1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tieu luan chinh sach tien te viet nam

24 96 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 127,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Trong giới hạn là một tiểu luận ứng dụng kiến thức triết học để nhận biết vấn đề vềquản lý nhà nước đối với DNNN, đề tài được xây dựng một cách k

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT

TIỂU LUẬN KINH TẾ VĨ MÔ

ĐỀ TÀI: CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ MỐI LIÊN HỆ VỚI

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

TỪ NĂM 2010 ĐẾN 2012

Học viên: Nguyễn Thành Danh MSSV: 12.12.008

Khóa cao học : K12 Lớp: Tài chính – Ngân hàng

Thành phố Hồ Chí Minh năm 2012

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

Lời mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

Mục đích của đề tài là trả lời hai câu hỏi sau:

- ?

-

Theo đó, nhiệm vụ đặt ra là làm rõ khái niệm về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận

và thực tiễn Từ đó, vận dụng nguyên tắc vào hoạt động quản lý đối với các DNNN trongđiều kiện hiện nay

4. Cơ sở lý luận và nghiên cứu đề tài

5. Phương pháp nghiên cứu

Để phù hợp với nội dung, yêu cầu và mục tiêu đề tài đưa ra, phương pháp nghiêncứu được sử dụng là khảo sát thực tiễn hoạt động của DNNN và hoạt động quản lý nhànước đối với DNNN Từ đó tổng hợp, phân tích thực trạng và kiến nghị giải pháp nhằmtăng cường quản lý đối với DNNN

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trong giới hạn là một tiểu luận ứng dụng kiến thức triết học để nhận biết vấn đề vềquản lý nhà nước đối với DNNN, đề tài được xây dựng một cách khoa học để có thể sửdụng làm tài liệu tham khảo trong nhà trường

7. Bố cục của đề tài

Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương:Chương 1 Cơ sở lý luận về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của triếthọc Mác-Lênin

Chương 2 Phân tích thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước đối với DNNN

Chương 3 Giải pháp và kiến nghị tăng cường quản lý nhà nước đối với các DNNN

Trang 4

Hoạt động của con người bao gồm hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần Thựctiễn là hoạt động vật chất (C.Mác: hoạt động cảm tính) Hoạt động vật chất là những hoạtđộng mà chủ thể sử dụng phương tiện vật chất tác động vào đối tượng vật chất nhằm cảitạo chúng theo nhu cầu của con người Con người sử dụng các phương tiện để tác độngvào đối tượng theo những hình thức và mức độ khác nhau tùy thuộc mục đích của conngười Kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn là những sản phẩm thỏa mãn nhu cầu vậtchất và nhu cầu tinh thần của cá nhân và cộng đồng.

Mỗi một hoạt động của con người đều mang tính lịch sử, cụ thể Nó diễn ra trongmột giai đoạn nhất định nào đó Nó có quá trình hình thành, phát triển và kết thúc hoặcchuyển hóa sang giai đoạn khác; không có hoạt động thực tiễn nào tồn tại vĩnh viễn Mặtkhác, hoạt động thực tiễn chịu sự chi phối của mỗi giai đoạn lịch sử cả về đối tượng,phương tiện cũng như mục đích hoạt động

Hoạt động thực tiễn mặc dù phải thông qua từng cá nhân, từng nhóm người, nhưnghoạt động của từng cá nhân, từng nhóm người lại không thể tách rời các quan hệ xã hội

Xã hội quy định mục đích, đối tượng, phương tiện và lực lượng trong hoạt động thực tiễn

Do đó, hoạt động thực tiễn của con người mang tính xã hội sâu sắc, được thực hiện trongcộng đồng, vì cộng đồng, do cộng đồng

Trang 5

Hoạt động thực tiễn mang tính tất yếu, nhưng tất yếu có nhận thức, có ý thức Đó

là ý thức về kết quả, ý thức về phương pháp, ý thức về đối tượng , đặ biệt là ý thức vềmục đích của quá trình hoạt động Mục đích của hoạt động thực tiễn là nhằm thỏa mãnnhững nhu cầu vật chất và tinh thần của cá nhân và xã hội Mỗi hoạt động đều có mụcđích khác nhau để giải quyết nhu cầu cụ thể, không có hoạt động nào không có mục đích,mặc dù kết quả của hoạt động thực tiễn không phải lúc nào cũng diễn ra phù hợp với mụcđích của con người

Hoạt động thực tiễn rất phong phú đa dạng, song có thể chia ra ba hình thức cơ bảnlà: hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động thực nghiệm khoahọc Hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động trực tiếp tác động vào tự nhiên, cải tạo tựnhiên nhằm tạo ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Hoạt động chínhtrị - xã hội là hoạt động của con người trực tiếp tác động vào xã hội, cải biến các quan hệ

xã hội theo hướng tiến bộ Hoạt động thực nghiệm khoa học là hoạt động của các nhàkhoa học tác động làm cải biến những đối tượng nhất định, trong một điều kiện nhất định,theo một mục đích nghiên cứu nhất định

Các hình thức hoạt động thực tiễn tuy có sự khác nhau tương đối nhưng chúngthống nhất, có chung chủ thể hoạt động, có cùng mục đích; chúng hỗ trợ, ảnh hưởng lẫnnhau Do đó, sự phân biệt giữa các hình thức hoạt động thực tiễn mang tính tương đối.Hoạt động sản xuất vật chất không thể không có vai trò của thực nghiệm khoa học Mặc

dù hoạt động chính trị - xã hội trực tiếp tác động đến những vấn đề của đời sống chính tinh thần, nhưng kết quả hoạt động của lĩnh vực này lại tác động tích cực đến phát triểnsản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, cũng như những vấn đề có tính quy luật mà hoạt độngthực nghiệm khoa học đang quan tâm Cũng như vậy, hoạt động thực nghiệm khoa họckhông thể không lấy mục đích phục vụ kinh tế - xã hội

trị-Trong các hình thức hoạt động thực tiễn thì hoạt động sản xuất vật chất là cơ bảnnhất Mặc dù các hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động thực nghiệm khoa học vẫn diễn

ra thường xuyên, quan trọng nhưng hoạt động sản xuất vật chất tác động sâu sắc, toàndiện đến các hoạt động khác, nó là hoạt động trung tâm, chủ yếu của con người

Trang 6

Trên cơ sở những hình thức thực tiễn cơ bản trên, một số lĩnh vực của thực tiễnnhư hoạt động giáo dục, hoạt động nghệ thuật, cũng được hình thành Nó cũng tác độngvào quá trình tồn tại và phát triển của xã hội Đó là những hình thức thực tiễn phát sinh,hình thức đặc thù của thực tiễn.

1.1.2 Phạm trù lý luận

Lý luận là kinh nghiệm đã được khái quát trong ý thức của con người, là toàn bộ trithức về thế giới khách quan, là hệ thống tương đối độc lập của các tri thức có tác dụng táihiện trong logic của các khái niệm cái logic khách uqan của sự vật

Nói cách khác, lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phảnánh những mối liên hệ bản chất, những quy luật của các sự vật, hiện tượng Hồ Chí Minhchỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những trithức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”

Để hình thành lý luận, con người phải thông qua quá trình nhận thức và kinhnghiệm Nhận thức kinh nghiệm là quá trình qun sát sự lặp đi, lặp lại diễn biến của các sựvật, hiện tượng Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là tri thức kinh nghiệm Tri thức kinhnghiệm bao gồm tri thức kinh nghiệm thông thường (tiền khoa học) thu được thông quaquá trình sinh hoạt và hoạt động hàng ngày của con người Nó giúp con người giải quyếtnhanh một số vấn đề cụ thể, đơn giản trong quá trình tác động trực tiếp đối tượng Trithức kinh nghiệm khoa học là kết quả của quá trình thực nghiệm khoa học Nó đòi hỏi chủthể phải tích lũy một lượng tri thức nhất định trong hoạt động sản xuất cũng như hoạtđộng khoa học mới có thể hình thành tri thức khao học kinh nghiệm khoa học Tri thứckinh nghiệm khoa học giúp các nhà khoa học hình thành lý luận Tri thức kinh nghiệm tuy

là thành tố của tri thức nhưng ở trình độ thấp Thế nhưng, nó là cơ sở để hình thành lýluận

Lý luận có những cấp độ khác nhau tùy phạm vi phản ánh và vai trò phương phápluận của nó Có thể phân chia lý luận thành lý luận ngành và lý luận triết học

Lý luận ngành là lý luận khái quát những quy luật hình thành và phát triển của mộtngành Nó là cơ sở để sáng tạo tri thức cũng như phương pháp luận cho hoạt động củangành đó, như lý luận văn học, lý luận nghệ thuật

Trang 7

Lý luận triết học là hệ thống những quan niệm chung nhất về thế giới và conngười, là thế giới quan và phương pháp luận nhận thức và hoạt động của con người.

Do quá trình hình thành và bản chất của nó, lý luận có hai chức năng cơ bản làchức năng phản ánh hiện thực khách quan và chức năng phương pháp luận cho hoạt độngthực tiễn Lý luận phản ánh hiện thực khách quan bằng những quy luật chung hay chungnhất Tri thức kinh nghiệm cũng như tri thức lý luận đều phản ánh hiện thực khách quannhưng ở những phạm vi, lĩnh vực và trình độ khác nhau Lý luận phản ánh hiện thựckhách quan để làm phương pháp luận nhận thức và cải tạo hiện thực khách quan bằnghoạt động thực tiễn

1.2. Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn bắt nguồn từ mối quan hệ giữa con người

và thế giới khách quan Con người luôn luôn tác động tích cực vào thế giới khách quan –

tự nhiên và xã hội, cải biến thế giới khách quan bằng thực tiễn Trong quá trình đó, sựphát triển nhận thức của con người và sự biến đổi thế giới khách quan là hai mặt thốngnhất Điều đó quy định sự thống nhất biện chứng giữa lý luận với thực tiễn trong hoạtđộng sinh tồn của cá nhân và cộng đồng

1.2.1 Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý luận; lý luận hình thành,

phát triển phải xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn

Thực tiễn là cở sở của lý luận Xét một cách trực tiếp, những tri thức được kháiquát thành lý luận là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn của con người Thông quakết quả hoạt động thực tiễn, kể cả thành công cũng như thất bại, con người phân tích cấutrúc, tính chất và các mối quan hệ của các yếu tố, các điều kiện trong các hình thức thựctiễn để hình thành lý luận Quá trình hoạt động thực tiễn còn là cơ sở để bổ sung và điềuchỉnh những lý luận đã được khái quát Mặt khác, hoạt động thực tiễn của con người làmnảy sinh những vấn đề mới đòi hỏi quá trình nhận thức phải tiếp tục giải quyết Thôngqua đo, lý luận được bổ sung, mở rộng

Thực tiễn là động lực của lý luận Hoạt động của con người không chỉ là nguồngốc để hoàn thiện các cá nhân mà còn góp phần hoàn thiện mối quan hệ giữa con ngườivới tự nhiên, xã hội Lý luận được vận dụng làm phương pháp cho hoạt động thực tiễn ,mang lại lợi ích cho con người càng kích thích con người bám sát thực tiễn để khái quát

Trang 8

lý luận Quá trình đó diễn ra không ngừng trong sự tồn tại của con người, làm cho lý luậnngày càng đầy đủ, phong phú và sâu sắc hơn Nhờ vậy hoạt động của con người không bịhạn chế trong không gian và thời gian Thông qua đó, thực tiễn đã thúc đẩy một ngànhkhoa học mới ra đời – khoa học lý luận.

Thực tiễn là mục đích của lý luận Mặc dù lý luận cung cấp những tri thức kháiquát về thế giới để làm thỏa mãn nhu cầu hiểu biết của con người nhưng mục đích chủyếu của lý luận là nâng cao năng lực hoạt động của con người trước hiện thực khách quan

để đua lại lợi ích cao hơn, thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của cá nhân và xã hội Tựthân lý luận không thể tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người Nhu cầu

đó chỉ được thực hiện trong hoạt động thực tiễn Hoạt động thực tiễn sẽ biến đổi tự nhiên

và xã hội theo mục đích của con người

Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận Tính chân lý của lý luận chính là sựphù hợp của lý luận với hiện thực khách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm, là giá trịphương pháp của lý luận đối với hoạt động thực tiễn của con người Do đó, mọi lý luậnphải thông qua thực tiễn để kiểm nghiệm Chính vì thế mà C.Mác nói: “Vấn đề tìm hiểuxem tư duy của con người có thể đạt đến chân lý khách quan không, hoàn toàn khôngphải là vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con ngườiphải chứng minh chân lý” Thông qua thực tiễn, những lý luận đạt đến chân lý sẽ được bổsung vào kho tàng tri thức của nhân loại; những kết luận chưa phù hợp thực tiễn thì tiếptục điều chỉnh, bổ sung hoặc nhận thức lại Giá trị của lý luận nhất thiết phải được chứngminh trong hoạt động thực tiễn

Tuy thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của ý luận, nhưng không phải mọi thực tiễn đều

là tiêu chuẩn của chân lý Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận khi thực tiễn đạt đếntính toàn vẹn của nó Tính toàn vẹn của thực tiễn là thực tiễn đã trải qua quá trình tồn tại,vận đông, phát triển và chuyển hóa Đó là chu kỳ tất yếu của thực tiễn Thực tiễn có nhiềugiai đoạn phát triển khác nhau.Nếu lý luận chỉ khái quát một giai đoạn nào đó, một bộphận nào đó của thực tiễn thì lý luận có thể xa rời thực tiễn Do đó, chỉ những lý luận nàophản ánh được tính toàn vẹn của thực tiễn thì mới đạt đến chân lý

Trang 9

1.2.2 Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận; ngược lại, lý luận phải được vận dụng vào thực

tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn

Lý luận đóng vai trò soi đường cho thực tiễn vì lý luận có khả năng định hướngmục tiêu, xác định lực lượng, phương pháp, biện pháp thực hiện Lý luận còn dự báođược khả năng phát triển cũng như câc mối quan hệ của thực tiễn, dự báo được những rủi

ro có thể xảy ra, những hạn chế, những thất bại có thể có trong quá trình hoạt động nhưvậy, lý luận không chỉ giúp con người hoạt động hiệu quả mà còn là cơ sở để khắc phụcnhững hạn chế và tăng năng lực hoạt động của con người

Mặc dù lý luận mang tính khái quát cao, song nó còn có tính lịch sử, cụ thể Do đó,khi vận dụng lý luận, chúng ta cần phân tích một cách cụ thể mỗi tình hình cụ thể Nếuvận dụng lý luận máy móc, giáo điều thì chẳng những hiểu sai giá trị của lý luận mà cònlàm phương hại đến thực tiễn, làm sai lệch sự thống nhất tất yếu giữa lý luận và thực tiễn

Lý luận hình thành là kết quả của quá trình nhận thức lâu dài và khó khăn của conngười trên cơ sở hoạt động thực tiễn Hoạt động thực tiễn tuy phong phú, đa dạng nhưngkhông có tính quy luật Tính quy luật của thực tiễn được khái quát dưới hình thức lý luận.Mục đích của lý luận không chỉ là phương pháp mà còn là định hướng cho hoạt động thựctiễn Tuy nhiên do lý luận có thể lạc hậu so với thực tiễn nên việc vận dụng lý luận vàothực tiễn cần được bám sát diễn biến của thực tiễn để kịp thời điều chỉnh, bổ sung nhữngkhiếm khuyết của lý luận, hoặc có thể thay đổi lý luận để phù hợp với thực tiễn Tínhnăng động của lý luận chính là điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn

1.3. Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

trong hoạt động quản lý nhà nước đối với DNNN

1.3.1 Lý luận phải luôn luôn bám sát thực tiễn, phản ánh được yêu cầu của thực tiễn, kháiquát được những kinh nghiệm của thực tiễn

Kinh nghiệm hoạt động của con người là cơ sở để hình thành lý luận Đó là tri thứctrực tiếp góp phần vào quá trình tồn tại của loài người Lý luận phải khái quát được kinhnghiệm của loài người thì mới có tính khoa học và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn

Trong điều kiện hiện tại, việc nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm thực tiễn Việt Nam

và quốc tế để tiếp tục hoàn thiện lý luận về kinh tế thị trường định hướng XHCN và hoạt

Trang 10

động của các DNNN, đây chính là thể hiện cụ thể tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễntrong hoạt động quản lý nhà nước đối với các DNNN.

Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa(XHCN) Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là một kiểu tổ chức nền kinh tế màtrong đó, sự vận hành của nó vừa tuân theo những nguyên tắc và quy luật của bản thân hệthống kinh tế thị trường, lại vừa bị chi phối bởi những nguyên tắc và những quy luật phảnánh bản chất xã hội hóa – xã hội chủ nghĩa Do đó, nền kinh tế thị trường định hướngXHCN vừa mang tính chất chung, phổ biến, đó là tính kinh tế thị trường, vừa mang tínhđặc thù, đó là tính định hướng XHCN Trong đó, hình thái quan hệ sản xuất nhà nướcthông qua các DNNN đóng vai trò là chỉ đạo và điều tiết cho hoạt động kinh tế xuyênsuốt, đảm bảo công bằng và hiệu quả

1.3.2 Hoạt động thực tiễn phải lấy lý luận chỉ đạo, khi vận dụng lý luận phải phù hợp vớiđiều kiện lịch sử - cụ thể

Sở dĩ tất cả các quốc gia đều có DNNN, tuy tỷ lệ có khác nhau giữa các nước là vìNhà nước cần có thực lực về kinh tế để thực hiện các tác động quản lý đối với nền kinh tếnói riêng và xã hội nói chung; Nhà nước cần tích tụ, tập trung tư bản xã hội để tạo nênnhững bàn đạp ban đầu cho sự khởi phát kinh tế Trong thời kỳ tích lũy ban đầu, lượngtích lũy của nhân dân còn quá phân tán và nhỏ bé, không đáp ứng được yêu cầu về quy

mô vốn tối ưu cho đầu tư công nghiệp hóa, hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật của nềnkinh tế quốc dân Phải có sự tập trung của Nhà nước để mọi nguồn vốn nhỏ bé, rải rác củanhân dân được dồn tích lại đủ để xây dựng nền móng chung cho toàn xã hội Ngoài ra cónhững hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp không của Nhà nước không được làm,không làm được và không muốn làm, còn Nhà nước thì không thể để xã hội thiếu sảnphẩm hoặc dịch vụ vì việc thiếu hàng hóa, dịch vụ có thể gây nên các bất ổn về chính trị-

xã hội

DNNN đóng vai trò là một công cụ kinh tế đặc biệt trong hệ thống các công cụkinh tế để Nhà nước thực hiện sự quản lý nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân nóiriêng, toàn xã hội nói chung một cách hiệu lực Vai trò này thể hiện trên hai mặt: trước hếtDNNN là công cụ kinh tế để Nhà nước gây áp lực kinh tế đối với các đối tượng mà Nhà

Trang 11

nước muốn dùng áp lực kinh tế để điều chỉnh, thứ hai DNNN là công cụ kinh tế để Nhànước bày tỏ thiện chí, thiện cảm, tính nhân văn, nhân đạo của giai cấp cầm quyền, màNhà nước là đại biểu đối với toàn thể cộng đồng, để từ đó giành lấy thiện cảm của toànthể cộng đồng xã hội đối với giai cấp cầm quyền, mà Nhà nước là đại diện.

Cả hai mục đích trên Nhà nước đều có thể đạt được bằng nhiều cách:

• DNNN là con đường tích tụ và tập trung vốn ban đầu cho quá trình công nghiệp hóa, hiệnđại hóa nền kinh tế quốc dân ở các nước mới phát triển

Nhà nước bằng các hoạt động tập hợp vốn của mình trong nhân dân, những lượngvốn nhỏ bé, rải rác, chưa đủ để lập nên các cơ sở sản xuất kinh doanh có hiệu quả, xâydựng nên những cơ sở công nghiệp nhà nước ban đầu Từ những điểm tựa này, công dântừng bước trưởng thành, tích lũy thêm vốn và kinh nghiệm, đến một giai đoạn nào đó sẽ

tự thân lập nghiệp, hình thành các cơ sở sản xuất của riêng mình, hoặc chuyển giao cácDNNN theo trình tự từng phần hoặc toàn bộ Sứ mạng này của DNNN đã từng có ở nhiềuquốc gia vào các năm sau đại chiến thế giới lần thứ hai Lúc đó các nước này phải quaNhà nước mà tập trung vốn để gây dựng nền tảng ban đầu cho nền công nghiệp của đấtnước, mà nếu không làm như vậy, thì không ai có đủ vốn tối thiểu cần thiết cho sự nghiệpcông nghiệp hóa đất nước

• DNNN có vai trò hỗ trợ công dân lập nghiệp

Thông qua DNNN, Nhà nước dựng nên những trung tâm công nghiệp, có khả năngthu hút quanh mình các vệ tinh, thuộc các thành phần kinh tế khác, với những loại quy mô

và kỹ thuật khác nhau, thực hiện một số công đoạn hoặc cung ứng dịch vụ công nghiệpcho trung tâm theo sự đặt hàng trung tâm, hoặc được trung tâm cung cấp các phế liệu, phếthải để dùng làm nguyên liệu cho các doanh nghiệp vệ tinh này Bàng cách này, Nhà nướctạo ra việc làm cho dân

Thông qua doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước thực hiện các ý đồ phân bố côngnghiệp theo hướng đem lại ánh sáng văn minh cho mọi vùng lãnh thổ, xóa bỏ sự cách biệtquá mức giữa thành thị và nông thôn, đồng bằng và vùng núi

• DNNN giữ vai trò bổ sung thị trường khi cần thiết

Chức năng này được các DNNN thực hiện thông qua việc chúng cung cấp cho thịtrường những hàng hóa và dịch vụ theo chủ trương, kế hoạch nhà nước nhằm vào cáckhoảng trống của cung

Ngày đăng: 16/11/2019, 20:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w