Hạn chế rủi ro tín dụng tạo ngân hàng TMCP phát triển nhà thành phố HCM chi nhánh Hà Nội.
Trang 1CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2
1.1 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại (NHTM) 2
1.1.1 Khái niệm NHTM 2
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của NHTM 2
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn 2
1.1.2.2 Hoạt động tín dụng 3
1.1.2.3 Hoạt động đầu tư tài chính 4
1.1.2.4 Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ 5
1.1.2.5 Các hoạt động khác 6
1.1.3 Hoạt động tín dụng 7
1.1.3.1 Hoạt động chiết khấu thương phiếu 7
1.1.3.2 Hoạt động cho vay 8
1.1.3.3 Hoạt động cho thuê tài chính 10
1.1.3.4 Hoạt động bảo lãnh 10
1.2 Rủi ro tín dụng (RRTD) của NHTM 11
1.2.1 Các loại rủi ro trong hoạt động của NHTM 11
1.2.2 Rủi ro tín dụng của NHTM 12
1.2.2.1 Khái niệm RRTD 12
1.2.2.2 Ảnh hưởng của RRTD 13
1.2.2.3 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng 15
1.2.2.4 Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng 18
1.3 Một số nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 22
1.3.1 Các nhân tố chủ quan 22
1.3.1.1 Chính sách tín dụng và quy trình cấp tín dụng 22
Trang 21.3.2 Các nhân tố khách quan 24
1.3.2.1 Môi trường kinh tế, chính trị 24
1.3.2.2 Môi trường luật pháp và các chính sách của Nhà nước 24
1.3.2.3 Trình độ quản lý và phương án vay của khách hàng 25
1.3.2.4 Ý thức trách nhiệm của khách hàng 25
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CHI NHÁNH HDB HÀ NỘI 26
2.1 Tổng quan về chi nhánh HDB Hà Nội 26
2.1.1 Lịch sử hình thành phát triển và cơ cấu tổ chức của HDB Hà Nội 26 2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 26
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức 27
2.1.2 Khái quát tình hình hoạt động của HDB Hà Nội 30
2.1.2.1 Hoạt động tín dụng tại HDB Hà Nội 30
2.1.2.2 Hoạt động huy động vốn tại HDB Hà Nội 32
2.1.2.3 Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản tại HDB Hà Nội 34
2.2 Thực trạng RRTD tại HDB Hà Nội 35
2.2.1 Thực trạng hoạt động tín dụng 35
2.2.1.1 Qui trình cho vay tại chi nhánh HDB Hà Nội 35
2.2.1.2 Tổng quan về hoạt động tín dụng tại chi nhánh HDB Hà Nội 36
2.2.1.3 Phân loại các khoản tín dụng tại chi nhánh HDB Hà Nội 39
2.2.2 Thực trạng rủi ro tín dụng 44
2.2.2.1 Phân loại nợ theo các nhóm nợ qui định 44
2.2.2.2 Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn 46
2.2.2.3 Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi 49
2.2.2.4 Trích lập dự phòng rủi ro 50
2.2.2.5 Lãi treo và tỷ lệ lãi treo/thu nhập từ lãi 52
Trang 32.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 55
2.3.2.1 Hạn chế 55
2.3.2.2 Nguyên nhân của những hạn chế 56
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DUNG TẠI CHI NHÁNH HDB HÀ NỘI 61
3.1 Định hướng phát triển của chi nhánh về hoạt động tín dụng 61
3.2 Giải pháp hạn chế RRTD tại chi nhánh 61
3.2.1 Đưa ra chính sách tín dụng và chiến lược khách hàng phù hợp 61
3.2.2 Tăng cường công tác thẩm định dự án 63
3.2.3 Mở rộng mạng lưới thông tin 63
3.2.4 Nâng cao trình độ cán bộ tín dụng 64
3.2.5 Hoàn thiện công tác tổ chức điều hành 66
3.2.6 San sẻ rủi ro 67
3.2.6.1 Đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ TD 67
3.2.6.2 Chính sách tài sản đảm bảo 67
3.2.7 Sớm nhận biết nguy cơ RRTD 68
3.2.8 Công tác xử lý RRTD 69
3.3 Kiến nghị 70
3.3.1 Kiến nghị với hội sở HDB 70
3.3.2 Kiến nghị với NHNN 71
3.3.3 Kiến nghị với các cơ quan liên quan 73
KẾT LUẬN 75
Trang 4Bảng 2.2.TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN TẠI HDB HÀ NỘI GĐ 2006-2008 32 Bảng 2.3 TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN THEO KỲ HẠN TẠI HDB HÀ
NỘI GĐ 2006-2008 33
Bảng 2.4 MỘT SỐ CHỈ TIÊU TÀI CHÍNH CƠ BẢN TẠI HDB HÀ NỘI GĐ 2006-2008 34
Bảng2.5: DƯ NỢ TÍN DỤNG THEO ĐỐI TƯỢNG KHÁCH HÀNG 43
Bảng 2.6 CHI TIẾT CÁC NHÓM NỢ TẠI HDB HÀ NỘI GĐ 2006-2008 44
Bảng 2.7 TỶ TRỌNG NỢ QUÁ HẠN THEO KỲ HẠN TRÊN DƯ NỢ THEO KỲ HẠN 48
Bảng 2.8 TRÍCH LẬP DP VÀ TỶ LỆ TRÍCH LẬP DP 50
Biểu đồ 2.1 TĂNG TRƯỞNG DƯ NỢ TẠI HDB HN GĐ 2006-2008 37
Biểu đồ 2.2 CƠ CẤU DƯ NỢ TẠI HDB HÀ NỘI 2006-2008 38
Biểu đồ 2.3 TỶ TRỌNG DƯ NỢ THEO LOẠI TIỀN TẠI HDB HÀ NỘI GĐ 2006-2008 40
Biểu đồ 2.4 PHÂN LOẠI NỢ THEO KỲ HẠN TẠI HDB HÀ NỘI GĐ 2006-2008 42
Biểu đồ 2.5 NỢ QUÁ HẠN VÀ TỶ LỆ NỢ QUÁ HẠN TRÊN TỔNG DN TẠI HDB HÀ NỘI GĐ 2006-2008 46
Biểu đồ 2.6 NỢ KHÓ ĐÒI VÀ TỶ LỆ NỢ KHÓ ĐÒI TẠI HDB HÀ NỘI GĐ 2006-2008 49
Biểu đồ 2.7 TỶ LỆ NỢ QUÁ HẠN, NỢ XẤU VÀ TỶ LỆ DPRR TRÊN TỔNG DN TẠI HDB HÀ NỘI GĐ 2006-2008 51
Biểu đồ 2.8 LÃI TREO VÀ TỶ LỆ LÃI TREO TRÊN THU NHẬP TỪ LÃI TẠI HDB HÀ NỘI GĐ 2006-2008 52
Biều đồ 2.9 HIỆU SUẤT SD VỐN TẠO HDB HÀ NỘI GĐ 2006-2008 53
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Thuật ngữ rủi ro tín dụng không hề xa lạ với những người nghiên cứu hoặclàm việc trong lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng, nhưng không phải ai cũng hiểu mộtcách thấu đáo về rủi ro tín dụng và những ảnh hưởng của nó Hiện nay tín dụng làmột trong những hoạt động chính mang lại phần lớn doanh thu cho các ngân hàngthương mại Rủi ro tín dụng có thể đưa đến những hậu quả nặng nề cho các ngânhàng thương mại, từ giảm lợi nhuận hoạt động đến phá sản Mặt khác, với vai tròtrung gian tài chính quan trọng của mình trên thị trường tài chính và nền kinh tế,một ngân hàng phá sản có thể kéo theo sự sụp đổ của nhiều ngân hàng khác, từ đó
đe doạn sự ổn định của hệ thống ngân hàng và theo đó là cả nền kinh tế Vì vậy,hạn chế rủi ro tín dụng đã trở thành một vấn đề cấp bách mà tất cả các ngân hàngcần sớm đưa ra những biện pháp thực hiện
Chi nhánh HDB Hà Nội là một chi nhánh cấp 1 của ngân hàng TMCP pháttriển nhà tp HCM với nghiệp vụ tín dụng là một trong những hoạt động chủ chốt.Sau thời gian thực tập tại phòng tín dụng chi nhánh HDB Hà Nội, em nhận thấy rủi
ro tín dụng là một trong những vấn đề cấp bách nhất mà chi nhánh cần phải quantâm và quyết định chọn đề tài:
Hạn chế rủi ro tín dụng tạo ngân hàng TMCP phát triển nhà thành phố HCM chi nhánh Hà Nội.
Trang 6CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại (NHTM)
1.1.1 Khái niệm NHTM
Tất cả các tài liệu nghiên cứu đều khẳng định, ngân hàng là một trong những
tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế Có nhiều cách thể hiện khác nhau
về các định nghĩa về ngân hàng thương mại, nhưng nhìn chung, các ngân hàng thương mại được định nghĩa thông qua chức năng dịch vụ mà chúng thực hiện trong nền kinh tế [Rose P.S (2004), Quản trị Ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản
thống kê, trang 4 chương 1]
Theo điều 201, Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam có nêu: “Tổ chức tíndụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy địnhkhác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nộidung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanhtoán” Theo Wikipedia, NHTM là những trung gian tài chính, nhận tiền gửi của các
hộ gia đình (cá nhân) và cho các doanh nghiệp và cá nhân khác vay, cung cấp cácdịch vụ về trao đổi ngoại tệ, chuyển tiền, các dịch vụ liên quan đến thư tín dụng,dịch vụ két an toàn, v.v
Vai trò quan trọng của ngân hàng được hình thành từ các hoạt động phong phúcủa mình Các hoạt động của NHTM có thể được phân chia thành một số hoạt độngchính sau đây
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của NHTM
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn.
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổchức kinh tế và cá nhân trong xã hội Vốn huy động bao gồm 2 loại chủ yếu là tiềngửi và nguồn huy động khác, bao gồm chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu [TS Tô Ngoc
Hưng, Giáo trình nghiệp vụ kinh doanh hoạt động ngân hàng].
Trang 7Tiền gửi là nguồn tài nguyên quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn tiềncủa NHTM Ngân hàng huy động tiền gửi thông qua việc cung cấp các loại hìnhtiền gửi khác nhau.
-Tiền gửi thanh toán: Là loại tiền gửi trong ngân hàng với mục đích tạo mộtnguồn tiền sẵn có cho mục đích thanh toán, chi trả thông qua hoạt động ngân hàng,
do đó không có thời hạn cụ thể và lãi suất thấp
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Nguồn tiền gửi này cũng có thể được rút rabất cứ lúc nào, do đó cũng có lãi suất thấp Tuy nhiên, không giống tiền gửi thanhtoán, nguồn tiền gửi này không được dùng để thanh toán
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn:Đây là nguồn tiền gửi mà người gửi chỉ được rút
ra sau một khoảng thời gian nhất định đã được thỏa thuận ban đầu với mức lãi suất
đã thỏa thuận Nếu người gửi phá vỡ thoản thuận bằng cách rút tiền trước hạn thìngân hàng sẽ đưa ra hình phạt, cụ thể là lãi suất
Ngân hàng còn có thể huy động vốn bằng cách phát hành chứng chỉ tiền gửingắn hạn và trái phiếu dài hạn Hai loại phiếu nợ này được các ngân hàng phát hànhtheo từng đợt, tùy theo mục đích sử dụng và sự chấp thuận của NHTW hoặc Hộiđộng chứng khoán quốc gia
1.1.2.2 Hoạt động tín dụng.
Theo Giáo trình Nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng, TS Tô Ngọc Hưng, tín dụng
là việc ngân hàng chuyển nhượng tạm thời một lượng vốn cho khách hàng trênnguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi sau một khoảng thời gian thỏa thuận Quan hệ tíndụng dựa trên cơ sở lòng tin giữa ngân hàng và khách hàng
Hoạt động tín dụng về cơ bản được chia ra thành các loại sau:
Theo thời gian, có 3 loại tín dụng:
- Tín dụng ngắn hạn: Loại hình tín dụng này bao gồm các khoản vay có kỳ hạndưới một năm, do đó hạn chế được rủi ro do thời gian thu hồi và quay vòn vốnnhanh
Trang 8- Tín dụng trung hạn: Tín dụng trung hạn thường có thời hạn từ 1 đến 5 năm,dùng cho các mục đích mua sắm tài sản cố định, đổi mới kĩ thuật, mở rộng sản xuất,xây dựng các công trình nhỏ có khả năng thu hồi vốn nhanh.
- TÍn dụng dài hạn: có thời hạn trên 5 năm, được cấp cho các hoạt động xâydựng cơ bản, xây dựng mới, cải tiến mở rộng với quy mô lớn Loại tín dụng này cóthời gian thu hồi vốn lâu, khả năng kiểm soát vốn bị hạn chế và tốc độ quay vòngvốn chậm
Xét theo đối tượng cấp tín dụng, tín dụng được chia làm 2 loại:
- Tín dụng vốn lưu động: đươc sử dụng để tài trợ cho nguồn vốn lưu động tạmthời bị thiếu hụt của các tổ chức kinh tế
- Tín dụng vốn cố định: được sử dụng để hình thành tài sản cố định, thường cóthời hạn trung và dài
Tín dụng xét theo xuất xứ được chia làm 2 loại:
- Tín dụng gián tiếp: là hình thức tín dụng thông qua một trung gian tài chính,một ngân hàng thương mại khác
- Tín dụng trực tiếp: là hình thức mà tín dụng được cấp trực tiếp giữa ngânhàng và người đi vay, không qua một tổ chức trung gian nào khác
Trang 91.1.2.3 Hoạt động đầu tư tài chính.
Ngoài nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ mang lại nguồn thu chủ yếu cho ngânhàng, khoản mục được đánh giá là nguồn quan trọng thứ hai, có liên quan và hỗ trợ,
bổ sung cho khả năng sinh lời của các nghiệp vụ cho vay là khoản mục chứngkhoán Ngân hàng tham gia vào thị trường chứng khoán dưới nhiều hình thức, thựchiện hoạt động đầu tư tài chính với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, nâng cao khả năngthanh toán và đa dạng hóa tài sản, hoạt động kinh doanh nhằm phân tán rủi ro tronghoạt động ngân hàng
Các NHTM tiến hành nghiệp vụ đầu tư tài chính dưới 2 hình thức cơ bản: đầu
tư chứng khoán và liên doanh liên kết
- Nghiệp vụ đầu tư chứng khoán: Thị trường chứng khoán có rất nhiều chủ thểtham gia, trong đó NHTM với vai trò trung gian tài chính hoặc chủ thể phát hànhđóng vai trò hết sức quan trọng Ngoài ra, ngân hàng còn thực hiện nghiệp vụ đầu tưchứng khoán với tư cách là một nhà đầu tư chuyên nghiệp, mua đi bán lại các chứngkhoán để kiếm lời
NHTM thường đầu tư vào 2 loại chứng khoán chủ yếu có kỳ hạn dài là chứngkhoán do chính phủ hay chính quyền địa phương phát hành và chứng khoán do cáccông ty, xí nghiệp phát hành Chứng khoán do Nhà nước phát hành có lợi nhuậnthấp, song hầu như không có rủi ro do Nhà nước luôn có nguồn đảm bảo khả năngthanh toán lớn nhất là thuế và quyền lực phát hành tiền Trong khi đó, chứng khoáncông ty cho lợi nhuận cao hơn nhưng độ an toàn thấp hơn Các ngân hàng thườnggiữ chứng khoán công ty để hưởng thu nhập hàng năm
- Liên kết liên doanh: Trên thị trường tài chính, các ngân hàng còn thực hiệncác mục tiêu chung của mình thông qua hình thức liên doanh liên kết vốn với các xínghiệp, công ty Với tư cách là thành viên hùn vốn, NHTM có thể đứng ra mua cổphiếu cho mình, từ đó trở thành thành viên sáng lập hay góp vốn kinh doanh, đồngthời có thể cử người vào ban quản trị công ty
Trang 101.1.2.4 Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ.
Ngoài các nghiệp vụ kinh doanh truyền thống, trong môi trường cạnh tranhgay gắt, các ngân hàng luôn cố gắng mở rộng và ngày càng chú trọng và các dịch vụtiện ích nhằm thu hút khách hàng Trong đó, dịch vụ thanh toán và ngân quỹ lànhững lĩnh vực dịch vụ ngày càng được các ngân hàng chú trọng cả về quy mô và
số lượng, chất lượng
Dịch vụ thanh toán do ngân hàng cung cấp nhanh gọn và an toàn Ngân hàng
đã không ngừng cải tiến và ngày càng đưa ra nhiều hình thức thanh toán thuận tiệncho khách hàng như séc, thư tín dụng, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thanh toán quathẻ,…
Không chỉ ngừng lại ở việc cung cấp dịch vụ trong nước, ngày nay ngân hàng
đã mở rộng liên kết với các ngân hàng nước ngoài để đáp ứng nhu cầu thanh toánnước ngoài của khách hàng với các phương tiện thanh toán đa dạng và tiện lợi.Dịch vụ ngân quỹ cũng đang được các ngân hàng chú trọng phát triển Dịch vụngân quỹ của ngân hàng bao gồm dịch vụ thu tiền và phát tiền, nhằm đảm bảo tínhthanh khoản và lưu thông tiền trong ngân quỹ của ngân hàng Dịch vụ thu tiền thựchiện trên cơ sở khách hàng nộp tiền vào ngân hàng, thông thường là khách hàng gửitiền, trả nợ tiền vay, lãi vay hoặc nộp tiền nhờ thanh toán Dịch vụ phát tiền ứng vớiviệc lĩnh tiền của khách hàng, thường là các trường hợp rút vốn tiền gửi, lĩnh lãi tiềngửi, nhận tiền vay,…
1.1.2.5 Các hoạt động khác.
Bên cạnh các hoạt động chính, ngân hàng còn cung cấp cho khách hàng một sốdịch vụ khác đi kèm nhằm làm đa dạng hóa các hoạt động của mình và đáp ứngđược mọt yêu cầu cần thiết của khách hàng Một số dịch vụ được ngân hàng cungcấp như:
- Dịch vụ ủy thác: là dịch vụ quản lý tài sản được thực hiện dưới nhiều hìnhthức và cách sắp xếp khác nhau Dịch vụ ủy thác có thể được chia làm 3 lĩnh vựcchính: việc ấn định tài sản, điều hành dịch vụ ủy thác, giám hộ tài sản và hoạt độngcủa các cơ quan đại diện
Trang 11- Dịch vụ tư vấn: là việc ngân hàng dựa vào kinh nghiệm và hiểu biết của mình
mà tư vấn cho khách hàng những lời khuyên tốt nhất, những hiểu biết sâu sắc nhất
về các lĩnh vực mà khách hàng yêu cầu
- Dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ bảo quản lý gửi, nghiệp vụ ngân hàng trên thịtrường chứng khoán: đây là những hoạt động phức tạp và đòi hỏi chuyên môn, vìvậy các ngân hàng thường lập các công ty con hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nàyđảm trách
1.1.3 Hoạt động tín dụng
Tín dụng là hoạt động quan trọng hàng đầu của các ngân hàng để tài trợ cho
chi tiêu của các doanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan chính phủ Hoạt động cho vay của ngân hàng phục vụ, bởi vì cho vay thúc đẩy sự tăng trưởng của các doanh nghiệp, tạo ra sức sống cho nền kinh tế [Rose P.S (2004), Quản trị Ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản tài chính, Hà Nội]
Theo luật các tổ chức tín dụng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,điều 49 có ghi: “Tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới hìnhthức cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh cho thuêtài chính và các hình thức khác theo quy định của ngân hàng Nhà nước.”
Các hình thức cấp tín dụng truyền thống mà ngân hàng cung cấp bao gồm:
1.1.3.1 Hoạt động chiết khấu thương phiếu
Thương phiếu là công cụ của tín dụng thương mại, là một giấy nợ phát sinhtrong quan hệ thương mại, dùng để xác nhận cho người cầm nó một trái quyền ngắnhạn về tiền đối với người thụ lệnh khi giấy nợ đến hạn Thương phiếu có khả năngchuyển nhượng dễ dàng, có tính đảm bảo cao và khả năng thanh toán tương đốichắc chắn
Chiết khấu thương phiếu là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn của ngân hàng, trong đó khách hàng chuyển nhượng quyền sở hữu những thương phiếu chưa đến hạn thanh toán cho ngân hàng để nhận về một khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi lợi
Trang 12tức và phí hoa hồng.[ TS Tô Ngọc Hưng, Giáo trình Nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng, Nhà xuất bản thống kê].
Số tiền ngân hàng trả cho khách hàng được tính như sau:
T =M – [M*i*t + H1 +H2 ]
Trong đó: M: Mệnh giá của thương phiếu
I : Lãi suất chiết khấu
T: Thời hạn chiết khấu
H1: Hoa hồng phí phụ thuộc theo thời gian
H2: Hoa hồng cố định
Ngân hàng đưa ra một số điều kiện đối với thương phiếu như còn thời hạnthanh toán theo qui định của ngân hàng Nhà nước, hợp lệ về mặt hình thức và nộidung, khách hàng phải chuyển nhượng quyền sở hữu cho ngân hàng dưới hình thức
kí hậu
Nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu có nhiều ưu điểm:
- Nghiệp vụ chiết khấu ít rủi ro, khả năng thu hồi nợ khá chắc chắn vì đã cóthương phiếu đảm bảo
- Là hình thức tín dụng khá đơn giản, ít phiền phức đối với ngân hàng
- Chiết khấu không làm đóng băng vốn của ngân hàng vì thời hạn chiết khấuthường ngắn, dưới 90 ngày và ngân hàng có thể dễ dàng xin tái chiết khấu thươngphiếu ở ngân hàng Trung ương
- Tiền của khách hàng khi chiết khấu thường được chuyển vào tài khoản tiềngửi của khách hàng bởi vậy nó tạo ra nguồn vốn cho ngân hàng
1.1.3.2 Hoạt động cho vay
Theo Rose P.S, Quản trị ngân hàng thương mại, NXB tài chính, “cho vay là
chức năng kinh tế hàng đầu của các ngân hàng, để tài trợ cho chi tiêu của các doanhnghiệp, cá nhân và cơ quan chính phủ” Ngân hàng cung cấp nhiều hình thức chovay đa dạng, phù hợp với mọi đối tượng khách hàng
- Cho vay thấu chi Theo qui chế cho vay 1627 do NHNN Việt Nam ban hành,cho vay theo hạn mức thấu chi là “việc cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa thuận
Trang 13bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanhtoán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhànước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanhtoán.”
Khi khách hàng có tiền nhập về tài khoản, ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi
Số tiền lãi mà khách hàng phải trả =lãi suất thấu chi*thời gian thấu chi*số tiềnĐây là hình thức vay tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng, chủ động và kịpthời, đồng thời có thủ tục đơn giản, linh hoạt không gây phiền hà nhiều cho kháchhàng
Tuy nhiên, hình thức vay này không có đảm bảo và ngân hàng không kiểmsoát được mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng, vì vậy hình thức này chỉ được
áp dụng cho những khách hàng quen thuộc và có uy tín
- Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay tương đối phổ biến đối vớicác khách hàng không có nhu cầu vay vốn thường xuyên
Mỗi lần vay, khách hàng và ngân hàng phải làm những thủ tục vay vốn cầnthiết và ký kết hợp đồng tín dụng Nghiệp vụ này tương đối đơn giản và ngân hàng
có thể dễ dàng kiểm soát mục đích sử dụng vốn vay và hạn chế rủi ro do khách hàngphải làm đơn và trình phương án vay
- Cho vay theo hạn mức: Với hình thức này, tổ chức tín dụng và khách hàngxác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời giannhất định Hạn mức tín dụng có thể được tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ và là số dư tối
đa tại thời điểm tính
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn củakhách hàng Đây là hình thức cho vay thuận tiện với những khách hàng có quan hệvay mượn thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuấtkinh doanh và tốc độ lưu chuyển vốn tín dụng nhanh
- Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hànghóa, ngân hàng cho vay khi doanh nghiệp thiếu vốn khi mua hàng và sẽ thu nợ khidoanh nghiệp bán hàng Ngân hàng sẽ yêu cầu doanh nghiệp cam kết sử dụng mọi
Trang 14khoản thu bán hàng để trả nợ trước khi thanh toán cho nhà cung cấp và các khoảnphải thu cùng hàng hóa trong kho đều trở thành tài sản đảm bảo cho khoản vay.
- Cho vay trả góp: Là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép kháchhàng trả nợ gốc làm nhiều lần trong thời hạn thỏa thuận Hình thức này nhằm tài trợkhuyến khích tiêu thụ hàng hóa và áp dụng tài trợ cho tài sản cố định và các hànghóa lâu bền
- Cho vay gián tiếp: Là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian.Ngân hàng cho vay thông qua các nhóm sản xuất, hợp tác xã,… Các tổ chức trunggian này đứng ra tín chấp cho các thành viên vay vốn hoặc bảo lãnh cho các thànhviên, điều này tạo thuận tiện cho những người vay khi họ không có hoặc không đủtài sản thế chấp
1.1.3.3 Hoạt động cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính thường là hình thức tín dụng trung và dài hạn, trong đóngân hàng mua tài sản và cho khách hàng thuê với thời hạn nhất định, sao cho ngânhàng phải thu được gần đủ giá trị của tài sản cho thuê cộng thêm một khoản lãi.Theo phương thức này, người thuê được sử dụng tài sản mà mình cần trên cơ sở đithuê, giúp công ty giảm bớt được chi phí mua mà thay vào đó là chi tiền thuê tài sảnhàng kỳ cho ngân hàng
Cho thuê tài chính có những điểm giống và điểm khác với cho vay truyềnthống Trước hết, ngân hàng xuất tiền với kỳ vọng thu về cả gốc và lãi sau một thờihạn nhất định, cũng như phải đối đầu với rủi ro khi khách hàng kinh doanh khônghiệu quả, không trả tiền thuê đầy đủ và đúng hạn Tuy nhiên, với hình thức này, tàisản cho thuê vẫn thuộc sở hữu của ngân hàng, do đó ngân hàng có quyền thu hồinếu việc sử dụng không đúng mục đích Cho thuê tài chính cũng không có tài sảnđảm bảo, đồng thời có những tài sản cho thuê đặc thù đòi hỏi chi phí cao nên rủi rođối với ngân hàng là khá cao
1.1.3.4 Hoạt động bảo lãnh
Theo PGS.TS Phan Thị Thu Hà, Giáo trình Ngân hàng thương mại, NXB Đại
học KTQD, “bảo lãnh của ngân hàng là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư
Trang 15bảo lãnh về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàngkhi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết.”
Bảo lãnh là hình thức tài trợ thông qua uy tín, trong đó ngân hàng chỉ phải xuấttiền khi khách hàng không thực hiện được cam kết Bảo lãnh được coi như tài sảnngoại bảng và khi ngân hàng đứng ra trả nợ thay cho khách hàng, khoản chi trả nàyđược chuyển vào nội bảng, cấu thành nợ quá hạn Vì vậy, bảo lãnh cũng chứa đựngrủi ro như một khoản vay truyền thống và ngân hàng cần phải phân tích khách hàngnhư khi thực hiện các khoản vay khác
Bảo lãnh được thực hiện dưới nhiều hình thức, nhưng chủ yếu bao gồm:
- Bảo lãnh bảo đảm tham gia dự thầu: ngân hàng cam kết với chủ đầu tư vềviệc trả tiền phạt thay cho bên dự thầu nếu bên dự thầu vi phạm các quy định tronghợp đồng
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: ngân hàng cam kết về việc chi trả tổn thất hộkhách hàng nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ hợp đồng như cam kết
- Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả tiền ứng trước: ngân hàng cam kết của ngân hàng
sẽ trả tiền ứng trước cho bên mua nếu bên cung cấp không hoàn trả
- Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vốn vay: ngân hàng cam kết với người cho vay vềviệc hoàn trả gốc và lãi thay nếu khách hàng của ngân hàng không trả được
- Bảo lãnh bảo đảm thanh toán: ngân hàng cam kết với việc sẽ thanh toán tiềntheo hợp đồng thanh toán cho người thụ hường nếu khách hàng của ngân hàngkhông thanh toán đủ
1.2 Rủi ro tín dụng (RRTD) của NHTM
1.2.1 Các loại rủi ro trong hoạt động của NHTM
Rủi ro của ngân hàng có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhausong đều có bản chất chung, đó là khả năng gây ra tổn thất cho ngân hàng Về cơbản, hoạt động ngân hàng thương mại thường phải đối mặt với những rủi ro sau:
- Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến gắn với những thayđổi của lãi suất và nhiều nhân tố khác như cấu trúc và kì hạn của tài sản và nguồn,
Trang 16quy mô và kì hạn các hợp đồng kì hạn [PGS.TS Phan Thị Thu Hà, Giáo trình NHTM, NXB Đại học KTQD]
Rủi ro lãi suất xảy ra chủ yếu do 3 nguyên nhân: sự không phù hợp về kỳ hạncủa nguồn và tài sản, sự thay đổi của lãi suất thị trường khác với dự kiến của ngânhàng và nguyên nhân ngân hàng sử dụng lãi suất cố định trong các hợp đồng
- Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là rủi ro thường gặp nhất trong hoạt động của ngân hàngthương mại, là rủi ro gắn liền với hoạt động quan trọng nhất có quy mô lớn nhất củaNHTM Rủi ro tín dụng phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện nghĩa vụ tàichính hoặc nghĩa vụ hợp đồng với ngân hàng, bao gồm cả việc không thanh toán nợgốc và nợ lãi khi khoản nợ đến hạn [Theo Wikipedia]
Rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi trong hoạt động của NHTM và đượccoi như là bạn đường trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Các ngân hàng chỉ cóthể kiểm soát đề phòng, hạn chế làm giảm thiệt hại do nó gây ra chứ không thể hoàntoàn tránh khỏi RRTD
- Rủi ro ngoại hối
Rủi ro ngoại hối là khả năng xảy ra những tổn thất ngoài dự kiến cho ngânhàng khi tỷ giá hối đoái thay đổi vượt quá thay đổi dự tính Trong cơ chế thị trường,
tỷ giá thường xuyên dao động Sự thay đổi này cùng với trạng thái hối đoái củangân hàng tạo ra thu nhập thặng dư hoặc thu nhập tạm thời Tuy nhiên, có nhữngthay đổi tỷ giá ngoài dự kiến dẫn đến tổn thất cho ngân hàng
- Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản là khả năng xảy ra tổn thất ngoại dự kiến cho ngân hàngkhi nhu cầu thanh khoản thực tế vượt quá khả năng thanh khoản dự kiến làm giatăng các chi phí để đáp ứng nhu cầu thanh khoản hoặc có thể làm cho ngân hàngmất khả năng thanh toán
- Rủi ro khác
Trang 17Các loại rủi ro khác có thể bao gồm rủi ro về mặt pháp lý, rủi ro biến độngmôi trường kinh doanh, khả năng xảy ra cướp ngân hàng, nhầm lẫn trong chứng từ,hỏa hoạn, lỗi công nghệ,…
1.2.2 Rủi ro tín dụng của NHTM
1.2.2.1 Khái niệm RRTD
Rủi ro tín dụng, theo khái niệm cơ bản nhất, là khả năng khách hàng nhậnkhoản vốn vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với NH,gây tổn thất cho NH, đó là khả năng khách hàng không trả, không trả đầy đủ, đúnghạn cả nợ gốc và nợ lãi cho NH [PGS.TS Phan Thị Thu Hà ,
thongtinphapluatdansu.wordpress.com ] Theo Quyết định 493/2005/ QĐ-NHNN
ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN thì rủi ro tín dụng trong hoạt động ngânhàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàngcủa tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thựchiện nghĩa vụ của mình theo cam kết
Nhìn chung, hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động chủ yếu củaNHTM nên rủi ro tín dụng là loại rủi ro chiếm tỷ lệ lớn, thường xuyên xảy ra và gâyhậu quả nặng nề nhất đối với hoạt động của ngân hàng Rủi ro tín dụng là rủi rophức tạp nhất, quản lý và phòng ngừa khó khăn nhất, nó đòi hỏi nhân hàng phải cónhững giải pháp đồng bộ, hữu hiệu mới có thể hạn chế, ngăn ngừa bớt rủi ro, giảmtối thiểu những thiệt hại có thể xảy ra
1.2.2.2 Ảnh hưởng của RRTD
Khi rủi ro xảy ra, ngân hàng sẽ phải gánh chịu một khoản tổn thất trong lợinhuận đạt được, thậm chí có thể dẫn đến phá sản ngân hàng Không dừng lại đó, tácđộng dây chuyền trong hệ thống ngân hàng có thể dẫn đến những ảnh hưởng xấuđối với hệ thống ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế
Ảnh hưởng của RRTD tới hoạt động của ngân hàng
- Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng
Nền tảng của hoạt động ngân hàng là dùng nguồn vốn huy động được từ các tổchức, dân cư trong nền kinh tế để tài trợ cho các hoạt động của mình, trong đó cấp
Trang 18tín dụng là một hoạt động chủ yếu Do đó, khi rủi ro xảy ra trong hoạt động tín dụngcủa ngân hàng, nó ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn vốn của ngân hàng Lúc này, ngânhàng sẽ phải bủ tiền ra để trả cho các khoản huy động đã đến hạn, cũng như thu hẹpmột số hoạt động khác do khó khăn về nguồn vốn Đến một giới hạn nào đó, khingân hàng không còn đủ khả năng bù đắp cho những thiếu hụt đó thì ngân hàng sẽ
đổ vỡ và phá sản Như vậy, rủi ro tín dụng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động củangân hàng, làm giảm tính thanh khoản của ngân hàng
- Rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận của ngân hàng
Tín dụng là một hoạt động đóng góp phần lớn vào lợi nhuận của ngân hàng.Khi rủi ro tín dụng xảy ra tức là ngân hàng đã không thể thu được lãi của các khoảnvay để làm tăng thu nhập cho ngân hàng Hơn nữa, khi phát sinh các khoản nợ quáhạn, ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro từ lợi nhuận sau thuế, phải tốn thờigian và chi phí cho việc thu hồi nợ Do đó, rủi ro tín dụng ảnh hưởng trực tiếp đếndoanh thu, lợi nhuận của ngân hàng
- Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín của ngân hàng
Là một trung gian tài chính, một trong những chức năng tài chính cơ bản củangân hàng là huy động vốn trong dân cư và các tổ chức kinh tế để chuyển đếnnhững đối tượng có nhu cầu sử dụng, góp phần lưu thông vốn trong nền kinh tế.Một ngân hàng muốn huy động được nhiều vốn trong nền kinh tế thì cần tạo được
sự tín nhiệm của khách hàng Ngân hàng với nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng cao sẽđặt ra câu hỏi về năng lực và hiệu quả hoạt động của ngân hàng, cũng như sự antoàn của đồng vốn huy động Khi đó, các cá nhân, tổ chức sẽ không còn muốn gửitiền của mình ở ngân hàng đó nữa do lo ngại cho sự an toàn của đồng vốn của mình,điều này sẽ kéo theo nhiều rủi ro không mong muốn khác cho ngân hàng
- Rủi ro tín dụng có thể dẫn đến phá sản ngân hàng
Khi rủi ro tín dụng ở mức độ nhẹ sẽ làm giảm lợi nhuận của ngân hàng,nghiêm trọng hơn, RRTD ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và khi vấn đề khôngđược giải quyết nhanh chóng, ngân hàng có thể đi đến phá sản Khi RRTD xảy raliên tiếp khiến ngân hàng không kiểm soát được, các khoản tiền bù đắp sẽ làm giảm
Trang 19tính thanh khoản của ngân hàng, làm giảm dần vốn sở hữu Trong khi đó, uy tín củangân hàng giảm sút có thể dẫn tới tình trạng rút tiền ồ ạt, gây ra rủi ro thanh khoảncho ngân hàng Một ngân hàng mất tính thanh khoản sẽ phải đối mặt với nguy cơphá sản rất lớn, và kéo theo đó là đe dọa sự ổn định của hệ thống ngân hàng nóiriêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung.
RRTD ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế
Ngân hàng là một định chế tài chính quan trọng trong nền kinh tế, đóng gópmột phần lớn trong GDP của đất nước Mặt khác, Chính phủ và NHNN thông qua
hệ thống NHTM để thực hiện các chính sách tiền tệ nhằm ổn định thị trường tiền tệ,
ổn định nền kinh tế đất nước Do vậy một sự sụp đổ trong hệ thống ngân hàng sẽkéo theo những hệ quả xấu đối với các ngành khác và toàn nền kinh tế
Khi một ngân hàng gặp khó khăn, nó có thể ảnh hưởng đến nền kinh tế, gâynên các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Hoạt động tín dụng của ngân hàng dựatrên cơ sở huy động các nguồn tiền nhàn rỗi của dân cư và của nền kinh tế và sau đódùng nguồn tiền này để cho vay với lãi suất cao hơn lãi suất huy động vốn nhằm thulợi nhuận Rủi ro tín dụng xảy ra sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán củangân hàng, khi đó làm người gửi tiền mất lòng tin và họ sẽ đồng loạt rút tiền gửi Vìvậy ngân hàng sẽ lâm vào tình trạng khó khăn, gây mất ổn định trong toàn hệ thốngngân hàng và hệ thống tài chính của quốc gia đó Nếu một ngân hàng sụp đổ thì khi
đó thiếu đi một phần vốn cung cấp cho các doanh nghiệp, cá nhân vay, vì vậy mộtphần làm nền kinh tế chậm lại Rủi ro tín dụng xảy ra làm cho ngân hàng chậm hoặckhông có khả năng thu hồi vốn để tiếp tục cho vay Do đó, RRTD làm giảm khảnăng quay vòng vốn của nền kinh tế, giảm khả năng cung cấp vốn và tốc độ lưuchuyển vốn trong nền kinh tế
RRTD ảnh hưởng tới khách hàng
Rủi ro xảy ra sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới khách hàng, khi mà họ phải đối mặtvới nguy cơ mất vốn, mất nguồn tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh hay mấtquyền sử dụng những dịch vụ tiện ích mà ngân hàng cung cấp Khách hàng củangân hàng là những đối tượng hết sức đa dạng trong nền kinh tế, từ hộ gia đình,
Trang 20người hưu trí, tổ chức xã hội hay các tổ chức kinh tế Cho dù là đối tượng kháchhàng nào và bất kể loại hình sản phẩm, dịch vụ nào của ngân hàng mà họ đang sửdụng, RRTD xảy đến cho ngân hàng cũng có những ảnh hưởng nhất định đến cácđối tượng khách hàng này.
1.2.2.3 Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng.
Nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng
- Chính sách và quy trình tín dụng của ngân hàng còn hạn chế, thiếu chặt chẽ.Hiện nay hệ thống ngân hàng thương mại chưa đưa ra một chính sách và quytrình tín dụng chung áp dụng cho toàn hệ thống, do đó dẫn đến chưa có quy trìnhquản trị rủi ro tín dụng theo qui chuẩn và hữu hiệu Các ngân hàng chưa trú trọngđến khâu phân tích khách hang ban đầu, dẫn đến công tác xếp loại để tính toán điềukiện và khả năng trả nợ của khách hàng không thật sự chính xác Bên cạnh đó, việcngân hàng cho vay dựa trên cảm tính và các mối quan hệ trong trường hợp một sốmón vay nhỏ cũng là nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
- Thông tin về khách hàng, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và nềnkinh tế không đáng tin cậy, kịp thời và chính xác
Thông tin là một yếu tố quyết định thành bại trong hoạt động kinh doanh ngânhàng Ngân hàng có hệ thống thông tin không hiệu quả sẽ không thể nắm bắt kịpthời trạng thái kinh doanh, khả năng tài chính của khách hàng, hay những diễn biếntrong nền kinh tế có thể ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh của khách hàng Nhưvậy, thiếu thông tin khiến ngân hàng khó có thể xác định một cách chính xác nhữngkhách hàng có khả năng tài chính tốt và phương án kinh doanh kinh doanh hiệu quả
để cho vay, dẫn đến rủi ro tăng cao khi mà ngân hàng chọn lựa những đối tượng chovay không đáng tin cậy để thiết lập quan hệ
Hiện nay hệ thống thông tin của từng ngân hàng hay cả hệ thống đều chưa pháttriển Thông tin của ngân hàng chủ yếu đến từ hệ thống thong tin tín dụng của ngânhàng Nhà nước và từ phía khách hàng Những thông tin này không đủ để trợ giúp
bộ phận tín dụng đưa ra những quyết định đúng đắn kho quyết định cho vay, dẫnđến rủi ro tín dụng xảy ra
Trang 21- Các hình thức cấp tín dụng chưa đa dạng, thời hạn tín dụng không thích hợp,tình trạng đáo nợ và giãn nợ không đúng mục đích chưa được kiểm soát chặt chẽ.Các ngân hàng có thể có truyền thống và có lợi thế trong một số loại hình chovay nhất định hay một số nhóm khách hàng nhất định và tập trung phát triển nhữngloại hình cho vay này mà không mở rộng hoạt động cho vay khác Điều này sẽ tăngnguy cơ của rủi ro tín dụng khi mà nền kinh tế biến động, ảnh hưởng đến một nhómkhách hàng truyền thống của ngân hàng
Tình trạng đáo nợ và giãn nợ không được kiểm soát sát sao có nguy cơ dẫnđến rủi ro tín dụng rất cao Những khách hàng phải tiến hành đảo nợ hay giãn nợthường đã có những vấn đề về tài chính hay hoạt động kinh doanh, nếu những vấn
đề đó không được sớm giải quyết thì ngân hàng sẽ phải chịu thiệt hại khi kháchhàng mất khả năng thanh toán hay trả nợ
- Năng lực, phẩm chất của cán bộ tín dụng là một nguyên nhân trực tiếp dẫnđến rủi ro tín dụng
Chất lượng cán bộ tín dụng yếu kém không đủ trình độ đánh giá khách hànghoặc đánh giá sai khách hàng, thậm chí cố tính làm sai là một trong những nguyênnhân của rủi ro tín dụng Cán bộ tín dụng cần có trình độ chuyên môn cao, đồngthời có hiểu biết rộng về các ngành nghề kinh tế cũng như theo kịp diễn biến của thịtrường mới có thể đưa ra những quyết định cho vay chính xác Bên cạnh đó, hiệntượng cán bộ tín dụng cố tình làm sai quy chế, hoặc móc ngoặc với những kháchhàng không đủ tiêu chuẩn cũng làm tăng nguy cơ xảy ra rủi ro tín dụng
Nguyên nhân khách quan
- Từ phía khách hàng
Có rất nhiều nguyên nhân khiến khách hàng không trả nợ cho ngân hàng đầy
đủ và đúng hạn, cố tình hoặc vô tình Có những khách hàng không trả nợ đúng hạn
do trình độ kinh doanh yếu kém, kinh doanh không hiệu quả hoặc do diễn biến bấtlợi trong nền kinh tế Có những khách hàng ngay từ đầu đã có ý lừa gạt,chiếm dụngvốn của ngân hàng hay sử dụng sai mục đích Có những khách hàng chây ỳ không
Trang 22chịu trả nợ khi đến hạn Tất cả những nguyên nhân trên đều trực tiếp dẫn đến rủi rotín dụng cho ngân hàng.
- Môi trường kinh tế trong nước và thế giới
Các yếu tố kinh tế như chu kỳ kinh tế, lãi suất thị trường, tỷ giá, tỷ lệ thấtnghiệp, lam phát,… có ảnh hưởng gián tiếp đến rủi ro tín dụng Trong điều kiện môitrường kinh doanh không thuận lợi như thời kỳ khủng hoảng, lãi suất tăng cao, tỷgiá biến động thất thường hay thời kỳ suy thoái, thất nghiệp tăng cao, người tiêudung cắt giảm chi tiêu, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp không đượcthuận lợi, do đó khả năng trả nợ bị suy giảm Những tác động của môi trường kinh
tế có thể ảnh hưởng tới toàn bộ các khách hàng hoặc từng nhóm khách hàng khácnhau
- Môi trường xã hội
Phong tục tập quán, thói quen tiêu dung, trình độ văn hóa của khách hàng vayvốn và của người tiêu dùng cũng là một nguyên nhân gây nên rủi ro tín dụng chongân hàng Tính khả thi của phương án vay mà khách hàng đề xuất chịu ảnh hưởnglớn của phong tục tập quán cũng như thói quen tiêu dùng mà phương án kinh doanhhướng tới Các yếu tố này có thể thay đổi thất thường, làm sai lệch các tính toán củadoanh nghiệp và ngân hàng, làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh và khả năngthu hồi vốn của khách hàng cũng như ngân hàng
- Môi trường pháp lí, chính trị
Trong nền kinh tế mà tình hình chính trị không ổn định, nhà nước can thiệpquá sâu vào hoạt động của nền kinh tế sẽ gây ra những biến động không đúng theoquy luật kinh tế và những hậu quả không thể lường trước được Những tổn thất mànền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng phải gánh chịu sẽ mang lại rủi
ro cho hoạt động tín dụng của ngân hàng Một nền kinh tế mở với những quy địnhthông thoáng sẽ tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng vàcác doanh nghiệp trong nền kinh tế nói chung
Trang 231.2.2.4 Các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng
Tuy rủi ro tín dụng là khách quan song ngân hàng phải quản lý rủi ro tín dụngnhằm hạn chế đến mức thấp nhất các tổn thất có thể xảy ra Từ những nguyên nhânnảy sinh rủi ro tín dụng, ngân hàng có thể cụ thể hóa thành một số chỉ tiêu để phảnánh và nhận biết rủi ro tín dụng được sớm hơn
- Đánh giá RRTD thông qua việc phân loại các nhóm nợ
Theo điều 6, quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ban hành về quy định phân loại
nợ, trích lập và sử dụng dự phòng tín dụng, và khoản 3, điều 1 quyết định số18/2007/QĐ-NHNN sửa đổi bổ sung, các khoản nợ của tổ chức tín dụng phải đượcphân loại theo 5 nhóm như sau:
a) Nhóm 1( Nợ đủ tiêu chuẩn): bao gồm những khoản nợ trong hạn được đánhgiá là có khả năng thu hồi cả gốc và lãi đúng hạn; các khoản nợ quá hạn dưới 10ngày và các khoản nợ khác theo quy định
b) Nhóm 2 ( Nợ cần chú ý) : bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90ngày; các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu được đánh giá là có khả năngthu hồi cả gốc và lãi; và các khoản nợ khác được phân vào nhóm 2 theo quy định.c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn): bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 91 đến 180ngày; các khoản nợ cơ cấu lại theo thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điềuchỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định; và các khoản nợkhác được phân vào nhóm 3 theo quy định
d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ): bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360ngày; các khoản nợ cơ cấu lại theo thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngàytheo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạntrả nợ lần thứ 2 và các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định
e) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn): bao gồm các khoản nợ quá hạn trên 360ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn trên 90 ngày theo thờihạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 2quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ 2, các khoản nợ cơ cấu lại thời
Trang 24hạn trả nợ lần thứ 3 trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; các khoản nợkhoanh, nợ chờ xử lí; và các khoản nợ được phân vào nhóm 5 theo quy định.
Như vậy, quyết định 18 được ban hành đã bổ sung, sửa đổi làm rõ hơn các quyđịnh phân loại nợ của quyết định 493 Theo đó, nợ quá hạn dưới 90 ngày được phânchia vào cả nhóm 1 và nhóm 2, nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ có thể được phân vào
cả nhóm 2 và nhóm 3 thay vì chỉ xếp vào nhóm 2 như quyết định 493 Tương tự, nợđược cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày, nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợquá hạn trên 90 ngày được xếp vào nhóm nợ cao hơn so với quyết định 493 Nhưvậy quyết định 18 đã thắt chặt quy định về việc phân loại các nhóm nợ, đặc biệt đốivới nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ Quyết định 18 cũng hướng dẫn chi tiết hơn việcxếp hạng nợ đối với các khoản nợ cơ cấu lại lần thứ 2 và thứ 3
- Chỉ tiêu nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn
Theo khoản 5, điều 2 quyết định 493 của ngân hàng Nhà nước ban hành: nợ quá hạn là các khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn
so với thời hạn trên hợp đồng tín dụng Khi một khoản nợ không trả được vào kỳhạn, toàn bộ nợ gốc còn lại của hợp đồng tín dụng
Tỷ lệ nợ quá hạn= Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ *100%
Chỉ tiêu này thường được sử dụng để đánh giá chất lượng tín dụng của ngânhàng Thông thường, khi tỷ lệ nợ quá hạn ở mức dưới 5% thì hoạt động kinh doanhcủa ngân hàng được coi là bình thường Tỷ lệ này lên tới trên 5% đồng nghĩa với
dự đoán hoạt động kinh doanh của ngân hàng đang yếu kém, thu nhập bị ảnh hưởng
và có khả năng gặp rủi ro tín dụng cao
- Chỉ tiêu nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi
Nợ xấu, hay còn gọi là nợ khó đòi, là các khoản nợ thuộc nhóm 3,4,5 theo quyđịnh tại quyết định 493 và quyết định sửa đổi bổ sung số 18 Nhìn chung, nợ khóđòi là các khoản nợ quá hạn kèm theo một số tiêu chí khác như nợ quá hạn theo thờihạn đã cơ cấu lại, không có tài sản đảm bảo, tài sản không bán được,…
Tỷ lệ nợ khó đòi= Nợ khó đòi/Tổng dư nợ *100%
Trang 25Nợ khó đòi và tỷ lệ nợ khó đòi là một lời cảnh báo cho ngân hàng rằng hyvọng thu lại tiền của ngân hàng đã trở nên mong manh Khi xảy ra tình trạng nợ khóđòi cao thì ngoải khả năng mất vốn, thiệt hại trước mắt là ngân hàng đã bị giảm thunhập Tỷ lệ nợ khó đòi càng lớn thì khả năng xảy ra rủi ro của ngân hàng càng cao
- Dự phòng rủi ro
Theo khoản 2, điều 2 quyết định 493 qui định: “Dự phòng rủi ro là khoản tiềnđược trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của tổchức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết Dự phòng rủi ro được tínhtheo dư nợ gốc và được hạch toán vào chi phí tín dụng của tổ chức tín dụng.”Lượng trích dự phòng phản ánh chi phí vốn mà ngân hàng phải bỏ ra vì lượng trích
dự phòng này ngân hàng phải dự trữ mà không được sử dụng để quay vòng vốn.Lượng trích dự phòng cao đồng nghĩa với chi phí vốn ngân hàng bỏ ra càng lớn, đây
là điều mà ngân hàng không mong muốn
Dự phòng rủi ro bao gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung
Theo mục 4, khoản 3, điều 1, quyết định 18, tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thểđối với 5 nhóm nợ được quy định như sau: Trích lập 0% cho nợ nhóm 1, trích lập5% cho nợ nhóm 2, trích lập 20% cho nợ nhóm 3, trích lập 50% cho nợ nhóm 4 vàtrích lập 10% cho nợ nhóm 5 Cũng theo khoản 4 điều 1 quyết định 18, số tiền dựphòng cụ thể đối với từng khoản nợ được tính theo công thức:
R= max {0.(A-C)} * r
Trong đó: R là số tiền dự phòng cụ thể phải trích
A là số dư nợ gốc của khoản nợ
C là giá trị khấu trừ của tài sản đảm bảo
r là tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể
Ngoài ra, theo điều 9, mục 2 quyết định 493, tổ chức tín dụng thực hiện trích lập và duy trì dự phòng chung bằng 0.75% tổng giá trị của các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 theo quy định.
Tỷ lệ trích dự phòng= Trị giá dự phòng/Tổng dư nợ * 100%
- Lãi treo và tỷ lệ lãi treo
Trang 26Lãi treo là các khoản lãi mà khách hàng khi đến hạn trả lãi mà không trả đượchoặc không trả đủ Lãi treo làm giảm thu nhập và lợi nhuận của ngân hàng.
Tỷ lệ lãi treo= Lãi treo phát sinh/ Tổng thu nhập *100%
Tỷ lệ này càng lớn thì càng thể hiện ngân hàng bị giảm thu nhập nhiều, bởivậy, giống như các chỉ tiêu đã đề cập phía trên, tỷ lệ này đối với ngân hàng càngthấp càng tốt
- Các chỉ tiêu khác
Bên cạnh các chỉ tiêu định tính như trên, còn có nhiều chỉ tiêu khác, cả chỉ tiêuđịnh tính và định lượng có thể được sử dụng để đánh giá rủi ro tín dụng của mộtngân hàng Đó là những chỉ tiêu như hiệu suất sử dụng vốn, tính đa dạng hóa của tàisản, tài sản đảm bảo, tình hình tài chính của các phương án vay, mô hình xếp hạngtín dụng khách hàng, quan hệ tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng, môi trườngkinh tế, tài chính nói chung và diễn biến từng môi trường kinh doanh,…
1.3 Một số nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
1.3.1 Các nhân tố chủ quan
1.3.1.1 Chính sách tín dụng và quy trình cấp tín dụng
Hoạt động tín dụng liên quan tới nhiều bộ phận trọng ngân hàng, đòi hỏi phải
có sự kết hợp và chỉ đạo chung thông qua các chính sách, qui tắc và sự kiểm soátchung Một chính sách tín dụng tốt phải thể hiện được chiến lược cho vay của ngânhàng trong một giai đoạn cụ thể, là cơ sở hình thành nên thủ tục cho vay Chínhsách tín dụng cần vạch ra phương hướng hoạt động và một khung tham chiếu rõràng, làm căn cứ để xem xét nhu cầu vay vốn của khách hàng Mặt khác, chính sáchtín dụng cũng không nên quy định quá chặt chẽ sẽ bóp nghẹt tính sang tạo của cán
bộ tín dụng Do vậy, việc đề ra một chính sách tín dụng phù hợp là hết sức cần thiết,
và đó là nền tảng cho hoạt động tín dụng của ngân hàng
Qui trình cấp tín dụng là do Ban giám đốc ngân hàng quyết định, được xâydựng một cách chi tiết và quán triệt xuống từng chi nhánh ngân hàng, từng cán bộngân hàng Qui trình phân tích tín dụng cần thể hiện những nội dung mà cán bộ tín
Trang 27dụng phải thực hiện khi cho vay nhằm hạn chế rui ro như phân tích tình hình sảnxuất kinh doanh, thẩm định dự án, thẩm định tài sản đảm bảo, lịch sử của người đivay, mục đích vay, kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng vốn vay,…Áp dụng một quytrình tín dụng chặt chẽ và được tuân thủ nghiêm ngặt sẽ giúp ngân hàng ra các quyếtđịnh cấp tín dụng đúng đắn, tiết kiệm thời gian chi phí, và đảm bảo an toàn vốntrong kinh doanh của ngân hàng, giảm thiểu những rủi ro không mong muốn.
1.3.1.2 Công tác quản lí trong nội bộ ngân hàng
Các bộ phận trong hoạt động tín dụng hoạt động khá độc lập và thực hiện cácchức năng khác nhau: chức năng kinh doanh, chức năng quản lý rủi ro và chức năngtác nghiệp Nhưng điều đó không có nghĩa là các chức năng đó được thực hiện riêng
rẽ, mà trên thực tế các chức năng đó có quan hệ mật thiết với nhau, có tác động qualại lẫn nhau Nếu sự phối hợp giữa các chức năng này càng chặt chẽ thì càng tạođiều kiện thuận lợi cho cán bộ quản lý rủi ro trong việc thu thập và xử lý thông tinmột cách đầy đủ và kịp thời nhất Từ đó họ sẽ đưa ra được những quyết định xử lýchính xác, góp phần hạn chế rủi ro tín dụng Do đó, công tác quản lí từ phía banlãnh đạo là hết sức quan trọng để đạt được sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả trong nội
bộ ngân hàng nhằm thực hiện các nghiệp vụ nhanh chóng và an toàn
Công tác quản lí trong bộ phận tín dụng cần linh hoạt, thích ứng theo từng thời
kì và có hình thức quản lí khoản tín dụng chặt chẽ sẽ giúp ngân hàng có thể hạn chếđược rủi ro tín dụng Bên cạnh đó, đa dạng hóa các loại hình tín dụng và mộ nhân tốgiúp ngân hàng phân tán rủi ro Ngân hàng không nên tập trung cấp tín dụng chomột đối tượng khách hàng, một ngành nghề, một thị trường mà nên cố gắng đa dạnghóa, cung cấp nhiều hình thức tín dụng phù hợp với nhiều đối tượng khách hàngtrên cơ sở một số nhóm khách hàng và một số thị trường mục tiêu Việc tập trungcác khoản nợ vào một nhóm khách hàng hay một thị trường sẽ dẫn đến nguy cơ caocho ngân hàng khi có những biến động trong thị trường ngành nghề đó
1.3.1.3 Chất lượng đội ngũ cán bộ tín dụng
Đây là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến khả năng quản lý rủi ro nóichung và rủi ro tín dụng nói riêng của NHTM Liên quan đến yếu tố con người có
Trang 28hai nhân tố chính tác động đến khả năng quản lý tín dụng của ngân hàng là trình độ
và tư cách đạo đức.Dù cho nguồn thông tin thu thập được có chính xác và đầy đủđến đâu, công nghệ ngân hàng hiện đại như thế nào nhưng người sử dụng chúngkhông có trình độ thì rất khó để có thể đưa ra được những quyết định đúng đắn Cán
bộ tín dụng ngoài trình độ chuyên môn nghiệp vụ, còn cần có những hiểu biết rộng
về các ngành nghề trong xã hội và cập nhật những diễn biến trong nền kinh tế Điềunày đòi hỏi cán bộ tín dụng cần có kinh nghiệm dày dạn và sự linh hoạt, nhay bénkhi thực hiện nghiệp vụ Bên cạnh đó, tư cách đạo đức của cán bộ quản lý cũng rấtquan trọng Một người cán bộ trung thực, không tham lam, làm việc vì ngân hàng sẽgóp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng
1.3.1.4 Hệ thống thông tin
Cán bộ tín dụng đưa ra quyết định cho vay chủ yếu dựa trên nguồn thông tinđầu vào họ thu thập được Do vậy, nếu thông tin thu thập được chính xác và đángtin cậy thì giúp cho cán bộ tín dụng đưa ra được quyết định cho vay đúng đắn từ đógiúp hạn chế rủi ro tín dụng, và ngược lại
Nguồn chủ yếu cho cán bộ tín dụng khai thác thường là từ hệ trung tâm thông tinliên ngân hàng, từ báo cáo tài chính, tài liệu do khách hàng cung cấp; ngoài ra họ còn
tự thu thập từ internet, các mối quan hệ bên ngoài…Hệ thống thông tin do ngân hàngNhà nước Việt nam cung cấp hỗ trợ các ngân hàng về tình hình tín dụng của kháchhàng trên toàn hệ thống liên ngân hàng Đây là một kênh thông tin giúp các ngân hàng
có thể kiểm tra đánh giá khách hàng đầy đủ hơn nhằm đưa ra các quyết định cấp tíndụng đúng về hạn mức cho vay và thời hạn tín dụng, cách thu hồi nợ nhằm giảm thiểurủi ro tín dụng cho ngân hàng Kênh thông tin này cũng giúp cho ngân hàng có thôngtin chính xác hơn về các khách hàng lần đầu tiên đến với ngân hàng
1.3.2 Các nhân tố khách quan
1.3.2.1 Môi trường kinh tế, chính trị
Môi trường kinh tế, chính trị ổn định là yếu tố nền tảng cho sự phát triển vàhoạt động làm ăn hiệu quả của các doanh nghiệp trong nền kinh tế nói chung vàngân hàng nói riêng Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, do đó hoạt động
Trang 29của nó phụ thuộc rất nhiều vào nền kinh tế và môi trường tài chính trong và ngoàinước Nền kinh tế đang trên đà đi lên với một thị trường tài chính lành mạnh sẽ trợgiúp các ngân hàn hoạt động hiệu quả, hạn chế được rủi ro khi mà các khách hàngcủa ngân hàng cũng có điều kiện kinh doanh thuận lợi.Một xã hội ngày càng ổnđịnh, dân trí cao, đội ngũ nhân viên với trình độ lành nghề, trình độ quản lý cao vàhiểu biết về khách hàng sẽ giúp hạn chế những rủi ro có thể xảy đến với ngân hàngnói chung và với hoạt động tín dụng nói riêng.
1.3.2.2 Môi trường luật pháp và các chính sách của Nhà nước.
Hệ thống pháp luật và các chính sách quy định chặt chẽ, phù hợp và cơ sở đểcác doanh nghiệp và ngân hàng hoạt động, phát triển theo đúng quy định Đặc biệtngày nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển thì hoạt động của các doanh nghiệpkhông chỉ bó hẹp trong phạm vi trong nước mà còn tham gia kinh doanh với cácđối tác nước ngoài, không chỉ kinh doanh những ngành nghề truyền thống mà ngàycàng phong phú đa dạng để đáp ứng nhu cầu của thị trường.Vì vậy, chính sách vàcác quy định của Nhà nước càng đòi hỏi chặt chẽ và mở rộng hơn nữa, đi sâu vàotừng ngành nghề, từng lĩnh vực, đưa ra những quy định về cách thức hoạt động.Điều này không những giúp các doanh nghiệp có định hướng đúng, tuân thủ phápluật, đảm bảo quyền lợi cho doanh nghiệp khi tham gia kinh doanh mà nó qui địnhtrách nhiệm của doanh nghiệp với chính phủ và các đối tác của mình
1.3.2.3 Trình độ quản lý và phương án vay của khách hàng.
Những khoản tín dụng được cấp cho những khách hàng có khả năng quản lýtốt sẽ đảm bảo cho khả năng thu hồi vốn của ngân hàng, hạn chế rủi ro tín dụng.Những phương án vay tốt với điều kiện khả thi, tính toán các yếu tố hợp lý là mộttrong những điều kiện đầu tiên để khách hàng có thể được vay vốn tại ngân hàng.Tuy nhiên, phương án vay hợp lý không phải là yếu tố đảm bảo chắc chắn chothành công của phương án kinh doanh, để đồng vốn đầu tư của chủ đầu tư và củangân hàng được sử dụng hiệu quả và sinh lời còn cần đến trình độ quản lý củangười thực hiện dự án Đây là yếu tố quan trọng, đóng vai trò quan trọng giúp kháchhàng trả nợ cho ngân hàng Nếu như người đi vay không có khả năng quản lý việc
sử dụng vốn cho đúng mục đích và hiệu quả, khả năng thu hồi vốn của ngân hàng sẽ
Trang 30rất khó khăn khi mà bản thân người vay cũng gặp khó khăn, đặc biệt đối với cáckhách hàng là các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh.
1.3.2.4 Ý thức trách nhiệm của khách hàng.
Yếu tố này có ảnh hưởng đáng kể tới khả năng hạn chế rủi ro tín dụng củangân hàng Ý thức của khách hàng ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của ngân hàngngay từ khâu thẩm định, khi mà khách hàng có thể cố tình khai tăng nhu cầu vốn đểđược vay nhiều hơn, lập báo cáo tài chính giả về khả năng tài chính của mình, khaităng giá trị tài sản đảm bảo,… để chiếm dụng vốn của ngân hàng Trong quá trình
sử dụng vốn vay, ý thức của khách hàng là hết sức quan trọng trong việc quản lí, sửdụng đồng vốn đúng với mục đích và hiệu quả, giúp đảm bảo khả năng thu hồi vốncủa ngân hàng Có những khách hàng cố tính chiếm dụng vốn, khi đến hạn vẫn chây
ỳ không thanh toán nợ gốc hoặc nợ lãi sẽ khiến ngân hàng đối mặt với rủi ro tíndụng Vì vậy, ý thức trách nhiệm của khách hàng là một yếu tố quan trọng giúpngân hàng phòng tránh được rủi ro tín dụng
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
CHI NHÁNH HDB HÀ NỘI
2.1 Tổng quan về chi nhánh HDB Hà Nội
2.1.1 Lịch sử hình thành phát triển và cơ cấu tổ chức của HDB Hà Nội
2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển.
Ngày 04/01/1990 Ngân hàng TMCP Phát Triển Nhà TP Hồ Chí Minh(HDBank) được thành lập Là một trong những ngân hàng TMCP đầu tiên của cảnước với vốn điều lệ ban đầu là 3 tỷ đồng, HDBank có chức năng thực hiện kinhdoanh tổng hợp, đa dạng trong lĩnh vực nhà ở; kinh doanh tiền tệ, tín dụng thôngqua việc đầu tư vốn, cung ứng tín dụng và dịch vụ nhà; tập trung huy động vốn vàquản lý tất cả các nguồn vốn để phục vụ chương trình phát triển nhà ở và chỉnhtrang đô thị; tư vấn cho Ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh về chương trình, kếhoạch phát triển nhà và chỉnh trang đô thị
Trang 31Chi nhánh Hà Hội là đơn vị hạch toán phụ thuộc của ngân hàng TMCP pháttriển nhà tp HCM được thành lập theo quyết định số 1300 QĐ- NHNN ngày27/06/2006 của ngân hàng Nhà nước Việt Nam, có con dấu và có nhiệm vụ thựchiện các hoạt động theo quy định của ngân hàng Chi nhánh Hà Nội được đặt tại số91B Nguyễn Thái Học, phường Điện Biên, quận Ba Đình Hà Nội Chi nhánh HàNội được thành lập nhằm cung cấp các dịch vụ kinh doanh tiền tệ, tín dụng, dịch vụngân hàng và dịch vụ khác, nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển hoạt động kinh doanh
và yêu cầu mở rộng mạng lưới chi nhánh của HD Bank tại các tỉnh, thành phố ngoàiđịa bàn tp HCM, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp các dịch vụcủa HD Bank đến khách hàng
Đến thời điểm 30/12/2007, chi nhánh Hà Nội có 3 chi nhánh trực thuộc baogồm: Phòng giao dịch Đống Đa, phòng GD Hoàn Kiếm, phòng GD Hoàn Kiếm.Qua quá trình mở rộng hoạt động của chi nhánh, trong năm 2008, chi nhánh Hà Nội
mở thêm các phòng giao dịch Hồng Hà, PGD Hai Bà Trưng, PGD Thái Thịnh, PGDTrung Hòa, PGD Hà Đông và PGD Tây Đô
Trong quá trình mở rộng hoạt động của ngân hàng, giữa năm 2008, PGD HoànKiếm và PGD Cầu Giấy được nâng cấp thành chi nhánh độc lập và phân bổ quản lýcác PGD Đến thời điểm hiện tại, chi nhánh Hà Nội quản lý 3 phòng GD trực thuộc
là PGD Đống Đa, PGD Hồng Hà và PGD Hai Bà Trưng
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức
Đến thời điểm hiện nay, chi nhánh HDB Hà Nội chia thành 4 địa điểm kinhdoanh, do Ban giám đốc trực tiếp điều hành và quản lý
Trang 32Các phòng ban có các chức năng cụ thể như sau:
- Ban lãnh đạo
Giám đốc chi nhánh điều hành mọi hoạt động của Ban giám đốc, Giám đốcchi nhánh thục hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của phápluật và ngân hàng cấp trên và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanhcủa chi nhánh
Phó giám đốc là người cố vấn tham mưu trợ giúp Giám đốc trong quá trìnhquản lý điều hành hoạt động kinh doanh, trong phạm vi cho phép được sự ủynhiệm của Giám đốc Phó giám đốc có quyền thay mặt Giám đốc ra quyếtđịnh và chịu trách nhiệm pháp lý trước các quyết định đó
Ngoài ra trong Ban lãnh đạo Chi nhánh có các trưởng phòng,ban, phó phòng,ban do Tổng giám đốc quyết định bổ nhiệm, với quyền hạn do Giám đôc chinhánh Hà Nội quyết định dựa trên qui định của HDB
Phòng kinh doanh dịch vụ
Phòng thanh toán quốc tế
Phòng hành chính
Ban
kiểm tra, kiểm toán nội bộ
Phòng Giao dịch Đống
Đa Phòng Giao dịch Hồng Hà Phòng Giao dịch Hai Bà Trưng
Trang 33 Trực tiếp thực hiện nghiệp vụ tín dụng theo phạm vi phân công đúng phápquy và các quy trình tín dụng: tiếp thị, tìm kiếm khách hàng, dự án, giớithiệu sản phẩm, phân tích thông tin, nhận hồ sơ, xem xét quyết định cho vay,bảo lãnh, hoàn thiện hồ sơ giải ngân và quản lý giải ngân, quản lý kiểm tra
sử dụng các khoản vay, theo dõi thu đủ nợ, thu đủ lãi, đến khi tất toán hợpđồng tín dụng với mỗi khách hàng
Thực hiện chiết khấu cho vay cầm cố chứng từ có giá
Chịu trách nhiệm marketing tín dụng, tư vấn cho khách hàng sử dụng sảnphẩm tín dụng, danh mục về các vấn đề liên quan
Quản lý hồ sơ tín dụng theo quy định tổng hợp phân tích, quản lý thông tin
và lập các báo cáo về công tác tín dụng Thực hiện yêu cầu quản lý tín dụng,rủi ro tín dụng của Chi nhánh theo quy định
Nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng tín dụng, phân loại khách hàng
và đề xuất các chính sách ưu đãi đối với từng loại khách hàng
Chủ trì xây dựng các quy trình nghiệp vụ trong công tác điều hành nguồnvốn, tham gia xây dựng quy trình các hoạt động nghiệp vụ khác
Thức hiện cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn, thực hiện trích quỹ bảo lãnh,quỹ dự phòng rủi ro tín dụng theo quy định của NHNN và HD Bank
- Phòng kế toán- ngân quỹ- tin học
Quản lý kế toán, tổ chức thực hiện tổ chức và chỉ đạo việc hạch toán kế toán,phản ánh chính xác trung thực kịp thời, đầy đủ toàn bộ tài sản, nguồn vốn vàphân tích kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Quản lý tài chính, quản lý các loại vốn, quỹ công nợ
Trang 34 Trực tiếp nhận tiền gửi của tổ chức kinh tế, huy động vốn dân cư, thực hiệnnghiệp vụ tín dụng và một số loại dịch vụ ngân hàng theo sự phân công củaBan giám đốc.
Thực hiện các dịch vụ như dịch vụ chuyển tiền, thanh toán thẻ, thu đổi ngoại
tệ, thu đổi tiền mặt, ngân quỹ
- Phòng thanh toán quốc tế
Thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế tại chi nhánh, riêng việc chuyểntiền ra nước ngoài sẽ được thực hiện tại trụ sở chính của HDB tại thành phốHCM
Dịch thuật các chứng từ, tài liệu có liên quan đến lĩnh vực thanh toán quốc tếcho ngân hàng và khách hàng
- Phòng hành chính
Thực hiện công tác hành chính quản trị
Thực hiện các mặt tổ chức cán bộ, quản lý lao động, chính sách tiền lương,thưởng, bảo hiểm
Tham gia đào tạo cán bộ, huấn luyện, nâng cao tay nghề cho cán bộ côngnhân viên, thực hiện công tác thi đua, khen thưởng, kỳ luật,…
Tham gia thực hiện phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, thực hiên côgn táchành chính, quản trị, bảo vệ, hậu cần, phục vụ các mặt hoạt động của chinhánh
- Ban kiểm tra kiểm soát nội bộ
2.1.2 Khái quát tình hình hoạt động của HDB Hà Nội
2.1.2.1 Hoạt động tín dụng tại HDB Hà Nội
Hoạt động cho vay:
Bảng 2.1.CƠ CẤU DƯ NỢ THEO LOẠI HÌNH TÍN DỤNG
Trang 35Nguồn: Báo cáo tổng hợp tình hình dư nợ chi nhánh HDB Hà Nội
Bảng tổng hợp trên cho thấy những biến động đáng kể trong hoạt động chovay của chi nhánh trong giai đoạn 2006-2007 Sau nửa cuối năm 2006 chi nhánhmới đi vào hoạt động với nhiều trở ngại, đến năm 2007 tổng dư nợ tại chi nhánh đãtăng vọt lên 2,279,964 triệu đồng Như vậy, chi nhánh đã rất nhanh chóng thích ứngvới môi trường địa bàn và xây dựng được mối quan hệ khách hàng trong một thờigian ngắn Thời gian này chi nhánh có thuận lợi từ phía môi trường kinh doanh, donăm 2007 là năm mà các hoạt động tài chính diễn ra mạnh mẽ Tuy nhiên, đến năm
2008, khi mà môi trường kinh doanh xấu đi thì chi nhánh lại không kịp điều chỉnhthích ứng, dẫn đến xu hướng giảm dư nợ đáng kể Dư nợ năm 2008 còn 1,625,156triệu đồng, giảm khoảng 30% so với thời kì 2007
Đặc điểm của hoạt động tín dụng chi nhánh HDB Hà Nội là trong cơ cấu tíndụng của chi nhánh, hoạt động cho vay chiết khấu chứng từ có giá chiếm tỷ trọngrất lớn so với loại hình cho vay truyền thống của ngân hàng Đặc điểm này xuấtphát từ thực tế thời gian hoạt động của chi nhánh là chưa lâu, bắt đầu từ tháng 6năm 2008, hơn nữa chi nhánh Hà Nội là một trong những chi nhánh đầu tiên củaHDB tại Hà Nội Điều này khiến cho chi nhánh bị hạn chế về nhiều mặt, bao gồmquan hệ khách hàng, uy tín, thông tin khách hàng,… Trong những điều kiện khôngthuận lợi đó, chi nhánh đã lựa chọn tập trung phát triển loại hình cho vay chiếtkhấu, vốn là loại hình cho vay khá an toàn để dần dần tạo chỗ đứng trên địa bàn, tạodựng mối quan hệ mà vẫn hạn chế được rủi ro.Tuy nhiên, hướng đi này khiến cho
Trang 36ngân hàng bị hạn chế về khả năng đa dạng hóa sản phẩm cho vay và đối tượngkhách hàng.
Tình hình sử dụng vốn và đóng góp thu nhập của hoạt động tín dụng:
Trong năm 2007, các hoạt động chiếm dụng nguồn vốn chủ yếu tại HDB HàNội là dư nợ chiếm 51.33% tổng tài sản và đầu tư chứng khoán chiếm 25.44%.Trong khi đó, thu thuần từ hoạt động tín dụng là 2,782 triệu, chỉ chiếm khoảng gần10% tổng thu nhập, trong đó thu lãi từ đầu tư chứng khoán là 87,776 triệu Một hoạtđộng đáng chú ý đem lại nguồn thu lớn cho chi nhánh là hoạt động dịch vụ, đặc biệt
là nghiệp vụ chiết khấu Như đã phân tích, hoạt động chiết khấu của ngân hàngchiếm hơn 50% tổng dư nợ, do đó ngoài lãi suất còn đem lại phí hoa hồng đáng kểcho chi nhánh Thu thuần từ hoạt động dịch vụ năm 2007 là 32,060 triệu, chiếm tới90% tổng thu của chi nhánh, trong đó thu từ nghiệp vụ chiết khấu chiếm tới hơn90% tổng thu hoạt động dịch vụ
Tuy nhiên, đến năm 2008, do hoạt động tín dụng thu hẹp và chất lượng tíndụng bị ảnh hưởng bởi môi trường kinh doanh tiêu cực, thu thuần từ hoạt động tíndụng giảm đáng kể Thu và chi cho lãi năm 2008 giảm nhẹ, khoảng 15%, tuy nhiênthu thuần từ hoạt động tín dụng cũng giảm Năm 2008, thu thuần từ hoạt động tíndụng là 2,098 triệu Thu từ tín dụng giảm có một phần nguyên nhân từ việc thu hẹphoạt động tín dụng của chi nhánh, cũng như tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn tăng đáng
kể Ngoài ra, năm 2008 thu từ hoạt động dịch vụ cũng giảm đáng kể Nhìn vào cơcấu nợ năm 2008, ta nhận thấy một thay đổi lớn trong cơ cấu nợ, tỷ trọng cho vaychiết khấu, một hoạt động mang lại nguồn thu phí cho ngân hàng giảm đáng kể
2.1.2.2 Hoạt động huy động vốn tại HDB Hà Nội
Tình hình huy động vốn theo loại hình huy động
Bảng 2.2.TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN TẠI HDB HÀ NỘI GĐ 2006-2008
Trang 37Nguồn: Bảng tổng hợp tình hình huy động vốn HDB Hà Nội
Qua bảng dữ liệu trên ta thấy rằng, tổng vốn huy động của chi nhánh tăng quacác năm 200, tuy nhiên đến năm 2008 thì giảm nhẹ Sau khi thành lập từ tháng 6năm 2006, mặc dù chỉ mới hoạt động được hơn một năm, tổng huy động của chinhánh đã tăng từ 280,886 triệu vào cuối năm 2006 lên 3,946,281triệu đồng vào cuốinăm 2007 Tuy nhiên, trong năm 2008, nguồn vốn huy động giảm đáng kể khoảng20% so với cuối năm 2007
Nguồn vốn huy động tăng chủ yếu là do nguồn tiền gửi tăng cả về quy mô lẫn
tỷ trọng, nguồn tiền gửi luôn ở mức cao từ, từ 95-98% trên tổng nguồn vốn huyđộng Năm 2008 với môi trường kinh tế có nhiều biến động, huy động tiền gửi củachi nhánh Hà Nội giảm khoảng 20% so với cuối năm 2007, chiếm 98% tổng huyđộng vốn, tăng 8.9% so với năm 2007 Trong khi đó, tỷ trọng của nguồn đi vay và
ký quĩ rất nhỏ và ngày càng giảm trong cơ cấu nguồn vốn của chi nhánh
Nguyên nhân suy giảm của tiền gửi nói riêng và nguồn vốn nói chung trongnăm 2008 tại HDB Hà Nội đến cả từ phía môi trường kinh tế và từ phía bản thânngân hàng Năm 2008 là giai đoạn thị trường tài chính biến động mạnh, các ngânhàng đua nhau tăng lãi suất nhằm thu hút khách hàng, bổ sung cho nguồn vốn bịthiếu hụt của mình Thêm vào đó là sự hấp dẫn của thị trường vàng, khiến chonguồn tiền gửi của HDB Hà Nội bị thất thoát đáng kể Bên cạnh đó, chi nhánh chưathiết lập được mối quan hệ rộng rãi với các khách hàng nên không thể cạnh tranhđược với các kênh đầu tư hấp dẫn khác, không thể thu hút được khách hàng gửi tiềntiết kiệm dẫn đến nguồn vốn giảm xuống đáng kể
Trang 38Huy động(triệu đ)
Tỷtrọng %
Huy động(triệu đ)
Tỷtrọng
so với năm 2007 trong khi huy động vốn có kỳ hạn giảm Điều này phản ánh sự bất
ổn của thị trường tài chính năm 2008, khi mà lãi suất liên tục thay đổi và kháchhàng gửi tiền có tâm lý muốn rút tiền bất cứ lúc nào để chuyển vốn sang các ngânhàng khác có lãi suất cao hơn hoặc kênh đầu tư khác hấp dẫn hơn
2.1.2.3 Một số chỉ tiêu tài chính cơ bản tại HDB Hà Nội
Bảng 2.4 MỘT SỐ CHỈ TIÊU TÀI CHÍNH CƠ BẢN
TẠI HDB HÀ NỘI GĐ 2006-2008
Trang 395 Tổng nợ (triệu đ) 2,279,964 1,625,156
Nguồn: Báo cáo tài chính HDB Hà Nội
Nhìn vào bảng ta có thể thấy, hoạt động của chi nhánh năm 2008 kém hiệu quảhơn trước và tiềm ẩn những vấn đề, đặc biệt trong hoạt động tín dụng Tính đếncuối năm 2008, chi nhánh giảm dư nợ xuống 654,807 triệu, tức khoảng 29% so vớinăm 2007 Mặc dù tổng dư nợ giảm xuống đáng kể, nợ xấu và nợ quá hạn đều tăng
cả về số tuyệt đối cũng như tỷ trọng trong tổng dư nợ Đây là điều mà chi nhánh vàphòng tín dụng cần chú ý
Hoạt động của chi nhánh cũng đi xuống trong năm 2008, xét về mặt lợi nhuận
và tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản Năm 2008, tổng tài sản giảm xuống đáng kể Tổngtài sản giảm 1,019,458 triệu đồng, tương đương khoảng gần 23% so với năm 2007
Tỷ lệ ROA năm 2008 giảm nhẹ, từ 0,4% năm 2007 xuống còn 0.33% năm 2008,điều này phản ánh hiệu quả hoạt động của chi nhánh đang có những vấn đề chưagiải quyết được Một trong những nguyên nhân chủ quan của kết quả này đến từhoạt động tín dụng, với tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn tăng cao đã làm ảnh hưởng đếnthu nhập cũng như hiệu quả sử dụng vốn của chi nhánh
Như vậy có thể thấy năm 2008 là một năm hoạt động không tốt của chi nhánh.Tuy nhiên, điều này có nguyên nhân không chỉ từ bản thân hoạt động của chi nhánh
mà còn là hậu quả của những biến động lớn và những bất ổn trong nền kinh tế cũngnhư thị trường tài chính tiền tệ Như vậy có thể thấy chi nhánh nhận thức đượcnhững khó khăn trên thị trường, và vị thế chưa cao của mình trên thị trường nênchọn hướng hoạt động an toàn là thu hẹp hoạt động tín dụng, bảo toàn vốn
Trang 402.2 Thực trạng RRTD tại HDB Hà Nội
2.2.1 Thực trạng hoạt động tín dụng
2.2.1.1 Qui trình cho vay tại chi nhánh HDB Hà Nội
-Trong hoạt động tín dụng, nếu hành động chủ quan sẽ mang lại những tổn thấtnặng nề cho ngân hàng VÌ vậy, để ra được quyết định đúng đắn, tiết kiệm thời gian,chi phí cho ngân hàng và khách hàng, đảm bảo an toàn vốn trong kinh doanh ngânhàng, chi nhánh HDB Hà Nội luôn tuần thủ nghiêm ngặt quy trình vay vốn
Quy trình cấp tín dụng tại chi nhánh HDB Hà Nội:
1 Cán bộ tín dụng hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn, tiếp nhận vàkiểm tra hồ sơ
2 Cán bộ tín dụng và tổ thẩm định hồ sơ vay vốn, bao gồm tính hợp pháp của
hồ sơ, tính minh bạch trong hoạt động kinh doanh của khách hàng, hiệu quả và khảnăng trả nợ của khách hàng, tài sản đảm bảo, cầm cố,…
3 Hoàn chỉnh báo cáo thẩm định rồi trình trưởng phòng tín dụng kiểm tra rồitrình lên lãnh đạo xét duyệt cho vay
4 CBTD thông báo cho khách hàng và cùng khách hàng soạn thảo hợp đồngtín dụng và các hợp đồng liên quan khác
5 Trưởng phòng tín dụng kiểm tra hợp đồng và trình lên lãnh đạo để lãnh đạocùng khách hàng ký hợp đồng
6 Lãnh đạo yêu cầu CBTD thực hiện đảm bảo tiền vay, CBTD tiếp nhận, kiểmtra căn cứ giải ngân
7 CBTD trình trưởng phòng tín dụng kiểm tra rồi trình lại lên lãnh đạo để xétduyệt giải ngân
8 Hồ sơ trả lại cho phòng tín dụng Nếu lãnh đạo không duyệt, CBTD thôngbáo và trả hồ sơ lại cho khách hàng Nếu lãnh đạo duyệt, CBTD chuyển chứng từthanh toán đã được xét duyệt cho phòng kế toán thực hiện giải ngân cho kháchhàng
9 Phòng kế toán giải ngân cho khách hàng