

“Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” Quy định như vậy có nghĩa là Nhà nước sẽ không cấm nhưng cũng

không công nhận mối quan hệ hôn nhân của những người cùng giới tính là hợp pháp, không chấp nhận cho họ làm thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Những người cùng giới có thể làm lễ cưới, thực hiện các nghi thức kết hôn như những cặp đôi nam nữ bình thường khác tuy nhiên pháp luật lại không công nhận mối quan hệ của họ là hôn nhân hợp pháp, việc họ ăn

ở chung với nhau không làm phát sinh quyền, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm như vợ chồng hợp pháp có đăng ký kết hôn Việc nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người đồng giới xuất phát từ chức năng duy trì nòi giống của Hôn Nhân và xuất phát từ việc nếu công nhận hôn nhân đồng giới cũng có nghĩa nhà nước đã trao quyền cho họ, việc đó buộc nhà nước phải có những chính sách để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, cũng như có những sự điều chỉnh trong những quy định của pháp luật nước mình cho phù hợp với việc công nhận và việc này sẽ gây ra một sự xáo trộn rất lớn Chính vì các lý do trên

mà nước ta không cấm cũng như không công nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính

Từ những phân tích trên về điều kiện kết hôn chúng ta có thể thấy được rằng Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có sự điều chỉnh và hoàn thiện các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn cho phù hợp với thực tiễn nước ta hiện nay Như vậy để việc kết hôn trong thời điểm này không trái với các quy định của pháp luật thì hai bên khi đăng ký kết hôn phải đảm bảo được đầy đủ các điều kiện kết hôn được quy định trong luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Câu 2 Nêu khái niệm kết hôn trái pháp luật, các trường hợp kết hôn trái pháp luật và cách thức xử lí

Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật HNGĐ về điều kiện kết hôn và đăng kí kết hôn Kết hôn trái pháp luật là hình thức kết hôn không được pháp luật thừa nhận mặc dù trong chừng mực nào đó hành vi kết hôn này có tuân thủ PL Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng

ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 của Luật HNGĐ năm 2014

Những trường hợp bị coi là kết hôn trái pháp luật:

Thứ nhất, vi phạm về độ tuổi khi kết hôn( tảo hôn) Tảo hôn là khi lấy vợ, lấy

chồng mà một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật này, cụ thể: Nữ kết hôn khi chưa đủ 18 tuổi Nam kết hôn khi chưa đủ 20 tuổi

Thứ hai, Tính tự nguyện kết hôn Việc kết hôn giữa nam và nữ không dựa trên tinh

thần tự nguyện mà do Cưỡng ép kết hôn Cưỡng ép kết hôn ở đây được hiểu là việc

đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác

để buộc người khác phải kết hôn trái với ý muốn của họ

Trang 4

Thứ ba, Kết hôn khi bị mất năng lực hành vi dân sự: Theo quy định tại điều 22, bộ

luật Dân sự 2015, một người bị coi là mất năng lực hành vi dân sự khi người đó do

bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành

vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần Nếu một trong hai người tham gia kết hôn mà mất năng lực hành vi dân sự thì không được kết hôn

Thứ tư, Vi phạm chế độ một vợ một chồng:

Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ thì vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng theo quy định pháp luật

Thứ năm, Kết hôn giả tạo: Theo khoản 11 điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm

2015, Kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc

để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình Những trường hợp trên không chỉ coi là kết hôn trái pháp luật, còn liên đới đến các nghĩa

vụ pháp lý liên quan khác mà luật cư trú, luật quốc tịch mà Việt Nam điều chỉnh Thứ sáu, Lừa dối kết hôn: Hành động được coi là lừa dối kết hôn bào gồm việc che

giấu thân phận thật và những thông tin hôn thú cá nhân của mình

Thứ bảy, Kết hôn cận huyết: Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những

người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng

Qua trên , ta thấy được kết hôn trái pháp luật là việc kết hôn có đăng kí kết hôn tại CQNN có thẩm quyền nhưng tại thời điểm kết hôn một hoặc cả hai bên tham gia việc kết hôn vi phạm các điều kiện kết hôn do Luật định Nói cách khác, việc kết hôn này được cơ quan hộ tịch cấp giấy chứng nhận kết hôn nhưng việc kết hôn

đó không làm phát sinh quan hệ vợ chồng giữa nam và nữ do có vi phạm điều kiện luật định Việc kết hôn trái pháp luật sẽ không tạo dựng một gia đình hạnh phúc, tiến bộ, sẽ phát sinh những hệ quả xấu về sau Chính vì thế mà việc kết hôn trái pháp luật sẽ bị xử lý theo quy định của PL và không được nhà nước bảo hộ như việc kết hôn hợp pháp Xử lý việc kết hôn trái pháp luật quy định ở điều 11 Luật HNGĐ 2014

Người có hành vi vi phạm tùy theo tính chất và mức độ có thể bị xử lý theo dân

sự, hành chính hoặc xử lý hình sự

Về mặt dân sự, nếu việc kết hôn vi phạm các điều kiện kết hôn theo quy định sẽ

bị nhà nước hủy việc kết hôn đó Hủy việc kết hôn trái PL là chế tài nhằm xử lý những hành vi vi phạm pháp luật hôn nhân và gia đình

Việc xử lý hành chính sẽ theo Nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24/09/2013 (có

hiệu lực từ 11/11/2013) Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, Tùy hành vi vi phạm mà mức phạt tiền thấp nhất là 300.000 đồng và cao nhất là 30.000.000 đồng (Điều 28 và Điều 48) Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình chủ yếu nhằm mục đích giáo dục để cá nhân, tổ chức vi phạm nhận thức được sai phạm, tự nguyện

Trang 5

sửa chữa, thực hiện nghĩa vụ mà PL quy định hoặc chấm dứt hành vi VPPL và để răn

de, phòng ngừa

Nếu hành vi kết hôn trái pháp luật có đủ yếu tố cấu thành tội phạm sẽ bị xử lý hình sự theo các tội danh tương ứng của Bộ luật hình sự 2015 Tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản

trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 146 BLHS) sẽ bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 147 BLHS) Nếu thuộc khoản 1 bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm; thuộc khoản 2 bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm Tội tổ chức tảo hôn, tội tảo hôn (Điều 148 BLHS) sẽ bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm Tội đăng ký kết hôn trái pháp luật (Điều 149 BLHS) sẽ bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức

vụ nhất định từ 1 năm đến 5 năm

Kết hôn trái PL là một hành vi trái với quy định của PL và đạo đức xã hội Chính vì thế để tạo một gia đình hạnh phúc và phát triển toàn diện, cần nghiêm cấm các hành vi kết hôn trái PL

Câu 3 Hãy trình bày quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng đối với tài sản chung Theo quy định của pháp luật Việt Nam, quan hệ vợ chồng là quan hệ hôn nhân được hình thành và tồn tại từ sự kiện kết hôn cho đến khi chấm dứt hôn nhân Để hôn nhân ổn định, lâu dài, bền vũng và hạnh phúc thì vấn đề vô cùng quan trọng đó là đời sống vật chất ,kinh tế và tài sản của vợ và chồng Thời kì hôn nhân có ý nghĩa trong việc xác định thời điểm phát sinh tài sản chung Vợ và chồng có những quyền và nghĩa

vụ cơ bản đối với tài sản chung trong thời kì hôn nhân

Theo luật HNGĐ 2014, tại điều 33 quy định khá cụ thể về quyền sở hữu tài sản chung của của vợ chồng, được phân thành các nhóm cụ thể

Tài sản chung là tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kì hôn nhân, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh trong thời kì hôn nhân Đay là nhóm tài sản

chủ yếu của vợ chồng, để duy trì, phát triển tài sản chung, chăm lo cho cuộc sống gia đình thì phần lớn phải dựa vào loại tài sản này Tài sản chung của vợ chồng có thể được tạo ra từ ba nguồn: do vợ tạo ra, do chồng tạo ra, do cả hai cùng tạo ra Thế nhưng pháp luật vẫn quy định quyền bình đẳng giữa vợ và chồng với khối tài sản chung trong thời kì hôn nhân

Các khoản thu nhập hợp pháp khác của vợ, chồng trong thời kì hôn nhân Ở đây

có thể hiểu là những khoản thu nhập không thuộc nhóm tài sản thứ nhất Đó có thể là

số tiền do vợ, chồng: trúng số, tiền thưởng, tiền trợ cấp,… Các khoản thu hợp pháp này có thể do một mình chồng hoặc vợ có dược và thời điểm có đượ c này là trong thời gian họ đang là vợ chồng với nhau

TS chung là tài sản mà vợ, chồng được thừa kế chung, được tặng cho chung Đây

là tài sản mà vợ chồng được chủ sở hữu thể hiện ý chí chuyển giao quyền sở hữu lại cho cả hai vợ chồng Tôn trọng quyền định đoạt của chủ sở hữu tài sản, PL xác định những tài sản này là của chung của hai vợ chồng

Trang 6

TS riêng của vợ, chồng nhưng họ đồng ý nhập vào khối TS chung Quy định này

thể hiện rõ quyền tự định đoạt của vợ, chồng đối với tài sran thuộc sở hữu của mình, vừa thể hiện quyền của vợ chồng trong việc quyết định về phạm vi các tài sản thuộc sở hữu chung, đồng thời thể hiện rõ quan điểm của nhà nước ta: ưu tiên và khuyến khích xây dưng, củng cố chế độ tài sản chung của vợ chồng, đảm bảo để vợ chồng có những điều kiện vật chất tốt nhất trong việc xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc

TS chung của vợ và chồng được dùng để đảm bảo nhu cầu thiết yếu của gia đình,

để thực hiện các nhiệm vụ chung của vợ và chồng Mục đích sử dụng tài sản chung của

vợ chồng, trước hết nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt trong gia đình như để ăn, ở, mua sắm đồ dùng sinh hoạt,… phục vụ cho đời sống các thành viên trong gia đình về vật chất và tinh thần, đồng thời dùng để thực hiện các nghĩa vụ về tài sản của cả hai vợ chồng Theo quy định này, về nguyên tắc vợ chồng không được lấy tài sản chung để thỏa mãn các nhu cầu riêng, các bên chỉ có thể thực hiện điều này khi có sự thỏa thuận của cả hai vợ chồng

Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung Đây là

quy định có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn giải quyết tranh chấp về tài sản giữa vợ và chồng Quy định này là cơ sở pháp lý bảo vệ quyền tài sản của vợ chồng, họ phải cân nhắc chính chắn, chuẩn bị kĩ lưỡng nếu xác định chứng cứ, lý lẽ mình đưa ra thuyết phục cho yêu cầu của mình, mới quyết định khởi kiện Như vậy sẽ tránh được kiện tụng kéo dài, mất thời gian, tiền bạc của các bên

Không những vậy vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với TS chung( cùng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt TS chung, bình đẳng với nhau không phân biệt giữa lao động trong gia đình hay lao động có thu nhập Việc xác lập, thực hiện

các giao dịch dân sự liên quan đến TS chung của vợ, chồng cần phải được sự đồng ý của cả vợ và chồng.Tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh của mỗi gia đình mà có sự bàn bạc, thỏa thuận, phân công giữa vợ và chồng trong việc quản lý tài sản chung Việc quản lý tài sản chung của vợ chồng đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, tự nguyện, tiến bộ

Vợ, chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với các giao dịch do một bên thực hiện Về nguyên tắc, khi vợ hoặc chồng thực hiện một giao dịch liên quan đến tài sản

chung, phải có sự đồng ý của hai vợ chồng Tuy nhiên để đáp ứng một cách kịp thời quyền lợi cho các thành viên trong gia đình, trong một số trường hợp, giao dịch của

vợ, chồng liên quan đến tài sản chung có thể chỉ do một bên thực hiện, phía bên kia cho dù không biết hoặc biết nhưng không đồng ý vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm Đối với các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn, tài sản chung là nguồn sống duy nhất của đình hoặc dùng tài sản chung để kinh doanh phải có

sự bàn bạc, thỏa thuận của hai vợ chồng

Theo quy định tại điều 37 luật HNGĐ 2014 quy định nghĩa vụ của của vợ chồng

đối với tài sản Ngoài ra vợ chồng còn có quyền trong việc yêu cầu phân chia tài sản

Trang 7

chung trong thời kì hôn nhân quy định tại Điều 38 Luật Hôn nhân và Gia đình năm

2014 Tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung nhất có thể phân chia,

do đó, trong thời kì hôn nhân, vợ, chồng có quyền yêu cầu phân chia tài sản chung của mình Tuy nhiên, quyền yêu cầu chia tài sản chung của các bên chỉ được PL thừa nhận nếu họ chứng minh được việc phân chia này là có căn cứ, cụ thể là để đầu tư kinh doanh riêng; thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác Vợ chồng

có quyền tự thỏa thuận với nhau trong việc phân chia tài sản chung Trong trường hợp không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu TA phân chia Vợ chồng có thể yêu cầu phân chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung

Vợ chồng có quyền lựa chọn chế độ tài sản Dù áp dụng chế độ tài sản nào đi nữa thì cũng phải tuân thủ những nguyên tắc chung đó là: đảm bảo quyền bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng tài sản Đảm bảo được lợi ích chung của gia đình Và cuối cùng là đảm bảo quyền lợi của người thứ

ba ngay tình Tất cả đều hướng đến mục đích xây dựng một gia đình bình đẳng, đầy

đủ, hạnh phúc, tiến bộ Và vợ chồng đều có những quyền và nghĩa vụ cơ bản về tài sản chung trong thời kì hôn nhân

Câu 4 Hãy trình bày quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng đối với tài sản riêng

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, quan hệ vợ chồng là quan hệ hôn nhân được hình thành và tồn tại từ sự kiện kết hôn cho đến khi chấm dứt hôn nhân Để hôn nhân ổn định, lâu dài, bền vũng và hạnh phúc thì vấn đề vô cùng quan trọng đó là đời sống vật chất, kinh tế và tài sản của vợ và chồng Thời kì hôn nhân có ý nghĩa trong việc xác định thời điểm phát sinh tài sản Vợ và chồng ngoài có những quyền và nghĩa

vụ cơ bản đối với tài sản chung trong thời kì hôn nhân Thì còn có những quy định về tài sản riêng

Điều 43 Luật HNGĐ 2014 quy định tài sản riêng của vợ chồng Theo đó được hiểu tài sản riêng của vợ, chồng có trước khi kết hôn Tài sản mà vợ, chồng được thừa

kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kì hôn nhân Tài sản chung của vợ và chồng nhưng họ đã chia riêng Tài sản phục vụ cho nhu cầu thiết của vợ, chồng (đồ dùng cá nhân và tư trang) Vợ chồng được toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt TS của mình ( phù hợp với quy định của PL) Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng Hoa lợi lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kì hôn nhân

Với việc thừa nhận quyền có tài sản riêng của vợ, chồng Luật HNGĐ còn quy định vợ ( chồng) có quyền được sáp nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung theo quy định của PL hiện hành hoặc không sáp nhập Việc sáp nhập được thực hiện theo thỏa thuận của vợ, chồng, khi nhập vào tài sản chung thì tất cả những nghĩa

vụ phát sinh sau này sẽ được thực hiện theo quy định của luật về tài sản chung

Theo điều 44 Luật HNGĐ quy định chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng

Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, định đoạt, sử dụng tài sản riêng theo ý chí của mình miễn là không làm thiệt hại hoặc ảnh hưởng đến lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Tuy nhiên, xuất phát từ lợi ích chung của gia đình, do đó trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng các nhu cầu

Trang 8

chung trong gia đình thì vợ, chồng phải dùng tài sản riêng của mình để đáp ứng các nhu cầu đó Việc sáp nhập tài sản riêng vào tài sản chung nhằm mục đích lo cho nhu cầu sinh hoạt của gia đình Đối với các tài sản mà vợ, chồng đã chi dùng cho gia đình

và không còn nữa, vợ, chồng không có quyền đòi lại

Tài sản riêng của các bên vợ, chồng do họ tự quản lý; trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý, PL dành cho người chồng hoặc người vợ của họ có quyền quản lý Xuất phát từ việc đảm bảo quyền định đoạt của vợ, chồng đối với tài sản riêng, đồng thời đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các thành viên trong gia đình, LHNGĐ yêu cầu vợ, chồng nếu đưa tài sản riêng vào sử dụng chung trong gia đình, mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải có

sự thỏa thuận của 2 vợ chồng Sự thỏa thuận trong trường hợp này phải được thể hiện bằng văn bản và có chữ kí của hai vợ chồng, văn bản đồng ý này phải được công chứng, chứng thực theo quy định của PL Qua đó, ta thấy được vợ và chồng có những nghĩa vụ riêng về tài sản, được qui định tại điều 45 Luật HNGĐ 2014

Tất cả những điều trên cho thấy vợ chồng trong thời kì hôn nhân vẫn có thể có tài sản riêng và PL tôn trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng về tài sản riêng của mình Vợ chồng có quyền lựa chọn chế độ tài sản Dù áp dụng chế độ tài sản nào đi nữa thì cũng phải tuân thủ những nguyên tắc chung đó là: đảm bảo quyền bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng tài sản Đảm bảo được lợi ích chung của gia đình Và cuối cùng là đảm bảo quyền lợi của người thứ

ba ngay tình

Câu 5 Ai có quyền yêu cầu ly hôn? Ai có thẩm quyền giải quyết ly hôn

Trong cuộc sống hôn nhân không phải ai cũng may mắn có được một gia đình hạnh phúc trọn vẹn Có những gia đình khi hôn nhân đã không còn hạnh phúc, cuộc sống vợ chồng không còn cơm ngon canh ngọt thì họ thường chọn hướng giải quyết duy nhất đó là ly hôn Theo Điều 3 Luật HN & GĐ năm 2014 quy định: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án”

Theo Điều 51 Luật HN & GĐ quy định người có quyền yêu cầu ly hôn:

1 Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2 Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi 1

bên vợ, chồng do bị tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3 Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có có thai,

sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng

Từ đó ta thấy các trường hợp về quyền yêu cầu ly hôn như sau:

Thuận tình ly hôn, được quy định tại Điều 55 Luật này Thuận tình ly hôn là trường

hợp vợ chồng cùng yêu cầu TA giải quyết ly hôn Như vậy, chỉ khi nào có đơn của cả

Trang 9

hai vợ chồng xin ly hôn thì tòa án mới có cơ sở để thụ lý xem xét vụ việc dưới góc độ

là trường hợp thuận tình ly hôn Thuận tình ly hôn không được đặt ra trong trường hợp: một bên xin ly hôn và sau đó bên kia (vợ hoặc chồng) mới chấp thuận tại phiên tòa

Thẩm quyền giải quyết các vụ việc của TA trong lĩnh vực các quan hệ HNGĐ, theo quy định của Bộ luật TTDS được chia ra hai trường hợp: Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình( hay còn gọi là vụ án dân sự); những yêu cầu về hôn nhân và gia đình ( hay còn gọi là việc dân sự) Khi giải quyết việc công nhận thuận tình ly hôn, TA không phải tiến hành thủ tục hòa giải TA chỉ ra quyết định công nhận ly hôn khi có các điều kiện sau:

Thứ nhất: hai bên vợ chồng thật sự tự nguyện ly hôn

Thứ hai: hai bên đã thỏa thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài sản; việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con

Thứ ba: sự thỏa thuận của các bên về tài sản và con trong TH cụ thể này là bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của vợ và con

Ly hôn theo yêu cầu của một bên Ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng là

trường hợp chỉ có vợ hoặc chồng có đơn xin ly hôn Nói cách khác là việc ly hôn xuất phát từ một bên Nguyên nhân dân đến tình trạng ly hôn theo yêu cầu của một bên được quy định rõ tại điều 56 luật này

- Khi một người mong muốn được ly hôn và có căn cứ về việc vợ, chồng của mình có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa

vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, mà hòa giải tại Tòa án cũng không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn

- Khi người có vợ, chồng bị Tòa án tuyên bố mất tích muốn yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn

 Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn từ cha mẹ hay người thân thích của người bị mất năng lực hành vi dân sự, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của ng kia

Ly hôn theo yêu cầu của một bên theo quy định của BLTTDS là một vụ án dân sự: bên nộp đơn xin ly hôn là nguyên đơn, bên còn lại là bị đơn Sau khi tòa án tiến hành thủ tục hòa giải thì có thể xuất hiện hai trường hợp:

Một là hòa giải thành công: khi các bên đương sự thỏa thuận được với nhau các vấn

đề giải quyết trong vụ án thì thẩm phán hoặc thư kí tòa lập biên bản hòa giải thành, biên bản sẽ gửi đến các đương sự tham gia hòa giải Hết hạn 7 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thảo thuận đó

Trang 10

thì thẩm phán chủ trì phiên hòa giải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

Hai là hòa giải không thành Khi hòa giải không thành TA phải xét xử vụ án ly hôn.

Trong quá tình xét xử, TA phải làm rõ thực chất quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng Chỉ khi xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống không để kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì TA mới xử cho ly hôn

Như vậy, trong TH ly hôn theo yêu cầu của một bên vợ hoặc chồng, khi giải quyết TA phải căn cứ vào căn cứ ly hôn được PL quy định để giải quyết cho họ ly hôn hoặc bác đơn ly hôn của họ

Ly hôn với người bị TA tuyên bố mất tích là TH ly hôn theo yêu cầu của một bên, tuy

nhiên trình tự, thủ tục giải quyết ly hôn với người bị TA tuyên bố mất tích không giống với TH ly hôn theo yêu cầu của một bên trong trường hợp cả hai cùng có mặt tại nơi

cư trú Đối với trường hợp này không cần tiến hành thủ tục hòa giải theo thủ tục tố tục Khi người vợ ( chồng) của người bị TA tuyên bố mất tích xin ly hôn thì quyết định tuyên bố người vợ ( chồng) mất tích của TA là bằng chứng pháp lý, là căn cứ để tòa án

ra quyết định ly hôn mà không cần xem xét đến căn cứ ly hôn khác được PL quy định

Ngoài ra còn có một số trường hợp hạn chế ly hôn:

Khoản 3 Điều 51 Luật này quy định đối với trường hợp vợ đang mang thai,

sinh con, đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn Quy định này nhằm bảo về quyền lợi của người mẹ và con sơ sinh, cũng là trách

nhiệm của người chồng trong hôn nhân Trường hợp hạn chế quyền yêu cầu ly hôn trên chỉ áp dụng đối với trường hợp xin ly hôn của người chồng, mà không áp dụng đối với TH ly hôn của người vợ Người vợ vẫn còn quyền yêu cầu ly hôn khi họ đang mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi Tuy vậy nhưng điều kiện hạn chế vẫn giữ nguyên đối với người chồng

Đối với yêu cầu ly hôn có yếu tố nước ngoài, cũng được pháp luật quy định, theo

Điều 127, thì việc giải quyết ly hôn tùy vào từng trường hợp để giải quyết như áp dụng

luật của Việt Nam hay theo luật của nơi họ thường trú Nhưng trên vẫn đảm bảo được quyền yêu cầu ly hôn của mỗi người như:

+ Người Việt Nam ở trong nước xin ly hôn đối với người Việt Nam đã ra nước ngoài

+ Người Việt Nam ở nước ngoài kết hôn với người nước ngoài, nay người Việt Nam về nước và người nước ngoài xin ly hôn

+ Người Việt Nam xin ly hôn với người nước ngoài đang cư trú ở nước ngoài

Kết Luận: Quy định của pháp luật rất rộng đối với quyền yêu cầu ly hôn của mỗi

người, trên cơ sở tôn trọng những mong muốn, mục đích chính đáng của mỗi chủ thể đối với cuộc sống hôn nhân Theo pháp luật Việt Nam, Tòa án là cơ quan duy

Ngày đăng: 05/01/2020, 02:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w