1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Lý thuyết tài chính tiền tệ

89 2,4K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý thuyết tài chính - Tiền tệ
Trường học Trường Đại học Trà Vinh
Chuyên ngành Lý thuyết tài chính - Tiền tệ
Thể loại Môn học
Thành phố Trà Vinh
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 855,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trường Đại học Trà Vinh QT7.1/PTCT1BM7 TÊN MÔN HỌC: LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ MÃ SỐ: THỜI LƯỢNG Lý thuyết: 45 tiết CHƯƠNG TRÌNH: Thực hành: 00 giờ Tổng công: 45 tiết/giờ Giờ tự học cần

Trang 1

TÊN MÔN HỌC: LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH - TIỀN TỆ

MÃ SỐ:

THỜI LƯỢNG

CHƯƠNG TRÌNH:

Lý thuyết: 45 tiết Thực hành: 00 giờ Tổng công: 45 tiết/giờ Giờ tự học cần có: 40 giờ

ĐIỀU KIỆN TIÊN QUYẾT/

SONG HÀNH:

MÔ TẢ MÔN HỌC:

Giúp sinh viên hiểu rõ những vấn đề cơ bản về tài chính; nguồn ngân sách nhà nước, hoạt động của các tổ chức trung gian và thị trường tài chính; Nhận biết được các hình thức hoạt động tài chính vĩ mô; hiểu rõ những vấn đề cơ bản của tiền tệ và lưu thông tiền tệ và tín dụng; Xác định được tầm quan trọng của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế thị trường; Mô tả được lạm phát và chính sách kiềm chế lạm của ngân hàng trung ương; Mô tả được các hình thức quan hệ thanh toán và tín dụng quốc tế

Trang 2

CẤU TRÚC

MÔN HỌC

KQHT 1: Trình bày những vấn đề cơ bản về tài chính KQHT 2: Trình bày nguồn ngân sách nhà nước KQHT 3: Mô tả các tổ chức trung gian và thị trường tài chính

KQHT 4: Nhận biết các hình thức hoạt động tài chính vĩ

mô KQHT 5: Trình bày những vấn đề cơ bản của tiền tệ và lưu thông tiền tệ

KQHT 6: Trình bày những vấn đề cơ bản của tín dụng KQHT 7: Xác định tầm quan trọng của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế thị trường

KQHT 8: Mô tả lạm phát và chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương

KQHT 9: Mô tả các hình thức quan hệ thanh toán và tín dụng quốc tế

Trang 3

KẾT QUẢ VÀ CÁC TẬP Kết quả học tập Các bước học tập Các hoạt động phục vụ học

tập (Tài liệu, phương tiện

học tập)

1 Trình bày những vấn đề cơ

bản về tài chính

1.1 ả sự ra đời và phát triển của tài chính

1.2 Trình bày bản chất – chức năng và vai trò của tài chính 1.3 Trình bày tổng quan về hệ thống tài chính

- Tài liệu hướng dẫn môn học

- Tài liệu tham khảo

- Các trang web hỗ trợ học tập

2 Trình bày nguồn ngân sách

nhà nước

2.1 Trình bày khái niệm và vai trò của ngân sách nhà nước

2.2 Xác định quá trình thu – chingân sách nhà nước

- Tài liệu hướng dẫn môn học

- Tài liệu tham khảo

- Các trang web hỗ trợ học tập

3 Mô tả các tổ chức trung

gian và thị trường tài chính

3.1 Xác định các tổ chức tài chính chính thức và phi chính thức

3.2 Mô tả thị trường tài chính

- Tài liệu hướng dẫn môn học

- Tài liệu tham khảo

- Các trang web hỗ trợ học tập

4 Nhận biết các hình thức

hoạt động tài chính vĩ mô

4.1 Mô tả các xí nghiệp công và xí nghiệp tư 4.2 Trình bày hoạt động tài chính vi mô

- Tài liệu hướng dẫn môn học

- Tài liệu tham khảo

- Các trang web hỗ trợ học tập

- Tài liệu hướng dẫn môn học

- Tài liệu tham khảo

- Các trang web hỗ trợ học tập

6 Trình bày những vấn đề cơ

bản của tín dụng

6.1 Trình bày sự ra đời và phát triển của tín dụng 6.2 Trình bày các hình thức của tín dụng

- Tài liệu hướng dẫn môn học

- Tài liệu tham khảo

- Các trang web hỗ trợ học tập

7 Xác định tầm quan trọng

của hệ thống ngân hàng trong

nền kinh tế thị trường

7.1 Trình bày sự ra đời và phát triển của ngân hàng 7.2 Mô tả các loại ngân hàng trong nền kinh tế thị trường

- Tài liệu hướng dẫn môn học

- Tài liệu tham khảo

- Các trang web hỗ trợ học tập

8 Mô tả lạm phát và chính

sách tiền tệ của ngân hàng

trung ương

8.1 Mô tả lạm phát 8.2 Trình bày các chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương

- Tài liệu hướng dẫn môn học

- Tài liệu tham khảo

- Các trang web hỗ trợ học tập

- Tài liệu hướng dẫn môn học

- Tài liệu tham khảo

- Các trang web hỗ trợ học tập

Trang 4

KẾ HOẠCH ĐÁNH GIÁ MÔN HỌC

Kết quả học tập Thời lượng

giảng dạy

Mức độ yêu cầu đạt được

Hình thức đánh giá

Viết Thao tác

Bài tập

về nhà

Thực tập thực tế

Đề tài

Tự học

1 Trình bày những

vấn đề cơ bản về tài

chính

Sau khi nghiên cứu xong các kết quả học tập, sinh viên sẽ nộp đề tài

tự chọn gửi về cho giáo viên bộ môn

Đề tài có thể liên quan đến những vấn đề kinh tế vĩ mô như là:

Trang 5

ĐÁNH GIÁ CUỐI MÔN HỌC

HÌNH THỨC ĐÁNH GIÁ

● Gửi về các đề tài do giáo viên yêu cầu

THỜI GIAN

Kết thúc môn học sau 2 tuần

NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ: • Trình bày khái niệm và vai trò của ngân sách nhà nước

• Xác định quá trình thu – chi ngân sách nhà nước

• Trình bày sự cần thiết của các tổ chức tài chính trung gian và thị trường tài chính đối với nền kinh tế

• Nhận biết các tổ chức tài chính chính thức và các tổ chức tài chính phi chính thức

• Mô tả thị trường tài chính

• Xác định tầm quan trọng của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế thị trường

• Mô tả lạm phát và chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương

• Mô tả các hình thức quan hệ thanh toán và tín dụng quốc tế

• Các kiến thức về kinh tế hiện tại

Trang 6

NỘI DUNG CHI TIẾT MÔN HỌC KẾT QUẢ HỌC TẬP 1: Trình bày những vấn đề cơ bản về tài chính

Bài hướng dẫn : 1

SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÀI CHÍNH

I Tiền đề ra đời của tài chính

Tài chính là một phạm trù kinh tế - lịch sử Sự ra đời, tồn tại và phát triển của nó gắn liền với sự phát triển của lịch sử xã hội loài người Từ toàn bộ lịch sử phát sinh, phát triển của tài chính chúng ta thấy: Tài chính chỉ ra đời và tồn tại trong những điều kiện lịch sử nhất định, khi mà ở đó có những hiện tượng kinh tế - xã hội khách quan nhất định xuất hiện và tồn tại Có thể xem những hiện tượng kinh tế - xã hội khách quan đó là những tiền đề khách quan quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của tài chính

Karl Marx trong các tác phẩm nghiên cứu Kinh tế chính trị học đã chỉ ra hai tiền đề ra đời của tài chính, đó là sự ra đời và tồn tại của Nhà nước, và sự xuất hiện; phát triển của nền sản xuất hàng hoá - tiền tệ

a- Tiền đệ thứ nhất: sự ra đời và tồn tại của Nhà nước

Trong các hình thái xã hội có Nhà nước, tài chính đã từng tồn tại với tư cách là một công cụ trong tay Nhà nước để phân phối sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, bảo đảm cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước

Nhà nước đầu tiên trong xã hội loài người, là Nhà nước chủ nô, cùng với sự xuất hiện

và tồn tại của nó, những hình thức sớm của tài chính như thuế cũng bắt đầu xuất hiện

Khi một hình thái xã hội mới thay thế một hình thái xã hội cũ, thì một nền tài chính mới ra đời phù hợp với hình thái Nhà nước mới F.Ăngghen viết: “Để duy trì quyền lực công cộng đó, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước, đó là thuế

má Với những bước tiến của văn minh thì bản thân thuế má cũng không đủ nữa; Nhà nước còn phát hành hối phiếu vay nợ, tức là phát hành công trái”

Trong các chế độ xã hội phát triển, các Nhà nước với chức năng quản lý xã hội trong mọi lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục, quốc phòng… đều tăng cường tài chính của mình Như vậy, có thể nói rằng trong điều kiện lịch sử nhất định, khi có sự xuất hiện, tồn tại

và hoạt động của Nhà nuớc (thuế) thì đã có sự xuất hiện, tồn tại và hoạt động của tài chính

b- Tiền đề thứ hai: sự tồn tại và phát triển của kinh tế hàng hoá - tiền tệ

Lịch sử phát triển của tài chính cho thấy rằng, khi những hình thức tài chính đầu tiên xuất hiện theo sự xuất hiện của Nhà nước (thuế) thì đã có sự xuất hiện và tồn tại của sản xuất hàng hoá - tiền tệ, và hình thức tiền tệ đã được sử dụng trong lĩnh vực của các quan hệ tài chính như một tất yếu

Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, thuế bằng tiền đã được áp dụng (như thế quan, thuế gián thu, thuế chợ, thuế tài sản…)

Trong chế độ phong kiến, theo với sự mở rộng các quan hệ thị trường, sản xuất hàng hoá và tiền tệ, lĩnh vực của các quan hệ thuế bằng tiền được mở rộng và tiến hành thường xuyên hơn (như: thuế đất, thuế gián thu với vật phẩm tiêu dùng, thuế hộ gia đình…) tín dụng Nhà nước cũng bắt đầu phát triển

Với sự phát triển vượt bậc của kinh tế hàng hoá - tiền tệ, thu nhập bằng tiền qua thuế và công trái đã trở thành nguồn thu chủ yếu của Nhà nước Theo với thu nhập bằng tiền, chi tiêu bằng tiền đã làm phong phú các hình thức chi tiêu và linh hoạt trong sử dụng vốn

Chính trong thời kỳ phát triển kinh tế tư bản, ngân sách Nhà nước - một loại quỹ tiền tệ tập trung đã hình thành và ngày càng có tính hệ thống chặt chẽ, ngày càng đóng vai trò quan trọng phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị

Nền kinh tế tư bản ra đời và phát triển, thì hình thức của các quan hệ tài chính đã là một yếu tố bản chất của tài chính

Như vậy, sự tồn tại và phát triển của kinh tế - tiền tệ là một tiền đề khách quan quyết định sự ra đời và phát triển của tài chính

Trang 7

Khi nói đến tiền tệ của tài chính, một số nhà lý luận kinh tế nhấn mạnh đến tiền đề thứ nhất - tức là nhấn mạnh đến sự tồn tại của Nhà nước; nhưng một số nhà kinh tế khác không tán thành quan điểm đó; các nhà kinh tế này đưa ra ví dụ về một Nhà nước Khơ-me không thừa nhận nền kinh tế hàng hoá tiền tệ, do đó không có nền tài chính

Nhiều nhà lý luận kinh tế nhất trí nhấn mạnh đến tiền đề thứ hai Theo các nhà kinh tế học này, đặc biệt nhấn mạnh đến sự ra đời và tồn tại của tiền tệ và cho rằng đây là tiền đề có tính chất quyết định sự ra đời và tồn tại của tài chính Các nhà lý luận này dẫn chứng bằng thời kỳ kinh tế xã hội chủ nghĩa, khi đó Nhà nước XHCN không thừa nhận nền kinh tế hàng hoá, nhưng tồn tại tiền tệ nên vẫn tồn tại nền tài chính

II Sự cần thiết khách quan của tài chính

Khi nghiên cứu các tiền đề của tài chính, chúng ta thấy rằng: Chính sự tồn tại của Nhà nước và sự tồn tại của nền kinh tế hàng hoá – tiền tệ quyết định tất yếu khách quan tồn tại của tài chính

Trong quá trình phát sinh, phát triển của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ, Nhà nước ra đời;

để tồn tại và phát triển cũng như để thực hiện chức năng quản lý toàn diện xã hội của các Nhà nước ở các quốc gia và ở mọi thời kỳ, cần thiết phải sử dụng tài chính Vì:

- Để thực hiện phân phối của cải xã hội theo yêu cầu phát triển quốc gia

- Điều tiết một phần thu nhập của các thành phần kinh tế, phục vụ các mục tiêu kinh

tế xã hội trong các giai đoạn phát triển

- Đảm bảo tái sản xuất xã hội và thực hiện đầu tư phát triển kinh tế

- Thực hiện giám sát toàn bộ các hoạt động của quốc gia, đảm bảo sử dụng các nguồn tài chính có hiệu quả

Tóm lại, sự cần thiết khách quan của tài chính là do sự tồn tại khách quan của các tiền

đề tài chính Trong đó, để đáp ứng nhu cầu phát triển nền kinh tế và quản lí xã hội, Nhà nước của các quốc gia cần thiết phải nắm lấy tài chính như một công cụ sắc bén để quản lý quốc gia

 Câu hỏi củng cố :

1 Trình bày sự ra đời của tài chính

2 Trình bày sự cần thiết khách quan của tài chính

Bài hướng dẫn 2: BẢN CHẤT - CHỨC NĂNG CỦA TÀI CHÍNH

I Bản chất của tài chính

Khi nghiên cứu lịch sử phát triển của tài chính, chúng ta thấy quá trình phát triển kinh

tế xã hội đã thúc đẩy sự phát triển của tài chính, và trong các hình thái xã hội khác nhau thì nền tài chính cũng có những biểu hiện thay đổi

Các nhà lý luận kinh tế ở các thời kỳ khác nhau và chế độ xã hội khác nhau, nhận thức

về bản chất của tài chính không có sự nhất quán hoàn toàn Tuy nhiên, K.Marx khi nghiên cứu về nền kinh tế tư bản cũng đã nghiên cứu về tài chính tín dụng xã hội chủ nghĩa

Lý thuết về tài chính, tín dụng, tiền tệ và ngân hàng của K.Marx tuy có hạn chế vì điều kiện lịch sử (Marx nghiên cứu vấn đề này từ cuối TK 19), nhưng giá trị của nó hiện nay nhiều nhà kinh tế học hiện đại vẫn phải thừa nhận

Nghiên cứu một phạm trù kinh tế, đòi hỏi phải xem xét hình thức biểu hiện bên ngoài

và bản chất bên trong của nó

1 Hiện tượng tài chính

Các khoản chi trả chuyển từ doanh nghiệp này thành các khoản thu của doanh nghiệp khác, các khoản nộp (chi) chuyển từ các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, dân cư thành các khoản thu của Ngân sách Nhà nước, các khoản chi chuyển từ ngân sách Nhà nước thành các khoản thu của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội, dân cư…

Trang 8

Từ các hiện tượng tài chính đó cho thấy, trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá tiền tệ,

sự vận động của vốn tiền tệ là tất yếu và diễn ra liên tục Sự vận động đó của vốn tiền tệ, xét theo ý nghĩa là sự thay đổi chủ sở hữu vốn tiền tệ đó, có thể thấy các hiện tượng tài chính biểu hiện các quan hệ giữa những người chi trả vơí những người thu nhận vốn tiền tệ Sự vận động của vốn tiền tệ đã làm thay đổi lợi ích kinh tế của họ

2 Bản chất của tài chính

Tài chính là một mặt của quan hệ phân phối biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, được sử dụng để phân phối của cải xã hội, xây dựng và hình thành nên những quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung, và sử dụng các quỹ tiền tệ đó nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất và nâng cao đời sống cho mọi thành viên trong xã hội

Có thể nói tài chính là một phạm trừu được khái quát lên từ sự vận động của tiền tệ gắn liền với sự hoạt động của con người

Cũng có nhà lý luận kinh tế nói rằng, tài chính là phương thức tạo lập và sử dụng tiền tệ của con người

II Chức năng của tài chính

Chức năng của tài chính là sự cụ thể hoá bản chất của tài chính, nó mở ra nội dung của tài chính và vạch rõ tác dụng xã hội của tài chính Chức năng của tài chính là khả năng bên trong, biểu lộ tác dụng xã hội của nó và tác dụng đó chỉ có thể có được với sự tham gia nhất thiết của con người

Tài chính vốn có hai chức năng: Thứ nhất là: Phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thái tiền tệ; Thứ hai là: Giám đốc bằng tiền đối với toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội (gọi tắt là chức năng giám đốc)

1 Chức năng phân phối:

Tài chính được coi là khu trung tâm trong việc phân phối của cải xã hội Chức năng phân phối là chức năng quan trọng nhất của tài chính

Phân phối của cải xã hội, trải qua quá trình phân phối lần đầu và nhiều lần phân phối lại

Phân phối lần đầu là phân phối tiến hành trong lĩnh vực sản xuất vật chất, hình thành nên quỹ bù đắp tư liệu sản xuất, những khoản thu nhập ban đầu cho người lao động và thu nhập thuần tuý của xã hội (thu nhập thuần tuý của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, dân cư

và thu nhập thuần tuý tập trung của Nhà nước)

Trong các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, dân cư, sản phẩm làm ra sau khi tiêu thụ và thu được tiền, được phân phối một phần để bù đắp vốn cố định và vốn lưu động đã tiêu hao, một phần trả lương cho người lao động, một phần nộp thuế cho Nhà nước dưới hình thức các loại thuế, một phần nộp quỹ bảo hiểm xã hội và một phần nữa làm lợi nhuận xí nghiệp, doanh nghiệp (để hình thành các quỹ doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và phân chia lợi tức cho người góp vốn)

Phân phối lần đầu, mới chỉ tạo ra những khoản thu nhập cơ bản, chưa thể đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội Do đó phải trải qua quá trình phân phối lại

Phân phối lại thu nhập là tiếp tục phân phối những phần thu nhập cơ bản được hình thành qua phân phối lần đầu, để đáp ứng nhu cầu tích luỹ và tiêu dùng của toàn xã hội (các ngành không sản xuất: Quân đội, Giáo dục, Y tế …)

Mục đích của phân phối lại là:

 Bổ sung thêm vào ngân sách Nhà nước để đáp ứng nh cầu chi tiêu cho toàn xã hội

 Tạo nguồn thu nhập cho các lĩnh vực không sản xuất vật chất và những người làm việc trong các lĩnh vực đó

 Điều kiện thu nhập giữa các ngành, giữa cá doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế, các tầng lớp dân cư

 Điều tiết các hoạt động kinh tế trên phạm vi vĩ mô

Phân phối lại được tiến hành thông qua ba biện pháp: Biện pháp tài chính- tín dụng, biện pháp giá cả về hoạt động phục vụ Trong đó biện pháp tài chính- tín dụng giữ vai trò trung tâm

Trang 9

2 Chức năng giám đốc

Chức năng giám đốc của tài chính là chức năng mà nhờ vào đó việc kiểm tra bằng đồng tiền được thực hiện với quá trình phân phối của cải xã hội thành các quỹ tiền tệ và sử dụng chúng theo các mục đích đã định

Như vậy, đối tượng Giám đốc của tài chính là quá trình phân phối của cải xã hội dưới hình thái tiền tệ - quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung theo các mục tiêu đã định

Thực hiện chức năng giám đốc tài chính nhằm mục đích sau:

- Bảo đảm cho các cơ sở kihn tế cũng như toàn bộ kinh tế phát triển theo những mục tiêu định hướng của Nhà nước

- Đảm bảo việc sử dụng các nguồn lực khan hiếm một cách có hiệu quả, tiết kiệm tới mức tối đa các yếu tố sản xuất trong xã hội

- Bảo đảm vốn đạt hiệu quả cao

- Bảo đảm việc chấp hành pháp luật trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh

Nội dung giám đốc tài chính, gồm có những nội dung chính sau:

- Giám đốc tài chính trong quá trình lập và thực hiện kế hoạch Ngân sách Nhà nước

- Giám đốc tài chính trong các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế dựa trên cơ sở hạch toán kinh tế và hợp đồng kinh tế

- Giám đốc tài chính trong quá trình cấp phát, cho vay và thanh toán vốn đầu tư XDCB Ngoài ra, Giám đốc tài chính còn được thực hiện trong các hộ kinh tế dân cư

Giám đốc tài chính dù thực ở đâu, cũng điều là sự giám đốc toàn diện đối với quá trình hình thành phân phối và sử dụng các nguồn vốn trong quá trình hoạt động của từng khâu và trong toàn xã hội

Hai chức năng của tài chính có mối quan hệ hửu cơ, bổ sung cho nhau, trong đó việc thực hiện chức năng phân phối là tiền đề để thực hiện chức năng giám đốc, và ngược lại việc thực hiện tốt chức năng giám đốc sẽ tạo điều kiện để thực hiện chức năng phân phối tốt hơn Trên cơ sở nhận thức được bản chất, chức năng của tài chính hoạt động tài chính mới phát huy được vai trò của nó trong nền kinh tế

 Câu hỏi củng cố :

Trình bày bản chất, chức năng của tài chính?

Bài hướng dẫn 3: TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG TÀI CHÍNH

I Vai trò của hệ thống tài chính

Trong thực tế, các quan hệ tài chính diễn ra rất phức tạp và đa dạng, chúng đan xen nhau trong một tập hợp hàng loạt các hoạt động khác nhau của nền kinh tế Tuy nhiên, đó không phải là những hoạt động hỗn loạn, mà ngược lại chúng tuân thủ những nguyên tắc, những quy luật nhất định, trong đó những quan hệ tài chính có tính chất đặc thù giống nhau nhóm lại thành một bộ phận riêng Giữa các bộ phận này luôn có mối liên hệ, tác động ràng buộc lẫn nhau và tạo thành hệ thống tài chính

Do vậy, hệ thống tài chính hoạt động trên các lĩnh vực: tạo ra các nguồn lực tài chính, thu hút các nguồn lực tài chính và chu chuyển các nguồn tài chính (dẫn vốn) Với các lĩnh vực hoạt động này, toàn bộ hệ thống tài chính thực hiện vai trò đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân là đảm bảo nhu cầu về vốn cho phát triển xã hội

II Cấu trúc của hệ thống tài chính

Cấu trúc của hệ thống tài chính bao gồm các tụ điểm vốn và bộ phận dẫn vốn được tổ chức theo sơ đồ sau:

Trang 10

Các tụ điểm vốn là bộ phận mà ở đó các nguồn tài chín được tạo ra, đồng thời cũng là nơi thu hút trở lại các nguồn vốn, tuy nhiên ở các mức độ và phạm vi khác nhau Trong hoạt động kinh tế, các tụ điểm vốn này có mối liên hệ thường xuyên với nhau thông qua những mối liên hệ nhất định

1 Tài chính doanh nghiệp

Chính tại đây nguồn tài chính xuất hiện và đồng thời đây cũng là nơi thu hút trở lại phần quan trọng các nguồn tài chính trong nền kinh tế Trong hệ thống tài chính, tài chính doanh nghiệp được coi như những tế bào có khả năng tái tạo ra các nguồn tài chính Do vậy,

nó có tác động rất lớn đến đời sống xã hội, đến sự phát triển hay suy thoái của nền sản xuất Tài chính doanh nghiệp có quan hệ mật thiết đến tất cả các bộ phận của hệ thống tài chính trong quá trình hình thành và sử dụng vốn có nội dung khác nhau, quá trình kinh doanh chứng khoán trên thị trường chứng khoán Mỗi quan hệ điều có những nét khác biệt và có những tác động khác nhau đến tài chính doanh nghiệp Chính sự đa dạng này phản ánh mối quan hệ giữa tài chính doanh nghiệp với các bộ phận khác trong hệ thống tài chính

Trong nền kinh tế thị trường, đặc trưng cơ bản của bộ phận tài chính doanh nghiệp thể hiện ở chỗ, nó bao gồm những quan hệ tài chính vận hành theo cơ chế kinh doanh hướng tới lợi nhuận cao Chính nhờ cơ chế này mà nguồn tài chính được tăng cường và mở rộng không ngừng đáp ứng tốt nhất nhu cầu về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh

2 Ngân sách nhà nước:

Ngân sách nhà nước gắn liền với các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước; đồng thời là phương tiện vật chất cần thiết để hệ thống chính quyền nhà nước thực hiện được nhiệm vụ của mình Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, ngân sách nhà nước còn có vai trò to lớn trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội Đó là vai trò định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội…Để thực hiện các vai trò

đó, ngân sách nhà nước phải có nguồn vốn được tập trung từ các tụ điểm vốn thông qua các chính sách thu thích hợp Ngân sách nhà nước thực hiện các khoản chi cho tiêu dùng thường xuyên và chi cho đầu tư kinh tế Việc cấp phát vốn ngân sách nhà nước cho các mục đích khác nhau này sẽ làm tăng nguồn vốn ở các tụ điểm nhận vốn Như vậy hoạt động thu chi ngân sách nhà nước đã làm nảy sinh các mối quan hệ kinh tế giữa một tụ điểm vốn quan trọng ngân sách nhà nước với các tụ điểm khác của hệ thống tài chính

3 Tài chính dân cư

Đây là một tụ điểm vốn quan trọng trong hệ thống tài chính Hoạt động tài chính của các nước có nền kinh tế phát triển và hoạt động tài chính ở nước ta những năm gần đây đã chỉ

ra rằng: nếu có những biện pháp thích hợp, chúng ta có thể huy động được một khối lượng vốn đáng kể từ các hộ gia đình để phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, đồng thời còn góp phần to lớn vào việc thực hiện các chính sách về định hướng tích lũy và tiêu dùng của Nhà nước

Tài chính doanh nghiệp

Ngân sách nhà nước

Thị trường tài chính và tổ chức tài chính trung gian

Tài chính dân

cư, tổ chức xã

Tài chính đối ngoại

Trang 11

Tuy nhiên cũng cần nhận thấy rằng: tính chất phân tán và đa dạng là đặc điểm nổi bậc của tài chính hộ gia đình Nguồn lực tài chính không quy tụ vào những tụ điểm lớn mà phân

bố rải rác, không đồng đều trong hàng triệu tế bào nhỏ của nền kinh tế: đó là các hộ gia đình Nhưng tổng quy mô của nguồn vốn tiềm tàng trong các hộ gia đình thì rất lớn và cần phải có các biện pháp lưu tâm thích đáng

Tài chính hộ gia đình có thể có quan hệ thường xuyên với tất cả các tụ điểm vốn và các

bộ phận trong hệ thống tài chính

4 Tài chính đối ngoại:

Trong nền kinh tế thị trường, khi các quan hệ kinh tế đã quốc tế hóa thì hệ thống tài chính cũng là một hệ thống mở với những quan hệ tài chính đối ngoại hết sức phong phú Trên thực tế, những quan hệ này không tập trung vào một tụ điểm nhất định mà chúng phân tán, đan xen vào các quan hệ tài chính khác Tuy nhiên, do tính chất đặc thù và vị trí đặc biệt quan trọng của các quan hệ tài chính đối ngoại cho nên người ta thừa nhận nó hình thành một

bộ phận tài chính có tính chất độc lập tương đối

Những kênh vận động của tài chính đối ngoại gồm:

- Quan hệ nhận viện trợ hoặc vay vốn nước ngoài cho quỹ NSNN hoặc cho các doanh nghiệp, thậm chí cho cả dân cư

- Quan hệ về tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài giữa các tổ chức kinh tế trong nước và nước ngoài

- Quá trình thanh toán xuất - nhập khẩu giữa các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế trong

5 Bộ phận dẫn vốn thực hiện các chức năng truyền dẫn vốn giữa các tụ điểm vốn trong hệ

thống tài chính bao gồm thị trường tài chính và các tổ chức tài chính trung gian

Hoạt động của thị trường tài chính thực hiện chức năng dẫn vốn từ những người có vốn sang những người cần vốn thông qua hoạt động tài chính trực tiếp Hoạt động dẫn vốn trực tiếp được thực hiện bằng cách những người cần vốn bán ra thị trường các công cụ nợ, các cổ phiếu hoặc thực hiện các món vay thế chấp Những người có vốn sẽ sử dụng tiền vốn của mình để mua vào các công cụ nợ hoặc các cổ phiếu đó, như vậy vốn đã được chuyển từ người

có vốn sang người cần vốn một cách trực tiếp Với chức năng này, thị trường tài chính có tác dụng thu hút mọi nguồn vốn cần thiết cho đầu tư phát triển kinh tế, làm nâng cao hiệu quả chung của toàn bộ nền kinh tế và cải thiện mức sống của người tiêu dùng ngay cả khi khả năng thực tế về tài chính của họ chưa cho phép

Trong hệ thống tài chính, các trung gian tài chính thực hiện việc dẫn vốn thông qua hoạt đông tài chính gián tiếp Trước hết, các trung gian tài chính huy động vốn từ những người có vốn (người tiết kiệm) bằng nhiều hình thức để tạo thành vốn kinh doanh của mình Sau đó, họ sử dụng vốn kinh doanh này để cho những người cần vốn vay lại hoặc thực hiện các hình thức đầu tư khác nhau Bằng cách này, các trung gian tài chính đã tập trung được các nguồn vốn nhỏ từ các hộ gia đình, các tổ chức kinh tế thành một lượng vốn lớn, đáp ứng nhu cầu của người cần vốn từ những khối lượng vay nhỏ đến những khối lượng vay lớn, từ những

cá nhân chưa từng được ai biết đến tới những công ty lớn có tiếng trên thị trường Chính vì vậy, các trung gian tài chính đã đáp ứng đượcnhững nhu cầu mà thị trường tài chính không giải quyết được, hoặc giải quyết không có hiệu quả

Tùy theo lĩnh vực và phạm vi hoạt động, các trung gian tài chính được chia ra thành

- Các ngân hàng thương mại

- Các tổ chức tài chính trung gian phi ngân hàng: Công ty bảo hiểm, quĩ trợ cấp, công ty tài chính, quỹ đầu tư…

Trang 12

 Câu hỏi củng cố:

Trình bày tổng quan về hệ thống tài chính?

Trang 13

KẾT QUẢ HỌC TẬP 2: Trình bày nguồn ngân sách nhà nước

Bài hướng dẫn 1: KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

I Khái niệm và vai trò của ngân sách nhà nước

1 Khái Niệm Về Quản Lý Ngân Sách Nhà Nước (NSNN)

Ngân sách Nhà nước ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước để chi tiêu, Nhà nước

đã đạt ra chế độ thuế hóa bắt toàn dân phải đóng góp Từ các khoản thu từ thuế, hình thành lên quỹ tiền tệ của Nhà nước Lúc đầu, Nhà nước sử dụng quỹ này để nuôi hộ may Nhà nước

và binh lính, về sau, Nhà nước còn dùng tiền quỹ của mình để chi tiêu cho phút lệ xã hội và phát triển kinh tế

Quỹ tiền tệ được hình thành và sử dụng như trên chính là NSNN

Chưa có sự thống nhất trong khái niệm về NSNN, nhưng có sự thống thất về nội dung của NSNN – là bảng tổng hợp các khoảng thu và các khoản chi của Nhà nước Nhà nước thực hiện quyền lập pháp về NSNN (qui định các khoản thu, các khoản chi, tổng số thu, tổng số chi, phân cấp quản lý…), còn có quyền hành pháp giao cho, Chính phủ thực hiện Do đó, có khi người ta còn gọi là ngân sách Chính phủ

Ở nước ta sau khi cách mạng tháng 8 – 1945, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện quyền lực về ngân sách Nhà nước và đã cho thực hiện một số sắc lệnh về bãi bỏ thuế thân, hình thành hệ thống thuế mới, giảm gánh nặng thuế cho dân nghèo

Tuy nhiên, trong thời kháng chiến (1946 – 1954) mọi vấn đề huy động và chỉ tiêu của NSNN đến nhằm mục đích phục vụ kháng chiến Giai đoạn 1954 – 1975, là giai đoạn khôi phục và củng cố kinh tế ở Miền Bắc, đấu tranh giải phóng Miền Nam, đặc điểm nổi bật của NSNN thời kỳ này là thu của NSNN được tài trợ của nước ngoài rất lớn Tính bao cấp trong thời kỳ này là do sự bao cấp quốc tế đối với NSNN ta

Sau tháng 4 1975, khi mọi điều kiện đảm bảo cho sự tồn tại của cơ quan quản lý tập trung, bao cấp đã hết, nhưng chúng ta vẫn duy trì khá lâu cơ chế đó trong quan lý NSNN Bội chi NSNN từ 1976 đến 1989, nhất là giai đoạn 1986 – 1989, do vậy tỉ lệ phát nhanh để bù đắp thiếu hụt NS ngày càng tăng; nếu tỉ lệ phát hành so với tổng số thu NSNN năm 1985 là 8,58%, năm 1986: 23,37%, năm 1987: 20,94%, năm 1988: 33:,54% thì năm 1989 là 36,38%

Có nhiều nguyên nhân về trình trạng bội chi NSNN: Sự tri trệ của nền kinh tế cơ quan quản lý bao liêu bao cấp, luật pháp lỏng lẻo… Nhưng dù sao, cũng không thể duy trì tình trạng quản lý NSNN như vậy, mà cần có sự chuyển biến thực sự và cơ bản trong nhận thức cũng như trong thực tiển quản lý

2 Vai trò của NSNN trong nền kinh tế thị trường

Trong nền kinh tế thị trường vai trò của NSNN được thay đổi và trở nên hết sức quan trọng, trong quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc gia Ngân sách Nhà nước có vai trò sau:

+ Thứ nhất: NSNN là công cụ để điều tiếp thị trường, bình ổn và chống lạm phát Trong nền kinh tế thị trường, qui luật cung cầu là quy luật chi phối rất mạnh cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng Để đảm bảo lệ ích cho họ (người sản xuất và người tiêu dùng), đồng thời để giữ vững xu hướng phát triển cơ cấu kinh tế đã được hoạch định, chính phủ có cần sự tác động tích cực trên thị trường (thị trường hàng hóa, thị trường tiền tệ thị trường vốn, thị trường xuất lao động…)

Việc điều chỉnh các thị trường này phải được thực hiện đồng bộ giữa các công cụ về tài chính, tiền tệ, giá cả… trong đó, công cụ NS thông qua các biện pháp phát hành trái khoán, hoặc các biện pháp chi tiêu của chính phủ…

+ Thứ hai: NSNN định hướng phát triển sản xuất

Thông qua các khoản chi kinh tế và đầu tư xây dựng hệ thống các công trình giao thông, thủy lợi, thông tin liên lạc… Chính phủ có thể tạo điều kiện và hướng dẫn nguồn vốn đầu tư của xí nghiệp vào những lĩnh vực và những vùng cần thiết để hình thành cơ cấu kinh

tế thích hợp, điều hòa thị trường hàng hóa và thị trường sức lao động giữa các vùng, các khu vực

Trang 14

Một chính sách khác của NSNN có tác động trực tiếp đến sản xuất, là thuế đặt ra các loại thuế và tỉ xuất có ưu đãi có tác dụng kích thích mạnh mẽ đối với doanh nghiệp

+ Thứ ba: NSNN có vai trò điều chỉnh thu nhập

Chúng ta đã đem xét vấn đề này trong chính sách tài chính của nhà nước Qua đó chúng ta thấy rằng, NSNN đóng vai trò trung tâm phân phối lại, nhằm chuyển một phần thu nhập từ các tầng lớp giàu có sang các tầng lớp những người nghèo và những người thuộc diện được hưỡng chính sách xã hội

Mặc khác, thông qua một số công vụ NSNN khác để thực hiện phân phối đó là thuế, việc sử dụng các sắc thuế với suất hợp lý sẽ có tác dụng một mặt đảm bảo nguồn thu cho NSNN, nhưng mặt khác công cụ này có tác dụng điều chỉnh thu nhập rất công hiệu, điều hoà giữa các ngành kinh tế, các vùng doanh nghiệp và các tầng lớp dân cư có mức thu nhập khác nhau

Các vai trò trên của NSNN cho thấy tính chất quan trọng của NSNN với các công cụ của nó có thể quản lý toàn diện và các hiệu quả đối với toàn bộ nền kinh tế

 Câu hỏi củng cố:

Trình bày khái niệm và vai trò của ngân sách nhà nước

Bài hướng dẫn 2: QUÁ TRÌNH THU - CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

I Thu ngân sách nhà nước

Thu NSNN, bao gồm hai nội dung lớn:

- Thu từ thuế và một số khoản khác không mang tính chất thuế như: Thu lợi tức cổ phần của Nhà nước tại các công ty cổ phần thu về bán tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, thu sổ kiến thiết Đây là những khoản thu mang tính chất không hoàng trả, nó phục vụ trực tiếp cho nhu cầu chỉ tiêu của chính Phủ

- Thu từ các khoản vay nợ, viện trợ của chính phủ Đây là những khoản vay để bù đắp thiếu hụt NSNN

Đối với những khoản thu thuộc nội dung thứ nhất, được gọi là thu trong cân đối ngân sách, đây là khoản thu chủ yếu, quan trong trong đó thuế là một khoản thu có ý nghĩa đặc biệt đối với NSNN Những khoản thu thuộc nội dung thứ hai, được gọi là thu để bù đắp, thiếu hụt ngân sách

1 Thu trong cân đối ngân sách

Có 4 khoản thu thuộc nội dung thu này, nhưng khoản thu quan trọng nhất, mà sự tác động của nó cón vượt khỏi phạm vi của tài chính là thuế

Thuế không chỉ đơn thuần là một nguồn thu chủ yếu của NSNN, mà thuế còn gắn liền các vấn đề về việc tăng trưởng kinh tế, về sự công bằng trong phân phối và sự ổn định xã hội Trong phạm vi nghiên cứu các vấn đề của tài chính và NSNN, chúng ta sẽ xem xét thuế với các vai trò cơ bản của nó là: tạo nguồn cho NSNN, kích thích tăng trưởng và điều chỉnh thu nhập

+ Tạo nguồn thu cho NSNN: Là vai trò đầu tiên của thuế, vai trò này xuất phát từ yêu cầu của Nhà nước và quyền lực của Nhà nước đối với xã hội

Nhà nước có thể dùng công cụ hành chính để đặt ra các loại thuế và các mức thuế một cách tuỳ ý Tuy nhiên khi xét về mục đích lâu dài, khi định ra các loại thuế, Chính phủ không chỉ đơn thuần thỏa mãn nhu cầu tăng thu của NSNN, mà phải thỏa mãn yêu cầu tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh thu nhập việc đáp ứng cà 3 yêu cầu đó đòi hỏi chính phủ phải tính toán, cân nhắc kỷ lưỡng khi ban hành các sắc thuế cũng như tỉ lệ thuế suất

Trong thực tế nhiều khi chính phủ quá chú trọng đến yêu cầu tăng thu để giải quyết các nhiệm vụ chi cấp bách, mà không thấy tác động làm giảm nguồn vốn dành cho đầu tư của các doanh nghiệp

Trang 15

Mặt khác, sự yếu kém về nhiệm vụ và thiếu trách nhiệm của người thừa hành trong hệ thống quản lý thuế đã làm giảm, thậm chí gây tác động ngược lại vai trò tích cực của thuế Thực tế công tác thuế của nước ta trong thời gian qua đã bộc lộ sự yếu kém của hệ thống bộ máy thu thuế Chưa có số liệu điều tra chính thức để xác định hiệu quả của một sắc thuế, cũng như những tổn thất về thuế ở ta trong thời gian qua Nhưng chỉ với con số thất thu không dưới 40% về doanh số về hộ kinh doanh, cũng cho thấy tình hình quản lý thuế của chúng ta còn có những kẻ hở nghiêm trọng cần được xử lý

+ Kích thích tăng trưởng kinh tế, là một vai trò không kém phần quan trong biểu hiện của vai trò này rất phức tạp Về phương diện tổng hợp thì khi tỉ lệ thuế trong thu nhập quốc dân tăng lên sẽ làm giảm khả năng tăng trưởng kinh tế của các doanh nghiệp

Thực tế vấn đề không hoàn toàn đơn giản như vậy, vì khi nói đến thuế thì phải đề cập toàn diện một cơ cấu thuế hoàn chỉnh và tác động nhiều mặt của nó đối với các hoạt động kinh tế - xã hội

Ở nước ta, một thời gian chúng ta cố gắng nâng lãi suất một số loại thuế như hàng hóa, thuế doanh thu, thuế lợi tức, nhưng lại không chú ý tới thuế tài nguyên, do đó mặt thất thu cho NSNN, mặt khác tài nguyên bị sử dụng một cách lãng phí, gây thiệt hại cho nền kinh tế Một khía cạnh khác ảnh hưởng của thuế đối với sự tăng trưởng đó là vai trò của NSNN đối với sự tăng trưởng có những ngành kinh tế (kinh tế công cộng) cần có sự đầu tư của Nhà nước Điều đó đòi hỏi phải huy động thuế ở một tỉ lệ tương đối cao đối với một số ngành, một

số khu vực nhất định (có điều kiện thuận lợi) và trong những thời kỳ nhất định, để tạo cơ sở

hạ tầng cho nền kinh tế

Tuy vậy, chính sách thuế cũng cần phải dành quyền ưu đãi cho một số ngành kinh tế, một số vùng kinh tế để kích thích sự tăng trưởng Như áp dụng một tỉ lệ lãi suất thấp, hoặc thực hiện miễn, giảm thuế

+ Vai trò quan trọng thứ ba của thuế là điều chỉnh thu nhập

Trong hoạt động của NSNN, vai trò tạo nguồn thu điều chỉnh thu nhập thường để thể hiện trong mối quan hệ phụ thuộc và hổ trợ lẫn nhau Việc tăng thuế một số loại (thuế thu nhập, thuế lợi tức) sẽ làm giảm thu nhập ở một số ngành, một số người (có thu nhập cao) và làm tăng nguồn vốn để phân phối lại cho một số ngành khác, một số người khác có thu nhập khác thông qua chính sách chi ngân sách

Mặt khác, mục đích của Chính phủ không chỉ giới hạn ở hai yêu cầu trên và những nhà kinh doanh cũng không thể suốt đời phục vụ cho mục đích tăng trưởng nếu thu nhập của họ

bị chia sẻ một cách vô lý Đây là mâu thuẫn rất cơ bản trong nền kinh tế thị truờng mà chính sách tài chính của chính phủ phải giải quyết

Thực ra, vẫn có một mối quan hệ phụ thuộc để tồn tại giữa các nhà kinh doanh với người lao động Tức là, có một giới hạn phân phối lại mà ở đó độ nhạy cảm về sự tăng trưởng

bị hạn chế, các nhà kinh doanh sẵn sàng đóng góp một phần thu nhập cho xã hội mà không làm suy giảm sự tăng trưởng của họ Chính sách thuế phải xác định được khung giới hạn đó thông qua phản ứng của các doanh nghiệp đối với thuế suất của từng loại thuế và có sự điều chỉnh phù hợp

Có thể xử lý mối quan hệ giữa mục đích tăng trưởng và phân phối lại thu nhập theo một hướng khác, là tăng cường các hình thức khác, tăng cường các hình thức đánh thuê dán tiếp váo các mặt hàng hoặc các dịch vụ mà đối tượng sử dụng chúng là các đối tượng có thu nhập cao Nguyên lý của phương pháp này là: Chính phủ đánh thuế vào những gì mà đối tượng chịu thuế lấy đi của xã hội sẽ tác dụng tốt hơn là đánh thuế vào những gì mà đối tượng chịu thuế nhập vào xã hội Đây là một biện pháp được coi là có hiệu quả cả về mặt tâm lý và

cả về phương diện quản lý

Ngoài thuế, thu trong cân đối ngân sách còn bao gồm các khoản thu về bán tài sản thuộc sở hữu Nhà nước và thu về lợi tức cổ phần của Nhà nước

+ Thu về bán tài sản thuộc sở hữu Nhà nước thực chất là khoản thu hồi số vốn còn lại đối với các tài sản của các doanh nghiệp công cộng (quốc doanh) trong quá trình tư nhân hóa, hay cổ phần hóa các doanh nghiệp này, hoặc các khoản thu khi Nhà nước chủ trương bỏ vốn

Trang 16

đầu tư xây dựng các xí nghiệp để bán lại cho các nhà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh

tế khác

+ Thu về lợi tức cổ phần của Nhà nước được hình thành khi Nhà nước tham gia góp vốn cổ phần để hình thành các công ty xí nghiệp cổ phần và được hưởng lợi tức từ vốn góp Trong quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp quốc doanh hiện nay ở nước ta thì khoản thu

về lợi tức cổ phần là một nguồn thu đáng kể của ngân sách Nhà nước

Nước ta trong quá trình tư nhân quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp công cộng, một mặt tạo thêm nguồn thu đáng kể cho NSNN, mặt khác, tạo điều kiện cho việc khac thác

sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn của ngân sách Nhà nước

2 Thu để bù đắp thiếu hụt ngân sách

Trong quá trình thu chi ngân sách, các Chính phủ thường có nhu cầu chi nhiều hơn số tiền thu được (các khoản thu trên) và việc cắt giảm các khoản chi rất là khó khăn Do đó bắt buộc Chính phủ phải tính tới những giải pháp để bù đắp cho sự thâm hụt của ngân sách Nhà nước Giải pháp quan trọng, chủ yếu là chính phủ phải tiến hành vay thêm tiền để chi tiêu, bao gồm vay các tầng lớp dân cư các tổ chức kinh tế - xã hội, vay ngân hàng và vay nước ngoài

+ Vay các tầng lớp dân cư và các tổ chức kinh tế - xã hội, được thực hiện dưới hình thức phát hành các loại trái phiếu quốc gia (công trái)

Vay dưới hình thức phát hành công trái, được sử dụng ở hầu hết các quốc gia trong nhiều thời kỳ để bù đắp thâm thủng ngân sách Ở nước ta, ngay từ kế thế kỉ trước, thực dân Pháp đã phát hành công trái để thu hút nguồn vốn trong nhân dân ta Từ năm 1896 đến năm

1944 họ đã phát hành 12 lần và huy động được trên 2.000 triệu Francs và hơn 54 triệu đồng bạc

Sau khi cách mạng tháng 8 – 1945, Nhà nước ta cũng tiến hành công trái để huy động tài lực nhân dân Tháng 7 – 1946 phát hành công trái ở Nam Bộ vay của dân 5 triệu đồng, lãi suất động viên 5% Năm 1948, chính phủ phát hành công phiếu kháng chiến nhằm huy động vốn phục vụ sản xuất và chiến đấu, mặt khác công phiếu được coi như một số tiền dự trữ Tổng phát hành 500 triệu đồng, lãi huy động 3%, thời hạn 5 năm Nhưng do mục đích không

rõ ràng, nên kết quả thu được thấp, đến năm 1949 mới bán được 40% số phiều phát hành Năm 1950, Chính phủ phát hành công trái lần thứ 3 ghi bằng thóc để đảm bảo giá trị số tiền cho vay, tổng số phát hành 100.000 tấn thóc, lãi suất 3% thời hạn 5 năm, nhưng thực tế chỉ đạt được 30% kết quả dự kiến

Kinh nghiệm phát hành công trái cho thấy: Việc phát hành chưa thu được kết quả tốt, một phần là do nhân dân ta chưa quen với hình thức cho vay này và chưa hiểu được ý nghĩa của nó Hơn nữa, mức lãi suất của công trái định ra quá thấp so với lãi suất thông thường nên không có tác dụng kích thích Mặt khác là do việc thanh toán không đúng kỳ hạn

Giai đoạn gần đây, chính phủ ta đã khôi phục lại hình thức phát hành công trái bằng tiền, bằng thóc, bằng vàng, nhưng do yếu tố tâm lý và do yếu tố trược giá, nên việc huy động bằng công trái rất khó khăn, mang tính chất cưỡng ép nhiều hơn là tự nguyện Thực trạng đó đòi hỏi phải nhìn nhận và sử lý vấn đề vay dân một cách nghiêm túc hơn và khách quan hơn Hình thức huy động vốn bằng công trái có hai vấn đề quan trọng nhất là lãi suất và trả

nợ

Nếu lãi suất của công trái quá thấp so với lãi suất NH (ngân hàng) và lợi tức cổ phần hoặc tỉ lệ lạm phát (tỉ lệ trược giá hàng hóa và dịch vụ) thì người mua công trái sẽ bị thiệt thòi

và không kích thích người dân bỏ vôn cho vay

Hơn nữa, việc thanh toán công trái không được thực hiện sòng phẳng tiền gốc và tiền lãi theo đúng thời gian quy định có tác động rất lớn đến yếu tố tâm lý và tập quán cho vay của người dân

Thực chất của hình thức huy động vốn này trong nền kinh tế thị trường, nhất là trong điều kiện kinh tế chưa ổn định thị trường vốn và thị trường tiền tệ chưa phát triển, thì yếu tố rủi ro cao mà người gánh chịu rủi ro có thể là người dân mà có thể là Nhà nước

Trang 17

Vì vậy, hình thức này phải được tính toán một cách chi tiết và thận trọng trong việc xác định lãi suất huy động, hình thức và thời hạn thanh toán… phù hợp với thực tế của nền kinh

tế và xu hướng phát triển theo dự báo

+ Vay ngân hàng Nhà nước cũng là một hình thức ngân hàng làm đại lý mua (để phát hành) các phiếu công trái của kho bạc Nhà nước, cho vay đối với NSNN và được bảo đảm bằng các trái phiếu kho bạc sinh lãi do bộ tài chính giao cho NHNN

Ở nước ta, pháp lệnh về NGNN Việt Nam qui định các trái phiếu kho bạc này có kỳ hạn tối đa là 180 ngày và có thể chuyển nhượng

+ Nguồn vốn nước ngoài, cũng là nguồn vốn bù đắp có vai trò quan trọng Nguồn vốn này được thể hiện dưới hai hình thức: Viện trợ của các Chính phủ, các tổ chức quốc tế và hoặc các công ty tư nhân Chúng ta hãy xem xét ỹ vần đề này trong phần hoạt động tài chính đối ngoại

Thực trạng ngân sách nước ta giai đoạn vừa qua thâm hụt khá lớn, nhưng các biện pháp huy động để bù đắp lại bị hạn chế, đặc biệt là nguồn vay dân cư qua phát hành công trái còn chưa đáng kể (năm 1986 – 0, 04%, năm 1987 –2,2% và năm 1988 – 1,6% tổng số thâm hụt ngân sách)

II Chi ngân sách nhà nước

Chi ngân sách, một công cụ của chính sách tài chính quốc gia có tác động rất lớn đối với nền kinh tế vĩ mô Chi ngân sách bao gồm nhiều khoản, người ta thường chia làm hai loại chi lớn và chi tích lũy và chi tiêu dùng Trên thế giới người ta chia thành: Chi đầu tư phát triển sản xuất (chi XDCB) và chi tiêu dùng (các chi còn lại)

1 Chi đầu tư phát triển kinh tế

NSNN với vai trò quan trọng của nó, được coi là một công cụ quan trọng trong quản lý kinh tế vĩ mô, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho việc bỏ vốn đầu tư của các doanh nghiệp vào các lĩnh vực cần thiết, phù hợp với các mục tiêu của nền kinh tế Nói khác

đi, là việc chi tiêu cho đầu tư phát triển kinh tế NSNN cần nhằm mục đích tạo ra một sự khởi động ban đầu, kích thích quá trình vận động các nguồn vốn trong xã hội để hướng tới sự tăng trưởng Với ý nghĩa đó, thì điều cần thiết có tính chất quyết định không phải chỉ là khối lượng vốn mà còn là đối tượng bỏ vốn

Chi ngân sách cho đầu tư kinh tế, thời gian không phải là nhỏ Chúng ta có số liệu về đầu tư sau:

1981 - 1985 1986 – 1990

1 Tỉ trọng chi phí đầu tư phát triển kinh tế so với tổng

chi ngân sách Nhà nước

Thứ nhất: Trong nền kinh tế nước ta thời gian qua tồn tại chủ yếu hai thành phần kinh

tế: quốc dân và tập thể nguồn vốn dành cho kinh tế tập thể rất hạn chế, còn nguồn vốn kinh

tế quốc doanh lại tập trung vào NSNN Do đó, trên thực tế toàn bộ nguồn vốn đầu tư cho nền kinh tế được cấp từ NSNN Như vậy, “sự khởi động” mà ngân sách tạo ra đã rơi vào một khoảng trống, không có tác động lan truyền

Thứ hai: Đối tượng bỏ vốn Các nhà nghiên cứu kinh tế trên thế giới điều cho rằng,

nguồn vốn của tăng trưởng kinh tế bao gồm hai yếu tố một là yếu tố nguồn vốn, hai là yếu tố đối tượng bỏ vốn lĩnh vực đầu tư Các nghiên cứu kinh tế cũng cho thấy, ở các quốc gia mà thu nhập bình quân đầu người thấp thì tỉ trọng phần nông nghiệp và tỉ trọng phần công nghiệp

Trang 18

và dịch vụ trong TNQD ngang nhau Tỉ trọng nông nghiệp có xu hướng cùng với sự tăng lên của thu nhập bình quân trên đầu người Như vậy, nếu muốn tăng trưởng nhanh không thể dựa vào nông nghiệp chỉ ở một giới hạn vừa phải để tập trung cho đầu tư phát triển công nghiệp Các nhà kinh tế cũng đưa ra hai quan điểm về đối tượng đầu tư trong công nghiệp Một quan điểm đầu tư cho rằng cần phát triển đồng bộ tất cả các ngành công nghiệp, mà chỉ tập trung một số ngành có ưu thế, nhất là các nước nghèo nên chính phủ biết lựa chọn lĩnh vực đầu tư một cách chính xác thì đảm bảo có sự tăng trưởng đáng kể

Đâu là tiêu chuẩn để lựa chọn thứ tự đầu tư? Khi nghiên cứu tình hình đầu tư ở một số nước có tốc độ tăng trưởng cao (các nước Á rập, Malaixia, Hồng kông, Nam triều tiên, Singapore), các nhà kinh tế thấy rằng: Không có nước nào đầu tư ồ ạt ngay từ đầu vào các ngành công nghiệp nặng cần nhiều vốn Ngược lại họ đều chú trọng trước hết đến một số ngành sản xuất hành tiêu dùng thiết yếu như Dệt, điện tử, chế biến thực phẩm… Đó là ngành

có khả năng thu hồi vốn nhanh, thu hút nhiều lao động, dễ thích ứng với thị trường

Như vậy chúng thấy được tính kém hiệu quả trong việc đầu tư vốn của ta làsai lầm về đối tượng đầu tư Đây cũng chính là hậu quả của một cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu

và bao cấp mà chúng ta đã cưu mang trong một thời kỳ dài

Thứ ba: Sự phân tán tình trạng tuỳ tiện và tham nhũng trong lĩnh vực đầu tư Đây là

một nguyên nhân không nhỏ dẫn tới lãng phí không ít nguồn vốn đầu tư làm giảm hiệu quả của chi cho phát triển kinh tế

Ngoài những nguyên nhân trên, còn có những nguyên nhân về cơ chế đầu tư và hình thức cấp vốn Song về phương tiện vĩ mô, thì vấn đề cần quan tâm ở đây trong giai đoạn tới chính sách đầu tư của chính phủ như thế nào cho phù hợp với khả năng của nguồn vốn và nhu cầu tăng trưởng

Một chính sách khả thi là một chính sách có những bước đi thích hợp cho từng giai đoạn Chính sách đầu tư sắp tới ở nước ta có thể tiến hành qua các giai đoạn sau:

+ Giai đoạn 1: Là giai đeọan khuyến khích các nhà đầu tư huy động vốn cho việc phát

triển mạnh mẽ các ngành sản xuất hàng hóa tiêu dùng thay thế nhập khẩu và các ngành sản xuất hàng xuất khẩu với công nghệ hiện đại và chất lượng cao, như dệt, da, may mặc, điện tử, chế biến lương thực, thực phẩm… những ngành cần vốn đầu tư ít, khả năng thu hồi vốn nhanh, thu hút nhiều lao động, có thị trường tiêu thụ trong nước và ngoài nước

Vốn đầu tư của NSNN trong giai đoạn này chủ yếu để tạo ra những điều kiện tiền đề cho sự ra đời của các ngành doanh nghiệp tư doanh và liên doanh Đó là đầu tư cải tạo, mở rông và xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế Giai đoạn này khoảng 3 – 5 năm Giai đoạn này cần thiết áp dụng hình thức góp vốn đầu tư của Nhà nước bằng phương thức mua hoặc bán cổ phiếu, hình thức này có thể áp dụng cho các giai đoạn tiếp theo

+ Giai đoạn 2: Là giai đoạn khuyến khích các doanh nghiệp đi vào các ngành sản xuất

có vốn đầu tư lớn hơn và các công nghệ phức tạp hơn, như sản xuất hàng tiêu dùng cao cấp (xe hơi, máy lạnh…) và các ngành chế tạo máy móc, thiết bị tinh vi phục vụ nền kinh tế và xuất khẩu

Vốn đầu tư của NSNN giai đoạn này vẫn chú trọng nâng cấp cơ sở hạ tầng, đồng thời

đi vào một số lĩnh vực sản xuất mũi nhọn của nền kinh tế để thúc đẩy sự phát triển các ngành khác, như cơ khí chính xác, luyện kim…

Giai đoạn này, các quy luật của kinh tế thị trường sẽ đảm nhận phần lớn việc hướng dẫn xu thế vận động và giao lưu của các nguồn vốn trong nền kinh tế, giảm bớt giai vai trò điều tiết của NSNN

Tuy nhiên, mỗi mô hình đặt ra không thể là hoàn hảo, việc thực hiện có thể nhanh hơn hoặc chậm hơn và kết quả chưa hẳn như dự kiến Vì vậy, nó phải được kiểm tra phân tích và điều chỉnh kịp thời trong từng giai đoạn để bảo đảm tính hiệu quả của chi phí đầu tư

2 Chi tiêu dùng

Chi tiêu dùng của NSNN được coi là các khoản chi còn lại ngoài chi về đầu tư kinh tế, bao gồm:

Trang 19

+ Chi quản lý hành chính và chi an ninh quốc phòng, nội dung chi bao gồm: Chi lương, chi mua sắm, bão dưỡng các phương tiện, công cụ và trụ sở làm việc, chi trang bị vũ khí quân trang… đây là một khoản chi phục vụ cho công tác quản lý Nhà nước và ổn định an ninh xã hội

Đây là khoản chi tương đối lớn so với các khoản chi khác về tiêu dùng, ở nhiều quốc gia trên thuế giới cũng như ở nước ta Tùy theo mục đích và yêu cầu trong từng thời kỳ mà khoản chi này có thể thay đổi thực ra đây là hai khoản chi: Một là chi cho quản lý hành chính Nhà nước, hai là chi cho an ninh quốc phòng, do vậy thay đổi của từng khoản không giống nhau

Mặc dù khoản chi này chiếm tỉ trọng lớn, nhưng thực tế cũng đáp ứng được các nhu cầu cần thiết Điều kiện làm việc và tiền lương của viên chức và binh lính chưa được đảm bảo

Nguyên nhân yếu tố là do tổ chức bộc máy quá cồng kềnh, chức năng nhiệm vụ còn nhiều bất hợp lý, gây tốn kém không cần thiết

Hướng đổi mới khoản chi này là nhắm vào việc cải tiến triệt để chế độ tiền lương, tách chi phí trợ cấp bảo hiểm xã hội ra khỏi nguồn chi của NSNN (do tổ chức tài chính trung gian: quỹ hưu trí, quỹ bảo hiểm sức khỏe …) Xu hướng chung hiên nay đối với chi phí cho an ninh, quốc phòng của các quốc gia đều cắt giảm do xu thế đối thoại thay cho đối đầu trên thế giới

+ Chi sự nghiệp ở nước ta là một nội dung chi tiêu dùng khá lớn và ngày càng tăng lên

Đó là các khoản chi cho nghiên cứu khoa học, đào tạo, giáo dục, y tế, xã hội

Thời kỳ kế hoạch tập trung, NSNN bao cấp toàn bộ các nhu cầu chi đó, hơn nữa, các khoản chi nay mang nặng tính bình quân chủ nghĩa, chi dàn trải hơn là tính chất phân phối lại

để điều chỉnh thu nhập

Thực chất của chi sự nghiệp là chi đầu tư cho các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, giáo dục, đào tạo, y tế, tạo cơ sở phát triển toàn diện kinh tế - xã hội có tính chất chiến luợc của một quốc gia Do vậy, nhu cầu chi này rất lớn, nếu chỉ dựa vào NSNN thì không thể đáp ứng được Nhu cầu chi cho đầu tư trong lĩnh vực này, phải có sự đóng góp, hỗ trợ cho toàn xã hội Vấn đề chúng ta cần xem xét ở đây là, hình thức và cơ cấu chi sự nghiệp của NSNN trong nền kinh tế thị trường như thế nào để có hiệu quả tác động tích cực tới các mục tiêu của nền kinh tế

vĩ mô

Phương thức chi sự nghiệp ở có thể xem xét một số nội dung sau:

+ Chi nghiên cứu khoa học cần được cũng cố và tăng cường nhằm khuyến khích các nhà khoa học tiếp cận với nền khoa học thế giới và tạo cơ sở vững chắc cho phát triển kinh tế

xã hội ở nước ta

+ Chi đào tạo nên chuyển sang hình thức trợ cấp (một số lĩnh vực và một số đối tượng),

số còn lại thực hiện nguyên tắc đóng góp kinh phí hoặc theo đơn nộp hàng

+ Chi giáo dục vẫn cần sự đầu tư lớn của Nhà nước, nhất là giáo dục tiểu học và trung học để nâng cao dân trí căn bản cho toàn xã hội Để phổ cập giáo dục rộng rãi giáo dục trong toàn xã hội và để nâng cao chất lượng giáo dục cũng như đáp ứng nhu cầu giáo dục của nhiều tầng lớp dân cư, cần khuyến khích và cho phép nhiều hình thức đào tạo (trường tư thục, trường dân lập), huy động sự đóng góp vốn chi cho sự nghiệp này

+ Chi y tế có thể thực hiện cơ chế bảo hiểm y tế, hình thành các quỹ bảo hiểm khám, chữa bệnh… với sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp dân cư, giảm bớt gánh nặng chi NSNN nhưng vẫn bảo đảm phát triển sự nghiệp y tế

+ Chi trợ giá, thực chất là một biện pháp để bảo hộ cho người sản xuất hoặc cho người tiêu dùng, được áp dụng đối với các mặt hàng được khuyến khích sản xuất và ổn định tiêu dùng

Hầu hết các quốc gia đều thi hành chính sách này (ngay cả các nước phát triển), để trợ giá cho những mặt hàng nhất định phổ biến, là trợ giá trong nông nghiệp Ngoài trợ còn được

áp dụng trong trợ cấp cho lãi suất tiền gửi của nhân dân (trường hợp lãi suất cho vay của NH

Trang 20

thấp hơn lãi suất huy động - thực chất là trợ cấp cho ngân hàng ) Chính sách này nhằm thu hút tiền trong lưu thông và bảo trợ một số ngành sản xuất, một số lĩnh vực

Đánh giá hiệu quả của chi trợ giá là chuyện rất khó, vì đây không chỉ là chính sách kinh tế mà có liên quan đến vân đề xã hội.Để giảm gánh nặng chi ngân sách, đồng thời bảo đảm khuyến khích tăng trưởng nên giới hạn hình thức trợ giá đối với một số mặt hàng chiến lược, như lương thực, hàng xuất khẩu…, đồng thời giảm mức trợ giá hoặc kiên quyết cắt bỏ chi trợ giá không hợp lý (xăng dầu, điện nước sinh hoạt, phương tiện giao thông, nhà ở…) + Trợ cấp xã hội là những khoản chi mà xã hội quan tâm Đó là những khoản trợ cấp cho thương binh, gia đình liệt sĩ, người già, người tàn tật, trè mồ côi, người chưa có việc làm, nhân dân vùng bị thiên tai địch hoạ

Đây là một khoản chi không nhỏ, ở nước ta đối tượng hưởng trợ cấp khá lớn Hiệu quả của khoản chi này chủ yếu về phương diện xã hội, do vậy để chi phí này của NSNN thật sự hiệu quả cần xác định đúng đối tượng để chi, mặt khác, mức chi cho từng đối tượng phải tính toán để có tác động thật sự tích cực đối với xã hội Trong đó, các khoản chi trợ cấp cho người chưa có việc làm còn có tác động mạnh về mặt kinh tế Ở các nước kinh tế phát triển, đây là một vấn đề nan giải

+ Hai khoản chi quan trọng khác của NSNN là chi dự trữ và chi trả nợ

Chi dự trữ bao gồm dự trữ cho mục đích đều chỉnh các hoạt động của thị trường, ổn định giá cả và dự trữ phòng ngừa những trường hợp rủi ro bất thường xảy ra cho nền kinh tế -

xã hội

Chi trả nợ bao gổm trả nợ dân và trả nợ nước ngoài Đây là các khoản chi chính phủ phải trả cho hậu quả thiếu hụt ngân sách của các năm trước Dây là khoản chi rất lớn đối với các nước đang phát triển ( trong đó có nước ta)

Đây là khoản chi rất lớn cần thiết đối với các nước này, để ổn định và phát triển kinh tế

- xã hội Vấn đề là phải sử dụng có hiệu quả các nguồn vay cũng như thanh toán sòng phẳng các khoản vay

 Câu hỏi củng cố:

Mục đích của việc thu – chi ngân sách của nhà nước?

Trang 21

KẾT QUẢ HỌC TẬP 3: Mô tả các tổ chức tài chính trung gian và thị trường tài chính

Bài hướng dẫn 1: CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH CHÍNH THỨC VÀ CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH PHI CHÍNH THỨC

I Các tổ chức tài chính chính thức

1 Các ngân hàng thương mại (NHTM):

Trong số tổ chức các tài chính trung gian, hệ thống các NHTM chiếm vị trí quan trọng nhất về qui mô tài sản và về thành phần tín dụng ngân hàng

2 Các công ty tài chính (CTTC):

Các công ty tài chính là các hội thương mại, hoạt động chủ yếu của chúng là thu hút vón để đóng góp vào quản lý các dự án dầu tư, cho vay để mua bán hàng hoá, dịch vụ

Đặc điểm quan trọng để phân biệt với các NHTM là CTTC không thực hiện các dịch

vụ thanh toán, không huy động tiền gửi tiết kiệm của dân và không sử dụng vốn vay của dân

để làm phương tiện thanh toán Các CTTC hoạt động nguồn vốn của mình hoặc vay của dân

tế

Ở nước ta, việc Hội đồng Nhà nước ban hành pháp lệnh về ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính ngày 23 – 5 – 90 có ý nghĩa quan trọng, tạo cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự ra đời của các công ty tài chính Hiện nay, đã xuất hiện một số CTTC ở nước ta như Công ty Tài chính cổ phần Vũng Tàu và Công ty tài chính đá quí ở Thành Phố Hồ Chí Minh, theo pháp lệnh trên Như Vậy trong thời gian tới với sự xuất hiện ngày càng nhiều các công ty

cổ phần thì vai trò trung gian tài chính của các CTTC càng trở nên quan trọng Vì lẽ đó, mà Nhà nước cần khuyến khích hơn nữa phát triển loại hình tổ chức tài chính cổ phần trên cơ sở ban đầu của Nhà nước và vốn đóng góp của nhân dân trong lĩnh vực đầu tư kinh tế thay vì đầu tư trực tiếp vào các cơ sở kinh tế, Nhà nước sẽ chuyển số vốn đó thành nguồn vốn đóng góp cổ phần với các CTTC để hình thành vốn cho vay đầu tư kinh tế của công ty

3 Hợp tác xã tín dụng:

Trong nền kinh tế thị trường, bên cạnh các tổ chức tín dụng lớn như ngân hàng, các công ty tài chính, còn tồn tại và phát triển các hội tín dụng, các HTX tín dụng để phục vụ cho các cơ sở kinh doanh nhỏ và các hộ nông dân Ở Nhật Bản, nguồn vốn và các khoản tiền cho vay của tất cả các tổ chức (HTX) nông nghiệp năm 1976 lên tới 177,8 nghìn tỷ yên, bằng trên 12% tổng số tiền gửi và chứng khoáng của tất cả các NH trong nước

Các HTX tín dụng hoặc hiệp hội tín dụng là tổ chức thuộc sỡ hữu tập thể, được thành lập chủ yếu theo nguyên tắc góp vốn cổ phần và hoạt động theo nguyên tắc: Tập thể, tự nguyện, hợp tác và bình đẳng

Vốn pháp định của các hợp tác xã tín dụng do các cổ đông đóng góp bằng cách mua các thẻ xã viên có mệnh giá bằng nhau Vốn góp cổ phần có thể là tiền mặt hay hiện vật Các giấy chứng thư này không được phép mua bán trên thi trường chứng khoán

Trang 22

Các HTX tín dụng thực hiện huy động vốn trong nhân dân, trong các tổ chức kinh tế -

xã hội và cho vay đối với mọi đối tượng theo lãi suất thoả thuận, nhưng không được huy động vốn tiền gửi tiết kiệm và chỉ được phép huy động vốn trong giới hạn tiền gửi của xã viên

Số tiền huy động được, HTX tín dụng chỉ dùng để cho vay hay chiết khấu, không được

sử dụng vào hùn vốn, liên kết, liên doanh, mua cổ phần, mua tài sản và trả chi phí hoạt động của tổ chức tín dụng

Ngoài nghiệp vụ vay cho vay, các HTX tín dụng có thể thực hiện một số dịch vụ khác như: nhận gửi vàng, bạc, đá quý, thanh toán hộ giữa các chủ thể kinh tế, giữa nhân dân với nhau, dịch vụ cân thử vàng, bạc, cầm đồ…

Ngoài những nghiệp vụ trên, còn một số nghiệp vụ khác thuộc nghiệp vụ ngân hàng, nhưng HTX tín dụng, nếu có đủ điều kiện và khả năng cũng có thể thực hiện như: dịch vụ về mua bán, chuyển nhượng, quản lý chứng khoán Các nước có nền kinh tế thị trường, HTX tín dụng hầu hết đều thực hiện các nghiệp vụ này và được hưởng các khoản lệ phí hoa hồng

Ở nước ta, HTX ra đời từ những năm 1956, với tư cách là một tổ chức huy động vốn cho phát triển nông thôn Nhưng do nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của các HTX tín dụng,

và trong cơ chế tập trung bao cấp, nên các HTX không phát huy được vai trò và dần dần bị tan vỡ… Từ năm 1982 chúng ta chủ trương khôi phục lại các HTX tín dụng, hàng loạt HTX tín dụng, quỹ tín dụng đã mọc lên, nhất là ở thành phố, ven đô có thể nói đây là thời kỳ phát triển rầm rộ của các HTX và Quỹ tín dụng, mạnh nhất là thời kỳ 1988 – 1989 Nhưng sau đó hàng loạt cơ sở này đã bị đổ bể do không có khả năng thanh toán và diển ra nhanh chóng vào năm 1990

Có nhiều nguyên nhân của sự đổ vỡ này, trong đó nguyên nhân nhận thức và trách nhiệm là nguyên nhân rõ nét nhất (có thể nói là chủ yếu) cụ thể hơn là chúng ta không có một thể chế pháp lý hoàn chỉnh Việc thực hiện các nghiệp vụ vay và cho vay không tuân theo các nguyên tắc của tín dụng thậm chí có HTX tín dụng thực hiện phân phát vốn cho các nhân viên để họ cho vay nặng lãi

HTX và quỹ tín dụng thực hiện được vai trò của mình cần thiết phải tổ chức lại HTX tín dụng Vì vậy ngày 13 – 5 – 1990 Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh Ngân hàng, HTX tín dụng và công ty tài chinhhs nói riêng vào khuôn khổ quy định của luật pháp Đây chính là cơ sở pháp lý quan trọng, để khôi phục và phát triển các tổ chức tín dụng nhân dân, bao gồm HTX tín dụng, các Quỹ tín dụng và các Hội tín dụng

4 Các công ty bảo hiểm:

Trong nền kinh tế thi trường các hoạt động sản xuất kinh doanh và cuộc sống đời thường không thể không tránh khỏi các rủi ro hoặc tai nạn bất ngờ Để phòng ngừa các hiện tượng nói trên các công ty bảo hiểm như một tổ chức tài chính trung gian thực hiện thu hút vốn nhàn rỗi của xã hội, phục vụ cho nhu cầu của các doanh nghiệp

Hoạt động bảo hiểm rất rộng, nó đi vào từng lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội ở những nước phát triển, hầu như mọi tài sản, mọi hoạt động đều được bảo hiểm Ở nước ta, hoạt động bảo hiểm nói chung còn chưa phát triển và chủ yếu mới đáp ứng được một phần nhu cầu phòng ngừa rủi ro trong các hoạt động kinh tế và đời sống xã hội Trong bảo hiểm tài sản Chúng ta đã và đang đi vào các lĩnh vực hàng hoá xuất nhập khẩu, bảo hiểm tàu biển, tàu pha sông biển, tàu ca, ngư cụ, bảo hiểm xe cộ, máy bay, bảo hiểm hoả hoạn, bảo lụt, trộm cắp, bảo hiểm một số cây trồng và vật nuôi

Trong lĩnh vực bảo hiểm con người, đã tiến hành bảo hiểm toàn bộ khách hàng, bảo hiểm tai nạn lao động, bảo hiểm học sinh, bảo hiểm khách vu lịch, bảo hiểm y tế… tiến tới

mở rộng các dịch vụ bảo hiểm như bảo hiểm hưu trí

Nguyên tắc tham gia bảo hiểm là: Mỗi thể nhân hya pháp nhân muốn bảo hiểm một lĩnh vực nào đó, thì mua bảo hiểm của công ty bảo hiểm Mức phí này do công ty bảo hiểm

ấn định, căn cứ vào khả năng rủi ro, giá trị của đối tượng bảo hiểm, nhu cầu và mức độ bảo hiểm Nói chung mức phí không lớn so với nhu cầu của người mua bảo hiểm Ví dụ, trong

Trang 23

bảo hiểm tai nạn lao động ở nước ta, năm 1990, mức bồi thường tối đa là 2 triệu đồng, mức phí quy định là 1600 đ/năm

Ngoài mục đích nhân đạo (huy động sự đóng góp của số đông để bồi thường cho một

số ít người), các tổ chức bảo hiểm còn đảm nhận chức năng môi giới tài chính rất quan trọng trong nền kinh tế - xã hội Do tập trung được nguồn vốn lớn từ tất cả các pháp nhân và thể nhân trong xã hội, ngoài yêu cầu để lại một số vốn cần thiết để chi trả bảo hiểm thường xuyên, các công ty bảo hiểm tích cực tham gia vào các hạot động mua bán tín hiệu, cổ phiếu, trái phiếu và gởi vào các tài khoản tiền gửi ở ngân hàng

Sự bành trướng của các công ty bảo hiểm mạnh tới mức, mà ở một số nước, người ta phải quy định giới hạn mua cổ phiếu của các công ty bảo hiểm này trong các doanh nghiệp sản xuất Chẳng hạn ở Thuỵ Điển các công ty bảo hiểm chỉ được phép qua cổ phiếu của các công ty tư nhân không quá 10% tổng số quyền bỏ phiếu của các công ty đó

Khi nói tới vai trò của các tổ chức tài chính trung gian, bên cạnh NHTM, người ta không thể nói tới các công ty bảo hiểm với số vốn huy động khổng lồ của nó Một trong những công ty bảo hiểm lớn nhất thế giới là State Farm Mutual Automobile Insuance Company Năm 1985 công ty này đứng đầu thế giới về số tiền thu bảo hiểm Hoạt động của

nó chủ yếu là ở Mỹ và Canada dưới hình thức ký hợp đồng bảo hiểm với các cá nhân và các

tổ chức kinh tế xã hội về bảo đảm phương tiện giao thông, bảo hiểm trong trường hợp mất mát, hư hỏng tài sản do đâm vào nhau, hoả hoạn, giông bảo, bảo hiểm tai nạn, sức khoẻ, bảo hiểm hàng không, tái bảo hiểm, bảo hiểm quốc tế…Tài sản của công ty năm 1985 là 23,783

tỷ dolla, phí bảo hiểm trên 14 tỷ dolla, lợi nhuận đạt 584,2 triệu dolla và thu nhập từ đầu tư lên tới 5,6 tỷ dolla, Ở Thuỵ Điển, hiện nay có tới 500 công ty bảo hiểm trong nước và 15 công ty bảo hỉêm nước ngoài với tổng số vốn là 260 tỷ Krone Ở Nhật Bản, công ty bảo hiểm lớn nhất trong nước và đứng thứ ba trên thế giới là công ty bảo hiểm Nhân Thọ Nippon (1985) Công ty này thực hiện tất cả các dạng bảo hiểm tính mạng cá nhân, đồng thời quản lý quỹ hưu trí của các công ty và bảo hiểm cho những người đi ra nước ngoài Công ty có rất nhiều cơ quan đại lý ở khắp đất nước và nhiều công ty con, nó có quan hệ chặc chẽ với các công ty công nghiệp, thương nghiệp vào các ngân hàng lớn nhất, cùng góp vốn, quản lý, quỹ hưu trí, cho vay vốn tín dụng Công ty thực hiện tham gia quản lý các khoảng tiền cho tư nhân và Nhà nước ở nước ngoài vay, tự tổ chức các hợp đồng giao kèo vay vốn nước ngoài

và mời các ngân hàng lớn nhất Nhật Bản cùng tham gia

Về hình thức sở hữu vốn, có thể phân công các công ty bảo hiểm ra làm hai loại: Công

ty bảo hiểm Nhà nước (100% vốn ban đầu do Nhà nước đóng góp) và công ty bảo hiểm tư nhân (cổ phần) Ở các nước kinh tế thị trường phát triển, hầu hết các công ty bảo hiểm là các công ty tư nhân Ví dụ ở Malaixia đang có 59 công ty bảo hiểm thì tất cả 59 công ty này là các công ty tư nhân

Ở Việt Nam, các công ty bảo hiểm cho đến nay thuộc sở hữu Nhà nước, chúng ta vẫn chưa có các công ty bảo hiểm tư nhân, một phần là do chưa có phương án mở rộng các dịch

vụ bảo hiểm tư nhân, một phần kinh tế khác và đồng thời cũng chưa có phương án sử dụng bảo hiểm như một tổ chức trung gian cung ứng vốn cho nền kinh tế Việc nhanh chóng tổ chức lại hoạt động bảo hiểm rõ ràng phải được nhìn nhận như một yêu cầu thiết yếu khách quan của nền kinh tế và xã hội

Khi chuyển sang một nền kinh tế thị trường, với chính sách khuyến khích nhiều thành phần phát triển kinh tế-xã hội cùng với chính sách “mở cửa”, nhu cầu bảo hiểm và tái bảo hiểm ngày càng trở thành một đòi hỏi không thể thiếu được trong nền kinh tế nước ta Dó đó phải đẩy mạnh hoạt động bảo hiểm với nhiều hình thức rộng rãi, trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội và với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế Như vậy, không những thực hiện được mục tiêu nhân đạo của hoạt động bảo hiểm, mà còn góp phần phân phối, điều hoà và cung ứng vốn cho nền kinh tế, phát huy đúgn vai trò của nó- một tổ chức chính trung gian

5 Ở một số nước có nền kinh tế phát triển, bên cạnh các công ty bảo hiểm, còn hình thành các quỹ hưu trí hoặc các quỹ tiết kiệm theo hợp đồng Các tổ chức này được hình

Trang 24

thành bắt nguồn từ thực tế là ngày càng có nhiều người múôn tiết kiệm để dự phòng cho lúc

về hưu sau này

Nguyên tắc hoạt độg của các tổ chức này cũng rất đơn giản Sau khi được phép thành lập quỹ, người sáng lập sẽ đứng ra huy động số tiền tiết kiệm dự phòng các tầng lớp nhân dân

- người lao động, trên nguyên tắc: Huy động từng phần trong thời gian lao động có thu nhập,

để trả từng phần khi về hưu hoặc mất sức lao động Chẳng hạn, ở Thuỵ Điển người ta tổ chức quỹ hưu trí quốc gia Mọi đối tượng sử dụng sức lao động phải đóng góp vào quỹ này theo một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tổng số tiền lương phải trả của người sử dụng lao động Ở Mai lai xi a người ta cũng đã tổ chức quỹ bảo hiểm xã hội, tham gia góp vốn cho tổ chức này

là người lao động và cả người sử dụng lao động Thông thường người lao động phải trích 11

% tiền lương tháng và Nhà nước nộp 9%, khi về hưu người lao động sẽ nhận tiền lương hưu bằng 20 % số lương tháng

Về phương tiện cung ứng vốn tài chính, các quỹ hưu và tổ chức tương tự cũng đóng vai trò quan trọng, vì trong quá trình huy động vốn, khi số tiền đóng góp và số tiền lãi vượt quá

số tiền phải trả lương hưu trí, các quỹ này sẽ còn một khoảng vốn khá lớn để xâm nhập vào thị trường tài chính ( mua các tin phiếu, trái phiếu hoặc bỏ vốn vào các tổ chức tài chính khác ) Ví dụ, Ở Thuỵ Điển năm 1986 số tiền dự trữ của quỹ này lên tới 270 tuỷ Krone, nó nắm giữ ¼ tổng số giá trị tín phiếu ở nước này

Việc hình thành quỹ hưu trí quốc gia của Thuỵ Điển và quỹ hộ trợ bảo hiểm xã hội ở Malaixia tương đối giống với cơ chế hình thành quỹ bảo hiểm xã hội hiện nay ở nước ta Vì vậy, nếu áp dụng kinh nghiệm của các nước này chúgn ta có thể nâng cao được vai trò của công tác quản lý bảo hiểm xã hội khi hình thành một tổ chức quản lý và sử dụng quỹ theo nguyên tắc tự chủ về tài chính

II Các tổ chức tài chính không chính thức

Hoạt động cung ứng dịch vụ tài chính không chính thức ( không hợp pháp) ra đời và phát triển rất sớm ở các nớc trên thế giới Sức sống của nó mãnh liệt tới mức nhiều Chính phủ

đã tìm mọi biện pháp kinh tế và hành chính để ngăn chặn nhưng đều bất lực

Gọi là các tổ chức tài chính không chính thức vì các tổ chức này hoạt động trốn tránh trách nhiệm của mình với Nhà nước, bất chấp pháp luật và hoạt động “ngầm” Nhưng các tổ chức tài chính này có ý nghĩa kinh tế to lớn trong việc cung cấp bổ sung vốn đầu tư cho nền kinh tế và có tác động hỗ trợ cho thị trường vốn chính thức, khi thị trường này chưa đủ mạnh

Thuộc loại này, có hoạt động cho vay nặng lãi, chơi hụi, cho vay cầm cố…

Hoạt động cho vay nặng lãi là một dịch vụ tài chính không chính thức ra đời rất sớm

và chiếm ưu thế trên thị trường tài chính ngầm Thực chất, đây là hình thức tín dụng ngắn hạn với lãi suất cao hơn lãi suất thị trường ( có khi gấp 2 – 3 lần ) Đối tượng có nhu cầu về hoạt động cho vay nặng alĩ chủ yếu là các thương gia và các hộ sản xuất cá thể Học cần vốn để trang trải những nhu cầu nhất thời nào đó, như một vụ làm ăn không thể bỏ lở, một trách nhiệm tài chính đến hạn, hoặc một nhu cầu cấp bách nào đó đây là một hình thức tín dụng ngắn hạn không cần vật bảo đảm Thông thường, quan hệ giữa người đi vay và người cho vay

là quan hệ lâu dài, họ đã biêt nhau và đã từng làm ăn với nhau , hoặc có sự giới thiệu của người thứ ba Thời gian tín dụng cũng rất đa dạng có trường hợp vay trong một vài ngày, có trường hợp trong 1 tháng, có trường hợp vay “nóng” trong vài giờ với lãi suất rất cao

Ngoài việc cho vay không cần vật đảm bảo như trên, trong thực tế còn có hình thức vay ngắng hạn của các chủ cầm đồ Trong hình thức này, người đi vay mang vật có giá trị của mình tới người cầm đồ, người cầm đồ giữ lại vật đó và cho vay một khoản tiền cần thiết đối với người vay ( thường không quá 7% giá trịc của vật cầm cố ) theo lãi suất thõa thuận và thời gian trả nợ thoả thuận Tới hạn trả, nếu có tiền trả thì con nợ mang tiền tới trả ( cả lãi ) và thu hồi lại hiện vật đem về Đây là một hình thức tín dụng có bảo đảm và ngừoi cho vay chỉ cần thông thạo về giá trị của các đồ vật cầm cố để định giá có lợi cho mình

Ngoài hình thức tín dụng ngắn hạn trên, các tổ chức tài chính không chính thức còn cung cấp tín dụng dài hạn

Trang 25

Ở nông thôn, khi chưa tới mùa vụ thu hoạch, họ thường cần tiền để chi tiêu các khoản chi cần thiết, như mua phân bón, thuốc trừ sâu, làm nhà… các nhà có khả năng tài chính và

có óc tín toán thường lợi dụng cơ hội này để cung cấp tín dụng cho họ và thu lãi (nhiều khi là các thương gia), và thường mua rẻ nông sẳn của họ dưới hình thức bắt họ phải “bán lúa non” Ngoài hình thức này, ở nông thôn còn hình thức chơi hụi Trong hình thức này, người nông dân muốn dành một phần thu nhập nhất định mỗi vụ ( thường bằng thóc) làm nguồn tiết kiệm

để sau một năm có thể mang ra giải quyết một số việc lớn, như làm nhà, cưới vợ gả chồng cho con…, vì vậy họ đứng ra tổ chức hụi, mỗi người trong hội có trách nhiệm đóng góp một

số nông sản nhất định theo từng vụ, và tuỳ theo nhu cầu của mỗi hội viên và số hội viên mà tổ chức hốt hụi ( thường một năm một hội viên hốt một lần )

Ngoài hình thức tín dụng dài hạn theo “ hụi” bằng tiền ( nhất là ở thành phố và ngoai ô) loại này bao gồm tín dụng ngắn hạn và cả dài hạn: Tổ chức chơi hụi này thường do các “ chủ hụi” đứng ra tổ chức khá chặt chẽ Có nhiều loại “hụi” như hụi ngày, hụi tuần, hụi tháng,… “con hụi” sẽ tham gia góp hụi hằng ngày, hoặc tuần hay tháng tuỳ theo loại hụi, việc

“khui hụi” cũng vậy (hốt hụi ), còn người hốt hụi là người “kêu giá” cao nhất nếu chưa tới lượt hốt Những người “nuôi hụi” là người hốt cúôi cùng đây là một hình thức cung cấp tín dụng bất hợp pháp, nhưng sức sống của nó rất mảnh liệt và phát triển rộng rãi

Các tổ chức tài chính không chính thức, xét về phương diện cung ứng vốn tài chính,

có vai trò khá quan trọng ( mà trong một thời gian dài chúng ta đã phủ nhận và cấm đoán), vì chúng đáp ứng một cách linh hoạt các yêu cầu về vốn ngắn hạn và vốn nhiều hạn cho nhiều đối tượng, phục vụ được các lợi ích kinh tế - xã hội của đất nước

Trong số các hoạt động tài chính không chính thức, tổ chức chơi hụi là một dạng tín dụng ( vừa ngắn hạn vừa dài hạn ) có tác động bổ sung các nguồn vốn tài chính cho sự phát triển kinh tế xã hội và hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế Nhưng, tổ chức chơi hụi cũng chỉ hoạt động trong phạm vi của thị trường vốn không chính thức ( thị trường “ chợ đen” ) và sự bành trướng của nó là dấu hiệu hoạt động không lành mạnh và kém hiệu quả của thị trường vốn chính thức Do đó cần phải định hướng hoạt động của nó sau cho

có tác dụng đến sự hình thành thị trường vốn có tổ chức, và hướng các hoạt động tài chính không chính thức vào quỹ đạo của thị trường có tổ chức

 Câu hỏi củng cố:

Xác định tổ chức tài chính chính thức và tổ chức tài chính không chính thức?

Bài hướng dẫn 2: THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH

1 Các nghiệp vụ của thị trường tiền tệ

Các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng huy động vốn với mục đích cho vay để thu được lãi suất cao hơn Tuy nhiên công nghệ này chúng ta phải chịu một điểm ràng buộc: Thứ nhất theo luật cố định, tổ chức tín dụng phải ký quỹ tại Ngân hàng Trung ương (NHTW), khoản tiền ký quỹ này không được trả lãi xuất Thứ hai: trong nhiều trường hợp, vốn đã huy động được bị ứ đọng tạm thời tức là không cho vay được, trong khi vẫn phải trả lãi cho khách hàng ( người gửi tiền), và trong nhiều trường hợp thì ngược lại, số vốn đã huy động được không đủ để phục vụ cho khách hàng (người vay tiền)

NHTW giữ tiền ký quỹ của các tổ chức tín dụng để bảo đảm chi sự hoạt động an toàn của chúng và của các hoạt động tiền tệ, tín dụng nói chung trong nền kinh tế Do số lượng các

Trang 26

tổ chức tín dụng rất lớn, nên NHTW chỉ cần sử dụng một phần số tiền ký quỹ nhất định để dự trữ là đủ, số còn lại có thể sử dụng cho vay đối với các tổ chức tín dụng

Những vấn đề trên là cơ sở hoạt động của thị trường tiền tệ Nói cách khác, thị trường tiền tệ làm nhiệm vụ điều hoà mức chi trả giữa các ngân hàng, cân đối các nguồn vốn vay và cho vay Một đặc điểm nổi bậc của thị trường tiền tệ là nó thực hiện các nhiệm vụ tín dụng ngắn hạn

Nghiệp vụ của thị trường tiền tệ bao gồm hai loại:

+ Một là: Nghiệp vụ cho vay ngắn hạn của NHTU, hoặc của tổ chức tín dụng có số

dư thừa tạm thời về khả năng chi trả đối với các tổ chức tín dụng đang gặp khó khăn về nguồn vốn huy động

Trong trường hợp này, đối tượng của thị trường tiền tệ là hoạt động cho vay và giá cả của số tiền vay lãi suất Những ngân hàng và tổ chức tín dụng đang thiếu vốn thì cố gắng huy động được chúng với giá cả (lãi suất) thấp nhất, còn những ngân hàng cho vay lại cố gắng giải quyết sao cho thu được lãi suất cao nhất

Căn cứ vào nhu cầu và thời hạn, người ta phân biệt các loại tín dụng của thị trường tiền tệ như sau:

- Tín dụng hàng ngày: Cho vay từ ngày hôm trước đến giữa ngày hôm sau Mục đích của việc vay này là nhằm cân đối hằng ngày đối với việc huy động và chi trả

- Tín dụng theo yêu cầu: Về nguyên tắc, kiauh tín dụng này được cung cấp vô thời hạn, nghĩa là không quy định thời hạn xoá nợ Nhưng chủ nợ có thể yêu cầu xóa nợ bất cứ lúc nào Như vậy, khi một ngân hàng muốn vay một ngân hàng khác theo kiểu này, thì nó phải tín đến khả năng trả nợ trong vòng một ngày

- Tín dụng cuối kỳ: Loại tín dụng này có thể được cấp theo một trong hai loại trên với

sự khác biệt là nó chỉ được cấp cuối tháng hoặc cuối năm Mục tiêu của nó, trên thực tế, “làm đẹp” bảng cân đối của ngân hàng

- Tín dụng có thời hạn: là hình thức tín dụng được cấp với thời hạn xóa nợ đã được quy định trước Thông thường thời hạn được quy định trong giới hạn từ 1 đến 6 tháng, các thời hạn dài hơn được coi là đặt biệt

+ Hai là: nghiệp vụ mua bán các chứng khoán ngắn hạn ( các giấy ghi nợ ngắn hạn)

Do nhu cầu kinh doanh, một số tổ chức tín dụng cần thiết phải tăng lượng tiền của mình một cách nhanh chóng và buộc phải bán các chứng khoán ngắn hạn Cũng do nhu cầu sinh lợi của đồng tiền, các tổ chức tín dụng tạm thưòi có dư vốn sẽ mua các chứng khoán đó

Có nhiều loại chứng khoán ngắn hạn, nhưng quan trọng nhất và chiếm địa vị thống trị lớn nhất trên thị trường tiền tệ là tin phiếu ( hoặc hối đối phiếu) kho bạc, tiếp đến là chứng chỉ tiền gửi của các ngân hàng, các giấy thương mại và các lại giấy ghi nợ khác của các chủ ngân hàng, các hãng kinh doanh và các công ty tài chính

Trong hoạt động của thị trườngtiền tệ, vai trò của NHTU rất quan trọng, nó “bơm” tiền và lưu thông trong trường hợp khan hiếm và hút tiền ra trong trường hợp dư thừa Một thị trường có sự tham gia của NHTU được gọi là thị trường mở, việc “bơm” và “hút” tiền của ngân hàng này được thực hiện thông qua việc mua bán tất cả những chứng khoán ( giá trị) trên thị trường tiền tệ

NHTU, ngoài biện pháp trên, còn sử dụng chính sách tái chiết khấu để điều chỉnh thị trường tín dụng Khi sản xuất kinh doanh mở rộng, nhu cầu cho vay tăng lên, NHTU sữ giảm suất chiết khấu tỉ lệ chiết khấu để tạo điều kiện cho các tổ chức tinh dùng có được những khoản vốn vay bổ sung của mình thông qua việc tái chiết khấu những chứng khoán đã thu được

Ngược lại, khi sản xuất kinh doanh bị thu hẹp, NHTU sẽ thực hiện chính sách nâng lãi suất chiết khấu để hạn chế việc cấp tín dụng cho các NHTM (hạn chế cho vay tái chiết khấu) Đây là một trong những công cụ của chính sách tiền tệ của NHTU ( chúng ta sẽ nghiên cứu

kỹ hơn trong phần tín dụng ngân hàng)

2 Thị trường vốn

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, khi các công ty, xí ngiệp thiếu vốn, ngoài việc vay của ngân hàng, học còn phát hành cổ phiếu Các các nhân và tổ chức mua số cổ phiếu đó

Trang 27

để hàng năm thu được một số tiền lời gọi là lợi tức cổ phần Do yêu cầu của đời sống hoặc nhiều lý do khác, những người sở hữu cổ phiếu nhiều khi cần bán chúgn để thu tiền về Trong khi đó cũng có nhiều người cần mua chúng

Thị trường vốn ra đời trên cơ sở các nhu cầu đó Tất nhiên, trên thị trường vốn người

ta không chỉ mua các cổ phiếu, mà còn mua bán tất cả các loại chứng khoán dài hạn khác do Chính phủ, các tổ chức tài chính và các doanh nghiệp phát hành

Chứng khoán là một thuật ngữ dùgn để chi tất cả các loại giấy tờ có giá, tức là giấy tờ

gi nhận khoản tiền mà người sở hữu cúng đã bỏ ra để được quyền hưởng những khoản lợi tức nhất định theo kỳ hạn Có 2 loại chứng khoán:

+ Chứng khoán có thu nhập cố định: Là các loại giấy ghi nợ có xác định tỉ lệ tiền lãi hàng nămphải trả cho người sở hữu Loại này gồm có:

Trái phiếu nhà nước: là giấy ghi nợ do các cơ quan chính quyền Nhà nước Trung ương phát hành để huy động vốn trong nền kinh tế Thuộc lại này có: Trái phiếu của chính phủ ( ngành Bưu điện,ngành đường sắt)

Trái phiếu của chính quyền các địa phương: Được phát hành nhằm mục đích thực hiện các công trfnh công cộng trong khi nguồn vốn ngân sách của địa phương bị mất cân đối

Trái phiếu cầm cố: là giấy ghi nợ có đảm bảo bằng tài sản cầm cố của chính quyền địa phương đối với ngân hàng khi nhận tiền vay dài hạn Bên cạnh trái phiếu cầm cố, (khế ước vay nợ), khi vay dài hạn ngân hang, chính quyền điạ phương có thể phát hành trái phiếu công cộng, loại trái phiếu này không ghi vật cầm cố nhưng trên thực tế, chính quyền phải đảm bảo trảnợ bằng mọi tài sản của mình ( cấp nguồn thu thuế)

Trái phiếu công nghiệp: Là một loại phiếu ghi nợ do các tập đoàn công nghiệp phát hành để huy động thêm vốn, khác với cổ phiếu trái phiếu được hưởng 1 tỷ suất lợ tức cố định

và sẽ được hoàn trả vốn dần dần sau những thời hạn ghi trên trái phiếu

Tín phiếu kho bạc: là loại giấy ghi nợ của kho bạc khi huy động vốn để bổ sung quỹ ngân sách Tín phiếu kho bạc có 2 loại ngắn hạn và loại dài hạn Tín phiếu ngắn hạn được lưu thông trên thị trường tiền tệ Tín phiếu dài hạn được lưu thông trên thị trường vốn (loại dài hạn ít được phát hành)

+ Cổ phiếu: Là một loại chứng khoán có giá, ghi nhận quyền sở hữu vốn đóng góp vào công ty cổ phần, đồng thời đảm bảo cho người có cổ phiếu được quyền lĩnh một phần thu nhập của công ty tương ứng với số tiền ghi trên mặt phiếu Thu nhập này gọi là lợi tức cổ Có

2 loại cổ phiếu: là cổ phiếu thông thường và cổ phiếu ưu đãi ( các chủ sở hữu loại cổ phiếu ưu đãi) được hưởng một số khoản ưu đãi nhất định so với cổ phiếu thông thường)

Ngoài hai lại chứng khoán trên, ở một số nước như Mỹ, Thuỵ sĩ còn tồn tại một loại chứng khoán hỗn hợp là trái phiếu đầu tư: là chứng chỉ về tỷ lệ tham gia vào các quỹ đầu tư của tập đoàn đầu tư Trái phiếu đầu tư cũng mang lại thu nhập cho chủ sở hữu, nhưng chúng không thuộcvào những loạ chứng khoán trên, mà ngược lại, chúng có thể được phát hành dưới dạng các chứng khoán có thu nhập cố định, hoặc dưới dạng các cổ phiếu

Sự khác nhau giữa thị trường vốn và thị trường tiền tệ là: thị trường tiền tệ cung cấp các dịch vụ tín dụng ngắn hạn và là nơi mua bán các chứng khoán ngắn hạn: trong khi đó, thị trường vốn là nơi giao dịch và mua bán các chứng khoán dài hạn ( cổ phiếu, trái phiếu, công trái, tín phiếu kho bạc dài hạn, trái phiếu đầu tư)

Các đối tượng trên có thị trường vốn là:

- Những người cần vốn; Trước hết là Nhà nước và doanh nghiệp sau đó là những người đang sở hữu các chứng khoán nhưng có nhu cầu vốn để sử dụng cho những mục đích nhất định ( muốn bán lại các chứng khoán đã mua)

- Những người dư thừa vốn: đầu tiên là các tổ chức tài chính phi ngân hàng ( các công

ty bảo hiểm, quỹ hưu trí…) và các tầng lớp nhân dân

- Các ngân hàng: các NH có thể tham gia thị trường với tư cách là người phát hành và bán các cổ phiếu của mình (ngân hàng cổ phần) hoặc mua cổ phiếu của doanh nghiệp, của các ngân hàng khác và của Nhà nước, tức là dưới tư cách của một khách hàng bình thường

Trang 28

trên thị trường Mặt khác ( quan trọng hơn) , các ngân hàng tham gia thị trường với chức năng môi giới ăn hoa hồng hoặc chức năng kinh doanh các chứng khoán

Khi nghiên cứu về thị trường vốn, còn phải đề cập đến các chủ thể tham gia thị trường vốn Có 2 loại chủ thể quan trọng:

- Thể nhân: là các công dân của một nước và người nước ngoài

- Pháp nhân: Bao gồm các công ty nặc danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, các hiệp hội tư tư thương hay cổ phần, các HTX hay liên HTX, xác xí nghiệp của quốc doanh, các cơ quan Nhà nước được tự chủ về mặt tài chính, mọi pháp nhân khác hoạt động có tính kỹ nghệ hay thương mại hoặc các nghiệp vụ đem lại lợi tức, các hội dân sự, các hiệp hội, đoàn thể và

tổ chức có những hoạt động hay những nghiệp vụ đem lại lợi tức Để trở thành một pháp nhân, các tổ chức, cơ sở sản xuất kinh doanh, phải có đủ các điều kiện cơ bản sau:

.Một là: Tổ chức phải được Nhà nước thành lập, thừa nhận hoặc có giấy phép hoạt

động với một cơ cấu tổ chức thống nhất

.Hai là: có tài sản riêng

.Ba là: Có trách nhiệm độc lập về hoạt động của mình trên cơ sở tài sản đó

.Bốn là: Có tên gọi riêng và hoạt động có danh nghĩa riêng

Trên thị trường vốn, các thể nhân và pháp nhân xuất hiện với tư cách của các chủ thể mua, bán hoặc làm môi giới trung gian Trên thị trường vốn, đối tượng mua và bán là quyền sử dụng các nguồn tài chính dài hạn, khác với thị trường hàng hoá, nơi mà đối tượng mua bán là sản phẩm và dịch vụ, trên thị trường tài chính nói chung và thị trường vốn nói riêng, đối tượng mua bán lại khá đơn giản, sự đa dạng hoá hình thức mua bán trên thị trường vốn là tuỳ thuộc vào nhiều người mua, vì thế những người mua trên thị trường vốn còn có vai trò chủ động cao

Nói đến thị trường vốn ( thị trường chứng khoán) phái nói đến địa điểm của thị trường – nơi diễn ra các hoạt động mua bán Thông thường người ta khái quát thành mấy loại:

- Sở giao dịch chứng khoán: là trung tâm có tổ chức để mua bán chứng khoán

- Thị trường phân tán: Hàm ý chỉ thị trường cho tương lai những hợp đồng để mua bán một hàng hoá, một cổ phiếu, trái phiếu theo giá khởi điểm vào thời gian nào đó trong tương lai

- Thị trường lựa chọn: Là hàm ý chỉ thị trường một bên giao cho một bên khác một số tiền thưởng để được mua hay bán một số lượng nhất định một loại chứng khoán nào đso trong một thời gian thoả thuận vớ giá được thoả thuận

Ở nước ta, đã và đang có xu hướng phát triển mạnh mẽ hệ thống ngân hàng, hình thành các ngân hàng cổ phầnvà các công ty cổ phần Trong nền kinh tếđã tồn tại một số loại chứng khoán ngắn hạn và dài hạn như: Cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần, của các công ty kinh doanh sản xuất, vận tải, dịch vụ; công trái quốc gia, giấy ghi nợ nắn hạn ( sổ tiết kiệm) của ngân hàng, các loại tín phiếu kho bạc Như vậy, chúng ta đã có một số điều kiện để có thể hình thành thị trường tài chính vàmở sở giao dịch chứng khoán

 Câu hỏi củng cố:

1 Thị trường tài chính là gì

1 Các nghiệp vụ của thị trường tiền tệ là gì?

2 Thị trường vốn là gì?

Trang 29

KẾT QUẢ HỌC TẬP 4: Nhận biết Các hình thức hoạt động tài chính vi mô

Bài hướng dẫn 1: CÁC XÍ NGHIỆP CÔNG VÀ XÍ NGHIỆP TƯ

I Xí nghiệp công và xí nghiệp tư

1 Các khái niệm

Trong nền kinh tế, tồn tại hai hình thức sở hữu cơ bản đối với vốn và tài sản của các xí nghiệp, là sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân Sở hữu Nhà nước do Chính phủ là người đại diện và chi phối hoạt động Sở hữu tư nhân, bao gồm sở hữu các nhân và sở hữu tập thể, là sở hữu thuộc quyền sử dụng của một cá nhân hoặc một tập thể cá nhân Từ đó, hình thành hai khái niệm xí nghiệp, là: xí nghiệp nhà nước ( hay còn gọi là xí nghiệp công cộng) và xí nghiệp tư nhân

Có 3 quan điểm khác nhau về xí nghiệp Nhà nước:

- Quan điểm thứ nhất: cho rằng xí nghiệp Nhà nước là tất cả các tổ chức do Chính phủ lập ra với nhiệm vụ cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho xã hội Theo quan điểm này, mọi tổ chức thực hiện các định vụ y tế, giáo dục, cứu trợ … đều được gọi là các xí nghiệp Nhà nước

- Quan điểm thứ 2 cho rằng, xí nghiệp Nhà nước là các tổ chức do Chính phủ lập ra và quản lý, nhằm mục đích mang lại lợi nhuận và một khi được thiết lập, nó hầu như được tự do hoạt động như các xí nghiệp tư nhân,

Quan điểm thứ 3 cho rằng 1 xí nghiệp được xác định là xí nghiệp Nhà nước, khi nó đáp ứng được các điều kiện sau:

Chính phủ là cổ đông chính trong xí nghiệp, hoặc nếu không thì Chính phủ có thể thực hiện việc kiểm soát những chính sách chung mà xí nghiệp theo đuổi, bổ nhiệm hoặc cách chức ban quản lý xí nghiệp

Nhiệm vụ của xí nghiệp là sản xuất hàng hoá và dịch vụ để tiêu thụ trên thị trường

Xí nghiệp phải thực hiện chế độ hoạch tóan kinh tế, lấy thu bù chi và phấn đấu có lãi Nếu 1 xí nghiệp, thiếu điều kiện thứ nhất, được coi là xí nghiệp tư nhân Nếu thiếu điều kiện thứ 2 và thứ 3 thì được cọi là một chức năng thông thường của Nhà nước Ở một số nước, xí nghiệp Nhà nước ( hay xí nghiệp công cộng) được coi là xí nghiệp quốc doanh trong

đó có nước ta

Trong các xí nghiệp, kể cả xí nghiệp quốc doanh và xí nghiệp tư nhân, người ta còn phân biệt thành nhiều loại khác nhau, căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, hìh thức tạo vốn và công nghệ hoạt động Chẳng hạn, căn cứ vào hình thức tạo vốn, các xí nghiệp được chia thành: xí nghiệp ( quốc doanh hoặc tư nhân ) thuần tuý, với 100% vốn là của nhà nước hoặc của tư nhân; xí nghiệp liên doanh ( do sự góp vốn liên doanh của một số công ty trong và ngoài nước với nhau); xí nghiệp cổ phần ( do việc hình thành vốn được thực hiện bằng cách phát hành và bán cổ phiếu)

2 Các xí nghiệp quốc doanh ( XNQD) - Thực trạng và những vấn đề

Xí nghiệp quốc doanh, không chỉ hình thành, tồn tại ở các nước có nền kinh tế kế hoạch tập trung mà còn phát triển ở nhiều nước đang phát triển và cả ở những nước kinh tế phát triển Sự ra đời của các XNQD bắt nguồn từ những lí do kinh tế và xã hội, trước hết là những lý do kinh tế Các XNQD có vai trò khá quan trọng đối với quá trình phát triển của các quốc gia này

Ở nhiều nước đang phát triển, khu vực kinh tế quốc doanh đã đóng vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp khôi phục và phát triển kinh tế, đặc biệt trong việc hình thành và phát triển các ngành công nghiệp chiến lược như: điện, nước, công nghiệp chế tạo, các ngành thông tin liên lạc… Có thể thấy được vai trò của khu vực kinh tế này ở một số nước qeua bản

so sánh tỷ trọng của nó trong tổng sản phẩm quốc hộ (GĐP) như sau:

Trang 30

Bảng so sánh trên cho thấy, khu vực kinh tế quốc doanh ở Nam Triều Tiên và Ấn Độ chiếm xấp xỉ 10% GDP Đây là một tỷ trọng lớn đối với một quốc gia có nền kinh tế thị trường

Nghiên cứu khu vực kinh tế quốc doanh (KTQD) dưới gốc độ hiệu quả kinh tế, hầu hết các nhà kinh tế ở các quốc gia đều đưa ra những nhận xét làm cho người ta nghi ngờ về vai trò thực sự của XNQD đối với nền kinh tế

Thực tiễn hoạt động của các XNQD ở tất cả các quốc gia cho thấy là, mặc dù các XNQD được hưởng những ưu đãi nhất định so với các xí nghiệp tư nhân ( quyền khai thác sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thậm chí ưu đãi cả về nguồn vốn và thuế), nhưng tình trạng thua lỗ xảy ra phổ biến kéo dài, làm tăng gánh nặng cho NSNN ở các quốc gia

Thực trạng này được minh hoạ qua tài liệu của các nước như sau: trong giai đoạn 1978 – 1980, tổng số thua lỗ của các XNQD so với tổng sản phẩm nội điạ (GDP) ở Ấn Độ là 6,2 – 6,3 % Nam Triều Tiên là 5,2 – 5,4%, Đài Loan: 5,5 – 7,3%

Để khắc phục tình trạng này, các Chính phủ ở các quốc gia đã áp dụng nhiều giải pháp khác nhau Các giải pháp đó tựu trung lại theo 2 hướng giải quyết

- Tăng cường hơn nữa sự can hiệp và giúp đỡ của Chính phủ vào hoạt động của các XNQD nhằm tăng hiệu quả hoạt động của chúng

- Giảm bớt sự can hiệp và kiểm soát của Chính phủ, tạo cho các doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện tham gia vào cạnh tranh để tồn tại

Thực tế ở các quốc gia cho thấy, hướng giải quýêt thứ nhất không có tác dụng gì đáng kể; việc bù lỗ, bù giá, bù lương,… chỉ tạo cho các XNQD khả năng thua lỗ lớn hơn và suy yếu nhanh hơn

Vì vậy các nước tập trung vào hướng giải quyết thứ 2 với 2 biện pháp lớn: 1 là giảm bớt sự can thiệp và kiểm soát của Nhà nước bằng đổi mới cơ chế quản lý; hai là giảm bớt sự can thiệp đó bằng chính sách tư nhân hoá hoặc cổ phần hoá các XNQD

3 Đổi mới cơ chế quản lý đối với các XNQD

Khi phân tích những nguyên nhân của tình trạng thua lỗ và hoạt động kém hiệu quả của các XNQD, hầu hết các nhà kinh tế ở các quốc gia đều cho rằng, nguyên nhân cơ bản và trực tiếp của sự yếu kém đó xuất phát từ các vấn đề về cơ chế và chế độ sở hữu Các XNQD thuộc chế độ sỡ hữu Nhà nước, do đó Nhà nước có quyền định hướng phát triển và quyền kiểm soát hoạt động đối với các xí nghiệp này Thực tế, các xí nghiệp này không chỉ làm nhiệm vụ phát triển kinh tế mà còn có các nhiệm vụ xã hội khác mà Nhà nước giao cho nó Tức là, các XNQD ngoài nhiệum vụ phát triển kinh tế vi mô nó còn có nhiệm vụ phát triển nền kinh tế vĩ mô như: nhiệm vụ góp phần ổn định giá cả (chính sách giá của Nhà nước), hay góp phần tham gia các chính sách kinh tế vi mô khác: chính sách lương thực, chính sách xuất khẩu…

Mặt khác, trong chế độ sở hữ Nhà nước thường nổi lên mâu thuẩn giữa trách nhiệm và quyền hạn trong quản lý ( của ban giám đốc) đối với tài sản vốn liếng của Nhà nước (toàn dân), rất khó giải quyết

Tuy nhiên, thực tế là như vậy, nhưng các nhà nghiên cứu ở các nước cho rằng, không thể vứt bỏ hoàn toàn chế độ sỡ hữu Nhà nước, ngay cả trong nền kinh tế thị trường phát triển Tức là vẫn có một sự cần thiết khách quan về sự can thiệp của Chính phủ đối với nền kinh tế

Nước Tỷ trọng của kinh tế quốc

doanh GDP

1970 1972 1975 – 1980

Trang 31

Một điều đơn giản là, có những lĩnh vự sản xuất và những ngành sản xuất mà các doanh nghiệp tư nhân không muốn, hay không đủ khả năng tham gia ( những ngành lợi nhuận ít, công nghiệp vũ trụ)

Vấn đề còn lại là phải thay đổi cơ chế quản lý đối với các XNQD Việc thay đổi cơ chế quản lý đối với các XNQD ở nước ta được tiến hành từ năm 1988 và đã thu được những kết quả đáng khích lệ Nội dung chủ yếu của quá trình này tóm lược như sau: Xoá bỏ tất cả mọi hình thức quản lý trực tíêp, các chỉ tiêu pháp lệnh ( chỉ tiêu kế hoạch), các khoản cấp phát không hoàn lại Thay vào đó, là chế độ quản lý gián tiệp, thông qua các công cụ về thuế khoá

và luật pháp giao toàn quyền tự chủ về tài chính và kinh doanh cho các XNQD

Với cơ chế quản lý này, các XNQD được tự do hoạt động như một xí nghiệp tư doanh,

có quyền lợi và nghĩa vụ như mọi doanh nghiệp khác và cũng chịu sự tác động của các quỹ luật kinh tế trong nền kinh tế thị trường

Chuyển sang nền kinh tế thị trường có điều tiết của Nhà nước, chúng ta thực hiện đồng thời việc đổi mới cơ chế quản lý với việc thực hiện từng bước tư nhân hoá và cổ phần hoá các XNQD

4 Xí nghiệp tư nhân và vấn đề cổ phần hoá các XNQD

Nhiều nhà kinh tế đã tập trung trí tuệ của mình vào việc nghiên cứu một vấn đề lý thú là: tại sao các xí nghiệp tư nhân lại hoạt động có hiệu quả hơn XNQD Đối tượng nghiên cứu cuối cùng là các nghiệp chủ Họ cho rằng, giới nghiệp chủ, vì nhiều lý do khác nhau đều có ham muốn mãnh liệt để có uy tính và tiền bac Tham vọng múôn vươn lên rong các cuộc tranh đua đã thúc đẩy họ và tạo cho họ những khả năng “ đặc biệt” trong kinh doanh Do đó, nếu xã hội chấp nhận và cho phép học hành động, thì đóng góp trở lại của học cho xã hội rất lớn Bởi lẽ, chính họ là những người sẽ chỉ huy trực tiếp quá trình sản xuất kinh doah ở các

cơ sở kinh tế Chính họ là những người nhạu cảm nhất và tiếp thu nhanh những tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ vào thực tế sản xuất kinh doanh Trong cạnh tranh, có những nghiệp chủ thất bại, nhưng khát vọng thành công sẽ thôi thúc họ vươn lên bằng mọi cách

Vì những lợi thế cơ bản của khu vực kinh tế tư nhân so với kinh tế QD, nên ở nhiều nước đã tiến hành quá trình tư nhân hoá một cách mạnh mẽ và kiên quyết Tuy nhiên, để có

cơ sở đánh giá một cách khách quan và vận dụng có hiệu quả quá trình tư nhân hoá ở nước ta, cần thiết phải có sự thống nhất về bản chất và phân tích cặn kẽ mục đích quá trình này Khái niệm về tư nhân hoá, trước đây, được coi như là việc Nhà nước bán toàn bộ một XNQD cho tư nhân, tức là chuyển toàn bộ vốn liếng tài sản từ sở hữu Nhà nước sang sở hữu

tư nhân

Ngày nay, khái niệm này không còn phù hợp nữa, người ta coi tư nhân hoá là một trong những giải pháp trong quá trình hạn chế quyền kiểm soát của Nhà nước đối với xí nghiệp quốc doanh

Với khái niệm này, tư nhân hoá sẽ bao gồm hàng loạt các hình thức và mức độ khác nhau Ngoài việc bán toàn bộ một XNQD cho tư nhân, còn có các hình thức khác phổ biến hơn và ít gây đảo lộn hơn là: phát hành và bán một phần cổ phiếu cho tư nhân ( tư nhân hoá từng phần), cho thuê tài sản, khoán hoặc thuê người quản lý…

Trong tất cả các hình thức đó thì hình thức tư nhân hoá từng phần được áp dụng nhiều nhất Thông thường các Chính phủ không bán toàn bộ tài sản của một XNQD, mà chỉ bán một phần ( dưới hình thức phát hành cổ phiếu), để vừa đảm bảo quyền chi phối và kiểm soát của chính phủ đối với xí nghiệp đó, vừa phân tán trách nhiệm sở hữu cho các cổ đông Ví dụ,

ở Nam Triều Tiên, chương trình tư nhân hoá có quy mô rất lớn, nhưng theo nguyên tắc? Nhà nước giữ lại 51% cổ phần, số còn lại mới bán cho các cổ đông (công chúng)

Mục đích của quá trình tư nhân hoá, thường có 2 mục đích chính: Mục đích hay được

đề cập nhất là tính hiệu quả ( hiệu quả kinh tế) Người ta hy vọng tư nhân hoá sẽ làm cho hiệu quả hoạt động của các xí nghiệp tốt hơn và chất lượng sản phẩm cao hơn

Mục đích thứ 2: ở nhiều nước được coi là mục đích chính, là tư nhân hoá được coi như

là một chính sách của chính phủ nhằm hướng tới sự công bằng trong nhân dân, thông qua việc hình thành tầng lớp trung lưu; còn gọi là chương trình “cổ phần hoá tòan dân” Chẳng

Trang 32

hạn, ở CHLB Đức, để nhanh chóng hình thành tầng lớp trung lưu, Chính phủ đã tư nhân hoá công ty Volksueer thông qua chương trình “ cổ phần hoá toàn dân” dành cho những người có thu nhập thấp (năm 1960) Hay ở Nam Triều Tiên, chương trình này bắt đầu từ năm 1968 và đặc biệt sôi nổi vào năm 1987 với một chương trình rộng lớn nhằm bán cho dân chúng các loại cổ phiếu được các XNQD lớn nhất đất nước phát hành Tham vọng của Chính phủ Nam Triều Tiên là đưa tỉ lệ dân số có cổ phần từ 2, 6% năm 1986 lên 23% năm 1991, vượt Nhật (17%) và Mỹ (20%) Rõ ràng, mục đích của chương trình tư nhân hoá không chỉ nhằm vào việc nâng cao hiệu quả kinh tế, mà còn nhằm vào các mục tiêu chính trị xã hội

Ở nước ta, một vấn đề lớn đặt ra, là nên tiến hành tư nhân hoá như thế nào?có nên thực hiện giải pháp tư nhânhoá toàn bộ hay nên tư nhân hoá từng phần (cổ phần hoá)?

Trước hết, cần thấy rằng, nếu thực hiện tư nhân hoá toàn bộ các cơ sở kinh tế quốc doanh, thì các thành phần kinh tế tư nhân cũng không đủ sức đảm đương, do nguồn vốn bị hạn chế, kinh nghiệm kinh doanh trong nền kinh tế thị trường còn yếu Hơn nữa, việc tư nhân hoá toàn bộ sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới tình hình kinh tế xã hội do việc sa thải công nhân hàng loạt, trong khi luật lệ về lao động và bảo hiểm chưa hoàn chỉnh

Giải pháp hợp lý nhất đối với chúng ta là thực hiện cổ phần hoá phần lớn các cơ sở kinh

tế quốc doanh nằm trong doanh mục không thuộc diện Nhà nước cần nắm giữ toàn bộ Chỉ cơ

sở làm ăn kém, công nghệ lạc hậu và không có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của nền kinh tế, nhưng có khả năng phát triển trong tương lai nếu được đổi mới công nghệ, kỹ thuật và quản

lý tốt mới nền áp dụng hình thức tư nhân hoá toàn bộ

Để đạt được mục đích trên của công cuộc tư nhân hoá, cần thiết phải có những nguyên tắc nhất định Nguyên tắc cơ bản là: Nhà nước vẫn giữ được quyền kiểm soát và định hướng hoạt động của xí nghiệp bằng cách nắm số cổ phiếu đủ đảm bảo cho các quyền trên, số còn lại chủ yếu được bán cho công nhân của xí nghiệp và những người có thu nhập thấp Đây là một nguyên tắc quan trọng của quá trình cổ phần hoá các XNQD, nhằm gắn quyền lợi của người lao động với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Một nguyên tắc quan trọng khác,

là các xí nghiệp được lựa chọn thực hiện cổ phần hoá phải là các xí nghiệp làm ăn có lãi, nhằm khuyến khích và tạo điều kiện nâng cao thu nhập cho người mua cổ phiếu - mục đích quan trọng của sự nghiệp cổ phần hoá

Có thể kết luận rằng: Cổ phần hoá là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Nó gắn quyền lợi của xí nghiệp với quyền lợi của người lao động và quyền lợi của toàn xã hội Thực hiện cổ phần hoá sẽ tạo cho Chính phủ có một nguồn vốn bổ sung đáng kể cho các dự án đầu tư mới Đồng thời, cổ phần hoá sẽ góp phần hình thành và phát triển thị trường vốn trong nước qua các hoạt động mua bán cổ phiếu của mọi tầng lớp nhân dân

Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, cổ phần hoá không phải là một giải pháp hoàn hảo

có thể giải quyết bằng mọi vấn đề, mà đôi khi, không mang lại kết quả như mong muốn Thực tiễn, quá trình cổ phần hoá ở một số nước lại là, các xí nghiệp làm ăn thua lỗ hơn, nợ nần nhiều hơn Vì vậy, trong quá trình tiến hành cổ phần hóa ở nước ta, chúgn ta phải tín tới những tình huống như vậy, và thực hiện thận trọng từng bước, tránh làm ồ ạt, tràn lan Đồng thời cũng phải tránh ảo tưởng, cho rằng thực hiện cổ phần hoá, phân tán quyền sở hữu cho toàn dân là mang lại kết quả như mong đợi

Bài hướng dẫn 2: HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ

I Hoạt động tài chính vi mô

Hoạt động của các doanh nghiệp, trong nền kinh tế thị trường chịu tác động trực tiếp của các quy luật cung- cầu, quy luật giá trị và các quy luật khác của nền kinh tế cạnh tranh Bất cứ một sai lầm nào của doanh nghiệp đều phải trả giá bằng những thất bại đau đớn hoặc thậm chí bị phá sản Chính vì vậy, việc tập trung nghiên cứu, phân tích để quyết định lĩnh vực

Trang 33

kinh doanh, việc huy động và bố trí các nguồn vốn, cũng như việc bám sát thị trường và xử lý các tình huống phát sinh là những công việc hết sức quan trọng đối với các doanh nghiệp

1 Tiếp thị ( marketing)

Tiếp thị, đối với một doanh nghiệp, là nhằm để giải đáp câu hỏi: sản xuất cái gì? Cho ai? Và sản xuất như thế nào? Đây là một hoạt động liên tục, kéo dài suốt trong tất cả các giai đoạn hoạt động của doanh nghiệp Tiếp thị hay tiếp cận thị trường không chỉ là việc tìm kiếm khả năng và nhu cầu tiêu thụ sản phẩm, mà là tập hợp tất cả các yếu tố nhằm đảm bảo sự phân tích, lựa chọn, quyết định để hướng tới thành công

Một người có vốn (dù từ nguồn nào), khi đã quyết định mạo hiểm lao vào đường doanh nghiêp, thì công việc đầu tiên là tìm môi trường và lĩnh vực kinh doanh Công việc này thường được tiến hành trên cơ sở kết hợp giữa sở trường và những ý định chủ quan của nhà kinh doanh với kết quả thăm dò, phân tích và tính toán các yếu tố ảnh hưởng khách quan Các yếu tố rất nhiều và đa dạng, trong đó có những yếu tố quan trọng sau:

- Khả năng và tiêu thụ sản phẩm dự kiến sẽ sản xuất và cung cấp cho thị trường đây là yếu tố có ý nghĩa lớn nhất đối với quyết định đầu tư Yêu cầu tìm hiểu và phải nắm được nhu cầu của thị trường về sản phẩm dự kiến, khả năng mở rộng thị trường, đối thủ cạnh tranh và chất lượng, giá thành sản phẩm mà họ sản xuất, lợi thế so sánh của doanh nghiệp với các đối thủ

Việc phân tích yếu tố này đòi hỏi phải trả lời được câu hỏi: Liệu thị trường có chấp nhận một khối lượng hàng tăng lên do mình cung cấp hay không và khả năng mở rộng của nó theo hướng nào? sản phẩm có đứng vững được trong cạnh tranh hay không?

- Khả năng cung cấp về nguyên vật liệu cho sản xuất Nếu có nhu cầu lớn về sản phẩm

dự kiến sản xuất nhưng các nguồn nguyên vật liệu đã bị các xí nghiệp hiện có độc quyền thu mua và khai thác thì rõ ràng lao vào lĩnh vực này mà chưa có nguồn cung cấp là mọt hành động rất mạo hiểm Ngay cả trong trường hợp có nguồn cung cấp việc lựa chọn người cung cấp cũng là điều cần cân nhắc tín toán

- Lựa chọn công nghệ Việc lựa chọn công nghệ phụ thuộc vào ít nhất hai điều kiện: Khả năng nguồn vốn và nhu cầu cạnh tranh Nếu nguồn vốn ít, chỉ có thể đáp ứng được với dây chuyền công nghệ trung bình trong các nhà kinh doanh khác cùng lại có công nghệ hiện đại cần phải xem xét lại quyết định đầu tư hoặc bố trí lại cơ cấu vốn đầu tư (chẳng hạn: bố trí tối đa cho nguồn vốn thiết bị và tối thiểu cho xây lắp) Ngay cả khi nguồn vốn dồi dào, cũng cần phải cân nhắc giữa vấn đề công nghệ với vấn đề sử dụng nhiều lao động Tức là, phải tín toán về hiệu quả giữa việc sử dụng công nghệ hiện đại với việc sử dụng công nghệ trung bình

- Lựa chọn ngân hàng giao dịch và mở tài khoản Việc lựa chọn ngân hàng phục vụ cũng rất quan trọng phải chú ý tới chất lượng và khả năng phục vụ của ngân hàng, tới tính ổn định và công nghệ giao dịch, cũng như khả năng về việc đáp ứng các nhu cầu vay vốn dài hạn, ngắn hạn, các nhu cầu về vay chiết khấu và các nhu cầu về thanh toán

- Lựa chọn và xác định kiểu dán, mẫu mã, bao bì của sản phẩm trước khi đăng ký chính thức, cũng như việc đăng ký bản quyền về chất lượng sản phẩm, về bao bì mẫu mã

Lựa chọn mô hình tổ chức quản lý, lựa chọn cán bộ và công nhân trong xí nghiệp và soạn thảo các điều lệ về mối quan hệ trong quá trình hoạt động Điều này có vai trò quan trọng đối với hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Yếu tố con người cần được hết sức quan tâm khi xây dựng hoặc lựa chọn mô hình quản lý và sản xuất

Tất cả các yếu tố trên đều có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo đảm thành công của một dự án kinh doanh Công việc này không chỉ giới hạn cho trường hợp xem xét và thực hiện một dự án hoàn toàn mới mà cả cho trường hợp xem xét và thực hiện một dự án hoàn toàn mới mà cả cho trường hợp bỏ vốn mua lại các xí nghiệp đang hoạt động hoặc cho bất kỳ một phương thức nào khác nhằm chiếm lĩnh vị trí kinh doanh trong các lĩnh vực kinh tế

2 Vốn- Nguồn hình thành và các hình thức huy động

Để kinh doanh, trước hết phải có vốn; vốn đầu tư ban đầu và vốn bổ sung để mở rộng sản xuất kinh doanh Vốn kinh doanh được hình thành từ nhiều nguồn vốn khác nhau Căn cứ

Trang 34

vào nguồn hình thành vốn, người ta phán chia vốn của xí nghiệp thành nhiều loại như: vốn do nhà nước cấp (vốn NSNN), vốn do chủ kinh doanh bỏ ra, vốn liên doanh, vốn cổ phần và vốn huy động

- Vốn NSNN, được cấp phát cho các xí nghiệp của Nhà nước (XNQD) Trước đây, ở nước ta, nuồn vốn này rất lớn và chiếm phần quan trọng trong tổng số chi NSNN Với cơ chế

mở rộng tự chủ về tài chính của các XNQD, nguồn vốn cấp phát của NSNN cho đầu tư XDCB được thu hẹp về tỉ trọng và khối lượng Ngùôn vốn bổ xung hoặc hoàn bù của các XNQD cũng được huy động từ nền kinh tế, mà không cấp phát từ NSNN trước đây

- Vốn tự do có là vốn do chủ đầu tư hoặc các doanh nghiệp tự bỏ ra đề đầu tư xây dựng

và mở rộng sản xuất kinh doanh Nói chung trong các dự án đầu tư, vốn t ự có của các chủ đầu tư thường không đủ, phải huy động từ các nguồn khác Luật kinh doanh và luật ngân hàng huy định tỉ lệ bắt buộc của các nguồn vốn tự có trong tổn số vốn đầu tư Chỉ khi đạt được tỷ lệ đó, chủ đầu tư mới được phép vai ngân hàng hoặc huy động từ các nguồn vốn khác

Có hai loại cổ phiếu:

+ Cổ phiếu thông thường: là loại cổ phiếu không định kỳ trước lợi tức nhưng người sở hữu (cổ đông) được tham gia vào quá trình điều hành hoạt động của xí nghiệp và được phân chia lợi tức theo kết quả kinh doanh đạt được

+ Cổ phiếu ưu đãi: là loại cổ phiếu có mức lợi tức cố định không phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của xí nghiệp, người sở hữu loại cổ phiếu này không được tham gia vào những quyết định kinh doanh của xí nghiệp, tuy nhiên họ được hưởng ưu tiên nhận lợi tức trước cổ đông có cổ phiếu thông thường

Ở tất cả các nước, việc hình thành xí nghịêp cổ phần phải tuân thủ theo pháp luật (luật công ty cổ phần) Trong đó quy định mức vốn tối thiểu của cổ phiếu Thông thường, mệnh giá cổ phiếu được tính toán, xác định ở mức vừa phải, nhưng số lượng cổ phiếu phát hành lớn nhằm đáp ứng được khả năng mua cổ phiếu củ tất cả các tầng lớp nhân dân Một người có thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu, nhưng có không chế mức tối đa

Cổ phiếu có ghi tên người sở hữu gọi là cổ phiếu ký danh, và cổ phiếu không ghi tên người sở hữu gọi là cổ phiếu vô danh Loại cổ phiếu vô danh thịnh hành hơn Các cổ phiếu được phép chuyển nhượng mua bán dễ dàng trên thị trường chứng khoán mà trung tâm của

nó là sở giao dịch chứng khoán

- Vốn bổ sung, được huy động bằng nhiều hình thức khác nhau( như phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu, vay tín dụng ngân hàng, tín dụng thương mại, vốn chiếm dụng,…) Nếu các nguồn vốn trên chủ yếu mang tính chất dài hạn, thì nguồn vốn huy động bổ xung rất đa dạng

về thời hạn Các nguồn vốn huy động qua phát hành thêm cổ phiếu và trái phiếu mang tính chất dài hạn; trung hạn và ngắn hạn; các khoản tín dụng thương mại, các khoản chiếm dụng mang tính chất trung hạn và ngắn hạn

Việc phát hành cổ phiếu mà chúng ta xem xét ở trên là để huy động vốn ban đầu cho xí nghiệp Trong quá trình hoạt động, tất cả các xí nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, vối mọi dạng cấu thành nguồn vốn ban đầu, đều có thể phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu để huy động vốn bổ sung cho phát triển sản xuất ( cả các XNQD nằm trong chương trình cổ phần hoá)

Trang 35

Tín dụng ngân hàng là các khoản mà xí nghiệp vay của NHTM, hoặc các tổ chức tín dụng khác Tín dụng NH có nhiều dạng như:

+ Tín dụng ứng tiền qua tài khoản, là việc NH thoả thuận cho phép tài khoản của khách hàng được tăng thêm từ tiền ứng trước của NH để tài khoản có tiền boả đảm cho các chi trả Loại tín dụng này thường được áp dụng khi giữa NH (người cho vay) và xí nghiệp (khách hàng) có mối quan hệ lâu dài và tin tưởng Ở đây, uy tính của người vay là điều kiện thay cho bảo lãnh hoặc tài sản thuế chấp

+ Tín dụng thông qua cầm đồ hoặc thế chấp tài sản là việc người vay giao cho NH các loại đồ vật, hàng hoá hoặc giấy tờ có giá trị để đảm bảo trả nợ đúng hạn Nếu quá thời hạn đoa mà con nợ không trả được nợ, thì chủ nợ sẽ bán ( phát mại) các tài sản thế chấp để lấy tiền trừ vào số tiền nợ

+ Tín dụng có bảo lãnh, là việc người vay không có tài sản thế chấp, nhưng được người thứ 3 đứng ra đảm bảo (bão lãnh) cho việc trả nợ đầy đủ và đúng hạn

+ Tín dụng thông qua chiết khấu, là loại tín dụng được thực hiện bằng cách: ngân hàng khấu trừ ngay số tiền lãi lúc cho vai: đây là loại tín dụng rất thịnh hành ở các nước có nền kinh tế thị trường phát trỉên Nghiệp vụ của tín dụng chiết khấu là, một xí nghiệp có phiếu ghi

nợ của khách hàng ( gọi là tính phiếu thương mại hoặc thương phiếu) chưa tới hạn thanh toán, nhưng cần tiền Xí nghiệp mang tính phiếu đó tới NH đề nghị xin vay tiền, NH chấp thuận cho vay với số tiền ghi trong phiếu và thời hạn bằng tính từ lúc vay cho tới lúc thanh toán phiếu Nhưng số tiền thực lãnh của xí nghiệp không bằng thực lãnh đúng số tiền ghi trong tín phiếu, mà bằng số tiền đó trừ đi lãi suất của số ngày vay, nghĩa là, NH khi cho vay

đã khấu trừ chiết khấu khoản lãi suất mà xí nghiệp phải trả ngay từ lúc cấp tiền cho xí nghiệp + Tín dụng thương mại, là loại tín dụng phát sinh giữa người mua và người bán hàng hoá, khi người mua không có tiền trả ngay Đặc điểm quan trọng của tín dụng thương mại trong nền kinh tế thị trường là ở chỗ, người giữ tín phiếu thương mại khi cần tiền mà chưa tới hạn thanh toán tín phiếu, thì có thể dùng tín phiếu đó để mau hàng theo điều kiện tín dụng thương mại với người thứ ba hoặc đem ra NH để xin vay chiết khấu (Tuy nhiên NHcũng rất thận trọng trong việc cấp tín dụng này, vì tính chất rủi ro cao)

3 Sử dụng vốn và những tiêu chuẩn về hiệu quả

Lĩnh vực đầu tư đã được xác định, nguồn vốn đã có, vấn đề còn lại là sử dụng vốn như thế nào? Giải pháp vần đề này chính là đi tìm những phương thức tổ chức, sử dụng vốn để đạt được hiệu quả cao Thông thường những phương thức được áp dụng( trong lĩnh vực sản xuất) là:

Trước hết, số vốn huy động phải được phân thành 2 phần; phần để đầu tư XDCB và phần để mua sắm nguyên vật liệu, chi trả lương…

- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản được chị cho các khoản:

+ Chuẩn bị đầu tư, bao gồm chi phí cho việc hoàn thành các thủ tục pháp lý, các khoản

lệ phí, chi về khảo sát thiết kế, lập dự án thuê chuyên gia quản lý, thuê đặt văn phòng giao dịch tạm thời…

+ Xây dựng và lắp đặt, bao gồm các chi phí chi phải trả cho các đơn vị nhận thầu xây lắp các công việc: dọn mặt bằng, làm hàng rào bảo vệ xây trụ sở, nhà kho, vỏ bao che, đường vận chuyển nội bộ, hệ thống điện nước, nhà ăn nhà nghỉ, lắp đặt thiết bị

+ Mua thiết bị công nghệ và thiết bị vận chuyển bao gồm các chi phí về mua và vận chuyển thiết bị, máy móc công nghệ và các loại thiết bị, phương tiện xe máy khác

+ Mua sắm các phương tiện phục vụ cho hoạt động của văn phòng: Bàn ghế, tủ tài liệu, máu tính, két bạc

Khi công việc trên đây hoàn thành thì quá trình đầu tư kết thúc.Nhà kinh doanh cần quyết toán toàn bộ các chi phí bỏ ra và phân bố chung cho phù hợp với từng hạn mục công trình

Về phương diện tài chính, ta thấy rằng, kết quả đầu tư đã tạo ra một sự chuyển hoá rất quan trọng của nguồn vốn ừ trạng thái tiền tệ ( động sản tài chính), sang trạng thái vật chất (

Trang 36

tài sản phi tài chính) Các tài sản phi tài chính được hình thành ở đây có thời hạn sử dụng lâu

và giá trị lớn, nên được gọi là tài sản cố định (TSCĐ)

TSCĐ có 2 loại: loại có khả năng làm tăng khối lượng đầu ra (sản lượng), bao gồm các thiết bị và máy móc công nghệ và các loại xe máy khác Đó là các động sản phi tài chính.Loại thứ hai không có khả năng làm tăng khối lượng đầu ra( nhà xưởng, kho tàng, đường vận chuyển) được gọi là bất động sản

- Vốn lưu động, là phần vốn còn lại để mua sắm các loại nguyên vật liệu, phụ tùng thay thế, hoá đơn chứng từ, sổ sách,… các loại tài sản này được gọi là tài sản lưu động (TSLĐ) LSLĐ có đặc điểm là giá trị nhỏ hơn và thời hạn sử dụng ngắn( thường chi sử dụng cho một chu kỳ sản xuất) Phần vốn này khi chưa sử dụng vẫn là vốn bằng tiền tức là các động sản tài chính Khi sử dụng, nó chuyển hoá thành tài sản phi tài chính, nằm trong giá trị của các nguyên vật liệu dự trữ, trong giá trị sản phẩm dở dang, hoặc trong giá trị sản phẩm chưa tiêu thụ… Các doanh nghiệp không bao giờ chuyển hoá toàn bộ nguồn vốn lưu động, mà luôn có trong tài khoản của mình một lượng dự trữ nhất định, để thực hiện các nghiệp vụ chi trả cần thiết như ứng trước tiền lương cho công nhân…

Tới đây kết thúc giai đoạn quan trọng nhất của quá trình sử dụng vốn và nhà kinh doanh có thể đi vào sản xuất nhằm tái tạo ra nguồn vốn mới, lớn hơn nguồn vốn đã bỏ ra Nhưng trước khi bước vào phân tích quá trình tái tạo nguồn vốn mới, cần thiết phải dừng lại ở việc đánh giá hiệu quả của nguồn vốn dành cho đầu tư XDCB Bởi lẽ, hiệu quả sản xuất sau này phụ thuộc rất nhiều vào kết quả và hiệu quả vốn đầu tư ban đầu

Có nhiều phương pháp khác nahu nhằm xác định hiệu quả vốn đầu tư Nhưng các phương pháp đều nhằm tham gia giải thích mối quan hệ giữa khối lượng đầu vào (vốn đầu tư) với các kết quả có được ở đầu ra (sản lượng, lợi nhuận, số lượng lao động sử dụng…)

Chúng ta hãy xem xét mối quan hệ giữa vốn đầu tư và sản lượng sản phẩm – đánh giá hiệu quả của vốn đầu tư theo mô hình Harrod Domar Đây là một phương pháp được sử dụng khá phổ biến trên thế giới để phân tích các nhu cầu về vốn và đánh giá khả năng tăng trưởng của nền kinh tế vĩ mô hoặc để đánh giá hiệu quả đầu tư ở tầm vĩ mô

Nội dung của phương pháp này là: Nếu ta gọi đầu vào (vốn đầu tư) là K, đầu ra (sản lượng) là G, thì quan hệ giữa chúng ta sẽ là:

Phương pháp này phải đòi hỏi phải cho trước 2 hay 3 yếu tố ( G, K, k)

Vấn đề quan trọng của phương pháp này là phải trả lời câu hỏi liệu có thể cải thiện được hệ số “k” hay không? Và nếu có thì bằng cách nào?

Trong nền kinh tế, dựa vào kết quả hoạt động của các xí nghiệp và trình độ công nghệ hiện có, người ta có thể xây dựng được hệ số chuẩn cho tất cả mọi lĩnh vực của nền kinh tế Yêu cầu đối với các nhà đầu tư là phải căn cứ vào hệ số chuẩn để xây dựng dự án đầu

tư của mình cho hợp lý nhất, tức là họ phải phấn đấu sao k nhỏ hơn hoặc bằng “k” chuẩn Tức là phải tìm các phương án đầu tư và lựa chọn phương án có “k” nhỏ nhất Các phương án thường trình bày các giải pháp của doanh nghiệp để giảm tới mức thấp nhất các khoản chi phí đầu tư vào những tài sản mà không có khả năng làm tăng khối lượng đầu ra ( sản lượng) Lựa chọn công nghệ cũng là một bài toán cần được chú ý khi tìm lời giải

Hiệu quả đầu tư còn được đánh giá bằng một chỉ tiêu quan trọng khác, liên quan tới thời hạn đầu tư và thời hạn thu hồi vốn Nhìn chung, thời hạn đầu tư càng ngắn thì chi phí quản lý trong quá trình đầu tư càng giảm bớt, đồng thời công trình sớm được đưa vào sử

Trang 37

dụng, và do đó, nguồn vốn bỏ ra càng sớm được thu hồi, hiệu quả đầu tư cao Chỉ tiêu này được tính toán theo công thức sau:

K (với L: là tỉ suất lợi nhuận (%); P: là lợi nhuận đạt được, và K: vốn đầu tư)

Các phương pháp đánh giá hiệu quả trên đây có ưu điểm là đơn giản dễ tính toán Nhưng nó có những hạn chế nhất định Vì nó chưa đề cập tới các yếu tố của thị trường, như yếu tố lãi suất giá cả và những rủi ro trong huy động và sử dụng vốn…

- Trước hết, giá trị vốn luôn gắn liền với thời gian Mỗi vốn trong một thời gian nhất định đều có khả năng sinh lời, mức độ sinh lời phục thuộc vào lĩnh vực sử dụng Vì vậy việc tính hiệu quả vốn đầu tư phải bao quát được khả năng đó, tức là phải đặt đồng vốn vào trong trạng thái “ động”, chứ không phải trong trạng thái “tỉnh”

Thông thường, người ta điều chỉnh giá trị vốn danh nghĩa căn cứ vào tỉ lệ lãi suất ngân hàng Ví dụ, nếu ta bỏ một nguồn vốn có khối lượng là K0 vào đầu tư, thì sau thời gian t, số vốn ban đầu sẽ tăng lên một khoản k = i.k0 (I là tỷ lệ lãi suất ngân hàng) như vậy sau thời gian t ta có khối lượng vốn mới là Kl = K0 + k Hay công thức để tính Kl như sau:

Kl= K0 l+i) với 

Như vậy hiệu quả của vốn đầu tư thực tế phải là: k =

Trong thực tiễn không có dự án đầu tư nào bỏ tòan bộ vốn vào thời điểm đầu tiên của quá trình đầu tư, mà được phân bổ từng phần trong quá trình đầu tư theo thời gian, ( tháng, quy hoặc năm) Do đó việc tính toán hiệu quả đầu tư của vốn ở trạng thái biến động cũng cần được tính toán chi tiết hơn

- Thứ 2, là vấn đề lạm phát( vấn đề giá cả) Ở mỗi thời điểm, mặt bằng giá có sự chênh lệch khác nhau, ảnh hưởng tới giá trị thực tế của vốn đầu tư Vì vậy, việc tính toán hiệu quả vốn đầu tư phải dựa trên cơ sở điều chỉnh các thông số theo yếu tố lạm phát Yêu cầu đối với công việc này bắt nguồn từ chỗ việc sử dụng vốn đầu tư liên quan trực tiếp tới giá cả của các loại hàng hoá, vật tư thiết bị cấu thành công trình đầu tư (giá cả tăng làm chi phí tăng) Ngoài ra, còn hàng loạt các yếu tố khác trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, đòi hỏi nhà đầu

tư phải tính đến khi xây dựng dự án đầu tư và xác định hiệu quả đầu tư như: khả năng hoạt động của các ngân hàng, khả năng huy động vốn bổ sung sự biến động của thị trường vốn tình trạng tài chính của các đơn vị ký hợp động (xây lắp)

4 Các yếu tố sản xuất

Chúng ta đã xem xét nội dung và quá trính sử dụng nguồn vốn ban đầu của nhà kinh doanh Tuy nhiên, tất cả quá trình đã qua chỉ bảo đảm cho nhà kinh doanh tạo dựng vị trí ban đầu để bước vào môi trường hoạt động sự thành công hay thất bại phụ thuộc rất nhiều vào thực tế hoạt động của xí nghiệp hàng loạt các yếu tố ảnh hưởng như là: Sự vận hành của các

Kl

G

Trang 38

loại tài sản (T), của nguồn vốn lưu động định mức (Kld), của lao động (L), của nghệ thuật quản lý (q) và rất nhiều yếu tố ngoại cảnh khác

Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc vào các yếu tố nêu trên (yếu

tố chủ quan) dưới dạng một số hàm số (f) như sau:

Thực hiện tốt việc đánh giá và đánh giá lại tài sản

Lựac chọn phương pháp khấu hao thích hợp

Thực hiện tốt chế độ bảo quản và sữa TSCĐ,

Thường xuyên, định kỳ kiểm tra, phân tích tình hình TSCĐ ở doanh nghiệp và có biện pháp điều chỉnh kịp thời, nâng cao hiệu quả

Hiệu quả sử dụng TSCĐ trong quá trình sản xuất, thường được tính theo một số chi tiêu:

Chi tiêu doanh thu tiêu thụ (GTSL) so với giá trị TSCĐ (T)

h = GTSL

T

h = P

T Chi tiêu lợi nhuận (P) trên giá trị TSCĐ:

Ngoài 2 chỉ tiêu chính trên, người ta còn có thể sử dụng chỉ tiêu hàm lượng vốn cố định, và chỉ tiêu hệ số hao mòn vốn cố định…

- KlD: là vốn lưu động, tức là nguồn vốn để mua sắm nguyên vật liệu, nhiên liệu, phụ tùng, để đảm bảo cho các khoản chi phí dở dang để dự trữ thành phần đến khi xuất bản… Khối lượng vốn cần thiết cho các nhu cầu trên thường được xác định bằng phương pháp định mức Nội dung của phương pháp là căn cứ vào khả năng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm trong một thời kỳ nhất định đồng thời căn cứ vào nhu cầu về các loại nguyên vật liệu ( trên cơ

sở định mức) trong quá trình sản xuất nhu cầu về lao động và còn căn cứ vào nhiều yếu tố khác như điều kiện cung cấp, điều kiện tiêu thụ, yêu cầu dự trữ và thời gian dữ trữ nguyên vật liệu… người ta sẽ tính được mức vốn cần thiết ở trong từng khâu và toàn bộ quá trình sản xuất Nguyên tắc của phương pháp này là xác định nhu cầu vốn tối thiểu nhưng vẫn đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường

Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động, người ta thường sử dụng chỉ tiêu hệ số luân chuyển vốn lưu động (tốc độ luân chuyển) chỉ tiêu này thể hiện dưới hai hình thức: G: Giá trị sản lượng trong kỳ, KlD: vốn lưu động định mức/ kỳ)

số ngày luân chuyển :

(t: số ngày của một vòng luân chuyển, N: số ngày trong kỳ phân tích)

Ngoài chỉ tiêu trên, người ta sử dụng một số chỉ tiêu khác; như mức doanh lợi vốn lưu động, mức đảm nhiệm của vốn lưu động, hiệu quả một đồng vốn lưu động

Để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, người ta thường sử dụng các biện pháp để làm tăng tốc độ luân chuyển vốn ở trong từng khâu và toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh, tức là áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp như: Tăng suất lao động, nâng cao hiệu suất sử dụng

t = N h

Trang 39

thiết bị máy móc, tổ chức công việc cung cấp và dự trữ nguyên vật liệu, thực hiện tốt các định mức tiêu hao, tổ chức chặt chẽ quá trình thanh toán, thực hiện khuyến khích kinh tế…

- L: lao động là một yếu tố rất quan trọng tác động lên hiệu quả sản xuất kinh doanh Sự quan tâm đến người lao động là một trong những bí quyết thành công của nhiều doanh nghiệp

Yếu tố lao động sẽ có tác dụng làm tăng hiệu quả nếu người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật giỏi và có tinh thần trác nhiệm cao Người ta thường đo mức độ hiệu quả sử dụng lao động bằng chỉ tiêu năng suất lao động (W), chỉ tiêu này được tính bằng tỷ lệ giữa giá trị khối lượng sản phẩm (G) và số lượng lao động (L)

M = G L

Để nâng cao năng suất lao động (hiệu quả sử dụng lao động), trước hết là thật sự quan trọng, về cả vật chất cũng như tinh thần

Hình thức vật chất bao gồm việc xét trả lương, tiền thưởng phải đảm bảo sự công bằng

về đóng góp, tránh theo kiểu bình quân chủ nghĩa Việc trả lương, khen thưởng phải thật sự khuyến khích nâng cao năng suất lao động Việc tăng lượng thật sự thúc đẩy NSLĐ tăng nhanh hơn

Về mặt tinh thần, sự quan tâm thể hiện ở rất nhiều mặt như: Điều kiện làm việc, sức khoẻ, hoàn cảnh gia đinh, sở thích cá nhân

Mặc khác, để nâng cao NSLĐ không thể không chú ý đến việc đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn tay nghề của người lao động, tổ chức tốt quá trình lao động, sắp xếp công việc hợp lý:

Lao động trong xí nghiệp bao gồm lao động gián tiếp và lao động trực tiếp, dó đó để nâng cao NSLĐ thì việc giảm tới mức thấp nhất lao động gián tiếp, tăng cường số lao động trực tíêp là cần thiết

- q: Nghệ thuật quản lý là một yếu tố rất quan trọng dẫn tới thành công của doanh nghiệp Thật là sai lầm khi cho rằng: “ cờ đến tay ai người đó phất”, mà quản lý hoạt động của ngừời quản lý xí nghiệp, phải được thật sự cọi là một nghệ thuật đòi hỏi con người ngoài tham vọng còn phải có những phẩm chất đặc biệt và một quá trình “ lăn lộn” trong thương trường để quyết đưa doanh nghiệp đi lên tới những đỉnh cao hơn

5 Chi phí sản xuất, giá thành và lợi nhụân

Chi phí sản xuất của doanh nghiệp gồm hai loại:

- Chi phí khả biến hay chi phí trực tiếp, là những loại chi phí có mối quan hệ tỷ lệ thuận với khối lượng sản xuất kinh doanh, chúng có mối quan hệ trực tiếp với quá trình sản xuất kinh doanh như: chi phí khấu hao các loại máy móc thiết bị, nhà xưởng, phương tịên phục cho sản xuất kinh doanh, chi trả lương cho công nhân, chi phí nguyên, nhiên, vật liệu, chi phí sửa máy móc thiết bị …

Đặc điểm nổi bậc của chi phí này là, sự tăng lên của chúng tỷ lệ thuận với mức sản phẩm Đây là bộ phận chi phí quan trọng trong tổng chi phí của doanh nghiệp

- Chi phí bất biến hay chi phí gián tiếp, là những loại chi phí không có liên quan (hoặc

ít liên quan)với khối lượng sản phẩm sản xuất kinh doanh; như chi phí cho bộ máy quản lý, phục vụ, khấu hao trụ sở làm việc và các dụng cụ văn phòng … loại chi phí này tăng lên hay giảm đi thường không ảnh hưởng gì tới khối lượng sản phẩm SXKD Thông thường loại chi phí này chiếm một tỷ trộng không lớn trong toàn bộ chi phí

Khi nói đến chi phí SXKD của một xí nghiệp là nói đến toàn bộ chi phí mà xí nghiệp

bỏ ra trong một thời kỳ nhất định (trong một năm) Giữa chi phí sản xuất và khối lượng sản xuất có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp tuỳ theo từng bộ phận chi phí

Xuất phát từ đặc điểm của mỗi loại chi phí, trong quản lý chi phí sản xuất, kinh doanh cần có những phương hướng và biện pháp để nâng cao hiệu quả chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh

Trang 40

Người ta còn sử dụng giá thành sản phẩm để phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh đối với từng loại sản phẩm Sự khác nhau giữa chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành là ở chỗ, khi sản xuất kinh doanh là khái niệm dùng để chỉ tất cả chi phí của xí nghiệp trong một giai đoạn nhất định nhằm mục đích sản xuất kinh doanh

Giá thành sản phẩm là chi phí dùng để sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm Tất nhiên, chi phí sản xuất dù phát sinh ở giai đoạn nào và khoản mục nào, cuối cùng cũng được thể hiện trong giá thành sản phẩm Cũng cần lưu ý rằng, có một số chi phí không gọi là chi phí sản xuất như chỉ về sửa chữa lớn tài sản cố định chi phí này không tính vào giá thành sản phẩm, mà khấu trừ bằng nguồn vốn sửa chữa lớn đã trích trước, hoặc chi phí về xây dựng các công trình của xí nghiệp ( xây dựng bổ sung) cũng không tináh vào chi phí sản xuất các công trình của xí nghiệp ( xâu dựng bổ sung) cũng không tính vào chi phí sản xuất, mà tính vào chi phí đầu tư XDCB…

Muốn kinh doanh có lãi, nhà kinh doanh phải biết được giá thành của mỗi loại sản phẩm ra sao để có thể xác định giá bán cũng như điều chỉnh cơ cấu và khối lượng sản phẩm cho hợp lý Việc này nếu căn cứ vào chi phí sản xuất thì không thực hiện được vì:

- Thức nhất: sản phẩm là một quá trình liên tục, nên trong giá trị của từng sản phẩm có

cả những chi phí của năm trước và những chi phí bỏ vào trong năm hạch toán, đồng thời lại

có những chi phí của năm nay còn nằm trong bán thành phẩm ( chi phí dở dang)

- Thứ hai: Các chi phí của xí nghiệp bao gồm 2 loại, là chi phí trực tiếp tới việc tạo ra một sản phẩm nào đó, và chi phí liên quan tới nhiều loại sản phẩm, phải tiến hành phân bổ vào giá thành từng loại

Để xác định giá thành sản phẩm, trước hết, các chi phí trực tiếp cho việc sản xuất được tính trực tiếp cho từng sản phẩm, còn đối với các chi phí gián tiếp phải tiến hành phân

bổ theo những tiêu chuẩn thích hợp vào giá thành từng loại sản phẩm Cộng chi phí trực tiếp

và phần chi phí đã được phân bổ, sau đó chia cho tổng số sản phẩm trong nhóm, sẽ đựoc giá thành sản xuất sản phẩm một đơn vị Để có được giá thành toàn bộ của sản phẩm cần phải cộng thêm phần chi phí lưu thông đã được phân bổ (như chi phí gián tiếp) và giá thành sản xuất đơn vị sản phẩm

Tới đây công việc hạch toán chi phí vào giá thành kết thúc Nhà kinh doanh có thể căn

cứ vào giá bán (V) để so sánh với giá thành (Z) thực tế của mình để tìm ra lợi nhuận (P) từ mỗi sản phẩm:

P = V – Z Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có ảnh hưởng trực tíêp tới lợi nhuận đạt đựơc

Do đó, để nâng cao hơn lợi nhuận của mình Các nhà doanh nghiệp cần áp dụng nhiều biện pháp nhằm giảm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, từ đó nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp

6 Doanh thu tiêu thụ - sự tái tạo nguồn tài chính

Quá trình chuyển hoá của nguồn vốn tài chính là quá trình chuyển hoá từ động sản tài chính (nguồn vốn huy động ban đầu) sang các loại động sản và bất động sản phi tài chính ( tài sản cố định và tài sản lưu động), nhờ có sự hoạt động của các loại tài sản trên và sức lao động của con người, các sản phảm của quá trình sản xuất được hình thành Đây cũng là một dạng tài sản phi tài chính Nhiệm vụ của nhà kinh doanh lúc này là thực hiện chuyển hoá ngược lại

Nhiệm vụ này được thực hiện thông qua thị trường hàng hoá – tiêu thụ sản phẩm Nhà kinh doanh tiêu thụ sản phẩm trên thị trường và thu được tiền về Đây chính là quá trình chuyển hoá từ tài sản phi tài chính trở về động sản tài chính

Tổng sổ tiền thu được do bán hàng còn được gọi là doanh thu tiêu thụ ( thu nhập bán hàng) của nhà kinh doanh, nhờ có doanh thu này mà nhà kinh doanh có thể chi phí cho mọi khoản cần thiết

Như vậy, trong toàn bộ chu trình sản xuất, thì doanh thu tiêu thụ là sự tái tạo của nguồn vốn bỏ ra Nguồn vốn tái tạo này có đặc điểm là phải luôn luôn lớn hơn nguồn vốn trước nó đã bị chuyển hoá vào giá trị sản phẩm tiêu thụ (giá thành sản phẩm) Đây chính là nguyên tắc cao nhất và là biểu hiện thành công của doanh nghiệp

Ngày đăng: 24/10/2012, 14:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức đánh giá - Lý thuyết tài chính tiền tệ
Hình th ức đánh giá (Trang 4)
Bảng so sánh trên cho thấy, khu vực kinh tế quốc doanh ở Nam Triều Tiên và Ấn Độ  chiếm  xấp  xỉ  10%  GDP - Lý thuyết tài chính tiền tệ
Bảng so sánh trên cho thấy, khu vực kinh tế quốc doanh ở Nam Triều Tiên và Ấn Độ chiếm xấp xỉ 10% GDP (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w