1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận luật Hiến pháp

16 654 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 32,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên tắc bầu cử là những tư tưởng, quan điểm định hướng cho toàn bộ hoạt động bầu cử từ tổng quát đến cụ thể các quy định của pháp luật về bầu cử. Do đó, các nguyến tắc bầu cử có ý nghĩa, tác dụng rất quan trọng, là kim chỉ nam xuyên suốt quá trình bầu cử, nó điều chỉnh trực tiếp các mối quan hệ giữa cử tri và đại biểu, cũng như quy trình của một cuộc bầu cử ở mỗi quốc gia nói chung và ở Việt Nam nói riêng.

Trang 1

Mục lục

A Lời mở đầu 1

B Nội dung 1

I Khái niệm chế độ bầu cử 1

II Phân tích các nguyên tắc bầu cử ở nước CHXHCN Việt Nam theo quy định pháp luật hiện hành 2

1 Nguyến tắc bầu cử phổ thông 3

2 Nguyên tắc bầu cử trực tiếp 5

3 Nguyên tắc bỏ phiếu kín 7

4 Nguyên tắc bầu cử bình đẳng 8

III Thực trạng hoạt động bầu cử ở nước ta hiện nay 10

C Kết luận 13

Tài liệu tham khảo 14

Trang 2

ĐỀ BÀI: PHÂN TÍCH CÁC NGUYÊN TẮC BẦU CỬ Ở NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH? TRÊN CƠ SỞ ĐÓ, HÃY ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẦU CỬ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY?

A Lời mở đầu

Trong thế giới đương đại, bầu cử là một chế định quan trọng của nhà nước dân chủ Với tư cách một thiết chế bảo đảm dân chủ, bầu cử có những nguyên tắc chung nhất, mà bất cứ hoạt động bầu cử ở đâu cũng đều phải tuân theo Ở nước

ta, bầu cử là một định chế quan trọng, đó nền tảng hợp pháp để hình thành các chức danh, cơ quan lãnh đạo của các tổ chức thành viên hệ thống chính trị Để

hiểu rõ hơn về vấn đề này em đã chọn đề tài “Phân tích các nguyên tắc bầu cử ở

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quy định pháp luật hiện hành Trên cơ sở đó, hãy đánh giá thực trạng hoạt động bầu cử ở nước ta hiện nay” để

làm bài tiểu luận của mình

Trong quá trình nghiên cứu, do còn nhiều hạn chế về tài liệu cũng như kiến thức nên bài tiểu luận không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của thầy (cô) để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

B Nội dung

I Khái niệm chế độ bầu cử.

Bầu cử là một phương thức hữu hiệu nhất để nhân dân thực hiện quyền lực của mình, thông qua việc bầu ra những người thật sự xứng đáng đại diện cho mình thực thi quyền lực nhà nước Bầu cử được tiến hành theo những nguyên tắc và trình tự, thủ tục nhất định với những quan hệ bầu cử hợp thành nên chế độ bầu cử

Hiện nay, quan niệm về chế độ bầu cử chưa được nhận thức thống nhất Trong

đó, đáng chú ý có hai quan điểm sau đây:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: Chế độ bầu cử được xác định bởi tổng thể các mối quan hệ xã hội được hình thành trong quá trình tiến hành các cuộc bầu cử,

Trang 3

từ lúc lập danh sách cử tri cho đến khi kết thúc việc xác định được danh sách những người trúng cử

Quan điểm thứ hai cho rằng: Chế độ bầu cử là tổng thể các nguyên tắc, các quy định của pháp luật bầu cử cùng với các quan hệ xã hội được hình thành trong tất cả các quá trình tiến hành bầu cử từ khi người công dân được ghi tên trong danh sách cử tri cho đến lúc bỏ phiếu vào thùng phiếu và xác định kết quả bầu cử

Mặc dù có hai quan niệm như vậy, nhưng để đưa ra khái niệm chế độ bầu cử, cần xác định cụ thể trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam

Nhà nước Cộng hòa xã hôi chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua hai hình thức là dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp Nhân dân tham gia vào việc tổ chức ra Nhà nước bằng cách bầu ra các cơ quan quyền lực nhà nước( Quốc hội, Hội đồng nhân dân) Thông qua bầu cử, nhân dân trực tiếp bỏ phiếu bầu người đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình, để thay mặt mình thực hiện quyền lực nhà nước Chế độ bầu cử ở Việt Nam bao gồm các nguyên tắc, các quy định của pháp luật bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và mối quan hệ xã hội được hình thành trong tất cả các quá trình bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân Qua đó, chúng ta có thể hiểu chế độ bầu cử là tổng thể các nguyên tắc, các quy định của pháp luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân và các quan

hệ xã hội được hình thành trong quá trình tiến hành bầu cử từ khi lập danh sách

cử tri đến khi công bố kết quả bầu cử nhằm đảm bảo lựa chọn được những người đại diện xứng đáng cho nhân dân, thay mặt nhân dân thực thi quyền lực nhà nước

II Phân tích các nguyên tắc bầu cử ở nước CHXHCN Việt Nam theo quy định pháp luật hiện hành

Bầu cử là một hoạt động xã hội của con người Muốn cho hoạt động này đạt được kết quả thắng lợi cũng như để bảo đảm cho cuộc bầu cử được tiến hành một cách dân chủ cần phải tiến hành theo nhiều nguyên tắc

Trang 4

Nguyên tắc bầu cử là những tư tưởng, quan điểm định hướng cho toàn bộ hoạt động bầu cử từ tổng quát đến cụ thể các quy định của pháp luật về bầu cử

Do đó, các nguyến tắc bầu cử có ý nghĩa, tác dụng rất quan trọng, là kim chỉ nam xuyên suốt quá trình bầu cử, nó điều chỉnh trực tiếp các mối quan hệ giữa

cử tri và đại biểu, cũng như quy trình của một cuộc bầu cử ở mỗi quốc gia nói chung và ở Việt Nam nói riêng.Theo khoản 1 Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 đồng thời quy định: “ Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín” Các nguyên tắc đó thống nhất với nhau, bảo đảm cho cuộc bầu cử khách quan, dân chủ, thể hiện đúng ý chí, nguyện vọng của nhân dân khi lựa chọn người đại biểu xứng đáng

Những nguyên tắc bầu cử ở Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành phù hợp với các nguyên tắc bầu cử thông dụng trên thế giới

1 Nguyên tắc bầu cử phổ thông.

Nguyên tắc bầu cử phổ thông là nguyên tắc quan trọng bậc nhất trong chế độ bầu cử Mức độ dân chủ của xã hội được thể hiện chủ yếu thông qua nguyên tắc này Nguyên tắc bầu cử phổ thông thể hiện tính toàn dân và toàn diện trong bầu

cử, bảo đảm để mọi công dân không phân biệt dân tộc, nam, nữa, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú (trừ những người mất trí hay những người bị tước quyền bầu cử trên cơ sở của pháp luật) đều có quyền tham gia bầu cử và có quyền ứng cử theo quy định của pháp luật

Nguyên tắc bầu cử phổ thông phản ánh rõ nét tính dân chủ của chế độ bầu cử

vì nó là căn cứ để đảm bảo sự tham gia rộng rãi của người dân vào cuộc bầu cử Cuộc bầu cử càng được mở rộng cho nhiều người tham gia bao nhiêu càng thể hiện mức độ dân chủ bấy nhiêu Cuộc bầu cử phổ thông là cuộc bầu cử được tổ chức cho nhiều người tham gia, tức là một hoạt động phổ cập, không hạn chế đối với bất kỳ một đối tượng công dân nào, nếu con người đạt được mức độ

Trang 5

trưởng thành hoàn chỉnh về mặt nhận thức mà nhiều nước trên thế giới công nhận- họ đạt 18 tuổi Dù ở mỗi quốc gia đều quy định khác nhau nhưng tập chung chủ yếu vào ba yếu tố cơ bản đó là quốc tịch, độ tuổi và năng lực hành vi

để công dân có thể tham gia cuộc bầu cử này

Nguyên tắc bầu cử phổ thông là một quyền chính trị cơ bản của mỗi công dân, đó chính là quyền bầu cử và ứng cử của công dân Quyền này được ghi nhận một cách đầy đủ và trang trọng nhất trong Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm

1966, trong Hiến pháp của hầu hết các quốc gia trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam

Nguyên tắc phổ thông là một nguyên tắc hiến định, được ghi nhận trong tất cả các bản Hiến pháp nước ta từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013 Yêu cầu của nguyên tắc này là Nhà nước phải bảo đảm để cuộc bầu cử thực sự trở thành một cuộc sinh hoạt chính trị rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền bầu cử của mình, bảo đảm tính dân chủ, công khai và sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân trong bầu cử Điều 27 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào quốc hội, Hội đồng nhân dân Việc thực hiện các quyền này do luật định”

Ví dụ về nguyên tắc bầu cử phổ thông: Trong luật Bầu cử đại biểu Quốc hội

và đại biểu Hội đồng nhân dân của nước ta năm 2015 quy định đối với việc bầu

cử đại biểu Quốc hội:

Ngày bầu cử phải là ngày chủ nhật và được công bố chậm nhất là 115 ngày trước ngày bầu cử;

Các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập công khai, có sự tham gia của đại diện các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và đoàn thể nhân dân; Thời gian bỏ phiếu được quy định thống nhất trong cả nước từ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối (trừ những trường hợp đặc biệt theo quy định của Luật);

Trang 6

Mọi công dân cư trú thường xuyên hoặc tạm trú đều được ghi tên vào danh sách cử tri;

Danh sách cử tri được niêm yết công khai chậm nhất là 40 ngày trước ngày diễn ra bầu cử;

Danh sách ứng cử viên cũng được lập và niêm yết công khai chậm nhất là

20 ngày trước ngày diễn ra bầu cử để cử tri tìm hiểu và lựa chọn

Tuy khẳng định quyền bầu cử và ứng cử là quyền của tất cả công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhưng pháp luật cũng có quy định các trường hợp đặc biệt không được tham gia bầu cử, ứng cử, cụ thể:

- Những trường hợp không được ghi tên vào danh sách cử tri, quy định tại Khoản 1 Điều 30 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015:

+ Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật

+ Người đang bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án;

+ Người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo;

+ Người mất năng lực hành vi dân sự;

- Những trường hợp không được ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân quy định tại Điều 37 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015:

+ Người đang bị tước quyền ứng cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người đang chấp hành hình phạt tù, người bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự

+ Người đang bị khởi tố bị can

+ Người đang chấp hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án

+ Người đã chấp hành xong bản án, quyết định hình sự của Tòa án nhưng chưa được xóa án tích

Trang 7

+ Người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc giáo dục tại xã, phường, thị trấn

2 Nguyên tắc bầu cử trực tiếp.

Bầu cử trực tiếp có nghĩa là cử tri trực tiếp thể hiện ý chí của mình qua lá phiếu, cử tri trực tiếp bầu ra đại biểu của mình chứ không qua một cấp đại diện

cử tri nào

Nguyên tắc này bảo đảm để cử tri trực tiếp lựa chọn người đủ tín nhiệm vào cơ quan quyền lực nhà nước bằng lá phiếu của mình không qua khâu trung gian nào( không thông qua đại cử tri hay người đại diện nào khác như một số nước trên thế giới vẫn áp dụng Ví dụ như ở Mỹ, bầu cử tổng thống Mỹ là bầu cử gián tiếp thông qua tổng cử đoàn)

Trên cơ sở nguyên tắc bầu cử trực tiếp, pháp luật bầu cử nước ta có các quy định nhằm bảo đảm để cử tri trực tiếp thể hiện nguyện vọng của mình, từ khâu đề cử, ứng cử đến khâu bỏ phiếu Cử tri tự mình đi bầu, tự tay mình bỏ phiếu vào thùng phiếu, không được nhờ người khác bầu hộ, bầu thay hoặc bầu bằng cách gửi thư Trường hợp cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì có thể nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; nếu tàn tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu; cử tri do ốm đau, già yếu, tàn tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và bầu

Nguyên tắc bầu cử trực tiếp là một nguyên tắc thể hiện rõ tính dân chủ trong sự hình thành cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương Chính nguyên tắc này cho phép người đại biểu được nhân dân bầu ra trực tiếp nhận được quyền lực nhà nước từ nhân dân

Hiện nay, ở một số quốc gia trên thế giới cho phép cử tri bầu trong một số trường hợp đặc biệt có thể bỏ phiếu qua đường bưu điện hoặc cho phép bỏ phiếu điện tử để tạo thuận lợi cho cử tri tham gia bầu cử Những hình thức bỏ phiếu này có thể coi là theo nguyên tắc bầu cử trực tiếp Bên cạnh nguyên tắc bầu cử trực tiếp, cũng có một số nước bầu cử theo nguyên tắc gián tiếp, chẳng hạn như

Trang 8

bầu cử tổng thống ở Hoa Kỳ, bầu cử thượng viện ở Pháp, bầu cử Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc( Quốc hội) ở Trung Quốc…

Ở Việt Nam, Luật bầu cử Nhà nước ta quy định chặt chẽ để đảm bảo cho nguyên tắc trực tiếp được thực hiện: Ngày bầu cử phải được tiến hành vào ngày chủ nhật

để nhân dân có điều kiện trực tiếp tham gia bỏ phiếu Trước ngày bỏ phiếu, nhân dân thường xuyên được thông báo về địa điểm bỏ phiếu; cử tri phải tự mình đi bầu, không được nhờ người khác bầu thay…

3 Nguyên tắc bỏ phiếu kín

Nguyên tắc này đề cập đến cách thức bỏ phiếu Nguyên tắc bỏ phiếu kín bảo đảm cho cử tri tự do lựa chọn đại biểu mà không bị tác động, ảnh hưởng từ các điều kiện và yếu tố bên ngoài Theo nguyên tắc này thì chỉ có cử tri mới biết sự lựa chọn do mình quyết định, đồng thời, các đơn vị bỏ phiếu có trách nhiệm đảm bảo tính bí mật, giữ kín quyết định của cử tri lựa chọn đại biểu

Nội dung của nguyên tắc thể hiện là cử tri bầu ai, không bầu ai đều được bảo đảm bí mật, thể hiện ý chí, nguyện vọng và niềm tin mà cử tri gửi gắm vào đại biểu của mình Khi cử tri viết phiếu bầu không ai được đến gần, kể cả cán bộ, nhân viên các tổ chức phụ trách bầu cử; không ai được biết và can thiệp vào việc viết phiếu bầu của cử tri Cử tri viết phiếu bầu trong buồng kín và bỏ phiếu vào hòm phiếu

Hiện nay, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quy định và áp dụng nguyên tắc bỏ phiếu kín Để bảo đảm khách quan trong việc lựa chọn của cử tri, các nước thường quy định việc bỏ phiếu kín Ví dụ: Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân nước ta quy định việc bầu cử đại biểu Quốc hội được tiến hành bằng cách bỏ phiếu kín Nguyên tắc này đảm bảo tính khách quan, công bằng trong các cuộc bầu cử, thể hiện tính dân chủ trong bầu cử Đồng thời, nguyên tắc này ngăn chặn sự kiểm soát, chỉ đại từ bên ngoài đối với hoạt động bầu cử vì bảo đảm tính độc lập của cử tri trong việc đưa ra quyết định lựa chọn ai làm đại biểu

Trong điều kiện hiện nay, việc lý tưởng nhất để bảo đảm nguyên tắc bỏ phiếu kín là hình thức bỏ phiếu tập chung tại địa điểm bỏ phiếu, vì nó vừa bảo đảm

Trang 9

tính công khai, tập chung, vừa đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất mà lại dân chủ, bởi nó cũng là một công đoạn bỏ phiếu kín cần thiết trong nguyên tắc công khai của hoạt động bầu cử Ở một số quốc gia, còn thừa nhận hình thức bỏ phiếu qua đường bưu điện, bỏ phiếu qua Internet, những hình thức này được coi là không thực sự bảo đảm nguyên tắc này vì tính bảo mật kém

4 Nguyên tắc bầu cử bình đẳng.

Trong ba nguyên tắc trên, mỗi một nguyên tắc đều có một ý nghĩa nhất định Nhưng nói chung, chúng chỉ diễn ra trong một số những giai đoạn nhất định trong tiến trình của một cuộc bầu cử Trong khi đó, nguyên tắc bình đẳng là một nguyên tắc phải đòi hỏi phải tuân thủ trong suốt quá trình tiến hành bầu cử từ khi lập danh sách cử tri cho đến khi kết thúc, tuyên bố kết quả cuộc bầu cử Mức

độ dân chủ của cuộc bầu cử phụ thuộc chủ yếu và tiến trình thực hiện nguyên tắc này Trong một chừng mực nào đó, việc thực hiện các nguyên tắc bỏ phiếu kín, bầu cử phổ thông cũng như nguyên tắc bầu cử trực tiếp cũng là để thực hiện nguyên tắc bình đẳng và ngược lại

Bình đẳng trong bầu cử là nguyên tắc nhằm bảo đảm để mọi công dân đều có

cơ hội ngang nhau tham gia bầu cử, nghiêm cấm mọi sự phân biệt dưới bất cứ hình thức nào Bình đẳng là nguyên tắc giá trị, nó phản ánh nội dung dân chủ của bầu cử Cần phải khẳng định rằng, bình đẳng là một chuẩn mực giá trị, dùng

nó làm thước đo để đánh giá chế độ bầu cử

Nguyên tắc bầu cử bình đẳng là một trong các nguyên tắc quan trọng của chế độ bầu cử ở Vệt Nam, nguyên tắc bầu cử bình đẳng bảo đảm tính khách quan, không thiên vị để mọi công dân có khả năng như nhau tham gia vào việc bầu cử, nghiêm cấm mọi sự phân biệt đối xử dưới bất cứ hình thức nào

Nội dung biểu hiện của nguyên tắc này thể hiện trong các quy định của pháp luật về quyền bầu cử và quyền ứng cử của công dân: các cử tri được tham gia vào việc bầu cử, có quyên và nghĩa vụ như nhau, các ứng cử viên được giới thiệu ra ứng cử theo tỉ lệ như nhau, kết quả bầu cử chỉ phụ thuộc vào số phiếu

mà cử tri bỏ phiếu cho mỗi ứng cử viên, là cơ sở xác định kết quả trúng cử Để đảm bảo cho nguyên tắc này, pháp luật bầu cử quy định: Mỗi một cử tri được

Trang 10

phát một phiếu bầu, giá trị của mối phiếu bầu là như nhau Đại vị xã hội, tài sản… của cử tri không có ảnh hưởng gì đến giá tri của phiếu bầu Không vì đại

vị xã hội của mình mà cử tri không chấp hành đầy đủ các quy định về bầu cử Mỗi cử tri chỉ được ghi tên một lần trong danh sách cử tri, chỉ được lập danh sách ứng cử viên ở một đơn vị bầu cử trong một cuộc bầu cử Nguyên tắc này được bắt đầu bằng chia các đơn vị bầu cử cho các lãnh thổ địa phương Việc chia đơn vị bầu cử phải căn cứ vào dân số các địa phương và tổng số các đại biểu phải bầu Mỗi đơn vị bầu cử được bầu ra số lượng đại biểu tỉ lệ thuận với

số dân của mình Việc ấn định số lượng đại biểu phải bầu cho mối đơn vị dựa trên mức bầu cử và số lượng cử tri của đơn vị bầu cử Định mức bầu cử bằng tổng số dân số có trên lãnh thổ diễn ra cuộc bầu cử chia cho tổng số đại biểu hội đồng nhân dân hoặc địa biểu Quốc hội phải bầu

Nguyên tắc bình đẳng còn đòi hỏi phải có sự phân bổ hợp lý cơ cấu, thành phần,

số lượng đại biểu Quốc hội để bảo đảm tiếng nói đại diện của các vùng, miền, địa phương, các tầng lớp xã hội, các dân tộc thiểu số và phụ nữ phải có tỷ lệ đại biểu thích đáng trong Quốc hội Ví dụ: Khoản 2 Điều 8 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân quy định:

“ Số lượng người dân tộc thiểu số được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do

Ủy ban thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Hội đồng dân tộc của Quốc hội, đảm bảo có ít nhất mười tám phần trăm tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số” Khoản 4 quy định: “ Số lượng phụ nữa được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội

do Ủy ban thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn chủ tịch Ban chấp hành trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, đảm bảo có ít nhất có

ba mươi lăm phần trăm tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ”

Việc quy định người được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội đối với người dân tộc thiểu số và phụ nữ đã thể hiện sự bình đẳng, đảm bảo cho họ có trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội

Ngày đăng: 17/11/2019, 11:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w