Nguyện vọng của họ là doanh nghiệp được thành lập phải đáp ứng những yêu cầu sau: - Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân; - Hạn chế người ngoài thâm nhập vào doanh nghiệp với tư cách là thà
Trang 1TM1.NT1 - 4
Tuấn, Nam, Thắng, Đại dự định thành lập một doanh nghiệp có trụ sở tại quận Đống Đa, thành phố Hà Nội với các ngành nghề kinh doanh là: kinh doanh bất động sản và môi giới kết hôn có yếu tố nước ngoài Nguyện vọng của họ là doanh nghiệp được thành lập phải đáp ứng những yêu cầu sau:
- Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân;
- Hạn chế người ngoài thâm nhập vào doanh nghiệp với tư cách là thành viên;
- Các thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp khi doanh nghiệp bị phá sản;
Anh, chị hãy tư vấn cho Tuấn, Nam, Thắng, Đại:
1 Loại hình doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của họ và phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành
2 Giả sử sau khi doanh nghiệp đã được thành lập, Thắng dự định thu hồi toàn bộ phần vốn góp vào doanh nghiệp để đầu tư kinh doanh vào một dự án khác Thắng
có thực hiện được dự định của mình không? Vì sao?
Sau thời hạn cam kết góp vốn lần cuối, Đại vẫn chưa góp đủ vốn, các thành viên còn lại có quyền quyết định khai trừ tư cách thành viên của Đại không? Tại sao?
Trang 2MỞ ĐẦU
Xét thấy, pháp luật là một công cụ quản lý xã hội sắc bén song nó chỉ có thể phát huy được vai trò đích thực của mình khi được tôn trọng và thực hiện trong cuộc sống Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, cùng với sự chuyển đổi của nền kinh tế sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, các công ty thương mại đã được nhà nước thừa nhận và bảo vệ bằng pháp luật Xu hướng này
mở ra nhiều thuận lợi cho sự phát triển của doanh nghiệp Nhiều hình thức pháp
lý của doanh đã hình thành và được khuyến khích hoạt động, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế của nước ta Tuy nhiên, quyết định lựa chọn loại hình doanh nghiệp nào trước khi bắt đầu kinh doanh là một vấn đề đặt ra hiện nay
Vì vậy, nhóm em tập trung nghiên cứu đề tài số 41 để tư vấn cho các nhà kinh doanh lựa chọn mô hình doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu của mình
NỘI DUNG
1 Xác định loại hình doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của Tuấn, Nam, Thắng, Đại và phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành
1.1 Xác định ngành nghề kinh doanh mà Tuấn, Nam, Thắng, Đại có thể đáp ứng phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành
Trước hết, về ngành nghề kinh doanh thì Tuấn, Nam, Thắng, Đại chỉ có thể kinh doanh bất động sản mà không thể kinh doanh ngành nghề môi giới kết hôn
có yếu tố nước ngoài Tại sao lại như vậy, ta có thể dựa trên những căn nguyên như sau:
-Thứ nhất, điều kiện luật định đối với ngành nghề môi giới kết hôn có yếu tố nước ngoài họ không đáp ứng được, vì những căn cứ pháp lý sau:
+ Theo Điều 7 Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2010 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp 2005 quy định về Danh mục ngành, nghề cấm kinh doanh trong đó có kể đến :
“….-Kinh doanh dịch vụ môi giới kết hôn có yếu tố nước ngoài
1"Bộ bài tập Luật thương mại của Bộ môn Luật thương mại - ĐH Luật Hà Nội”.
Trang 3Trên thực tế, pháp luật Việt Nam hiện nay, mới chỉ cho phép sự hoạt động của các trung tâm tư vấn, hỗ trợ hôn nhân theo chương V-Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28/03/2013 Cụ thể tại Điều 30 quy định nguyên tắc hoạt động tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài:
“1 Hoạt động của Trung tâm phải bảo đảm nguyên tắc phi lợi nhuận, góp phần làm lành mạnh hóa quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, phù hợp với nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam, với thuần phong mỹ tục của dân tộc
2 Nghiêm cấm lợi dụng việc tư vấn, hỗ trợ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nhằm mua bán người, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ hoặc vì mục đích trục lợi khác.”
Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam doanh nghiệp không được phép đăng ký ngành nghề môi giới kết hôn giữa người Việt Nam với người nước ngoài.Tại Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24 tháng 09 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định tại khoản 5 Điều 28 về Hành vi vi phạm quy định về đăng ký kết hôn và môi giới kết hôn: “Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi môi giới kết hôn trái pháp luật”
Vì vậy, Tuấn, Nam, Thắng, Đại có ý định thành lập doanh nghiệp thực hiện ngành nghề này thì không thực hiện được.
Đối với kinh doanh bất động sản, Căn cứ vào quy định của:
-Luật kinh doanh bất động sản số 63/2006/QH11
- Nghị định 153/2007/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật kinh doanh bất động sản
- Thông tư số 13/2008/TT-BXD của Bộ xây dựng hướng dẫn nghị định 153/2007/NĐ-CP
Thì doanh nghiệp kinh doanh bất động sản phải có vốn pháp định là 6 (sáu)
tỷ đồng Việt Nam, trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp kinh doanh bất động
Trang 4sản phải duy trì mức vốn điều lệ không thấp hơn mức vốn pháp định (kể cả doanh nghiệp đó được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh bất động sản trước ngày Nghị định 153/2007/NĐ-CP có hiệu lực)
- Điều kiện về chứng chỉ hành nghề
Tổ chức, cá nhân:
- Khi kinh doanh dịch vụ môi giới bất động sản phải có ít nhất một người có chứng chỉ môi giới bất động sản;
- Khi kinh doanh dịch vụ định giá bất động sản phải có ít nhất hai người có chứng chỉ định giá bất động sản;
- Khi kinh doanh dịch vụ sàn giao dịch bất động sản phải có ít nhất hai người có chứng chỉ môi giới bất động sản, nếu có dịch vụ định giá bất động sản thì phải có
ít nhất hai người có chứng chỉ định giá bất động sản
Ngoài ra, cần đáp ứng điều kiện về tính công khai minh bạch
Tựu chung lại, 4 người kể trên chỉ có thể kinh doanh bất động sản mà không thể kinh doanh nghành nghề môi giới kết hôn có yếu tố nước ngoài.
1.2 Xác định loại hình doanh nghiệp nghiệp đáp ứng yêu cầu của Tuấn, Nam, Thắng, Đại và phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.
Để xác định được loại hình doanh nghiệp phù hợp thì ta cần phân tích rõ về các loại hình nói chung, để từ đó tìm ra những điểm tương thích mà Tuấn, Nam, Thắng, Đại có thể đáp ứng được theo đúng yêu cầu của pháp luật hiện hành.Cụ thể, như sau:
Theo Luật Doanh nghiệp nhóm 2005 thì ở nước ta hiện nay có bốn loại
hình doanh nghiệp đó là: Công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Ta sẽ tiến hành tìm hiểu chi tiết để
lựa chọn một loại hình doanh nghiệp phù hợp với họ
Công ty cổ phần:
Điều 77 Luật Doanh nghiệp năm 2005:“Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ
Trang 5tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của Luật này; Công
ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn.”
Công ty cổ phần có số lượng thành viên rất đông, tối thiểu là có ba thành viên
và không giới hạn số lượng tối đa; thành viên có thể là tổ chức, cá nhân mang quốc tịch Việt Nam hoặc quốc tịch nước ngoài
Qua đó, ta nhận thấy việc quản lý và điều hành công ty cổ phần rất phức tạp
do không hạn chế được số lượng thành viên đã tham gia vào công ty, vì không hạn chế được người ngoài thâm nhập vào doanh nghiệp với tư cách là thành viên nên công ty cổ phần không đáp ứng được yêu cầu của 4 nhà kinh doanh nói trên
Công ty hợp danh:
Theo Điều 134 Luật Doanh nghiệp năm 2005: “Công ty hợp danh là doanh nghiệp, phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (sau đây gọi là thành viên hợp danh); ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn; thành viên hợp danh phải
là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty; thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty; Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào”.
Như vậy theo quy định của Luật Doanh nghiệp, mặc dù công ty hợp danh
đã đáp ứng được hai yêu cầu của 4 nhà kinh doanh đó là hạn chế người ngoài thâm nhập vào doanh nghiệp với tư cách là thành viên và công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy Chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Tuy nhiên, loại hình doanh nghiệp này cũng không đáp ứng được yêu cầu của Tuấn, Nam, Thắng, Đại do chế độ trách nhiệm tài sản thành viên hợp danh phải chịu liên đới trách nhiệm đối với hoạt động của công ty
Trang 6 Doanh nghiệp tư nhân:
Theo Điều 141 Luật Doanh nghiệp năm 2005: “Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp; doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào; mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân”.
Như vậy, theo quy định của điều luật ta có thể thấy doanh nghiệp tư nhân không đáp ứng được điều kiện mà Tuấn, Nam, Đại, Thắng đưa ra đó là: phải có
tư cách pháp nhân và loại hình doanh nghiệp này chỉ do một cá nhân làm chủ nên không thể đáp ứng yêu cầu của họ cùng là chủ sở hữu Hơn nữa loại hình doanh nghiệp này chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp mà theo yêu cầu của họ dự định thành lập một doanh nghiệp phải có tư cách pháp nhân; các thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp khi doanh nghiệp bị phá sản
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên:
Theo Điều 63 Luật Doanh nghiệp năm 2005:“Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phần.”
Như vậy, theo quy định của pháp luật loại hình doanh nghiệp này mặc dù
đã đáp ứng được điều kiện là có tư cách pháp nhân (kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh), thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn đối với
khoản nợ của công ty, nhưng không thích hợp vì chỉ do một tổ chức hoặc cá nhân làm chủ sở hữu mà theo đề bài Tuấn, Nam, Thắng, Đại là 4 cá nhân muốn cùng thành lập một doanh nghiệp
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên:
Trang 7Công ty TNHH là loại hình công ty gồm không quá 50 thành viên góp vốn thành lập và công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của mình, theo Điều 38 Luật doanh nghiệp thì công ty TNHH có các đặc điểm sau đây:
- Chủ sở hữu của công ty có thể là cá nhân, pháp nhân; số lượng thành viên tối thiểu là hai, tối đa là không vượt quá năm mươi người
- Tư cách pháp lý : Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có tư cách pháp nhân
- Công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng tài sản của mình(trách nhiệm hữu hạn).Thành viên công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phần tài sản mà mình đã cam kết góp vào công ty Như vậy, trong công ty trách nhiệm hữu hạn có sự phân tách tài sản: tài sản của công ty và tài sản của thành viên Nguyên tắc phân tách tài sản được áp dụng trong mọi quan hệ tài sản, nợ nần và trách nhiệm của công ty
- Công ty trách nhiệm hữu hạn không được phát hành cổ phần
- Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo qui định tại điều
43, 44 và 45 của luật này
Khác với tất cả các loại hình công ty, công ty trách nhiệm hữu hạn là sản phẩm của hoạt động lập pháp Các loại hình công ty khác do các thương gia lập ra,pháp luật thừa nhận và góp phần hoàn thiện nó.Năm 1892, Luật về công ty trách nhiệm hữu hạn ở Đức được ban hành, trước đó đã có luật công ty cổ phần ban hành năm 1870 Các nhà làm luật cho rằng:
+ Mô hình công ty cổ phần không thích hợp cho các nhà đầu tư vừa và nhỏ Các qui định quá phức tạp trong luật công ty cổ phần không cần thiết cho loại công ty vừa và nhỏ có ít thành viên và thường là họ quen biết nhau
+ Chế độ chịu trách nhiệm vô hạn của công ty đối nhân không thích hợp với tất cả các nhà đầu tư Biết phân tán rủi ro là một trong các lý do để thành đạt trong kinh doanh Công ty trách nhiệm hữu hạn là loại công ty kết hợp được ưu điểm về chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn của công ty cổ phần và ưu điểm các
Trang 8thành viên quen biết nhau của công ty đối nhân Nó khắc phục được nhược điểm
về sự phức tạp khi thành lập và quản lí của công ty cổ phần và nhược điểm không phân chia được rủi ro của công ty đối nhân
Đúng như dự đoán của các nhà làm luật, sau khi có luật công ty trách nhiệm hữu hạn, các nhà đầu tư hào hứng hưởng ứng Số lượng các công ty trách nhiệm hữu hạn tăng nhanh và hiện nay nó là một trong những công ty quan trọng nhất ở Cộng hoà liên bang Đức Sau 1892, ở hầu hết các nước châu Âu lục địa, Nam Mĩ cũng có luật công ty trách nhiệm hữu hạn Thực tế ở Việt Nam chứng minh các nhà đầu tư rất ưa thích thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn.Từ sau khi có luật công ty đến nay, số lượng các công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều hơn hẳn các công ty cổ phần
Từ những đặc điểm pháp lí trên ta nhận thấy mô hình công ty TNHH hai thành viên trở lên là thích hợp nhất bởi nó đáp ứng được những yêu cầu mà các chủ thể muốn thành lập công ty đã nêu ra ở tình huống Cụ thể như sau:
- Thứ nhất về yêu cầu doanh nghiệp có tư cách pháp nhân: Công ty TNHH
có đầy đủ các dấu hiệu của pháp nhân quy định tại Điều 84 Bộ Luật Dân sự năm
2005 đó là: Được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó và nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập Do đó, pháp luật thừa nhận tư cách pháp nhân của loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên kể từ thời điểm được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh Do có tư cách pháp nhân nên các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm về các hoạt động của công
ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty nên ít gây rủi ro cho người góp vốn
- Thứ hai, loại hình công ty này mang tính trung gian giữa công ty đối nhân
và công ty đối vốn2, nó vừa có tính chất của một công ty đối nhân là các thành viên có sự quen biết nhau và như vậy công ty TNHH hai thành viên trở lên đã đáp ứng được yêu cầu về chủ thể kinh doanh của Tuấn, Nam, Thắng, Đại là những người muốn thành lập công ty Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thường thích ứng với loại hình kinh doanh có quy mô vừa và nhỏ Chủ sở hữu
2 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Thương Mại tập 1 năm 2006, NXB CAND, trang125.
Trang 9công ty có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của công ty Bản chất của loại hình công ty TNHH là loại hình công ty đóng, pháp luật quy định mức khống chế số lượng thành viên tối đa tại điều 38 Luật Doanh nghiệp
2005:“Thành viên của công ty có thể là tổ chức hoặc cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi” Do số lượng thành viên công ty trách nhiệm
không nhiều và các thành viên thường là người quen biết, tin cậy nhau, nên việc thành lập, quản lý, điều hành công ty không quá phức tạp như công ty cổ phần Hơn nữa, sẽ hạn chế được người ngoài thâm nhập vào doanh nghiệp với tư cách
là thành viên
Bên cạnh đó, vốn điều lệ không được chia thành các cổ phần Vốn điều lệ của công ty do các thành viên góp và được ghi vào trong điều lệ của công ty Tỷ
lệ vốn góp giữa các thành viên do các thành viên tự thỏa thuận quyết định, có thể bằng nhau hoặc không bằng nhau Phần vốn góp được ghi nhận trong sổ đăng kí thành viên ngay sau khi đăng kí kinh doanh (quy định tại Khoản 1 Điều 40 Luật Doanh nghiệp) và trong giấy chứng nhận phần vốn góp tại thời điểm góp đủ giá trị phần vốn góp (quy định tại Khoản 4 Điều 39 Luật Doanh nghiệp) Đây là cơ sở pháp lí chứng minh tư cách thành viên công ty
Và việc chuyển nhượng vốn của thành viên công ty cũng có nhiều hạn chế
được quy định Điều 44 Luật Doanh nghiệp: “Trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 45 của Luật này, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác theo quy định sau đây: Phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện; Chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày chào bán.” Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh
chặt chẽ nên các nhà đầu tư dễ dàng kiểm soát được việc thay đổi các thành viên, hạn chế sự thâm nhập của người ngoài vào công ty
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên không được quyền phát hành cổ phần (khoản 3 Điều 38) Cổ phần là phần chia đều nhau nhỏ nhất của vốn
Trang 10điều lệ của công ty cổ phần, cổ phần được thực hiện dưới hình thức pháp lí là cổ phiếu (khoản 2 Điều 26) Như vậy, Luật Doanh nghiệp chỉ cấm công ty TNHH phát hành cổ phần Do đó, công ty TNHH hai thành viên trở lên có thể huy động vốn thông qua việc phát hành trái phiếu để đáp ứng nhu cầu về vốn cho kinh doanh
Như vậy, những quy định về số lượng thành viên, về vốn điều lệ, cổ phần
hay việc chuyền nhượng vốn có thể đảm bảo được yêu cầu về hạn chế những người khác tham gia góp vốn vào công ty
- Thứ ba, về chế độ chịu trách nhiệm của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi
số vốn cam kết góp vào công ty Công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi tài sản của mình Chính chế độ trách nhiệm này đã hạn chế được rủi ro cho các thành viên vì trách nhiệm được chia sẻ cho các thành viên công ty Hơn nữa, nếu rủi ro có xảy ra thì họ cũng chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn cam kết góp vào công ty Ở loại hình công ty này có sự tách bạch
rõ ràng giữa tài sản của công ty và tài sản của thành viên công ty Thành viên công ty không phải đem tài sản thuộc sở hữu của mình ra để trả nợ thay cho công
ty Trường hợp công ty không trả được hết nợ trong phạm vi số tài sản của mình thì các chủ nợ cũng không được đòi nợ các thành viên công ty
Kết luận: Công ty TNHH hai thành viên trở lên là mô hình doanh nghiệp
đáp ứng được đồng thời cả 3 yêu cầu mà Tuấn, Nam, Thắng, Đại đặt ra Công ty TNHH hai thành viên trở lên đã kết hợp được nhiều ưu điểm về chế độ chịu TNHH của công ty đối vốn với ưu điểm về sự quen biết nhau giữa các thành viên của công ty đối nhân Đồng thời khắc phục được những nhược điểm về quy chế quản lí phức tạp của công ty đối vốn và nhược điểm của việc không phân chia được rủi ro trong công ty đối nhân (cụ thể là công ty cổ phần) Đây là mô hình công ty rất phù hợp với việc đầu tư vừa và nhỏ mang lại hiệu quả cao cho việc đầu tư kinh doanh của Tuấn, Nam, Đại, Thắng
2 Giả sử sau khi doanh nghiệp đã được thành lập, Thắng dự định thu hồi toàn bộ phần vốn góp vào doanh nghiệp để đầu tư kinh doanh vào một dự án