Trong dạy học ngọai ngữ, quan điểm này càng đúng vì không ai có thể thaythế ngời học trong việc nắm các phơng tiện ngoại ngữ và sử dụng chúngtrong hoạt động giao tiếp bằng chính năng lực
Trang 1Một số vấn đề Đổi mới phơng pháp dạy học
môn tiếng anh trung học cơ sở _
Phần I đề cơng tập huấn
Chủ đề 1: Định hớng đổi mới PPDH môn tiếng Anh THCS
1 Quan điểm đổi mới PPDH
2 Bản chất của tích cực hoá hoạt động học tập của HS trong dạy học ngoại ngữ
3 Những căn cứ của đổi mới PPDH
4 Giải pháp đổi mới PPDH tiếng Anh THCS
5 Vận dụng một số PPDH theo định hớng đổi mới và sử dụng TBDH
Chủ đề 2: Kĩ thuật mở bài; Giới thiệu ngữ liệu mới; Luyện tập Ngữ pháp
2 Ví dụ minh hoạ (Tiết dạy Nói, Unit 1, lớp 8)
Chủ đề 4: Luyện kĩ năng Nghe hiểu
1 Ba bớc luyện Nghe hiểu
2 Xem băng và thảo luận (Tiết dạy Nghe hiểu, Unit 2, lớp 9)
Trang 2Phụ lục 1: Vận dụng một số PPDH và sử dụng TBDH
Phụ lục 2: Giáo án minh hoạ: Giới thiệu ngữ liệu mới (Unit 8, lớp 6)
Phụ lục 3: Giáo án minh hoạ: Luyện Ngữ pháp (Unit 4, lớp 9)
Phụ lục 4: Giáo án minh hoạ: Luyện kĩ năng Nói (Unit 1, lớp 8)
Phụ lục 5: Giáo án minh hoạ: Luyện kĩ năng viết (Unit 4, lớp 9)
Phụ lục 6: Cõu hỏi thảo luận về băng hỡnh tiết dạy minh họa
Phần ii Nội dung tập huấn
Chủ đề 1: Định hớng đổi mới PPDH môn tiếng anh THCS
1 Quan điểm đổi mới PPDH
Mục tiêu giáo dục hiện nay đang tập trung hớng vào việc phát triển tính năng
động, sáng tạo và tích cực của học sinh nhằm tạo khả năng nhận biết và giảiquyết vấn đề cho các em Để đạt đợc mục tiêu này việc thay đổi PPDH theohớng coi trọng ngời học, coi học sinh là chủ thể hoạt động, khuyến khích cáchoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của các em trong quá trìnhdạy học là rất cần thiết
Trong dạy học ngọai ngữ, quan điểm này càng đúng vì không ai có thể thaythế ngời học trong việc nắm các phơng tiện ngoại ngữ và sử dụng chúngtrong hoạt động giao tiếp bằng chính năng lực giao tiếp của các em PPDHngoại ngữ chọn giao tiếp là phơng hớng chủ đạo, năng lực giao tiếp(communicative competences) là đơn vị dạy học cơ bản, coi giao tiếp vừa làmục đích vừa là phơng tiện dạy học (dạy học trong giao tiếp, bằng giao tiếp
Trang 3và để giao tiếp) PPDH này sẽ phát huy tốt nhất vai trò chủ thể, chủ động,tích cực của học sinh trong việc rèn luyện kĩ năng ngôn ngữ vì những mục
đích thực tiễn và sáng tạo Học sinh cần phải đợc trang bị cách thức họctiếng Anh và ý thức tự học tập, rèn luyện Ngời học là chủ thể, nếu khôngbiết cách tự học thì sẽ không thể nắm vững tiếng nớc ngoài
Đổi mới PPDH là quá trình chuyển từ thày thuyết trình, phân tích ngôn ngữ trò nghe và ghi chép thành PPDH mới, trong đó thày là ngời tổ chức, giúp đỡ hoạt động học tập của học sinh, còn học sinh là ngời chủ động tham gia vào quá trình hoạt động học tập.
-Tiêu chí cơ bản của PPDH mới là hoạt động tự lập, tích cực, chủ động củahọc sinh trong việc giải quyết các nhiệm vụ giao tiếp bằng ngoại ngữ Tiêuchí chủ yếu để đánh giá kết quả học tập của học sinh là năng lực giao tiếp,năng lực ứng xử bằng ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp cụ thể
2 Bản chất của tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong dạy học ngoại ngữ
Những biểu hiện tích cực đặc trng của học sinh trong hoạt động học tập bộmôn ngoại ngữ đợc thể hiện ở những mặt chủ yếu sau:
Học sinh có nhu cầu tiếp thu kiến thức, kĩ năng, vận dụng kĩ năng để giaotiếp, hứng thú làm việc với các tài liệu học tập
Từ chỗ có nhu cầu tiếp thu kiến thức, rèn luyện và vận dụng kĩ năng tronggiao tiếp, học sinh sẽ tự giác học tập, chủ động huy động vốn kinhnghiệm đã tích luỹ (vốn từ, quy tắc ngữ pháp, …) để bắt ch) để bắt chớc, tái hiện,tìm tòi cách ứng xử và ứng xử sáng tạo trong các tình huống giao tiếp
Học sinh chủ động lựa chọn kiến thức và thao tác t duy thích hợp để cónhững ứng xử ngôn ngữ cần thiết, phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp
Học sinh biết bộc lộ nhận thức và sự hiểu biết của mình ra bên ngoài bằnglời nói, bài viết thông qua ngoại ngữ
Học sinh biết cách làm việc theo cặp, theo nhóm, hợp tác với bạn khi cầnthiết trong quá trình luyện tập ngôn ngữ theo yêu cầu và nhiệm vụ củathày giao
Học sinh biết cách tự học, biết chủ động trình bày những ý định của mìnhthông qua giao tiếp nói hoặc viết
Trang 4Trên đây là một số nét biểu hiện chính của PPDH mới Đây cũng chính lànhững năng lực và phẩm chất mà ngời giáo viên cần phải hình thành và pháttriển ở học sinh trong quá trình học tập ngoại ngữ
3 Những căn cứ của đổi mới PPDH ngoại ngữ
Đổi mới PPDH cần phải căn cứ vào đặc điểm của mụn ngoại ngữ và đặcđiểm tõm sinh lý của học sinh:
3.1 Căn cứ vào đặc điểm của môn ngoại ngữ nói chung:
- Quan điểm giao tiếp là quan điểm đặc thù của môn ngoại ngữ trong nhàtrờng Quan điểm giao tiếp quy định “tính giao tiếp” của hoạt động dạyhọc ngoại ngữ
- Môn ngoại ngữ đòi hỏi nhận thức và giải quyết hợp lý mối quan hệ giữakiến thức ngôn ngữ và kĩ năng ngôn ngữ – hai thành tố chủ yếu của nội
dung dạy học Kĩ năng là trung tâm, là mục đích cuối cùng của quá
trình dạy học Kiến thức là điều kiện, là phơng tiện, là nền tảng Chỉ cókiến thức mà không có kĩ năng thì không có khả năng giao tiếp, ngợclại, chỉ có kĩ năng mà không có kiến thức thì khả năng giao tiếp bị hạnchế và không phát triển đợc
- Dạy học ngoại ngữ thực chất là hoạt động rèn luyện năng lực giao tiếp
dới các dạng: nghe, nói, đọc, viết Muốn rèn luyện đợc năng lực giaotiếp cần có môi trờng với những tình huống đa dạng của cuộc sống Môitrờng này chủ yếu do giáo viên tạo ra dới dạng những tình huống giaotiếp và học sinh phải tìm cách ứng xử bằng ngoại ngữ cho phù hợp vớitừng tình huống giao tiếp cụ thể
- Học ngoại ngữ, học sinh đồng thời tiếp cận với đất nớc, nền văn hoá xalạ Mức độ tiếp cận thông tin càng cao thì việc dạy học càng thuận lợi
Điều này đòi hỏi nhiều thiết bị dạy học (nghe - nhìn, nghe – nói) vànhiều hình thức dạy học linh hoạt
- Mục đích của việc dạy học ngoại ngữ không nhằm hớng học sinh vàoviệc nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ, mà nhằm giúp các em sử dụng hệthống ngôn ngữ đó nh một công cụ giao tiếp, nghĩa là nhằm rèn luyệncho học sinh năng lực giao tiếp Năng lực giao tiếp này đợc biểu hiện
Trang 5bằng khả năng sử dụng sáng tạo những quy tắc ngôn ngữ để thực hiệngiao tiếp theo tình huống.
Nh vậy, mục đích cuối cùng của việc học ngoại ngữ không phải là biết hệ
thống ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp mà là biết sử dụng hệ thống đó để đạt đợc
mục đích giao tiếp
3.2 Căn cứ vào đặc điểm tâm sinh lý của học sinh:
Khi học ngoại ngữ, học sinh THCS có nhiều điểm khác với học sinh tiểuhọc ở những mặt sau:
- Suy nghĩ nhanh nhạy trong nhận thức kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từvựng, ngữ pháp)
- Khả năng tởng tợng linh hoạt, logic hơn; nhất là dễ dàng liên tởng và sosánh sự giống nhau và khác nhau giữa ngoại ngữ với tiếng mẹ đẻ
- Khả năng ghi nhớ, tái hiện các mẫu lời nói và khả năng diễn đạt bằngngoại ngữ (tiếng Anh) lu loát và bền vững hơn, phản xạ ngôn ngữ nhanh
- Rất hứng thú và tích cực trong hoạt động luyện tập phát triển kĩ năng
ngôn ngữ, nhất là 2 kĩ năng nghe và nói, nhng cũng rất dễ chán nản trong việc luyện tập phát triển các kĩ năng phức tạp, ví dụ nh kĩ năng đọc hiểu vì gặp nhiều từ mới, trừu tợng và khó đoán nghĩa; hoặc nh kĩ năng viết vì
cảm thấy khó diễn đạt suy nghĩ, ý tởng cá nhân bằng ngôn ngữ viết
- Nhìn chung học sinh THCS tuy hào hứng, có ý thức muốn nắm bắt và sửdụng đợc ngoại ngữ nhng khả năng độc lập trong học tập cha tốt (ví dụ:còn rụt rè, không tự tin và sợ mắc lỗi trong khi nói) Học sinh ít có cơ hội
để luyện tập, hơn nữa lại thiếu kiên trì trong rèn luyện phát triển kĩ năngngôn ngữ nên kết quả học tập thờng bị hạn chế, dễ nản chí và bỏ cuộc Vìvậy các em cần phải thờng xuyên đợc sự khuyến khích, động viên kịp thờicủa giáo viên, và đặc biệt cần có sự hỗ trợ của các phơng pháp dạy họcthích hợp để củng cố, ổn định và nâng cao hiệu quả học tập ngoại ngữ củacác em
4 Giải phỏp đổi mới PPDH tiếng Anh ở trường THCS
PPDH tiếng Anh theo định hướng tớch cực hoỏ hoạt động học tập
Ngày nay, người ta đặc biệt quan tõm tới việc ỏp dụng phương phỏp Giao tiếpvào quỏ trỡnh giảng dạy tiếng Anh Giỏo viờn luụn luụn coi trọng việc hỡnh
Trang 6thành và ưu tiờn phỏt triển cỏc kĩ năng giao tiếp (nghe, núi, đọc và viết) Đồngthời, việc cung cấp kiến thức ngụn ngữ (ngữ õm, từ vựng và ngữ phỏp) làquan trọng, gúp phần hỡnh thành và phỏt triển cỏc kĩ năng giao tiếp Chớnh vỡvậy, phương phỏp Giao tiếp, ở chừng mực nhất định, đó phỏt huy được ưuđiểm của nú, thực sự giỳp cho học sinh cú khả năng sử dụng được tiếng Anh
để giao tiếp
Việc ỏp dụng phương phỏp Giao tiếp (cú sự kết hợp với cỏc phương phỏp
dạy học khỏc) trong quỏ trỡnh giảng dạy tiếng Anh ở THCS được thực hiệnnhư sau:
Cả 4 kỹ năng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc và viết) đều đợc quan tâm và đợcphối hợp trong các bài tập và các hoạt động trên lớp
Kỹ năng nghe luôn đợc sử dụng (phối hợp với kỹ năng đọc) để giới thiệu
ngữ liệu hoặc nội dung bài học mới Ngoài ra, kỹ năng nghe còn đợc rènluyện từng bớc thông qua các bài tập nghe khác nhau nh nghe lấy ý chính,nghe hiểu các thông tin chi tiết, nghe để đoán nghĩa qua ngữ cảnh,vv…) để bắt ch
Kỹ năng nói đợc dạy phối hợp với ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, chức năng
ngôn ngữ và với các kỹ năng khác, thông qua các bài hội thoại/ mẫu hộithoại ngắn hoặc các nội dung chủ điểm của bài
Kỹ năng đọc, ngoài ý nghĩa đợc sử dụng làm phơng tiện giới thiệu nội dung
và ngôn ngữ mới, còn đợc phát triển thông qua các bài tập đọc có mục đíchkhác nhau nh đọc hiểu nội dung chi tiết, đọc lớt, đọc lấy ý chính, đọc tìmthông tin cần thiết, vv; với các loại bài khoá có văn phong khác nhau nh vănbản viết, văn bản nói, bài hội thoại, bài văn xuôi, bài văn vần, quảng cáo,bảng biểu, mẫu khai, vv
Kỹ năng viết cơ bản đợc dùng để củng cố vốn ngữ liệu đã đợc học Ngoài ra,
còn có những bài tập dạy viết có mục đích nh viết th cá nhân, điền các mẫukhai, viết báo cáo ở dạng đơn giản, viết một đoạn văn ngắn có gợi ý, dựa vàobài đã học về một chủ điểm, hay bày tỏ quan điểm về một nhận định hoặc ýkiến đa ra
Ngữ liệu mới đợc giới thiệu theo chủ điểm và thông qua hoạt động nghe và
đọc; sau đó đợc luyện tập thông qua cả 4 kỹ năng Có nghĩa là sẽ không có
Trang 7các mục dạy tách biệt cho ngữ âm, ngữ pháp hay từ vựng trong từng bài học
mà các yếu tố ngôn ngữ sẽ đợc dạy lồng ghép với nhau và phối hợp với việcphát triển các kỹ năng Cụ thể là:
Ngữ pháp đợc xuất hiện theo chủ đề và tình huống của bài học và đợc luyện
tập trong ngữ cảnh; sau đó đợc chốt lại một cách có hệ thống sau một số bàihọc và ở cuối sách giáo khoa Các bài tập chuyên sâu về hình thái cấu trúcngữ pháp sẽ đợc luyện tập một cách có hệ thống trong sách bài tập kèm theocuốn sách giáo khoa
Từ vựng cũng đợc xuất hiện tự nhiên theo các chủ đề nhằm đạt đợc mức độ
ngữ cảnh hoá cao, giúp học sinh dễ tiếp thu và nhớ lâu Các bài tập sử dụng
từ vựng thờng đợc phối hợp với các bài tập ngữ pháp và các bài tập nghe, nói,
đọc, viết
Ngữ âm đợc coi là một bộ phận mật thiết gắn liền với các hoạt động lời nói,
đợc dạy và luyện tập gắn liền với việc dạy từ mới, dạy ngữ pháp, dạy nghe vàdạy nói
Hệ thống các bài tập và hoạt động dạy học đợc thiết kế theo trình tự dạy
học đi từ giới thiệu ngữ liệu, luyện tập có hớng dẫn đến vận dụng
Các bài tập và hoạt động dạy học chú trọng khuyến khích học sinh áp dụngngữ liệu đang học với các kiến thức có sẵn để diễn đạt các nội dung khácnhau trong chính đời sống thực tế của các em Hệ thống bài tập đặc biệt chútrọng những nguyên tắc dạy học cơ bản trong quan điểm dạy học giao tiếp đểbiên soạn các loại hình bài tập nh nguyên tắc chuyển đổi thông tin(information transfer), nguyên tắc tạo khoảng trống thông tin (informationgap), hay nguyên tắc cá thể hoá (personalization), nhằm không những giúphọc sinh nắm đợc hệ thống cấu trúc ngữ pháp mà còn biết ứng dụng để diễn
đạt các nội dung giao tiếp trong các tình huống cụ thể trong đời sống thậtcủa học sinh
5 Vận dụng một số PPDH theo định hớng đổi mới
Trong dạy học ngoại ngữ người ta ỏp dụng nhiều phương phỏp dạy học như:phương phỏp Ngữ phỏp–Dịch, phương phỏp Nghe–Nhỡn, phương phỏp Nghe
- Núi, phương phỏp Giao tiếp,…
Trang 8Dưới đõy là trỡnh bày túm tắt về một số phương phỏp dạy học của bộ mụnnhằm giỳp cho giỏo viờn cú tài liệu tham khảo và cú thể ỏp dụng trong quỏtrỡnh đổi mới phương phỏp dạy học ở trường trung học cơ sở.
5.1 Phương phỏp Ngữ phỏp – Dịch
Phương phỏp Ngữ phỏp – Dịch (Grammar – Translation Method) hay cũngọi là phương phỏp Truyền thống được ỏp dụng mạnh mẽ ở Việt Nam vàonhững năm 1970 cho đến tận những năm 1990
Về bản chất, theo phương phỏp này, chương trỡnh tập trung chủ yếu vào phỏt
triển kĩ năng đọc hiểu, học thuộc lũng từ vựng, dịch văn bản, viết luận(composition) và phõn tớch ngụn ngữ (học để nắm chắc quy tắc ngụn ngữ)
Quy trỡnh thực hiện: Cỏc bài khúa (texts) được biờn soạn và chia ra thành
từng đoạn ngắn Việc giảng giải quy tắc ngụn ngữ là cơ bản Học sinh đượchọc về ngữ phỏp rất kĩ trờn cơ sở cỏc hiện tượng ngữ phỏp cơ bản được rỳt
ra từ cỏc bài khúa Để kiểm tra sự thụng hiểu về nội dung bài khúa (nội dungvăn húa, đất nước học núi chung) và cỏc quy tắc ngụn ngữ, HS bắt buộc phảidịch cỏc bài khúa sang tiếng mẹ đẻ HS khụng được phộp mắc lỗi ngụn ngữ,nếu cú phải sửa ngay
Ưu điểm:
- HS được rốn luyện rất kĩ về ngữ phỏp và tiếp thu lượng từ vựng khỏ lớn
- HS nắm được tương đối nhiều cỏc cấu trỳc cõu cơ bản, thuộc lũng cỏc đoạnvăn hay hoặc bài khúa mẫu
- HS cú thể đọc hiểu nhanh cỏc văn bản
Hạn chế:
- Khụng giỳp HS “giao tiếp” được Hoạt động chủ yếu trong lớp là người
thày- thày giảng giải, núi nhiều; HS thụ động ngồi nghe và ghi chộp, khụng
cú ý kiến phản hồi hoặc khụng tham gia giao tiếp (núi) với thày và bạn bố
Trang 9- Hoạt động dạy học chỉ diễn ra một chiều - HS hoàn toàn bị động, không có
cơ hội thực hành giao tiếp trong lớp; khả năng sáng tạo và đặc biệt kĩ năng
nãi của HS bÞ h¹n chÕ.
Một số lưu ý:
- Ở chừng mực nào đó, GV vẫn có thể áp dụng Phương pháp Truyền thống,
ví dụ: khi muốn kiểm tra sự hiểu chính xác về một văn bản (đoạn văn, câuthơ…trong bài đọc hiểu) hoặc một cấu trúc câu phức tạp khác với cấu trúccâu trong tiếng Việt, GV có thể yêu cầu HS dịch sang tiếng Việt
- Việc kiểm tra sự thông hiểu qua hoạt động dịch không nên tiến hànhthường xuyên vì sẽ tạo thói quen cho HS phải tư duy qua tiếng mẹ đẻ (tiếngViệt) trước khi phát ngôn Như vậy sẽ cản trở sự lưu loát (fluency) của HStrong giao tiếp
Ví dụ minh họa: Việc đánh giá kết quả học tập của HS thông qua các hoạt
động trả lời các câu hỏi về nội dung các bài khóa; dịch các bài khóa, cácđoạn văn trích (dịch sang tiếng Việt, và dịch ngược sang tiếng Anh); thựchành các bài tập ngôn ngữ máy móc (thường là luyện tập các mẫu câu) GVgiữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học, có nhiệm vụ chuẩn bị bài khóa,câu hỏi và các bài tập ngữ pháp, giảng giải qui tắc ngôn ngữ HS được yêucầu tập đọc bài khóa, học thuộc lòng từ vựng, các đoạn văn mẫu và giảithích một cách tường minh hiện tượng ngữ pháp
5.2 Phương pháp Nghe – Nói
Về bản chất: Phương pháp Nghe - Nói (Audiolingual Method or Audio-Oral
Method) nhấn mạnh vào việc dạy kĩ năng nói và kĩ năng nghe trước kĩ năngđọc và kĩ năng viết Như vậy, khác với phương pháp Ngữ pháp – Dịch,phương pháp này đáp ứng đúng mục tiêu cần đạt của người học là hìnhthành và phát triển cả bốn kĩ năng, nhưng ưu tiên phát triển nói, nghe trướcđọc và viết.Việc cung cấp kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp)
Trang 10được thực hiện xen lồng trong quá trình dạy học Phương pháp Nghe-Nóingăn cấm việc dùng tiếng mẹ đẻ trong lớp; khuyến khích tối đa dùng tiếngAnh trong quá trình dạy học
Quy trình thực hiện:
Luôn luôn nhấn mạnh phát triển hai kĩ năng nói và nghe là chủ yếu Việc
dạy học thông qua thực hành cấu trúc câu (structures) và qua các bài tập ứng
dụng, người học tự phát hiện và tìm hiểu những điểm giống nhau (so vớitiếng mẹ đẻ) về cấu trúc câu, cách phát ngôn và đưa ra các qui tắc ngôn ngữ.Yêu cầu người học bắt trước mẫu do người dạy cung cấp, ví dụ: các bài/mẩuđối thoại mẫu (dialogues) có chứa cấu trúc câu hoặc hiện tượng ngôn ngữcần truyền đạt HS luyện tập mẫu đó thực chất là hình thành một thói quenngôn ngữ theo các hình thức như: hỏi và trả lời về bài đối thoại mẫu, thựchành thêm một số bài tập cấu trúc (thay thế, bổ sung, chuyển đổi …).Phương pháp này đòi hỏi GV chú ý sửa lỗi cho HS (lỗi phát âm, lỗi cấutrúc) Các bài đối thoại mẫu cần phải chuẩn mực, các bài nghe cần đượcluyện tập kÕt hîp víi thùc hµnh nãi Sau khi đã lĩnh hội tài liệu bằng khẩungữ, HS tiếp tục luyện tập để hình thành và phát triển kĩ năng đọc và kĩ năngviết
Ưu điểm:
- Phương pháp này có hiệu quả đối với những người mới học, đặc biệt là HStiểu học hoặc HS ở đầu cấp THCS HS cảm thấy phấn khởi và tự tin khiđược nghe và tập bắt chước theo giáo viên, ví dụ: HS làm theo lệnh của GVhoặc hát các bài hát tiếng Anh đơn giản
Hạn chế:
- §ối với HS có trình độ cao việc học theo phương pháp này sẽ nhàm chánnếu không có sự điều chỉnh phương thức dạy học cần thiết
Trang 11- HS áp dụng những gì đã được lĩnh hội trong lớp học vào thực tiễn giao tiếpngôn ngữ là khó Các em không thể vận dụng các hình thức ngôn ngữ (cácmẫu lời nói) được luyện tập trên lớp một cách tự nhiên vì tuy HS có khảnăng nghe hiểu, nhớ và bắt chước (nói theo) ngay tại chỗ trong lớp học, songcác em cũng rất chóng quên và cảm thấy bị “tắc” khi gặp tình huống tương
tự trong giao tiếp thực; tức là không diễn đạt được những gì định nói mặc dùsau một thời gian dài học tập Người ta cảm thấy nghi ngờ về tính hiệu quảcủa phương pháp này so với phương pháp Ngữ pháp-Dịch Tuy nhiên, HS có
thể nghe và nói thuần thục nếu các em được rèn luyện trong môi trường
ngoại ngữ (language environment) mà điều kiện này bị hạn chế ở trườngTHCS
Một số lưu ý:
Lớp học không nên quá đông (không quá 35 HS/lớp) Giờ học nên được tiếnhành ở các phòng học tiếng có thiết bị nghe chuẩn; hoặc GV cần chuẩn bịbăng cát-sét/ đĩa CD ghi âm các bài đối thoại mẫu có chất lượng cao để đảmbảo cho HS có thể nghe hiểu và thực hành nói đạt hiệu quả Đối với HS tiểuhọc hoặc HS đầu cấp THCS, GV nên chuẩn bị nhiều tranh ảnh để tạo tìnhhuống giao tiếp; chú ý tổ chức các hoạt động ngôn ngữ khác nhau như: tròchơi, câu đố… để gây không khí thoải mái trong học tập cho các em
Ví dụ minh họa:
HS tiểu học hoặc HS ở đầu cấp THCS có thể được nghe các mẫu đối thoại
chứa cấu trúc câu thông thường như hỏi và trả lời về thời tiết, ví dụ: What’s the weather like? It’s cold (hot/sunny/rainy etc.) HS cần phải được GV làm
rõ ý nghĩa (bằng giải thích, cho ví dụ hoặc thậm chí phải dịch sang tiếng
Việt nếu cấu trúc câu không có trong tiếng mẹ đẻ, ví dụ: đại từ “it” dùng để
chỉ thời tiết) và hiểu được cách sử dụng cấu trúc câu, cách phát âm, ngữ điệucâu hỏi (xuống giọng) HS có thể vận dụng hỏi-trả lời về thời tiết trong các
Trang 12tình huống gợi ý (ví dụ: các tranh vẽ trời nóng/lạnh/ấm…) hoặc trong tìnhhuống thật ở các địa danh khác nhau dựa vào bản tin dự báo thời tiết trên
TV; ví dụ: What’s the weather like in Hanoi/Hue/ Ho Chi Minh City…? It’s
5 3 Phương pháp Giao tiếp
Phương pháp Giao tiếp (Communicative Approach) hay còn gọi là Đườnghướng Giao tiếp được xem như phương pháp dạy học ngoại ngữ phổ biếnnhất và hiệu quả nhất hiện nay Hầu hết các giáo trình, SGK phổ thông tiếngAnh ở các nước trên thế giới và ở Việt Nam đều được biên soạn dựa theoquan điểm giáo học pháp của Phương pháp Giao tiếp Phương pháp này docác nhà ngôn ngữ ứng dụng người Anh phát triển hoàn toàn khác biệt vớiphương pháp dựa trên nền tảng ngữ pháp của Phương pháp Truyền thống
Về bản chất: Phương pháp Giao tiếp nhấn mạnh vào mục tiêu của việc học
ngôn ngữ - đó là năng lực giao tiếp (communicative competence) Người ta
coi năng lực ngôn ngữ là khả năng bẩm sinh của mọi con người bình thường
Để giao tiếp được, phương pháp này đòi hỏi phải tính đến phương diện xãhội, văn hóa của ngôn ngữ, các điều kiện xã hội của quá trình sản sinh ngônngữ, và tính đến ngôn ngữ được dùng trong cuộc sống hàng ngày Ngoài ra,phương pháp Giao tiếp còn chú ý tới phương diện nghĩa của ngôn ngữ, haynói một cách khác cần lưu ý tới ý định giao tiếp (intention of
communication) Khái niệm này về sau các nhà ngôn ngữ gọi là chức năng ngôn ngữ (language function) Như vậy, theo Phương pháp Giao tiếp ngôn
ngữ không chỉ là phương tiện diễn đạt tư duy mà còn là phương tiện giaotiếp Mục đích cuối cùng của người học ngoại ngữ không chỉ tiếp thu và nắmchắc kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) mà cần phải đạt đượcnăng lực (khả năng) giao tiếp; tức là phát triển được tất cả 4 kĩ năng ngônngữ (nghe, nói, đọc, viết) và sử dụng được ngôn ngữ để giao tiếp
Trang 13Quy trình thực hiện:
Xuất phát từ bản chất của Phương pháp Giao tiếp, tài liệu giảng dạy theo
đường hướng này cần được thiết kế để đáp ứng nhu cầu giúp người học có
thể thực hiện được các chức năng ngôn ngữ khác nhau, chẳng hạn như xin
phép, đề nghị, yêu cầu ai đó làm việc gì; mô tả sự vật; bày tỏ sự quan tâm, thích thú hoặc không thích v.v …
Để giao tiếp hiệu quả, người học cần phải sử dụng các hình thức ngôn ngữ
thích hợp với tình huống giao tiếp (situations), trong đó yêu cầu người tham gia giao tiếp phải thể hiện được ý định giao tiếp (intention) thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ khác nhau (tasks).
Tiến trình giảng dạy diễn ra theo 5 bước:
- Giới thiệu ngữ liệu (presentation)
triển bốn kĩ năng giao tiếp như nghe, nói, đọc và viết là mục đích cuối cùng
của quá trình dạy học Các kiến thức ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng và ngữ
pháp là phương tiện, điều kiện hình thành và phát triển các kĩ năng giao tiếp.
Trang 14Vì vậy, phương pháp Giao tiếp thực sự giúp cho HS có khả năng sử dụngđược tiếng Anh để giao tiếp.
Hạn chế:
Phương pháp Giao tiếp nhấn mạnh vào việc hình thành và phát triển 4 kĩ năngngôn ngữ: nghe, nói, đọc, viết trong quá trình dạy học, trong đó kiến thứcngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp) không được quan tâm một cáchthích đáng Kết quả là một số HS cảm thấy khó có thể “giao tiếp” vì HS làmsao có thể nghe, nói, đọc, viết được một khi các em không nắm chắc hệ thốngqui tắc ngôn ngữ Mặt khác, theo quan điểm của phương pháp này, quan hệgiữa ý định giao tiếp (bao gồm các hành động lời nói hay là các chức năngngôn ngữ học được) và hiện thực là quá phức tạp, không rõ ràng Nói mộtcách khác, người ta khó có thể lựa chọn các phát ngôn theo chức năng phùhợp với nhu cầu giao tiếp thực tế đa dạng và rất phức tạp
Một số lưu ý:
GV giữ vai trò là người hướng dẫn, tổ chức thùc hiện HS đóng vai trò chủ
đạo trong quá trình dạy học; tức là phải phát huy cao độ tính tích cực của các
em trong luyện tập thực hành Ở trường THCS (líp 8 vµ 9), HS cần tập trungrèn luyện sâu từng kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Muốn thực hiện được, cá nhân
HS phải tích cực và tự giác tham gia thực hành, không sợ mắc lỗi, và cần lưu
ý rằng độ lưu loát ngôn ngữ (fluency) trong giai đoạn này là rất quan trọng.
Điều kiện tối thiểu để HS thực hành kĩ năng ngôn ngữ là mỗi lớp học khôngquá đông (khoảng 35 HS/lớp); có đầy đủ thiết bị nghe nhìn như máy cát-sét,băng/đĩa CD, tranh tình huống Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập nênnhấn mạnh vào 4 kĩ năng, và một phần nhỏ kiến thức ngôn ngữ Kiểm tra kĩnăng ngôn ngữ luôn luôn được ưu tiên trong bất kĩ hình thức nào
Trang 15Khi vận dụng Phương phỏp Giao tiếp, GV cần lưu ý:
Giảm thiểu tối đa thời gian nói trên lớp của GV, tăng thời gian sử dụngngôn ngữ cho HS
Dạy học theo phơng pháp gợi mở: GV chỉ gợi mở và dẫn dắt để HS tự tìm
ra lời giải đáp hoặc con đờng đi của mình
Động viên tất cả kiến thức sẵn có về văn hoá, xã hội cũng nh ngôn ngữcủa HS trong luyện tập ngôn ngữ
Có thái độ tích cực đối với lỗi ngôn ngữ của HS Chấp nhận lỗi nh mộtphần tất yếu trong quá trình học ngoại ngữ, giúp HS học tập đợc từ chínhlỗi của bản thân và bạn bè
Không chỉ chú ý đến sản phẩm cuối cùng của bài luyện tập (product) màcòn chú trọng đến cả quá trình (process) luyện tập và phơng pháp học tậpcủa HS
ngữ liệu của Unit 4 lớp 9; Mục 2 Listen and Read, HS được giới thiệu cả
về chủ đề bài học (kinh nghiệm học ngoại ngữ) và kiến thức ngụn ngữ(tường thuật cõu núi từ trực tiếp sang giỏn tiếp: dạng cõu khẳng định và cõuhỏi) trong tỡnh huống đối thoại (Lan núi chuyện với Paola, một nữ sinhngoại quốc về bài thi núi tiếng Anh mà Lan vừa tham dự) Nhiệm vụ (task)
mà HS phải thực hiện là Nghe, luyện đọc bài hội thoại và tỡm ra cỏc cõu hỏi
giỏn tiếp mà ban giỏm khảo hỏi Lan (phần a.) GV dựng tỡnh huống trong
bài đối thoại để làm rừ nghĩa dạng cõu hỏi theo cỏch núi giỏn tiếp của 2 loạitường thuật cõu hỏi, vớ dụ:
- She asked me what my name was, and where I came from.
Trang 16- She asked me if I spoke any other languages
Bước tiếp theo, GV cho HS luyện tập qua việc yêu cầu HS đọc bảng danhsách câu hỏi trực tiếp (thi vấn đáp tiếng Anh) của ban giám khảo để so sánh
và xác định với các câu hỏi gián tiếp trong bài đối thoại (phần b.); sau đó HS
luyện tập đối thoại trực tiếp theo cặp (đóng vai Lan và người giám khảo).Mục đích là củng cố hình thái loại câu hỏi trực tiếp cho HS trước khi chocác em luyện tập đổi sang câu hỏi gián tiếp
Bước tiếp theo là hoạt động giao tiếp mang tính tự do hơn GV có thể yêucầu HS dựa vào bài đối thoại giữa Lan và người giám khảo để đóng vai Lan
và Paola tập nói lại nội dung các câu hỏi trực tiếp đó ở dạng câu hỏi giántiếp (như bài đối thoại trong phần giới thiệu ngữ liệu)
Để tăng cường giao tiếp ở mức hoàn toàn tự do (mang tính sáng tạo), GV cóthể yêu cầu HS luyện tập phỏng vấn theo cặp theo các tình huống do giáoviên gợi ý; sau đó HS đại diện cho mỗi cặp tường thuật lại các câu hỏi ởdạng gián tiếp
Như vậy, ví dụ trên cho thấy việc dạy kiến thức ngôn ngữ (câu hỏi gián tiếp)được giới thiệu thông qua tình huống giao tiếp, vừa đảm bảo việc truyền tảiđược hiện tượng ngôn ngữ theo văn cảnh có nghĩa, vừa bám sát nội dungchủ đề của bài học Điều quan trọng là HS được luyện tập và có thể vậndụng vào các tình huống giao tiếp tương tự
Sö dông thiÕt bÞ d¹y häc (xem phô lôc 1)
Trang 17Chủ đề 2: kĩ thuật mở bài, giới thiệu ngữ liệu mới,
Luyện tập ngữ pháp
1 Mở bài - Gây không khí học tập
Để có đợc một giờ dạy thành công, ngay ở bớc hoạt động đầu tiên của mộtgiờ dạy là bớc mở bài, giáo viên cần tạo ra đợc một không khí học tập thuậnlợi về cả mặt tâm lý lẫn nội dung cho hoạt động dạy học tiếp theo đó
Những hoạt động gây không khí học tập này thờng rất ngắn (5 -7 phút) nhngvô cùng quan trọng Vậy mở bài nên làm những gì và làm thế nào để có thểthực hiện đợc các mục đích đó?
1.1 Các hoạt động mở bài
Các hoạt động mở bài nhằm một số mục đích sau:
ổn định lớp, cho phép học sinh có một thời gian để thích nghi với bàihọc mới;
tạo môi trờng thuận lợi cho bài học mới;
gây hứng thú cho bài học mới;
giúp học sinh liên hệ những điều đã học với bài học mới;
chuẩn bị về kiến thức cần cho bài học mới;
tạo tình huống, tạo ngữ cảnh cho phần giới thiệu bài tiếp theo;
tạo nhu cầu giao tiếp, hay tạo mục đích cho một hoạt động
giao tiếp kế tiếp
1.2 Các hình thức và thủ thuật vào bài
Trang 18Tuỳ theo mục đích và đặc thù của giờ dạy, đồng thời tuỳ theo đối tợng họcsinh cụ thể của mình, giáo viên có thể lựa chọn những hoạt động hay thủthuật vào bài cho phù hợp.
Giáo viên có thể tham khảo một số gợi ý sau:
1.2.1 Tạo môi trờng thuận lợi cho bài học
a) Thiết lập không khí dễ chịu giữa thày và trò ngay giờ phút vào lớp:
chào hỏi học sinh;
A short listening task (e.g: a funny story);
Observing a picture then ask and answer questions about thepicture;
A riddle
A language game (crosswords, noughts and crosses, etc)
A challenging task on vocabulary,
1.2.2 Chuẩn bị tâm lý và kiến thức cho bài học mới
a) Khai thác kiến thức đã biết của học sinh bằng thủ thuật gợi mở (eliciting),hay nêu vấn đền để cả lớp đóng góp ý kiến (brainstorming)
b) Liên hệ những vấn đề của bài cũ có liên quan đến bài mới, có thể bằngcác hình thức khác nhau nh:
hỏi các câu hỏi có liên quan;
ra bài tập về các nội dung đã học có liên quan;
sử dụng một trong những hoạt động gây hứng thú và ổn định lớp(kể trên), dùng vốn kiến thức và nội dung bài cũ;
Trang 19c) Tạo ngữ cảnh, tình huống hoặc các cớ/lý do giao tiếp (Communicativeneeds) cho các hoạt động tiếp theo của bài Có thể dùng các hình thức nh:
giáo cụ trực quan (đồ vật, tranh, bu ảnh )
các mẩu chuyện có thật hoặc tự tạo
có thể đáp ứng đợc nhiều nhiệm vụ đặt ra ở phần mở bài Ví dụ, ngay khibớc vào lớp, giáo viên có thể bắt đầu bài bằng một hoạt động nêu vấn đề
và giải quyết vấn đề (problem- solving), hoặc khai thác vốn kiến thức cósẵn của cả lớp về một nội dung có liên quan đến bài cũ và bài mới(brainstorming) Bằng cách đó, giáo viên đã cùng một lúc gây đợc sự chú
ý, gây hứng thú cho bài học, ổn định đợc lớp, kiểm tra, ôn lại đợc bài cũ,
đồng thời cũng đã giúp cho học sinh chuẩn bị đợc tâm lý và kiến thức cầnthiết cho bài mới
Nh đã đề cập, mục đích của các hoạt động mở bài là để học sinh làmquen và cảm thấy hứng thú với chủ đề sắp học trong bài, đồng thời ônluyện lại những kiến thức đã học có liên quan đến bài mới hoặc đểgiáo viên tạo những nhu cầu giao tiếp cần thiết cho các hoạt động củabài mới Với ý nghĩa đó, phần mở bài đôi khi không có ranh giới cụthể mà luôn đợc tiến hành phối hợp với phần giới thiệu ngữ liệu
1.3 Các hoạt động mở bài trong chơng trình sách giáo khoa mới
Trong chơng trình sách giáo khoa mới THCS, giáo viên có thể sử dụngcác thủ thuật và bài tập có sẵn trong sách giáo khoa (ví dụ nh đối vớisách chơng trình lớp 8 và lớp 9) hoặc GV tự sáng tạo (ví dụ, với chơngtrình lớp 6 và lớp 7) Có thể sử dụng các thủ thuật nh:
Dựa vào tranh ở mục đầu của bài, hỏi, gợi ý về chủ đề mới:
- Sử dụng tranh ảnh, bản đồ, vật thực tự chuẩn bị thay cho tranh trongsách để gây hấp dẫn
Trang 20- Hỏi các kiến thức bài cũ có liên quan đến bài mới
- Khai thác các kiến thức có sẵn của học sinh
- Liên hệ đến thực tế của chính học sinh, của địa phơng hay các tìnhhuống gần gũi với học sinh và thay thế các tình huống trong sáchnếu cần
Khi tiến hành phần này, giáo viên cần chú ý một số điểm sau:
Có thể sử dụng cả tiếng Anh và tiếng Việt
Cần tạo cơ hội cho học sinh hỏi lại giáo viên hoặc hỏi lẫn nhau để gâyhứng thú, phát huy tính tích cực của học sinh
Luôn quan tâm đến tâm lý lứa tuổi và sở thích của học sinh để đa ranhững thủ thuật phù hợp, ví dụ nh kích thích trí tò mò, yêu cầu đoántranh, đoán câu trả lời v.v
Cần chú ý thay đổi hình thức mở bài để gây hứng thú cho học sinh
2 Giới thiệu ngữ liệu mới
Giới thiệu ngữ liệu mới là làm rõ nghĩa, cách phát âm, cấu trúc hình thái, vàcách dùng của một mục dạy nào đó trong một ngữ cảnh nhất định Mục dạy cóthể là các mẫu lời nói, từ vựng hay ngữ pháp, hoặc một nội dung chủ điểm nào
đó, thờng đợc giới thiệu thông qua một bài hội thoại hay một bài khoá, hoặcnhững tình huống có sự hỗ trợ của giáo cụ trực quan
Với phơng pháp dạy học mới, công việc giới thiệu ngữ liệu không còn thuần tuýchỉ là việc thày giải thích nghĩa của từ mới (mà phần lớn giáo viên thờng thựchiện bằng cách cho nghĩa tiếng Việt) và giải thích các quy tắc ngữ pháp và cácmẫu câu ở phần này, ngời giáo viên còn cần phải đồng thời làm rõ cách sửdụng của các mẫu câu hoặc từ mới đó trong ngữ cảnh Chỉ khi đợc giới thiệutrong ngữ cảnh, nghĩa và cách sử dụng của các ngữ liệu cần dạy mới đợc làmsáng tỏ Nh vậy, nội dung cần giới thiệu ở bớc giới thiệu ngữ liệu là:
Hình thái (Form: pronunciation; spelling; grammar)
Ngữ nghĩa (Meaning)
Cách sử dụng (Use)
Một đặc điểm nổi bật của phơng pháp mới trong việc giới thiệu ngữ liệu là
ph-ơng pháp mới rất chú trọng tới việc phải làm sao cho học sinh tiếp thụ bài học
Trang 21không chỉ qua nghe thụ động mà còn đợc vận động trí óc, chủ động tham giavào quá trình của họat động này qua nhiều hoạt động ngôn ngữ khác nhau
Có nhiều cách/ thủ thuật giới thiệu ngữ liệu Sau đây là một số thủ thuật giớithiệu ngữ liệu mà các giáo viên có thể tham khảo để ứng dụng cho bài dạy cụthể của mình
2.1 Các thủ thuật tạo dựng tình huống (setting up situations/ contexts)
a) Dùng môi trờng, đồ vật thật trong lớp, trong trờng;
b) Sử dụng những tình huống thật trong lớp;
c) Dùng các tình huống thật trong đời sống thật của hoc sinh;
d) Dùng các câu chuyện có thật, các hiện tợng thật trong thực tế;
e) Sử dụng các bảng biểu, bản đồ, bảng tin, báo chí;
f) Sử dụng tranh, ảnh, giáo cụ trực quan;
g) Sử dụng ngôn ngữ học sinh đã biết;
h) Sử dụng các bài hội thoại ngắn;
i) Sử dụng tiếng mẹ đẻ;
k) Phối hợp một hay nhiều cách trên
2.2 Giới thiệu hình thái ngôn ngữ
Sau khi dùng ngữ cảnh để giới thiệu nghĩa và cách dùng của các mục dạy, lúcnày giáo viên có thể làm rõ hình thái cấu trúc, các quy tắc ngữ pháp nếu có đểhọc sinh nhớ đợc dễ hơn và hệ thống hoá đợc những ngữ liệu đã học Giáo viên
có thể gợi ý cho học sinh tự nhận xét và lập thành mẫu câu hoặc lập ra các côngthức dễ nhớ
2.3 Kiểm tra mức độ tiếp thu của học sinh (Checking comprehension)
Sau khi giáo viên đã giới thiệu làm rõ nghĩa và cách sử dụng của ngữ liệu mới,cần thực hiện việc kiểm tra mức độ tiếp thu bài của học sinh để qua đó biết đợchọc sinh đã thực sự hiểu bài cha, mức độ hiểu đến đâu, để trên cơ sở đó có thểkịp thời bổ xung bài giảng nếu cần
Việc kiểm tra mức độ hiểu bài của học sinh ở phần giới thiệu ngữ liệu này cóthể đợc thực hiện thông qua một số bài tập thực hành nh:
Học sinh ứng dụng mẫu câu vừa học vào các tình huống tơng tự khácgiáo viên đa ra;
thực hiện một số bài tập lắp ghép;
xây dựng các bài hội thoại ngắn theo mẫu bằng cách lắp ghép những từ,
đoạn câu gợi ý;
Trang 22 thực hiện các bài tập hỏi /trả lời theo dạng câu hỏi đóng hoặc các câu hỏitrắc nghiệm đúng sai (comprehensive questions, True/False questions)
dịch ra tiếng Việt (nếu phù hợp và cần thiết)
2.4 Tóm tắt các bớc giới thiệu ngữ liệu mới
Các bớc giới thiệu ngữ liệu mới có thể đợc tóm tắt theo một tiến trình nh sau:1) Giới thiệu ngữ nghĩa và cách sử dụng của ngữ liệu: cấu trúc ngữ pháp/ từmới/ mẫu câu chức năng qua tình huống, ngữ cảnh, mẫu hội thoại, tranh
ảnh
2) Nêu bật cấu trúc/ từ/ mẫu câu chức năng mới bằng cách đọc to cho họcsinh nghe nhắc lại hoặc bằng các thủ thuật khác nhằm hớng sự chú ý củahọc sinh vào những mục dạy đó
3) Viết các cấu trúc/ từ mới lên bảng, làm rõ hình thái cấu trúc, giải thíchnếu cần
4) Làm rõ thêm nghĩa và cách sử dụng bằng cách tiếp tục đa thêm các tìnhhuống hoặc các ví dụ khác
5) Lặp lại tơng tự bớc 2 hoặc cho học sinh tái tạo theo gợi ý
6) Kiểm tra mức độ hiểu bài của học sinh sử dụng các thủ thuật kiểm trahiểu nh gợí ý ở mục 2.3
Khi giáo viên nhận thấy học sinh đã làm tốt đợc bớc 6 thì có thể chuyểnsang phần luyện tập sáng tạo hơn với các loại bài tập mang tính giao tiếphơn
Tuy nhiên, cần phải lu ý rằng không phải lúc nào việc giới thiệu ngữ liệu cũngphải tuân theo tuần tự tiến trình trên Ví dụ, ngay sau bớc 2, nếu giáo viên cảmthấy học sinh đã hiểu và có thể làm tốt các bài tập tái tạo thì có thể chuyển ngaysang bớc 6 Hoặc công việc của bớc 3 cũng có thể để lui lại để thực hiện vàocuối bài ở bớc củng cố bài, sau khi học sinh đã làm các bài tập thực hành
2.5 Giới thiệu từ vựng - Những điểm lu ý thêm
Tiến trình giới thiệu ngữ liệu đợc trình bày ở trên có thể đợc coi là tiến trìnhchung cho việc giới thiệu ngữ liệu mới Tuy nhiên, cách giới thiệu từ vựng cũng
có những đặc thù riêng Phần này sẽ trình bày một số điểm cần lu ý khi giớithiệu từ mới
Trang 232.5.1 Chọn từ để dạy
Thông thờng trong một bài học sẽ luôn luôn có từ mới Song không phải từ mớinào cũng cần đa vào dạy nh nhau Để lựa chọn từ để dạy, giáo viên cần xem xétcác câu hỏi sau:
a) Từ chủ động hay từ bị động?
Từ chủ động (active/ productive vocabulary) là những từ học sinh hiểu,
nhận biết và sử dụng đợc trong giao tiếp nói và viết
Từ bị động (passive/ receptive vocabulary) là những từ học sinh chỉ hiểu
và nhận biết đợc khi nghe và đọc
Cách dạy hai loại từ này có khác nhau Từ chủ động liên quan đến cả 4 kỹ năngnghe, nói, đọc, viết, cần đầu t thời gian để giới thiệu và luyện tập nhiều hơn, đặcbiệt là cách sử dụng Với từ bị động, giáo viên có thể chỉ dừng lại ở mức nhậnbiết, không cần đầu t thời gian vào các hoạt động ứng dụng Giáo viên cần xác
định xem sẽ dạy từ nào nh một từ bị động và từ nào nh một từ chủ động Với từ
bị động, giáo viên có thể khuyến khích học sinh tự tìm hiểu nghĩa từ (ví dụ: tra
từ điển), hoặc đoán từ qua ngữ cảnh
b) Học sinh đã biết từ này cha?
Giáo viên cần xác định rõ từ mình định dạy có thực sự là từ cần dạy haykhông Vốn từ của học sinh luôn luôn đợc mở rộng bằng nhiều con đờng, vàcũng có thể bị quên bằng nhiều lý do khác nhau Để tránh tình trạng giớithiệu những từ không cần thiết và mất thời gian, giáo viên có thể dùng nhữngthủ thuật nhằm phát hiện xem các em đã biết những từ đó cha và biết đến
đâu Giáo viên có thể dùng các thủ thuật nh eliciting; brainstorming; các thủ
thuật dùng ở các bớc 5) và 6) trong tiến trình giới thiệu ngữ liệu mới; hoặc cóthể hỏi trực tiếp học sinh những từ nào là từ mới và khó trong bài
2.5.2 Những thủ thuật làm rõ nghĩa từ
Ngoài những thủ thuật giới thiệu nghĩa trong ngữ cảnh đã đề cập ở phần giớithiệu ngữ liệu chung, có thể sử dụng một số thủ thuật đặc thù cho từ vựng nh:
a) Dùng trực quan nh: đồ vật thật trên lớp, tranh ảnh, hình vẽ phác hoạ(hình que), hình cắt dán từ tạp chí, cử chỉ điệu bộ v.v
b) Dùng ngôn ngữ đã học:
Định nghĩa, miêu tả;
Dùng từ đồng nghĩa, trái nghĩa;
Dựa vào các quy tắc hình thành từ, tạo từ;
Trang 242.6 Tăng cờng sự tham gia của học sinh ở bớc giới thiệu ngữ liệu mới
Nh đã đề cập, điểm nổi bật ở phơng pháp mới là tạo cho học sinh đợc tham giavào quá trình giới thiệu ngữ liệu mới
Trong giai đoạn giới thiệu ngữ liệu mới, thông thờng giáo viên đóng vai tròchính, vai trò truyền thụ, học sinh đóng vai tiếp nhận, thụ động là chủ yếu Tuynhiên, nếu giáo viên tạo đợc điều kiện cho học sinh tham gia vào quá trình này,kết quả tiếp thu bài của các em sẽ tốt hơn nhiều
Để làm đợc điều đó, giáo viên cần tìm kiếm và sử dụng những thủ thuật pháthuy sự chủ động suy đoán, tự phát hiện của học sinh Ví dụ, phát hiện và nhậnbiết cấu trúc hay từ mới và tự rút ra mẫu cấu trúc của các mục ngữ pháp, hoặc
đoán nghĩa từ trong ngữ cảnh, tự giải thích nghĩa từ bằng vốn từ có sẵn, cho từ
đồng nghĩa, hoặc trái nghĩa,v.v
2.7 Sử dụng phối hợp các kỹ năng trong khi giới thiệu ngữ liệu mới
Trong quá trình giới thiệu ngữ liệu, giáo viên nên phối hợp nhiều các kỹ năngvới nhau để giới thiệu mục dạy, ví dụ giới thiệu qua nói, sau đó học sinh nghe
và nhắc lại; học sinh nhìn mẫu đợc viết trên bảng, hoc sinh tái tạo qua nói,nghe, viết , đọc; học sinh xây dựng các bài hội thoại theo mẫu qua nói nghetrong nhóm sau đó viết lại hoặc ngợc lại, chuẩn bị qua viết, sau đó nói lại; họcsinh viết các câu trả lời trên giấy trong(OHP), sau đó đa ra trớc lớp để đợc nhậnxét, v.v
2.8 Ví dụ minh hoạ: Tiết dạy giới thiệu ngữ liệu - Unit 8, Lớp 6 (xem phụ lục 2).
3 Luyện tập ngữ pháp