1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KH KT thời nhà thanh

9 86 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 121,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái quát về thời kì nhà Thanh của Trung Quốc:Nhà Thanh là một triều đại do người Mãn Châu thành lập, một dân tộc thiểu số ở một số nước Đông Á hiện nay.. Hoàng Thái Cực cũng chấp nhận v

Trang 1

I Khái quát về thời kì nhà Thanh của Trung Quốc:

Nhà Thanh là một triều đại do người Mãn Châu thành lập, một dân tộc thiểu số ở một số nước Đông Á hiện nay Vốn là những người du mục bán khai, người Mãn Châu dần chiếm ưu thế tại vùng hiện ở phía đông nam Nga Quốc gia Mãn Châu được Nỗ Nhĩ Cáp Xích (Nurhaci) thành lập vào đầu thế kỷ 17 Ban đầu chỉ là một nước chư hầu của nhà Minh, ông tự tuyên bố mình là hoàng đế của nước Hậu Kim năm 1616 Cùng năm ấy, ông phát triển các nguồn tài nguyên kinh tế, con người của đất nước cũng như kỹ thuật bằng cách thu nhận những người Hán sống tại vùng Mãn Châu

Năm 1625, Nỗ Nhĩ Cáp Xích lập thủ đô tại Thẩm Dương (tiếng Mãn Châu:

Mukden), nhưng năm sau ông phải chịu một thất bại quân sự lớn đầu tiên trước một vị tướng nhà Minh là Viên Sùng Hoán Nỗ Nhĩ Cáp Xích chết năm đó Một trong những thành tựu lớn nhất của ông là việc tạo lập hệ thống Bát Kỳ, theo đó mọi người dân Mãn Châu đều thuộc một trong tám "Kỳ", đó vừa là các đơn vị dân

sự vừa mang tính chất quân sự Các Kỳ được đặt tên như vậy bởi vì mỗi nhóm được phân biệt bởi một lá cờ khác nhau

Người kế tục Nỗ Nhĩ Cáp Xích, Hoàng Thái Cực (Huang Taiji), tiếp tục tiến hành công việc dựa trên các nền móng được người cha để lại, sáp nhập các kỳ của người Hán đầu tiên vào quân đội của mình Hoàng Thái Cực cũng chấp nhận việc áp dụng nhiều cơ cấu chính trị kiểu nhà Minh vào đất nước mình, nhưng luôn giữ ưu thế của người Mãn Châu trong các cơ cấu đó thông qua một hệ thống định mức phân bổ Khi Lâm Đan Hãn (Ligdan Khan), vị đại hãn cuối cùng của người Mông

Cổ, chết trên đường tới Tây Tạng năm 1634, con trai ông Ngạch Triết (Ejei) đã đầu hàng người Mãn Châu và trao lại ngọc tỉ truyền quốc của Hoàng đế Nguyên cho Hoàng Thái Cực

Năm 1636 Hoàng Thái Cực đổi tên nước thành Thanh, có nghĩa là thanh khiết, biểu

hiện những tham vọng đối với vùng Mãn Châu Cái tên Thanh được lựa chọn bởi

vì tên của nhà Minh (明) được cấu thành từ các ký hiệu của chữ nhật (明, mặt trời)

và nguyệt (明, Mặt Trăng), đều liên quan tới hỏa mệnh Chữ Thanh (明) được cấu thành từ chữ căn bản là thuỷ (明, nước) và từ chỉ màu xanh (明), cả hai đều là mệnh thuỷ Trong thuyết Ngũ hành, thì thủy khắc được hỏa, ám chỉ việc nhà Thanh sẽ đánh tan toàn bộ nhà Minh Trong một loạt những chiến dịch quân sự, Hoàng Thái Cực đã khuất phục được vùng Nội Mông và Triều Tiên trước khi tiếp tục chiếm quyền kiểm soát vùng Hắc Long Giang

II Văn hoá – Nghệ thuật:

III Khoa học – Kỹ thuật:

Trang 2

Vào thời kì này, Khoa học – Kỹ thuật Trung Quốc cũng đã có nhiều thành tựu Một trong những thành tựu nổi bật là phát minh ra thuốc súng – một trong Tứ đại phát minh của Trung Quốc

+Lịch sử:

Thuốc súng là một trong 4 phát minh vĩ đại của nước Trung Hoa cổ Thuốc súng chữ Hán có nghĩa là "hoả dược" Thuốc súng đen gồm ba thành phần cơ bản: lưu huỳnh, kali nitrat và than củi Hỗn hợp ba loại này cháy rất mạnh Chính vì vậy người ta mới gọi hỗn hợp trên là "hoả dược" (thuốc bốc lửa)

Thuốc súng đen Trong cuốn "Vị nam tử" thời Tây Hán có ghi: các thuật sĩ sau rất nhiều lần thử nghiệm luyện đan đã phát hiện lưu huỳnh (sulphua) không những có thể hoá hợp các vật lạ như: vàng, bạc, đồng, sắt mà còn chế ngự được thuỷ ngân một cách thần

kỳ Ngoài ra, hỗn hợp lưu huỳnh, phốt pho và mật ong cháy rất mạnh và bắt lửa nhanh tới mức có thể gây bỏng tay người châm lửa Thậm chí có thể bùng lên thiêu trụi nhà cửa Sau nhiều lần thử nghiệm, cuối cùng người ta đã tìm ra công thức pha chế thuốc súng theo tỷ lệ: kali nitrat 75%, lưu huỳnh 10% và than củi 15%

Khi phát minh ra thuốc súng đen, người ta đã đem áp dụng vào chiến tranh để gây khói lửa, làm hỏa tiễn (tên có lửa) và súng

Thời Ðường (năm 900) đã xuất hiện hai loại đồ chơi hỏa tiễn và tên mang thuốc

nổ Sách cổ có ghi chép lại "cung xạ hỏa thạch lựu tiễn" (cung bắn ra mũi tên mang quả thạch lựu có lửa) Ðó chính là "hoả tiễn" (tên có mang thuốc nổ)

Trang 3

Khi thuốc nổ được dùng trong quân sự, người ta lại chế tiếp một loại "hoả pháo"

Ðó là một gói thuốc nổ được đặt vào máy bắn đá, châm ngòi, rồi "quăng" (bắn) sang trận địa đối phương

Vào thời Tống (khoảng năm 1000), một người tên là Ðường Phúc chế tạo chiếc hoả tiễn dùng thuốc nổ đầu tiên Hoả tiễn được dùng trong quân sự Về sau, ông chế tạo thêm "hỏa cầu", "hỏa tật lê", hai loại này có cả thuốc nổ bên trong và thuốc

nổ bên ngoài Sau này, quân đội còn trang bị "thiết tật lê" (quả lê sắt), khi bắn đi, ngoài việc đốt cháy còn sát thương kẻ địch

Thời nhà Tống, quân Liêu và Tây Hạ ở phương bắc không ngừng xâm lược xuống phía nam Sau này lại bị quân Kim và Mông Cổ (Nguyên) xâm lược Do vậy, việc chế tạo vũ khí có thuốc nổ phát triển một cách nhanh chóng

Ðến năm 1132, một người tên là Trần Quy đã phát minh ra loại súng hình ống Năm 1259 lại có người phát minh ra loại súng đột hoả Loại súng hỏa ma trước đây chỉ có giá trị đốt cháy còn loại đột hỏa mai sau này có thể bắn ra "tử khoa" (tổ chết) để sát hại người Ðây là phát minh quan trọng trên con đường chế tạo vũ khí thuốc nổ

Người Kim diệt Bắc Tống Người Nguyên lại diệt Kim và Nam Tống Cuối cùng

họ cũng học được kỹ thuật chế tạo vũ khí nổ Tất nhiên, cả người Kim và người Nguyên đều chú trọng đến chế tạo vũ khí nổ

Trong đợt tiến công Kỳ Châu (nay là Kỳ Xuân, Hồ Bắc, Trung Quốc) của quân Kim năm 1221 súng bắn đá và bắn "thiết hỏa pháo" được sử dụng khá nhiều Năm

1232, quân Kim bao vây Khai Phong Phủ Quân Tống bắn ra những bình sắt chứa đầy thuốc nổ (thiết quan trang hoả dược) gọi là "chân thiên lôi " (sấm đông) phá vây, đẩy lùi quân Kim

Vào thời Nguyên, súng hỏa mai đã thay thế súng ống trúc Loại lớn nhất là súng thần công, ban đầu loại súng hình ống được đúc bằng đồng Ít lâu sau người ta dùng gang để đúc súng thần công Loại vũ khí này bắn được xa và có sức mạnh hơn hẳn Và kỹ thuật đúc vũ khí lại tiến thêm một bước dài Trong viện bảo tàng lịch sử Trung Quốc hiện còn lưu trữ khẩu thần công bằng đồng, đúc năm 1332 và khẩu thần công này được coi là lớn nhất thế giới

Một loại vũ khí mới mang tên "chấn thiên lôi pháo" đã xuất hiện vào thời Minh Loại vũ khí này có cánh Khi tấn công thành trì địch, chỉ cần châm ngòi "chấn thiên lôi" thuận theo chiều gió bay thẳng vào thành và bùng nổ

Năm 1377 đã xuất hiện loại hoả tiễn liên thức (kiểu liên hoàn) nguyên thủy mang tên "thần hỏa phi nha" (thần lửa quạ bay) Ðây là những giỏ tre hình con quạ, bên trong chứa đầy thuốc nổ Dưới cánh quạ được gắn "hỏa tiễn" (tên lửa đẩy) Sau khi phát xạ "thần lửa quạ" bay xa khoảng 300 mét mới "hạ cánh"

Trang 4

Trong cuốn binh thư "Võ bị chí" (1621) có ghi chép: loại hỏa tiễn liên khúc nhiều cấp có tên gọi là "hoả long xuất thủy" là tên lửa đẩy hai cấp sớm nhất Ðể làm nó, người ta dùng một đoạn ống tre lớn dài khoảng 5 thước ta (khoảng 2,5 m) để chế tạo "rồng" Trên thân rồng phía trước và phía sau đều có gắn mấy chiếc tên lửa đẩy

- tên lửa cấp 1 làm nhiệm vụ đẩy rồng bay đi Bên trong bụng rồng, người ta đặt mấy quả tên lửa nhỏ - tên lửa cấp hai Khi phóng, người ta châm lửa tên lửa cấp 1 trên thân rồng, đẩy thân rồng bay lên cách mặt nước chừng 3 đến 4 thước (khoảng 1,5 - 2m) Rồng có thể bay xa tới 243m Lúc này tên lửa cấp 2 trong bụng rồng được phát hoả Chúng bay thẳng ra khỏi miệng rồng, tiêu diệt kẻ thù

Trung Quốc cũng đã sớm phát minh loại tên lửa đồng thời bốc hoả nhiều chiếc cùng một lúc Loại "tổ ong" đồng thời phát hoả 32 chiếc hỏa tiễn Người ta nhét mấy chục chiếc hỏa tiễn nhỏ vào trong ống bương lớn Ngòi nổ dùng dây cháy chậm nối liền nhau Khi châm ngòi dây dẫn chính, mấy chục chiếc hoả tiễn cùng phát hoả Loại vũ khí này thanh thế rất mạnh

Vào năm 1500 một nhà khoa học tên là Vạn Hô của Trung Quốc nuôi một giấc mộng có thể bay được Ông liều mạng gắn 47 quả "tên lửa" vào sau chiếc ghế của mình, hai tay giữ hai cánh diều lớn rồi nhờ người châm lửa phát hỏa để "hoả tiễn" đẩy ông bay lên không Tuy nhiên, cuộc "phi hành" này thất bại nhưng ý tưởng và nguyên lý thiết kế của ông rất giống loại tên lửa đẩy của người hiện đại Để kỷ niệm và tưởng nhớ nhà du hành đầu tiên, hội thiên văn quốc tế đã lấy tên ông đặt tên cho dãy núi hình vòng cung trên mặt trăng: Vạn Hô

Một loại "thiết hỏa pháo" được chế tạo hồi thế kỷ XIII ở Trung Quốc

Trang 5

+Vai trò

Sự hình thành thuốc súng gắn liền với sự phát triển của Đạo giáo

Làm động lực đẩy vật gây sát thương chỉ bắt đầu vào thế kỷ XII – XII dưới dạng các hỏa khí hình ống làm bằng giấy bồi hoặc ống tre

=> Từ đó vũ khí ngày càng được cải thiện và nâng cao dần thay thế những vũ khí thô sơ ban đầu

Thuốc súng giữ vai trò rất lớn trong quân sự

Người châu Âu đã nhanh chóng tiếp thu và sử dụng phát minh này của Trung Thuốc một cách hữu hiệu để làm súng trường, hỏa mai và thuốc súng còn đóng vai trò quan trọng trong các cuộc phát kiến địa lý của châu Âu

+Ý nghĩa

Giữ vững được lãnh thổ, bảo tồn và phát huy được những giá trị dân tộc

Khoa học – kĩ thuật

Với sự ra đời này, những cuộc xâm lược lãnh thổ để mở rộng bờ cõi ngày càng được tiến hành, kéo theo đó là sự thay đổi lớn về trật tự xã hội

=> Từ đó người dân Trung Quốc ngày càng hãnh diện và tự hào về nên chủ quyền của dân tộc Đặc biệt họ đã đẩy lùi những cuộc xâm lược của các nước lớn, bảo toàn trọn vẹn lãnh thổ

Ngoài ra lĩnh vực này còn có thành tựu nổi bậc là thành tựu kiến trúc Kiến trúc thời kỳ này đại để kế tục truyền thống đời nhà minh, kiến trúc càng tôn thờ sự khéo léo hoa lệ

 Cung điện Thịnh Kinh hay còn được biết đến là Cố cung Thẩm Dương là một cung điện hoàng gia cũ nằm ở Thẩm Dương, tỉnh Liêu Ninh, đông bắc Trung Quốc Nó được xây dựng vào năm 1625 trong khoảng thời gian đầu của người Mãn và nhà Thanh bởi ba vị hoàng đế đầu tiên và họ sống ở

đó từ năm 1625 đến 1644 Ngày nay, nó đã được chuyển đổi thành một bảo tàng nằm ở trung tâm thành phố Thẩm Dương, tỉnh Liêu Ninh

- Lịch sử:

Nó được xây dựng bởi hoàng đế sáng lập ra nhà Thanh là Nỗ Nhĩ Cáp Xích vào năm 1625 như là một kinh đô của người Mãn Cung điện sau đó được bổ sung thêm dưới triều đại của Hoàng Thái Cực Cấu trúc của nó khá giống với Tử Cấm Thành nhưng cũng mang phong cách kiến trúc Tây Tạng và Mãn Châu

Sau khi nhà Minh bị sụp đổ và thay thế bởi nhà Thanh vào năm 1644, Thịnh Kinh dần mất vị thế của một kinh đô và dần trở thành một cung điện khu vực

Trang 6

Năm 1780, cung điện tiếp tục được mở rộng bởi hoàng đế Càn Long và nó chỉ là nơi lui đến một khoảng thời gian trong năm của các vị hoàng đế sau đó

- Kiến trúc:

Cố cung chia làm 3 đường chính: Đông Lộ - Trung Lộ và Tây Lộ Kiến trúc chủ yếu ở đây là:

1 Trung Lộ: với trung tâm là điện Sùng Chính – nơi chấp chính của Hoàng Thái Cực

2 Đông Lộ: trung tâm chính là Điện Đại Chính, là nơi hoàng đế nhà Thanh làm việc hàng ngày và tổ chức lễ nghĩ lớn Đình Thập Vương là nơi làm

việc của mười đại thần quan trọng của triều đình Phong cách kiến trúc của Điện Đại Chính và Đình Thập Vương bắt chước lều vải của dân tộc du mục

11 ngôi đình nói trên tức là tiền thân của 11 lều vải tượng trưng cho quá trrình di chuyển từ du mục sang cố định

3 Tây Lộ với trung tâm là gác Văn Tố, trước sau là sân khấu kịch và Gia Ân Đường.

4 Khu trung tâm chính là Hoàng Cung – là một trong hai quần thể kiến trúc cung điện lớn còn tồn tại đến ngày nay của Trung Quốc Chủ thể của cố cung Thẩm Dương xây dựng vào năm 1625, 10 năm sau hoàn thành Sau đó, hoàng đế Khang Hy, Ung Chính, Càn Long tiến hành tu sửa

- Giá trị:

Cùng với Cố Cung Bắc Kinh – Cố cung nằm trong di sản văn hóa thế giới với quy

mô và rất bề thế Trải hơn 150 năm lịch sử của mình, cho nên cố cung Thẩm

Dương đã hấp thụ tinh hoa văn hoá của dân tộc Hán, Mãn, Mông Cổ, Hồi và Tạng

là kết tinh văn hoá Trung Hoa, là mốc son quan trọng của Trung Quốc với tư cách

là một nước thống nhất và nhiều dân tộc và hiện nay là điểm tham quan hấp dẫn cho du khách

 Khu vực Viên Minh Viên thời cổ đại vốn chỉ là nơi cây cỏ rậm rạp, đến thời nhà Liêu và nhà Kim bắt đầu có những cung điện, đền đài được xây dựng Đến thời nhà Nguyêncó nhiều tư dinh được xây dựng và sang triều Minh càng thịnh hành hơn nữa, khu vực này được gọi là Đan Lăng Phán (明明明)

Đến thời Thanh, Khang Hy thường tuần thú Giang Nam và rất thích phong cảnh Giang Nam nên đã cho xây dựng ở đây hành cung kiểu Giang Nam gọi là Sướng Xuân Viên (明明明) đồng thời đem các khu quanh đó thưởng cho các thân vương

Trang 7

Trong đó có khu một khu được Khang Hy năm 1707 ban cho Tứ hoàng tử Dận Chân (sau này là vua Ung Chính) và được Khang Hy ban cho tên là Minh Viên 明明

明 Thời gian bắt đầu công cuộc xây dựng vẫn còn nhiều tranh cãi nhưng nhiều ý kiến thống nhất là năm Khang Hy 48 tức là năm 1709

Sau thời Ung Chính, đến năm Càn Long thứ 2 1737 tiến hành mở rộng và đến năm

1744 thì cơ bản hoàn thành, hình thành nên Viên Minh Viên thập tứ cảnh (明明明明明 明) Xung quanh Viên Minh Viên, Càn Long còn cho xây thêm 2 khu nữa là Trường Xuân Viên (明明明) và Kỳ Xuân Viên ( 明明明) ở phía Đông và phía Nam Trong đó Trường Xuân Viên được khởi công xây dựng năm Càn Long thứ 3 1738 và hoàn thành năm 1749 Kỳ Xuân Viên được bắt đầu từ năm Càn Long thứ 37 1772 do hợp nhất và cải tạo những khu vườn của các thân vương, công chúa Đến đời Gia Khánh, lại cho mở rộng phí Tây Lộ 3 khu vườn được kết nối liên thông, lấy Viên Minh Viên làm chủ đạo nên được gọi chung là Viên Minh Tam Viên “明明明明” hay gọi tắt chung lại là Viên Minh Viên Suốt thời Gia Khánh, Viên Minh Viên còn được tôn tạo nhiều, từ các đời hoàng đế về sau, ngân khố thiếu hụt không cho phép trùng tu, tôn tạo thêm

Toàn bộ khu vườn có 123 thắng cảnh trong đó Viên Minh Viên có 69 thắng cảnh, Trường Xuân Viên 24 và Vạn Xuân Viên 30, kỳ quan nằm trên diện tích chừng 3,5 km2 Viên Minh Viên còn có 19 cổng, 5 đập nước, hơn 140 tòa kiến trúc cổ, hơn

100 cây cầu gỗ Ngoài ra, ở đây cũng lưu trữ rất nhiều sách cổ quý giá

Di Hòa Viên có lịch sử tồn tại trên 800 năm với nhiều tên gọi khác nhau Đầu đời nhà Tấn, một cung điện tên là Kim Sơn Cung đã được xây dựng tại nơi mà ngày nay là Di Hòa Viên Năm 1750, Càn Long Đế xây Thanh Y Viên tại khu vực này để mừng sinh nhật mẹ ông

Năm 1860, trong Chiến tranh Nha Phiến, liên quân Anh - Pháp bắn phá khiến Thanh Y Viên bị hư hại nặng Khoảng 28 năm sau, Từ Hi Thái hậu lấy ngân quỹ vốn dùng để hiện đại hóa hải quân ra trùng tu hoa viên trong vòng 10 năm và đặt tên là Di Hòa Viên

Năm 1900, trong loạn Quyền Phỉ, liên quân 8 nước lại phá hoại hoa viên lần nữa Khi Từ Hi Thái hậu hồi cung tại Bắc Kinh năm 1903, bà cho đại trùng tu hoa viên Hai cảnh nổi bật ở Di Hòa Viên là Vạn Thọ Sơn và hồ Côn Minh Hoa viên rộng

294 mẫu, trong đó diện tích hồ chiếm 220 mẫu Vườn chia làm ba khu vực: khu hành chính (chủ yếu là Nhân Thọ Điện - nơi Từ Hi tiếp các quan lại và giải quyết quốc sự), khu nghỉ ngơi (gồm các điện và vườn hoa) và khu phong cảnh

Di Hòa viên là một công viên nằm ở phía tây Bắc Kinh, diện tích khoảng 290 hécta, trong đó 3/4 là diện tích mặt nước Đây là khu vui chơi giải trí nổi tiếng dành riêng cho hoàng gia của các triều đại Trung Hoa

Trang 8

Lịch sử đã ghi nhận, khu công viên này được hình thành từ triều Kim (1115 - 1234) Tại đây các vị hoàng đế nhà Kim đã dựng lên vô số những hành cung nguy nga và những khu giải trí cực kỳ xa xỉ Từ đó các triều đại tiếp nối nhau xây thêm nhiều công trình hoành tráng khác Đến đời Vua Càn Long (1736-1796) nhà

Thanh, quy mô khu công viên không những đã mở rộng một cách đáng kể, mà còn được xây thêm nhiều công trình mới, và đổi tên là Thanh Ý viên Năm 1860 liên quân Anh - Pháp tấn công Bắc Kinh đã tràn vào đây cướp bóc, đốt phá khiến

Thanh Ý viên tan hoang

Năm 1888, Từ Hy Thái Hậu đã lấy 500 vạn lạng bạc vốn dĩ dùng để xây dựng hải quân, trùng tu lại Thanh Ý viên thành một công viên tráng lệ, và đổi tên thành Di Hòa viên (khu vườn di dưỡng tinh thần) Di Hòa viên mà ta thấy ngày nay chính là những gì được tạo ra từ lần trùng tu này

Nổi bật ở chính khu trung tâm là Phật Hương các, một ngôi chùa nhiều tầng nguy nga lộng lẫy nằm trong khu Vạn Thọ sơn, nơi để Từ Hy niệm Phật Dưới chân Vạn Thọ sơn là hồ Côn Minh bao la gợn sóng Một bến thuyền có hình dáng là một chiếc thuyền làm bằng đá nhô ra mặt hồ, ngay dưới Phật Hương các là nơi đón du khách lên thuyền dạo trên hồ Men theo bờ hồ là một dãy hành lang dài 728 mét gồm nhiều gian, mỗi gian được kiến trúc khác nhau với những hình vẽ vô cùng tinh xảo mang đậm tính nghệ thuật Trung Hoa Giữa hồ Côn Minh là hòn đảo nhỏ được nối với bờ bằng một chiếc cầu vồng làm bằng đá gồm 77 nhịp có tên là Thập Thất Khổng kiều Cho tới ngày nay, Di Hòa viên vẫn được coi là một trong những công viên đẹp nhất thế giới

Di Hòa viên không những chỉ là một công viên đẹp, được coi là một kiệt tác về kiến trúc, mà người ta còn đồn rằng toàn bộ khuôn viên của Di Hòa viên đã được xây dựng theo bố cục rất chặt chẽ về mặt phong thủy thể hiện ý tưởng Phúc Lộc Thọ, theo một mật chỉ của Từ Hy Thái Hậu

Đã có nhiều người bỏ công nghiên cứu để tìm hiểu bí mật ẩn chứa trong Di Hòa viên, nhất là tìm hiểu xem có thật Di Hòa viên có bố cục thể hiện ý tưởng Phúc Lộc Thọ hay không, và nếu có thì nó đã được thể hiện như thế nào

Bước đột phá có tính chất quyết định để trả lời cho câu hỏi này là từ khi các nhà nghiên cứu có trong tay những bức ảnh chụp toàn cảnh Di Hòa viên từ vệ tinh bằng

kỹ thuật có độ phân giải siêu cao và kỹ thuật chụp hồng ngoại Khi những tấm ảnh này được công bố, các nhà nghiên cứu đã vô cùng kinh ngạc về bố cục kỳ lạ của Di Hòa viên

Nhìn vào những tấm ảnh ta thấy ngay hồ Côn Minh có hình dáng là một quả đào lớn mà cuống của nó là con sông dẫn nước vào hồ qua cửa Tây Môn quan nằm ở góc phía bắc của Di Hòa viên Con đê hẹp mà dài ở phía chếch mặt hồ tạo ra vết rãnh trên quả đào rất hoàn chỉnh Dãy hành lang dùng làm đường đi lại men theo

Trang 9

hồ Côn Minh ngay sát chân Vạn Thọ sơn thì giống như đôi xương cánh của một con dơi đang dang ra Đường hành lang ở bờ bắc hồ Côn Minh thì rõ ràng là hình một cánh cung mà phần thâm nhập vào lòng hồ hình thành phần đầu của con dơi, phần nhô ra một cách đơn độc được dùng làm bến thuyền cho khách du ngoạn hồ Côn Minh chính là mõm của con dơi đó Đường hành lang vươn dài sang hai phía

tả hữu chính là đôi cánh dơi đang vươn ra Đoạn hành lang ở phía đông và mái hiên nhà Ngư Tảo thâm nhập vào mặt nước và bởi đoạn hành lang ở phía tây tạo thành đôi móng chân trước của con dơi, còn núi Vạn Thọ sơn và cái hồ phía sau núi tạo thành thân của con dơi Thập Thất Khổng kiều ở phía đối diện Vạn Thọ sơn thì đúng là chiếc cổ của một con rùa đang vươn dài, mà đầu của nó chính là hòn đảo nhỏ giữa hồ Côn Minh

Vì trước đây không có được bức ảnh chụp toàn cảnh Di Hòa viên nên kiến trúc độc đáo của nó ít người nhận ra Ngay cả Từ Hy Thái Hậu mặc dù đã lên tầng cao nhất của Phật Hương các trên đỉnh Vạn Thọ sơn thì cũng chỉ nhìn thấy một cách đại khái hình trái đào, cái đầu và cái cổ con rùa cũng như cái đầu và đôi móng con dơi Những phần còn lại thì không thể nhìn thấy, nhất là phần thân con dơi do bị những kiến trúc khác che lấp

Theo thuật phong thủy truyền thống Trung Hoa thì quả đào tượng trưng cho Lộc, con dơi tượng trưng cho Phúc, còn rùa tượng trưng cho Thọ Như vậy cấu trúc tổng thể của Di Hòa viên ẩn trong nó cả ba điều mà Từ Hy mong muốn là Phúc Lộc Thọ

đã được thể hiện bằng những hình tượng tuyệt vời Phải chăng chính cấu trúc này

là điểm khác biệt cực kỳ đặc sắc mà không có ở bất cứ một công viên nào khác tại Trung Quốc cũng như trên thế giới

Thời kỳ này, kiến trúc TQ còn du nhập và sử dụng kính, ngoài ra, kiến trúc nhà ở tự do, linh hoạt đa dạng cũng khá nhiều

Kiến trúc phật giáo tại Tây Tạng có phong cách độc đáo khá phát triển tại thời kỳ này Những chùa phật này tạo hình đa dạng, phá bỏ cách xử lý trình tự hoá đơn nhất truyền thống ở kiến trúc chùa miếu trước kia, đã sáng tạo hình thức kiến trúc phong phú đa dạng, tiêu biểu là một số chùa miếu phật giáo tại Tây Tạng như ở Thừa Đức và Ung Hoa Cung Bắc Kinh

Cuối đời nhà Thanh, TQ còn xuất hiện một số kiến trục mới kết hợp phong cách

TQ và phương tây

IV Tác động của nó đến sự phát triển xã hội Trung Quốc dưới thời kỳ nhà

Thanh:

Ngày đăng: 15/11/2019, 09:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w