Quan hệ Nhật Bản – Việt Nam thời cổ đại đến Thế kỉ XV Trong những năm qua, cùng với sự tăng cường quan hệ Việt Nam - Nhật Bản trên các mặt kinh tế, ngoại giao; quan hệ văn hóa giữa hai n
Trang 1QUAN HỆ VIỆT NAM NHẬT BẢN
THỜI CỔ TRUNG ĐẠI
I Quan hệ Nhật Bản – Việt Nam thời cổ đại đến Thế kỉ XV
Trong những năm qua, cùng với sự tăng cường quan hệ Việt Nam - Nhật Bản trên các mặt kinh tế, ngoại giao; quan hệ văn hóa giữa hai nước đã bước vào thời kỳ phát triển nhanh chóng chưa từng có Thành tựu giao lưu văn hóa có được hôm nay không chỉ là kết quả của những nỗ lực giữa chính phủ và nhân dân hai nước mà còn bắt nguồn từ chiều sâu lịch sử lâu dài của hai dân tộc Việt - Nhật
Chúng ta đều biết, Việt Nam và Nhật Bản là hai quốc gia có nền văn hóa truyền thống với nhiều nét tương đồng Sự tương đồng đó chính là sản phẩm của cả quá trình phát triển lâu dài hàng ngàn năm trên cơ sở cùng chia sẻ những giá trị chung bắt nguồn từ hoàn cảnh kinh tế - xã hội và quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa có tính quốc tế
Quan hệ Việt Nam- Nhật Bản có từ rất sớm Tư liệu lịch sử cũng đã ghi lại rằng, vào năm 752 đã có một nhà sư Việt Nam đến Nhật Bản để dự lễ khai trương pho tượng Phật tại chùa Todaiji (東東東) ở Nara là thủ đô của Nhật Bản thời đó Và người Nhật Bản đầu tiên đến Giao Châu (tên nước Việt Nam thời cổ đại) là Abe (東東)
Theo giáo sư Hà Văn Tấn thì vào những năm 1274 và năm
1281 khi Hốt Tất Liệt phái hạm đội sang đánh các đảo
Tsushima, Iki, vịnh Hakojaki của Nhật Bản, đã bị nhân dân Nhật
Trang 2Bản kháng cự lại, khiến cho quân Mông-Nguyên thất bại thảm hại
Đang dự định tấn công Nhật Bản lần nữa thì Hốt Tât Liệt lại chuyển sang xâm lược Giao Chỉ (Việt Nam) Chính điều này ngẫu nhiên sự yên bình của Nhật Bản được trở lại, và điều này được các nhà sử học Nhật bản thừa nhận rằng đã góp phần vào tình hữu nghị chiến đấu chống kẻ thù chung của dân tộc Nhật-Việt
Về kinh tế:
Đều lấy nông nghiệp làm nền tảng kinh tế chủ yếu người Nhật và người Việt đều cùng lấy việc trồng lúa nước, đánh bắt
cá làm kế sinh nhai chủ yếu; cùng lấy lúa gạo, rau cá làm thực phẩm chính trong bữa ăn 東cách nghĩ, lối sống và cả tín ngưỡng
từ xa xưa của cư dân ở hai nước bên cạnh những khác biệt, có nhiều nét khá giống nhau Dù mỗi nước có những sắc thái độc đáo riêng nhưng cách ứng xử với môi trường xung quanh, thái
độ với thiên nhiên đều có những hằng số chung của cư dân nông nghiệp Cả người dân Việt Nam và Nhật Bản từ xưa đều mang tâm thức tín ngưỡng đa thần, đều tôn thờ các lực lượng
tự nhiên và tôn kính tổ tiên cũng như những vị anh hùng dân tộc
Một chừng mực nhất định, có thể coi quan hệ Nhật - Việt bắt đầu từ thế kỷ thứ XV được đánh dấu bằng việc buôn bán giữa hai nước thông qua những thuyền buôn đến từ Nhật Bản
Về mối liên hệ về văn hóa: giữa hai nước đã xuất hiện
từ rất sớm trước đó thông qua việc cùng tiếp nhận ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc cổ đại Nhật Bản được coi là có tiếp nhận văn hóa Trung Quốc rõ nét từ khoảng thế kỷ thứ IV thông
Trang 3qua Bán đảo Triều Tiên; Việt Nam do địa thế liền kề với Trung Quốc nên những giá trị văn hóa của nền văn minh vĩ đại này đã ảnh hưởng đến còn sớm hơn nhiều Điều quan trọng ở đây là ngay từ thuở xa xưa ấy, hai dân tộc Việt, Nhật đã cùng tiếp nhận những giá trị của Phật giáo, Khổng giáo, Đạo giáo…để làm giàu và phát triển nền văn hóa cho riêng dân tộc của mình Đặc biệt là ngay từ thời cổ đại, cả hai quốc gia đã cùng tiếp thu chữ Hán làm văn tự chính thống, cùng áp dụng những
nguyên tắc của học thuyết Khổng giáo để xây dựng nền giáo dục, bồi dưỡng nhân tài và tổ chức bộ máy xã hội Cho dù cách tiếp thu và phát triển những giá trị đó ở mỗi nước có những nét đặc thù, song không thể phủ nhận được rằng, chính những giá trị này đã hình thành nên những cơ sở tương đồng ban đầu vô cùng quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho những tiếp xúc văn hóa trực tiếp giữa hai nước trong những thời kỳ lịch sử về sau Chẳng phải ngẫu nhiên mà từ rất sớm người Việt Nam đã coi người Nhật Bản như những người anh em "đồng văn, đồng chủng, đồng châu ”.văn hóa
II Quan hệ Nhật Bản – Việt Nam từ TK XVI khi người
Nhật thành lập khi phố Nhật ở Hội An
Cuối thế kỷ XVI, nhà Nguyễn đã thiết lập quyền lực chính trị của mình ở Đàng Trong Với những chính sách tích cực đã thúc đẩy nền kinh tế ngày càng phát triển Lúc này, nhiều cảng thị hình thành ven dải đất miền Trung, mà Hội
An là thương cảng nằm bên con đường thương mại quốc tế sôi động đương thời, thu hút thương thuyền từ Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,
Hà Lan, Anh, Pháp, Nhật… đến buôn bán
Vai trò quan trọng của thương nhân Nhật trong thời kì này
là ở chỗ họ đã kích thích mạnh mẽ sự phát triển của ngoại
Trang 4thương ở Đàng Trong Trên cơ sở một cửa cảng Kẻ Chiêm đã có
từ trước, sự xuất hiện của một người Nhật đã làm cho hoạt
động mậu dịch trở nên thường xuyên hơn Tính năng động
thương mại của người Nhật được sự hỗ trợ bởi các chính sách cởi mở của chúa Nguyễn đã là nhân tố quan trọng tạo nên ở đây một đô thị cảng
Quá trình di cư của người Nhật đến Hội An
Sau khi thống nhất Nhật Bản, Toyotomi Hideyoshi thi hành nhiều chính sách nhằm phát triển kinh tế
Năm 1592, ông ban lệnh Châu Ấn (Gosyuin-Jo), cho phép thuyền nhân Nhật được vượt biển đi giao thương với các quốc gia trên thế giới, phần lớn họ
đã tìm đến các cảng thị ở khu vực Đông Nam Á, trong đó có Hội An (Đàng Trong)
Thời kỳ này, các hoạt động thương mại chủ yếu diễn ra trên biển nên phải phụ thuộc vào chế độ gió mùa
Hàng năm, thuyền buôn từ Nhật thường khởi hành vào tháng 11, bởi lúc này là gió mùa đông bắc đưa thuyền xuống khu vực phía Nam Đến tháng 7 năm sau, gió mùa đông nam thổi ngược lên hướng bắc thuận tiện cho họ giong buồm lên đường trở về nước
Đến đầu thế kỷ XVII, thương cảng Hội An bổ sung một số lượng lớn người Nhật di cư đến Năm 1614, khi Chính phủ Nhật tiếp tục ban hành lệnh cấm đạo
và trục xuất giáo sĩ phương Tây ra khỏi Nhật Bản Những giáo dân Nhật đã tìm đến các quốc gia có giáo sĩ phương Tây cư trú như: Hải Nam (Trung Quốc), Siam, Việt Nam,… Lúc này ở Đàng Trong, chúa Nguyễn đã thi hành một số biện pháp nhằm hạn chế sự phát triển của đạo Thiên Chúa, nhưng trong một chừng mực nhất định, vì muốn phát triển Quảng Nam nên chúa Nguyễn đã cho phép họ được truyền đạo tại Hội An
Phố Nhật ở Hội An
Trang 5Được sự đồng ý của chúa Nguyễn, người Nhật tiến hành chọn đất và xây dựng khu phố của mình gọi là “Nhật Bản phố” cùng với “Đường Nhân phố” của thương nhân
Vị trí của khu phố Nhật ở Hội An thế kỷ XVII dài khoảng 300m, có hai dãy nhà nằm trên một con lộ chính và cách không xa vùng cửa sông Điều này tương ứng với những miêu tả của các thương gia Nhật Bản khi họ trở về cố quốc, đó là một thành phố nằm cách biển 3,39 km, có khoảng 500 – 600 ngôi nhà Các ngôi nhà ở phía trước giáp đường thường được lợp ngói, vách trát đất, còn nhà trong chỉ là mái lá tạm thời
Trước thế kỷ XIX, Hội An chỉ là một thành phố chạy dọc theo đường Trần Phú; đến năm 1841, đất bồi của sông cho phép mở thêm một con đường, song song với đường Trần Phú về phía Nam (đường Nguyễn Thái Học ngày nay); đến năm 1886 đất bồi của sông cho phép mở thêm một con đường mới song song với hai đường trên (đường Bạch Đằng ngày nay) Như vậy, phố Nhật xưa tương ứng với đường Trần Phú bây giờ, còn phía tây cầu Nhật Bản trải dài đến cuối đường Nguyễn Thị Minh Khai là khu phố của người Hoa, cầu Nhật Bản là cột mốc phân chia địa giới hành chính của hai khu phố
Người Nhật đã xây dựng ở Hội An một công trình kiến trúc mang tên
“Nhật Bản nhân thương quán” (Thương quán của người Nhật Bản) để sử dụng trong việc hội họp và giao dịch thương mại của mình
Thời kì ấy, NB được Chúa Nguyễn ưu đãi về chính trị và thuế khóa Họ gần như được hoàn toàn tự do trong buôn bán và được cộng đồng người Việt cảm mến hơn so với các ngoại kiều khác Đó là thời kỳ bang giao chính trị và thương mại tốt đẹp nhất giữa Chúa Tiên Nguyễn Hoàng cùng Chúa Thượng Nguyên Phúc Nguyên với Tướng quân Tokugawa leyasu của Mạc phủ Nhật Bản
Tuy giữa hai nhà nước không có quan hệ ngoại giao chính thức, nhưng thông qua họ, Mạc Phủ và chúa Nguyễn thường xuyên có trao đổi thư từ và quà biếu cho nhau Họ không chỉ đóng vai trò người chuyển thư mà hơn thế, còn
Trang 6làm sứ mệnh của các sứ giả Qua các bức thư, ta thấy chúa Nguyễn luôn coi các thuyền buôn từ Nhật Bản là của Mạc Phủ phái đến Các lái buôn Nhật giành được rất nhiều sự ưu ái của các chúa Việt
Vào thời cực thịnh, phố Nhật ở Hội An đã hơn một ngàn thương nhân Nhật Bản sinh sống và lập ra nhiều cửa hiệu buôn lớn Vào thời đó có đến 10 dòng họ thương gia giàu có ở Nhật Bản đến buôn bán với Hội An như -Suminokura, Kiya, Sueyoshi, Funamoto, Suetsugu, Araki, Hirano, Hashito…
Với những người Nhật thời Shuinsen, Hội An là nơi “đất lành chim đậu” Không phải ngẫu nhiên mà trong số 19 địa điểm thương nhân đã từng đến buôn bán, chỉ có 4 nơi họ dừng lại xây dựng phố phường Và trong 4 nơi dừng đậu
đó, chỉ duy nhất ở Hội An dấu tích của người Nhật vẫn còn được lưu giữ
Nhưng thời kỳ bang giao chính trị và thương mại tốt đẹp ấy cũng không kéo dài được lâu Năm 1633, Mạc phủ Nhật Bản cắt đứt quan hệ giao thương với Hà Lan và Bồ Đào Nha với lý do chế độ Châu Ấn thuyền của họ bị vi phạm bằng hành động cướp bóc và đối xử bất bình đẳng ở nước ngoài Mạc phủ ra lệnh cấm công dân nước họ không được đi ra n-ước ngoài bằng đường biển với bất kỳ lý do nào và buộc kiều bào Nhật đang sống và làm ăn ở nước ngoài phải hồi hương trong phạm vi thời hạn nhất định, nếu họ không chấp hành sẽ bị nghiêm trị Hai năm sau, năm 1635, chế độ “Châu ấn thuyền” cũng hoàn toàn bị xóa bỏ, từ đó không còn một thương thuyền nào của Nhật bản rời cảng nước mình ở ra nước ngoài, kể cả đến cảng thị Hội An Và đến năm 1639, Nhật Bản hoàn toàn đóng cửa đối với thế giới bên ngoài
Từ đó, người Nhật ở Hội An bị mất liên lạc với chính quốc, khiến các thương nhân Nhật Bản rơi vào tình trạng bị cô lập và không đủ sức đối phó với thương nhân Trung Hoa đang phát triển mạnh mẽ Trước tình hình đó, người Nhật đã chuyển nhượng Thương quán lại cho cư dân Minh Hương sử dụng làm
Tổ Đình của người Minh Hương, sau này gọi là chùa Bà Mụ
Trang 7Hiện nay chùa Bà Mụ chỉ tồn tại một phần cổng tam quan được xây dưới thời Tự Đức, mọi dấu vết kiến trúc của Thương quán Nhật xưa giờ không còn hiện hữu
Năm 1626, Sotaro kết hôn với Công Nữ Ngọc Hoa, con gái Vua Nguyễn Phúc Nguyên Trong thời gian ấy, Sotaro giúp chúa Nguyễn tổ chức các đội thuyền ra đảo Hoàng Sa để thu hàng hóa và vũ khí của các tàu bị đắm và hải vật Ngoài ra, người Nhật còn tham gia quản lý Cảng Hội An, ví dụ như Tổng ban trưởng Hội an là Ông Dimigo (1633-1636), Hayashi Kiemon (từ 1637), Kodoya Shichi Irobei (1668)
Cũng trong thời kì này người Nhật cho xây dựng Chùa Cầu với kiến trúc
vô cùng độc đáo Năm 1719, Nguyễn Phúc Chu ghé thăm và đặt tên là Lai Viễn Kiều Ngoài ra , Hội an còn có 1 số ngôi mộ nổi tiếng của 1 số thuyền buôn Nhật, mang đậm tính chất của Nhật Bản
III Đánh giá Quan hệ Nhật Bản – Việt Nam thời cổ trung đại.
Theo dòng lịch sử Việt Nam ,Nhật Bản là một trong những nước có quan
hệ khá tốt với Việt Nam đặc biệt là thế kỉ 17,18 ở Đàng Trong Mối quan hệ đó trở thành tình hữu nghị tốt đẹp giữa hai nước thông qua quá trình chung sống của người Nhật tại Hội An, Phố Hiến, quá trình liên hôn của thương gia người Nhật với công nữ Ngọc Hoa ( con gái nuôi của chúa Nguyễn Phúc Nguyên ) Trong quá trình chung sống và sinh hoạt với người dân Hội An , người Nhật đã
có quá trình giao lưu văn hóa và chịu ảnh hưởng của văn hóa bản địa và ngược lại
Đặc biệt các thương gia Nhật Bản đã góp công xây dựng nên Chùa Cầu- biểu tượng cho văn hóa , linh hồn người Hội An Trải qua nhiều thăng trầm trong lịch sử, mối quan hệ của Việt Nam và Nhật Bản có lúc trở nên tốt đẹp hơn lại có những lúc có những chuyển biến xấu , tuy nhiên mối qua hệ giữa Việt Nam – Nhật Bản là mối quan hệ hữu nghị , là tình cảm khá tốt đẹp trong quá khứ lẫn hiện tại
Trang 8Quan hệ VN - NB từ thời cổ trung đại đã phát triển nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực và đã bước sang giai đoạn mới về chất và đi vào chiều sâu Hiện nay hai nước đã xây dựng quan hệ hợp tác Đối tác chiến lược Nhật Bản trở thành đối tác ưu tiên trong chính sach ngoại giao của Việt Nam và ngược lại
Nhật Bản tài trợ cho Việt Nam thông qua chính sách ODA giúp cải thiện các vấn đề về kinh tế , văn hóa , giáo dục…cho Việt Nam Những điều đó thể hiện mối quan hệ ngày càng cải thiện theo chiều hướng tiến bộ của cả hai nước
Để có được tình cảm như vậy đó sự đoàn kết bất bình đẵng của 2 nước VN Và
NB Cùng chung sống trong một khu vực, cư dân hai nước đã từ lâu tồn tại nhiều nét “đồng dạng” và “đồng tông” về phong tục, tập quán, tín ngưỡng và tôn giáo Việt Nam có dòng giống Tiên Rồng, còn Nhật Bản cho rằng, họ là con của thần Mặt Trời Nghĩa là có yếu tố thần linh trong vấn đề nòi giống Điều đó góp phần làm nên mối quan hệ keo sơn, gắn bó này
Hiện nay với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tinh, tình hình thế giới luôn có sự chuyển biến nhưng với những gì trải qua trong quá khứ chúng ta hi vọng rằng mối quan hệ Việt Nam – Nhật Bản sẽ phát triển theo chiều hướng tốt đẹp hơn và đạt những thành tựu lớn về đối ngoại