Câu 1: Triết học Trung Hoa cổ đại.................................................................................................... 2 Câu 2: Triết học Ấn Độ cổ đại ......................................................................................................... 10 Câu 3: Triết học Hy Lạp cổ đại........................................................................................................ 13 Câu 4: Quan điểm triết học của các nhà triết học Tây Âu (Về quan hệ giữa triết học và tôn giáo, về vấn đề bản thể luận, nhận thức luận con người và xã hội) ........................................... 17 Câu 5: Triết học cổ điển Đức .......................................................................................................... 18 Câu 6: Thực chất của cuộc cách mạng trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện, V.I.Lênin phát triểnTrả lời:............................................................................................................... 23 Triết Học Mác Lênin....................................................................................................................... 24 Câu 1: Khái niệm “Bản thể luận” .................................................................................................... 24 Câu 2: Cơ sở lý luận, nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã vận dụng như thế nào vào sự nghiệp cách mạng hiện nay ở nước ta? ........................................................................................ 25 Câu 3: Câu 3: Mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan............................. 27 Câu 4: Phương pháp biện chứng ................................................................................................... 30 Câu 5: Phân tích tầm quan trọng của nguyên tắc toàn diện? Sự vận dụng củađảng ta qua hai giai đoạn. (hoặc nguyên tắc chống lại cách nhìn phiến diện một chiều).................................... 32 Câu 6: Phân tích nội dung của nguyên lý về sự phát triển và rút ra ý nghĩa phương pháp luận ........................................................................................................................................................... 35 Câu 7: Phân tích tầm quan trọng của nguyên tắc lịch sử cụ thể? Sự vận dụng của đảng ta qua hai giai đoạn. .................................................................................................................................... 35 Câu 8: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, từ đó rút ra phương pháp luận đối với nhận thức và hoạt động thực tiễn?........................................................................... 37 Câu 9: Khái niệm hình thái kinh tếxã hội? Vì sao nói sự phát triển của các hình thái kinh tếxã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên. ............................................................................................. 38 Câu 10: Trình bày ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất? Liên hệ sự vận dụng quy luật này trên đất nước ta?........................................................................................................ 39 Câu 11: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Vận dụng vào thực tiễn xây dựng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ở VN hiện nay?........... 41 Câu 12: Quan điểm mácxít về bản chất nhà nước, nguồn gốc, chức năng của nhà nước. Đặc điểm của nhà nước XHCN. Vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ................................................................................................................................................... 43 Câu 13: Quan điểm của chủ nghĩa MácLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và vấn đề xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.............................................................. 44 Câu 14: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xh, trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận cho nhận thức và hoạt động thực tiễn. ....................................... 45
Trang 1MỤC LỤC Câu 1: Triết học Trung Hoa cổ đại 2 Câu 2: Triết học Ấn Độ cổ đại 10 Câu 3: Triết học Hy Lạp cổ đại 13 Câu 4: Quan điểm triết học của các nhà triết học Tây Âu (Về quan hệ giữa triết học và tôn giáo, về vấn đề bản thể luận, nhận thức luận con người và xã hội) 17 Câu 5: Triết học cổ điển Đức 18 Câu 6: Thực chất của cuộc cách mạng trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện, V.I.Lênin phát triểnTrả lời: 23 Triết Học Mác - Lênin 24 Câu 1: Khái niệm “Bản thể luận” 24 Câu 2: Cơ sở lý luận, nêu ra các yêu cầu phương pháp luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng Đảng Cộng Sản Việt Nam đã vận dụng như thế nào vào sự nghiệp cách mạng hiện nay ở nước ta? 25 Câu 3: Câu 3: Mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan 27 Câu 4: Phương pháp biện chứng 30 Câu 5: Phân tích tầm quan trọng của nguyên tắc toàn diện? Sự vận dụng củađảng ta qua hai giai đoạn (hoặc nguyên tắc chống lại cách nhìn phiến diện một chiều) 32 Câu 6: Phân tích nội dung của nguyên lý về sự phát triển và rút ra ý nghĩa phương pháp luận 35 Câu 7: Phân tích tầm quan trọng của nguyên tắc lịch sử cụ thể? Sự vận dụng của đảng ta qua hai giai đoạn 35 Câu 8: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, từ đó rút ra phương pháp luận đối với nhận thức và hoạt động thực tiễn? 37 Câu 9: Khái niệm hình thái kinh tế-xã hội? Vì sao nói sự phát triển của các hình thái kinh tế-xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên 38 Câu 10: Trình bày ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất? Liên hệ sự vận dụng quy luật này trên đất nước ta? 39 Câu 11: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Vận dụng vào thực tiễn xây dựng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ở VN hiện nay? 41 Câu 12: Quan điểm mácxít về bản chất nhà nước, nguồn gốc, chức năng của nhà nước Đặc điểm của nhà nước XHCN Vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 43 Câu 13: Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và vấn đề xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 44 Câu 14: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xh, trên cơ sở đó rút
ra ý nghĩa phương pháp luận cho nhận thức và hoạt động thực tiễn 45
Trang 2ĐỀ CƯƠNG TRIẾT:
Khái niệm triết học và đối tượng nghiên cứu của triết học:
Triết học là một hình thái ý thức xã hội ra đời từ rất sớm, từ khoảng thế kỷ VII – VI tr.CN, cả ở phương Đông và phương Tây
Thuật ngữ “triết”, theo tiếng Hán nghĩa là trí, sự hiểu biết về mặt đạo lý, sự nhận thức sâu rộng Trong tiếng Hy Lạp cổ, thuật ngữ “phylosophy” cũng có nghĩa là yêu mến sự thông thái Nói chung triết học lúc đầu được hiểu theo nghĩa khá rộng Về sau, do khoa học ngày càng phát triển nên cách hiểu cũng như đối tượng nghiên cứu của triết học cũng ngày càng được thu hẹp dần, chỉ
đề cập đến những vấn đề cơ bản của tồn tại và nhận thức đối với tồn tại ấy
Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin thì triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy
Lịch sử Triết học:
Câu 1: Triết học Trung Hoa cổ đại
1 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của triết học Trung Hoa cổ đại
Trung Hoa cổ đại là một quốc gia rộng lớn, có lịch sử lâu đời từ cuối thiên niên kỷ III TCN kéo dài tới tận thế kỷ III TCN với sự kiện Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa mở đầu cho thời kỳ phong kiến Trong hơn 2000 năm lịch sử ấy, lịch sử Trung Hoa được phân chia làm 2 thời kỳ lớn: Thời kỳ
từ thế kỷ IX TCN trở về trước và thời kỳ từ thế kỷ VIII TCN đến cuối thế kỷ III TCN
a Thời kỳ thứ nhất:
Có các triều đại nhà Hạ, nhà Thương và nhà Tây Chu Theo các văn bản cổ, nhà Hạ ra đời vào khoảng thế kỷ XXI TCN, đánh dấu sự mở dầu cho chế độ chiếm hữu nô lệ ở Trung Hoa Khoảng nửa đầu thế kỷ XVII TCN, người đứng đầu bộ tộc Thương là Thành Thang đã lật đổ nhà Hạ, lập ra nhà Thương, đóng đô ở đất Bạc( Hà Nam hiện nay) Đến thế kỷ XVI TCN, Bàn Canh rời đô về đất
Ân nên nhà Thương còn gọi là nhà Ân Vào khoảng thế kỷ XI TCN, Chu Vũ Vương đã giết vua Trụ nhà Ân lập ra nhà Chu ( giai đoạn đầu là Tây Chu), đưa chế độ nô lệ ở Trung Hoa lên đỉnh cao Nhà Chu đã thực hiện quốc hữu hóa về tư liệu sản xuất (gồm ruộng đất và sức lao động) rất nghiêm ngặt, tất cả đều thuộc quyền quản lý của vua nhà Chu Đồng thời, thành lập những đô thị lớn tạo nên sự đối lập rất lớn giữa thành thị và nông thôn
Trong thời kỳ này, thế giới quan thần thoại, tôn giáo và chủ nghĩa duy tâm thần bí thống trị trong đời sống tinh thần Những tư tưởng triết học đã xuất hiện, nhưng chưa đạt tới mức là một hệ thống Nó
đã gắn chặt thần quyền với thế quyền, lý giải sự liên hệ mật thiết giữa đời sống chính trị – xã hội với lĩnh vực đạo đức luân lý Lúc này cũng đã xuất hiện những quan niệm có tính chất duy vật mộc mạc, những tư tưởng vô thần tiến bộ
Về khoa học, họ đã phát minh ra chữ viết và dựa vào sự quan sát vận hành của mặt trăng, các vì sao, tính chất chu kỳ của nước sông và quy luật sinh trưởng của cây trồng mà họ đã biết làm ra lịch (Âm lịch)
b Thời kỳ thứ hai:
là thời kỳ Đông Chu (còn gọi là thời kỳ Xuân Thu – Chiến quốc)
thời kỳ chuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến Sự phát triển của sức sản xuất đã tác động mạnh mẽ đến hình thức sở hữu ruộng đất và kết cấu giai tầng của xã hội Nếu dưới thời Tây Chu, đất đai thuộc sở hữu của nhà vua thì nay thuộc về tầng lớp địa chủ mới lên và chế độ
sở hữu tư nhân về ruộng đất hình thành.Từ đó, sự phân hóa sang hèn dựa trên cơ sở tài sản xuất hiện Xã hội lâm vào cảnh loạn lạc, rối ren và chiến tranh xảy ra liên miên Đây chính là điều kiện lịch
sử đòi hỏi giải thể chế độ nô lệ thị tộc nhà Chu, hình thành chế độ phong kiến; đòi hỏi giải thể nhà nước của chế độ gia trưởng, xây dựng nhà nước phong kiến nhằm giải phóng lực lượng sản xuất,
mở đường cho xã hội phát triển
Sự phát triển sôi động của xã hội đã đặt ra và làm xuất hiện những tụ điểm, những trung tâm của những “kẻ sĩ” luôn tranh luận về trật tự xã hội cũ và đề ra những mẫu hình của một xã hội trong tương lai Lịch sử gọi đây là thời kỳ “Bách gia chư tử” (trăm nhà trăm thầy), “Bách gia tranh minh” (trăm nhà đua tiếng) Chính trong quá trình ấy đã sản sinh ra những nhà tư tưởng lớn và hình thành nên các trường phái triết học khá hoàn chỉnh Đặc điểm của các trường phái này là lấy con người và
xã hội làm trung tâm của sự nghiên cứu, có xu hướng chung là giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị – đạo đức của xã hội Theo Lưu Hâm (đời Tây Hán), Trung Hoa thời kỳ này có chín trường phái triết học chính (gọi là Cửu lưu hay Cửu gia) là: Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Âm dương gia, Danh
Trang 3gia, Pháp gia, Nông gia, Tung hoành gia, Tạp gia Trừ Phật giáo được du nhập từ ấn Độ sau này, các trường phái triết học được hình thành vào thời kỳ này được bổ sung và hoàn thiện qua nhiều giai
đoạn lịch sử và tồn tại cho tới thời kỳ cận đại
Đặc điểm chủ yếu:
triết học Trung Quốc có một số đặc điểm cơ bản sau:
1 Thứ nhất, triết học Trung Quốc nhấn mạnh mặt thống nhất trong mối quan hệ giữa con người và
vũ trụ Đây là tư tưởng xuyên suốt nhiều trường phái, học thuyết khác nhau Trong những kinh điển chủ yếu của Nho giáo (Kinh dịch, Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử ) đều nhất quán tư tưởng “biết đến cùng cái tính của con người thì cũng có thể biết đến cùng cái tính của vạt vật trời đất” Ngoài ra, các trường phái, học thuyết khác cũng thể hiện rõ quan điểm này, Trang Chu cho rằng, trời đất với ta cùng sinh, vạn vật với ta là một
2 Thứ hai, triết học Trung Quốc xuất phát từ con người, lấy con người làm vấn đề trung tâm Nghiên cứu thế giới cũng chỉ nhằm làm rõ vấn đề con người Tuy nhiên con người không được chú ý trên tất
cả các mặt mà chỉ chú ý trên khía cạnh luân lý, đạo đức Vấn đề bản thể luận trong triết học Trung Quốc rất mờ nhạt, còn trong triết học phương Tây lại đặt trọng tâm vào nghiên cứu thế giới, vấn đề con người cũng chỉ được bàn tới nhằm giải thích thế giới Do đó, khác với triết học Trung Quốc, trong triết học phương Tây, vấn đề bản thể luận rất đậm nét
Về bản chất con người (tính người, Khổng Tử cho gần nhau (giống nhau), nhưng do tập quán, phong tục mà xa nhau (khác nhau) (“Tính tương cận, tập tương viễn”); Mạnh Tự cho tính người (nhân tính) vốn thiện; Tuân Tử cho tính người vốn ác; Cáo Tử cho tính không thiện cũng không bất thiện Đổng Trọng Thư đưa ra tính tam phẩm, còn Hàn Dũ đưa ra có tính ba bậc
Về số phận con người, Nho giáo quy tất cả là do mệnh trời; Tuân Tử cho rằng con người có thể thắng được trời Từ đó triết học Trung Quốc hướng đến mẫu người lý tưởng như sĩ, quân tử, đại trượng phu, thánh nhân
3 Thứ ba, triết học Trung Quốc ít tồn tại dưới dạng triết học thuần túy mà thường được trình bày xen kẽ hoặc ẩn giấu đằng sau với những vấn đề cấu trúc xã hội, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật Vì vậy, ở Trung Quốc ít khi có triết gia và các phần triết học độc lập Cho nên, nếu ở phương Đông nói chung, Trung Quốc nói riêng triết học ẩn giấu đằng sau các khoa học khác thì ở phương Tây ngay từ đầu, triết học đã là một khoc học độc lập, các khoa học khác lại ẩn giấu ở đằng sau triết học ở vào buổi bình minh của nó
4 Thứ tư, về mặt nhận thức, triết học Trung Quốc bàn nhiều về vấn đề trực giác tâm linh, những vấn
đề phi lý tính Phương pháp nhận thức này, xét về góc độ nào đó nó phù hợp với đối tượng mà nó đặt ra để nghiên cứu Nó thường không được trình bày dưới dạng hình thức hệ thống lý luận lôgic như các tác phẩm triết học hiện đại Nhìn chung, lý luận nhận thức trong triết học Trung Quốc là phiến diện, không xem giới tự nhiên là đối tượng nhận thức, mà chỉ nhận thức chủ yếu về mặt luân
lý đạo đức
5 Thứ năm, triết học Trung Quốc vừa thống nhất vừa đa dạng Thống nhất ở chỗ nó đều nhằm mục đích ổn định xã hội, chấm dứt chiến tranh, chẳng hạn, Nho gia đưa ra đường lối chính danh, đức trị; Pháp gia đưa ra đường lối pháp trị; Mặc gia đưa ra đường lối kiêm ái; Đạo gia đường lối vô vi Nó
đa dạng ở chỗ có rất nhiều trường phái, khuynh hướng tư tưởng, với 9 trường phái và đặc biệt nổi bật hơn cả là 6 trường phái lớn có ảnh hưởng mạnh mẽ trong đời sống, trong lịch sử xã hội là: Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Pháp gia, Âm Dương gia, Danh gia Mỗi nhà đều có chủ trương, đường lối riêng của mình
Trong các trào lưu triết học Trung Quốc cổ đại, thường đan xen các yếu tố duy vật và duy tâm, biện chứng và siêu hình Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không gay gắt quyết liệt như ở phương Tây Chẳng hạn như:
- Nho giáo về cơ bản là duy tâm, nhưng vẫn có những luận điểm duy vật, nhất là ở thời kỳ đầu
- Đạo gia, Mặc gia, Âm Dương ngũ hành gia bên cạnh những luận điểm duy vật lại có cả những luận điểm duy tâm
Trong suốt chiều dài hơn 2.000 năm phong kiến Trung Hoa, các học thuyết cổ đại thường được các nhà tư tưởng phong kiến kế thừa, tự nhận thuộc về trường phái đã có nào đó từ thời cổ đại mà không lập ra học thuyết mới cho nên sự phát triển của triết học Trung Quốc chủ yếu theo hướng từ
từ thay đổi về lượng mà ít thấy có sự nhảy vọt về chất
Trang 46 Phép biện chứng trong triết học Trung Quốc thể hiện trong học thuyết biến dịch (Kinh dịch); sự tương tác giữa âm dương, ngũ hành; trong học thuyết Lão Tử Nhìn chung, biện chứng trong triết học Trung Quốc vẫn còn thô sơ, đơn giản, biện chứng vòng tròn, tuần hoàn khép kín
Nho giáo, Đạo giáo và Phật giáo là ba dòng chủ đạo, kiến tạo nên hệ tư tưởng phong kiến Trung Quốc, song trên thực tế, Nho giáo vẫn là dòng chủ đạo, đóng vai trò Trung Quốc
Một số học thuyết tiêu biểu của triết học Trung Hoa cổ, trung đại
* Thuyết Âm – Dương, Ngũ hành
Ở Trung Hoa, những quan niệm triết lý về “âm – dương”, “ngũ hành” đã được lưu truyền từ rất sớm Tới thời Xuân thu – Chiến quốc, những tư tưởng về Âm dương – Ngũ hành đã đạt tới mức là một hệ thống các quan niệm về bản nguyên và tính biến dịch của thế giới
- Tư tưởng triết học về Âm - Dương
Triết học Âm – Dương có thiên hướng suy tư về nguyên lý vận hành đầu tiên và phổ biến của vạn vật; đó là sự tương tác của hai thế lực đối lập nhau là Âm và Dương
“Âm” là một phạm trù rất rộng, phản ánh khái quát những thuộc tính phổ biến của vạn vật như: nhu, thuận, tối, ẩm, phía dưới, phía phải, số chẵn (2,4,6…) “Dương” là phạm trù đối lập với “Âm”, phản ánh khái quát những tính chất phổ biến của vạn vật như: cương, cường, sáng, khô, phía trên, phía trái, số lẻ (1,3,5…) Nhưng hai thế lực Âm – Dương không tồn tại biệt lập mà là thống nhất với nhau, chế ước lẫn nhau theo ba nguyên lý căn bản
+ Âm – Dương thống nhất trong Thái cực (Thái cực được coi là nguyên lý của sự thống nhất của hai mặt đối lập là âm và dương) Nguyên lý này nói lên tính toàn vẹn, chỉnh thể, cân bằng của cái đa và cái duy nhất Chính nó bao hàm tư tưởng về sự thống nhất giữa cái bất biến và cái biến đổi
+ Trong Âm có Dương, trong Dương có Âm Nguyên lý này nói lên khả năng biến đổi Âm – Dương
đã bao hàm trong mỗi mặt đối lập của Thái cực
Hai nguyên lý này thường được các học giả phái Âm – Dương khái quát bằng vòng tròn khép kín (tượng trưng cho Thái cực, trong đó được chia thành hai nửa (đen trắng) và trong nửa này đã bao hàm nhân tố của nửa kia (trong phần đen có nhân tố của phần trắng và ngược lại), biểu hiện cho nguyên lý trong Dương có Âm và trong Âm có Dương
+ Sự khái quát đồ hình Thái cực Âm – Dương còn bao hàm nguyên lý: Dương tiến đến đâu thì Âm lùi đến đó và ngược lại; đồng thời “Âm thịnh thì Dương khởi”, “Dương cực thì Âm sinh”
Để giải thích sự biến dịch từ cái duy nhất thành cái nhiều, đa dạng, phong phú của vạn vật, phái Âm – Dương đã đưa ra lôgíc tất định: Thái cực sinh Lưỡng nghi (Âm – Dương); Lưỡng nghi sinh Tứ tượng (Thái Dương – Thiếu Âm – Thiếu Dương – Thái Âm) và Tứ tượng sinh Bát quái ( Càn – Khảm – Cấn – Chấn – Tốn – Ly – Khôn – Đoài); Bát quái sinh vạn vật (vô cùng vô tận)
Tư tưởng triết học về Âm – Dương đạt tới mức là một hệ thống hoàn chỉnh trong tác phẩm Kinh Dịch, trong đó gồm 64 quẻ kép Mỗi quẻ kép là một động thái, một thời của vạn vật và nhân sinh, xã hội như: Kiền, Khôn, Bĩ, Thái, Truân…; Sự chú giải Kinh Dịch là của nhiều bậc trí thức ở nhiều thời đại khác nhau với những xu hướng khác nhau Điều đó tạo ra một “tập đại thành” của sự chú giải, bao hàm những tư tưởng triết học hết sức phong phú và sâu sắc
- Tư tưởng triết học về Ngũ hành
Tư tưởng triết học về Ngũ hành có xu hướng đi vào phân tích cấu trúc của vạn vật và quy nó về những yếu tố khởi nguyên với những tính chất khác nhau, những tương tác (tương sinh, tương khắc) với nhau Đó là năm yếu tố: Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ Kim tượng trưng cho tính chất trắng, khô, cay, phía Tây, v.v.; Thủy tượng trưng cho tính chất đen, mặn, phía Bắc, v.v.; Mộc tượng trưng cho tính chất xanh, chua, phía Đông, v.v.; Hỏa tượng trưng cho tính chất đỏ, đắng, phía Nam,.v.v.; Thổ tượng trưng cho tính chất vàng, ngọt, ở giữa,.v.v
Năm yếu tố này không tồn tại biệt lập tuyệt đối mà trong một hệ thống ảnh hưởng sinh – khắc với nhau theo hai nguyên tắc:
+ Tương sinh (sinh hóa cho nhau): Thổ sinh Kim; Kim sinh Thủy; Thủy sinh Mộc; Mộc sinh Hỏa; Hỏa sinh Thổ.v.v
+ Tương khắc (chế ước lẫn nhau): Thổ khắc Thủy; Thủy khắc Hỏa; Hỏa khắc Kim; Kim khắc Mộc và Mộc khắc Thổ.v.v
Sự hợp nhất giữa tư tưởng triết học Âm – Dương và Ngũ hành đã làm cho mỗi thuyết có sự bổ túc, hoàn thiện hơn, thể hiện điển hình ở chỗ: các quẻ đơn (Càn – Khảm – Cấn – Chấn – Tốn – Ly – Khôn – Đoài) đều được quy về Ngũ hành để biện giải và ngược lại, Ngũ hành cũng mang tính cách
Trang 5Âm – Dương Chẳng hạn: Kiền – Đoài thuộc hành Kim; chấn – Tốn thuộc hành Mộc v.v và Kim cũng
có Kim Âm và Kim Dương; Mộc cũng có Mộc Âm và Mộc Dương
* Nho gia (thường gọi là Nho giáo)
Nho gia xuất hiện vào khoảng thế kỷ VI TCN dưới thời Xuân Thu, người sáng lập là Khổng Tử (551 – 479 TCN) Đến thời Chiến Quốc, Nho gia đã được Mạnh Tử và Tuân Tử hoàn thiện và phát triển theo hai xu hướng khác nhau: duy vật và duy tâm, trong đó dòng Nho gia Khổng – Mạnh có ảnh hưởng rộng và lâu dài nhất trong lịch sử Trung Hoa và một số nước lân cận
Kinh điển chủ yếu của Nho gia gồm Tứ Thư (Luận ngữ, Đại học, Trung Dung, Mạnh Tử) và Ngũ Kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch và Xuân Thu) Các kinh sách này hầu hết đều viết về xã hội, về kinh nghiệm lịch
sử Trung Hoa Điều này cho thấy rõ xu hướng biện luận về xã hội, về chính trị – đạo đức là những tư tưởng cốt lõi của Nho gia Những quan niệm đó được thể hiện ở những tư tưởng chủ yếu sau: Thứ nhất, Nho gia coi những quan hệ chính trị – đạo đức là những quan hệ nền tảng của xã hội, trong đó quan trọng nhất là quan hệ vua – tôi, cha – con, chồng – vợ (gọi là Tam cương) Nếu xếp theo tôn ty trật tự, trên dưới thì vua ở vị trí cao nhất, còn nếu xếp theo chiều ngang của quan hệ thì vua – cha – chồng xếp ở hàng làm chủ Điều này phản ánh tư tưởng chính trị quân quyền và phụ quyền của Nho gia
Thứ hai, xuất hiện trong bối cảnh lịch sử quá độ sang xã hội phong kiến, một xã hội đầy những biến động loạn lạc và chiến tranh nên lý tưởng của Nho gia là xây dựng một “xã hội đại đồng” Đó là một
xã hội có trật tự trên – dưới, có vua sáng – tôi hiền, cha từ – con thảo, trong ấm – ngoài êm trên cơ
sở địa vị và thân phận của mỗi thành viên từ vua chúa, quan lại đến thứ dân Có thể nói đó là lý tưởng của tầng lớp quý tộc cũ cũng như của giai cấp địa chủ phong kiến đang lên
Thứ ba, Nho gia lấy giáo dục làm phương thức chủ yếu để đạt tới xã hội lý tưởng “đại đồng” Do không coi trọng cơ sở kinh tế và kỹ thuật của xã hội nên nền giáo dục của Nho gia chủ yếu hướng vào việc rèn luyện đạo đức con người Trong bảng giá trị đạo đức của Nho gia thì chuẩn mực gốc là
“Nhân” Những chuẩn mực khác như Lễ, Nghĩa, Trí, Tín, Trung, Hiếu.v v đều là những biểu hiện cụ thể của Nhân
Thứ tư, Nho gia quan tâm đến vấn đề bản tính con người Việc giải quyết những vấn đề chính trị -xã hội đòi hỏi Nho gia cũng như nhiều học thuyết khác của Trung Hoa thời cổ phải đặt ra và giải quyết vấn đề bản tính con người Trong học thuyết Nho gia không có sự thống nhất quan điểm về vấn đề này, nhưng nổi bật là quan điểm của Mạnh Tử Theo ông, “bản tính con người vốn là thiện” (Nhân chi sơ, tính bản thiện) Thiện là tổng hợp những đức tính vốn có của con người từ khi mới sinh ra như: Nhân, Nghĩa, Lễ v.v
Mạnh Tử đã thần bí hóa những giá trị chính trị – đạo đức đến mức coi chúng là tiên thiên, bẩm sinh
Do quan niệm tính thiện nên Nho gia (dòng Khổng – Mạnh) đề cao sự giáo dục con người để con người trở về đường thiện với những chuẩn mực đạo đức có sẵn
Đối lập với Mạnh Tử coi tính người là Thiện, Tuân Tử lại coi bản tính con người vốn là ác (Nhân chi
sơ, tính bản ác) Mặc dù vậy, nhưng có thể giáo hóa trở thành thiện (Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí….) Xuất phát từ quan niệm đó về tính người, Tuân Tử chủ trương đường lối trị nước kết hợp giữa Nho gia và Pháp gia
Người sáng lập ra Nho gia là Khổng Tử (551 – 479 tr.CN)
Trong quan niệm về thế giới, tư tưởng của Khổng Tử luôn có những mâu thuẫn Một mặt, khi chống lại chủ nghĩa thần bí, tôn giáo đương thời, ông thừa nhận sự vật, hiện tượng trong tự nhiên luôn luôn
tự vận động,biến hóa không phụ thuộc vào mệnh lệnh của Trời “ Trời có nói gì đâu mà bốn mùa vận hành, vạn vật sinh hóa mãi mãi” (Luận ngữ, Dương Hóa, 18); hay “ cũng như dòng nước chảy, mọi vật đều trôi đi, ngày đêm không ngừng, không nghỉ” (Luận ngữ, Tử Hãn, 16) Đó là yếu tố duy vật chất phác và tư tưởng biện chứng tự phát của ông Mặt khác, ông lại cho rằng Trời có ý chí và có thể chi phối vận mệnh của con người (Thiên mệnh) Đó là yếu tố duy tâm khách qua trong quan điểm của ông Ông nói: “Đạo của ta thi hành ra được cũng do mệnh Trời, mà bị bỏ phế cũng là do mệnh Trời” (Luận ngữ, Hiến vấn, 38); “làm sao có thể cải được mệnh Trời” Hiểu biết mệnh Trời là một điều kiện tất yếu để trở thành con người hoàn thiện là người quân tử Cũng như thế, một mặt Khổng
Tử tuyên truyền sức mạnh của quỷ thần; nhưng mặt khác ông lại nhấn mạnh vai trò quan trọng của hoạt động con người trong đời sống
Quan niệm về nhận thức trong học thuyết của Khổng Tử không phát triển, không đặt ra vấn đề chân
lý mà chỉ dừng lại ở vấn đề “tri thức luận” (tri thức do đâu mà có) Theo ông, tri thức có hai loại là
“thượng trí” (không học cũng biết) và “hạ ngu”(học cũng không biết) Nghĩa là ông đã thừa nhận có tri
Trang 6thức tiên thiên, có trước sự nhận thức của con người Đối tượng để dạy dỗ, giáo hóa nằm giữa “trí”
và “ngu”, nếu chịu khó học tập có thể vươn tới thượng trí Còn không học thì rơi xuống hạ ngu Ưu điểm của ông là chủ trương “hữu giáo vô loại” (học thì không phân loại) Khổng Tử cũng nêu ra một
số phương pháp học tập có ý nghĩa như: học phải đi đôi với luyện tập; học phải kết hợp với suy nghĩ; phải ôn cũ để biết mới; học phải nắm được cái cốt yếu”Tuy nhiên, hạn chế của Khổng Tử là ở quan niệm học theo lối “hoài cổ”, coi thường tri thức về sản xuất, lao động chân tay
Tư tưởng về luân lý, đạo đức, chính trị – xã hội là một trong những vấn đề cốt lõi trong học thuyết Khổng Tử Những nguyên lý đạo đức cơ bản nhất trong học thuyết đạo đức của Khổng Tử là : Nhân,
lễ, trí, dũng…cùng với một hệ thống quan niệm về chính trị – xã hội như “nhân trị”, “chính danh”,
“thượng hiền”, “quân tử”, “tiểu nhân”…
Khổng Tử lấy chữ “Nhân” làm nguyên lý đạo đức cơ bản trong triết học của mình Nhân có ý nghĩa rất rộng, bao hàm nhiều mặt trong đời sống con người, có lúc trừu tượng, có lúc cụ thể, tuỳ theo trình độ, hoàn cảnh mà ông giảng giải về nhân với nội dung khác nhau “Sửa mình theo lẽ là nhân”, “ Điều gì mình không muốn, đừng đem nó làm cho người khác là nhân”, “yêu thương người là nhân”…Tư tưởng bao trùm của Nhân là yêu thương con người, là đạo làm người
Để điều nhân có thể thực hiện được thì phải bằng “lễ” Lễ ở Khổng Tử là những phong tục, tập quán, những quy tắc, quy định trật tự xã hội và cả thể chế pháp luật Nhà nước như: sinh, tử, tang, hôn tế
lễ, triều sính, luật lệ, hình pháp…Lễ được coi là hình thức biểu hiện của nhân Mặc dù kiên trì bảo vệ
lễ của nhà Chu , nhưng Khổng Tử cũng đưa thêm những nội dung mới và phát triển nó lên, biến lễ thành một phạm trù có ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc
Mục đích của Khổng Tử là xây dựng một xã hội có tôn ty trật tự, kỷ cương Để làm đươc điều đó cần phải có “lễ” và “chính danh” “Chính danh là làm mọi việc cho ngay thẳng”(Luận ngữ, Nhan Uyên,1);
“Chính danh thì người nào có địa vị, bổn phận chính đángcủa người ấy, trên dưới, vua tôi, cha con trật tự phân minh, vua lấy lễ mà khiến tôi, tôi lấy trung mà thờ vua”(Luận ngữ, Bát Dật, 19)…Theo Khổng Tử, muốn trị nước trước tiên phải sửa mình cho chính danh, vì “danh không chính thì lời nói không thuận; lời nói không thuận thì sự việc không thành công; sự việc không thành công thì lễ nhạc không hưng thịnh; lễ nhạc không hưng thịnh thì hình phạt không đúng; hình phạt không đúng thì dân không biết theo ai?” (Luận ngữ, Tử Lộ, 3) Xuất phát từ tình hình loạn lạc của xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu, Khổng Tử đã nêu lên thuyết “chính danh”, nhưng trên thực tế, học thuyết này mang tính bảo thủ, bảo vệ cho lợi ích của quý tộc nhà Chu
Để thực hiện mục đích của mình, Khổng Tử chống việc duy trì ngôi vua theo huyết thống và chủ trương “thượng hiền”, dùng người không phân biệt đẳng cấp xuất thân của họ Trong việc chính trị, vua phải biết “trọng dụng người hiền đức, tài cán và rộng lượng với những kẻ cộng sự” (Luận ngữ,
Tử Lộ, 2) Việc ông mở trường dạy học chính là nhằm mục đích đào tạo ra những người có tài, đức tham gia vào công cuộc cai trị
Toàn bộ học thuyết về nhân, lễ, chính danh… của Khổng Tử là nhằm phục vụ mục đích chính trị là
“Đức trị” Ông phản đối việc dùng hình phạt để trị dân vì làm như vậy, dân sợ mà phải theo chứ không phục Theo ông, làm chính trị mà dùng đức cảm hóa người thì giống như sao Bắc Đẩu ở một nơi mà các sao khác đều chầu đến
Tóm lại: So với các học thuyết khác, Nho gia có nội dung phong phú và mang tính hệ thống hơn cả; hơn thế nữa, nó còn là hệ tư tưởng chính thống của giai cấp thống trị Trung Hoa suốt hơn hai ngàn năm của xã hội phong kiến Để trở thành hệ tư tưởng chính thống, Nho gia đã được bổ sung và hoàn thiện qua nhiều giai đoạn lịch sử trung đại: Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh, nhưng tiêu biểu hơn cả là dưới triều đại nhà Hán và nhà Tống, gắn liền với tên tuổi của các bậc danh Nho như Đổng Trọng Thư (thời Hán), Chu Đôn Di, Trương Tải, Trình Hạo, Trình Di, Chu Hy (thời Tống) Quá trình
bổ sung và hoàn thiện Nho gia thời trung đại được tiến hành theo hai xu hướng cơ bản:
Một là, hệ thống hóa kinh điển và chuẩn mực hóa các quan điểm triết học của Nho gia theo mục đích ứng dụng vào đời sống xã hội, phục vụ lợi ích thống trị của giai cấp phong kiến; vì thế Đổng Trọng Thư đã làm nghèo nàn đi nhiều giá trị nhân bản và biện chứng của Nho gia cổ đại Tính duy tâm thần
bí của Nho gia trong các quan điểm về xã hội cũng được đề cao Tính khắc nghiệt một chiều trong các quan hệ Tam cương, Ngũ thường thường được nhấn mạnh
Hai là, hoàn thiện các quan điểm triết học về xã hội của Nho gia trên cơ sở bổ sung bằng các quan điểm triết học của thuyết Âm Dương – Ngũ hành, những quan niệm về bản thể của Đạo gia, tư tưởng về pháp trị của Pháp gia v.v Vì vậy, có thể nói: Nho gia thời trung đại là tập đại thành của tư tưởng Trung Hoa Nho gia còn có sự kết hợp với cả tư tưởng triết học ngoại lai là Phật giáo Sự kết hợp các tư tưởng triết học của Nho gia với những tư tưởng triết học ngoài Nho gia đã có ngay từ
Trang 7thời Hán và ít nhiều có cội nguồn từ Mạnh Tử Tuy nhiên, sự kết hợp đạt tới mức nhuần nhuyễn và sâu sắc chỉ có dưới thời nhà Tống (960 – 1279)
* Đạo gia (hay học thuyết về Đạo)
Người sáng lập ra Đạo gia là Lão Tử (khoảng thế kỷ VI TCN) Học thuyết của ông được Dương Chu
và Trang Chu thời Chiến quốc hoàn thiện và phát triển theo hai hướng ít nhiều khác nhau Những tư tưởng triết học của Đạo gia được khảo cứu chủ yếu qua Đạo đức kinh và Nam hoa kinh
Tư tưởng cốt lõi của Đạo gia là học thuyết về “Đạo” với những tư tưởng biện chứng, cùng với học thuyết “Vô vi” về lĩnh vực chính trị – xã hội
Về bản thể luận, tư tưởng về Đạo là nội dung cốt lõi trong bản thể luận của Đạo gia Phạm trù Đạo bao gồm những nội dung cơ bản sau:
– “Đạo” là bản nguyên của vạn vật Tất cả từ Đạo mà sinh ra và trở về với cội nguồn của Đạo
– “Đạo” là cái vô hình, hiện hữu là cái “có”; song Đạo và hiện hữu không thể tách rời nhau Trái lại, Đạo là cái bản chất, hiện hữu là cái biểu hiện của Đạo Bởi vậy, có thể nói: Đạo là nguyên lý thống nhất của mọi tồn tại
– “Đạo” là nguyên lý vận hành của mọi hiện hữu Nguyên lý ấy là “đạo pháp tự nhiên” Chính trong quan niệm về “Đạo” đã thể hiện một trình độ tư duy khái quát cao về những vấn đề bản nguyên thế giới, nhìn nhận thế giới trong tính chỉnh thể thống nhất của nó
Quan niệm về tính biện chứng của thế giới không tách rời những quan niệm về “Đạo”, trong đó bao hàm những tư tưởng chủ yếu sau: Mọi hiện hữu đều biến dịch theo nguyên tắc “bình quân” và “phản phục” (cân bằng và quay trở lại cái ban đầu)
– Các mặt đối lập trong thể thống nhất, quy định lẫn nhau, là điều kiện tồn tại của nhau, trong cái này
đã có cái kia
Do nhấn mạnh nguyên tắc “bình quân” và “phản phục” trong biến dịch nên Đạo gia không nhấn mạnh
tư tưởng đấu tranh với tư cách là phương thức giải quyết mâu thuẫn nhằm thực hiện sự phát triển; trái lại, đã đề cao tư tưởng điều hòa mâu thuẫn, coi đó là trạng thái lý tưởng Bởi vậy triết học Đạo gia không bao hàm tư tưởng về sự phát triển Học thuyết chính trị – xã hội với cốt lõi là luận điểm
“Vô vi” Vô vi không phải là cái thụ động, bất động hay không hành động mà có nghĩa là hành động theo bản tính tự nhiên của “Đạo”
* Mặc gia
Phái Mặc gia do Mặc Tử, tức Mặc Địch (khoảng từ 479 -381 tr.CN) sáng lập thời Xuân Thu Sang thời Chiến Quốc dã phát triển thành phái Hậu Mặc Đây là một trong ba học thuyết lớn nhất đương thời (Nho – Đạo – Mặc)
Tư tưởng triết học trung tâm của Mặc gia thể hiện ở quan niệm về “Phi thiên mệnh” Theo quan niệm này thì sự giàu, nghèo, thọ, yểu…không phải là do định mệnh của Trời mà là do người Nếu người ta
nỗ lực làm việc, tiết kiệm tiền của thì ắt giàu có, tránh được nghèo đói Đây là quan niệm khác với quan niệm Thiên mệnh có tính chất thần bí của Nho giáo dòng Khổng – Mạnh
Học thuyết “Tam biểu” của Mặc gia mang tính cách là một học thuyết về nhận thức, có xu hướng duy vật và cảm giác luận, đề cao vai trò của kinh nghiệm, coi đó là bằng chứng xác thực của nhận thức Thuyết “Kiêm ái” là một chủ thuyết chính trị – xã hội mang đậm tư tưởng tiểu nông Mặc Địch phản đối quan điểm của Khổng Tử về sự phân biệt thứ bậc, thân sơ…trong học thuyết “Nhân” Ông chủ trương mọi người yêu thương nhau, không phân biệt thân sơ, đẳng cấp…
Phái Hậu Mặc đã phát triển tư tưởng của Mặc gia sơ kỳ chủ yếu trên phương diện nhận thức luận
* Pháp gia
Là một trường phái triết học lớn của Trung Hoa cổ đại, chủ trương dùng những luật lệ, hình pháp của nhà nước là tiêu chuẩn để điều chỉnh hành vi đạo đức của con người và củng cố chế độ chuyên chế thời Chiến quốc
Là tiếng nói đại diện cho tầng lớp quý tộc mới, đấu tranh kiên quyết chống lại tàn dư của chế độ công xã gia trưởng truyền thống và tư tưởng bảo thủ, mê tín tôn giáo đương thời
Đại diện của phái Pháp gia là Hàn Phi Tử (280 – 233 TCN) Tư tưởng Pháp trị của Hàn Phi Tử dựa trên những luận cứ triết học cơ bản sau:
Về tự nhiên:
Ông giải thích sự phát sinh, phát triển của vạn vật theo tính quy luật khách quan mà ông gọi là Đạo Đạo là quy luật phổ biến của giới tự nhiên vĩnh viễn tồn tại và không thay đổi Còn mỗi sự vật đều có
Trang 8“Lý” của nó “Lý” là sự biểu hiện khác nhau của Đạo trong mỗi sự vật cụ thể và là cái luôn luôn biến hóa và phát triển Từ đó, ông yêu cầu mọi hành động của con người không chỉ dựa trên quy luật khách quan, mà còn phải thay đổi theo sự biến hóa của “Lý”, chống thái độ cố chấp và bảo thủ
Về lịch sử:
Ông thừa nhận sự biến đổi của đời sống xã hội, khẳng định rằng không thể có chế độ xã hội nào là không thay đổi Do đó không thể có khuôn mẫu chung cho mọi xã hội Ông đã phân chia sự tiến triển của xã hội làm 3 giai đoạn chính, mỗi giai đoạn đó xã hội có những đặc điểm và tập quán riêng ứng với trình độ nhất định của sản xuất và văn minh Đó là:
+ Thời Thượng cổ: Con người biết lấy cây làm nhà và phát minh ra lửa để nấu chín thức ăn
+ Thời Trung cổ: Con người đã biết trị thủy, khắc phục thiên tai
+ Thời Cận cổ: Bắt đầu xuất hiện giai cấp và xảy ra các cuộc chinh phạt lẫn nhau
Động lực căn bản của sự thay đổi xã hội được ông quy về sự thay đổi của dân số và của cải xã hội
Về thuyết “Tính người”:
Ông theo quan niệm của Tuân Tử coi tính người là ác, đưa ra học thuyết luân lý cá nhân vị lợi, luôn
có xu hướng lợi mình hại người, tránh hại cầu lợi…Kẻ thống trị phải nương theo tâm lý vị lợi của con người để đặt ra pháp luật, trọng thưởng, nghiêm phạt để duy trì trật tự xã hội
Tư tưởng về pháp trị
Trên cơ sở những luận điểm triết học cơ bản ấy, Hàn Phi Tử đã đề ra học thuyết Pháp trị, nhấn mạnh sự cần thiết phải cai trị xã hội bằng luật pháp Ông cũng phản đối thuyết nhân trị, đức trị của Nho giáo, phép “vô vi trị” của Đạo gia Phép trị quốc của Hàn Phi Tử bao gồm 3 yếu tố tổng hợp là pháp, thế và thuật, trong đó pháp là nội dung của chính sách cai trị, thế và thuật là phương tiện để thực hiện chính sách đó
+ “Pháp” là một phạm trù của triết học Trung Hoa cổ đại Theo nghĩa hẹp, là quy định, luật lệ có tính chất khuôn mẫu mà mọi người trong xã hội phải tuân thủ; theo nghĩa rộng, pháp được coi là một thể chế, chế độ chính trị và xã hội Vì vậy, pháp được coi là tiêu chuẩn, căn cứ khách quan để định rõ danh phận, giúp cho mọi người thấy rõ được bổn phận, trách nhiệm của mình
+ “Thế” là địa vị, thế lực, quyền uy của người cầm đầu chính thể
+ “Thuật” cũng là chính danh, là phương sách trong thuật lãnh đạo của nhà vua nhằm lấy danh mà tránh thực
Quan điểm CT - XH của Nho gia ở Trung Hoa cổ đại Sự khác nhau trong đường lối chính trị của Nho gia, Đạo gia và Pháp gia
1 Quan điểm CT - XH của Nho gia ở Trung Hoa cổ đại
Nho gia là một trong những trường phái triết học chính của Trung Hoa cổ đại Phái Nho gia được Khổng Tử sáng lập, Mạnh Tử phát triển về phía duy tâm tiên nghiệm và Tuân Tử phát triển về phía duy vật
* Quan điểm CT - XH của Khổng Tử:
Khổng Tử là người sáng lập ra đạo Nho, ông được phong là “Chí thánh tiên sư, Vạn thế sư biểu”, nghĩa là thầy, thánh của muôn đời, muôn nhà
Khổng Tử coi XH là tổng hợp các mối quan hệ giữa người với người, trong đó có các quan hệ như: Vua-tôi, Cha-con, Chồng-vợ, Anh-em, Bạn bè Năm mối quan hệ này về sau được phái Nho gia gọi
là Ngũ luân, trong đó 3 mối quan hệ Vua-tôi, Cha-con, Chồng-vợ là những mối quan hệ cơ bản nhất
và được gọi là Tam cương
Những phạm trù cơ bản trong thuyết Chính trị - Đạo đức của Khổng Tử là Nhân, Lễ, Nghĩa và Chính danh:
- Nhân: là lòng thương người Người có nhân là người có đạo đức hoàn toàn Trung và Thứ là hai khía cạnh của Nhân: Trung là tính ngay thẳng với người, điều mình muốn thì hãy làm cho người; Thứ là lòng vị tha, điều mình không muốn thì đừng làm cho người Trong đạo nhân, hiếu là gốc - hiếu không chỉ thể hiện ở việc phụng dưỡng cha mẹ mà quan trọng nhất là lòng thành kính Khổng
Tử nói: “Nuôi cha mẹ mà chẳng kính trọng thì có khác gì nuôi thú vật”
-Lễ: là hình thức thể hiện lòng nhân Lễ bao gồm mối quan hệ rộng lớn, từ quan hệ thần linh đến quan hệ ứng xử giữa người với người, quan hệ đạo dức, phong tục, tập quán, quan hệ nhà nước, luật pháp … Tuân theo lễ là một điều kiện để thực hiện nhân đức Người quân tử không bao giờ làm trái với lễ
Trang 9- Nghĩa: là hành vi đạo đức thể hiện đức nhân Người làm việc nghĩa thì hy sinh lợi ích của mình vì người khác Nghĩa và lợi không thể dung hợp với nhau Khổng Tử nói: “Quân tử biết rõ về nghĩa, tiểu nhân biết rõ về lợi”
- Chính danh: có nghĩa là phải bố trí người ở cương vị phù hợp với năng lực, người ở cương vị nào thì phải xứng đáng với cương vị đó, phải làm đúng danh phận, chức trách của mình “quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” Nói và làm không được vượt chính danh:
+ Khổng Tử đề cao người hiền tài với tư tưởng Thượng hiền và khuyên các nhà cai trị nên sử dụng người hiền tài quản lý đất nước và loại bỏ dần những kẻ bất tài trong bộ máy cai trị
+ Phải thực hiện ba điều: thực túc, binh cường, dân tín
+ Ông khuyên giai cấp thống trị phải thương yêu, tôn trọng chăm lo nhân dân Đồng thời ông khuyên dân phải an phận, lấy nghèo làm vui, nghèo không oán trách
+ Tuy nhiên những kế sách chính trị của ông chỉ dừng lại ở tính chất cải lương và duy tâm chứ không phải phải bằng cách mạng hiện thực (hạn chế)
* Quan điểm CT - XH của Mạnh Tử:
Tư tưởng về CT - XH của Mạnh Tử thể hiện ở triết lý nhân sinh (triết lý về cuộc đời) mà trung tâm là học thuyết về tính thiện Ông nói: “Nhân chi sơ tính bản thiện” Tính thiện của con người có ở 4 đức tính lớn vốn có bẩm sinh, đó là Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí và chúng bắt nguồn từ tứ đoan:
- Ai sinh ra cũng có lòng thương xót nên phải lấy Nhân mà cảm hoá
- Ai sinh ra cũng có lòng ghen ghét nên phải lấy Nghĩa mà điều chỉnh
- Ai sinh ra cũng cung kính nên phải lấy Lễ mà giáo hoá
- Ai sinh ra cũng biết phải trái nên phải lấy Trí mà phân biệt đúng sai
Tính thiện của con người vốn bắt nguồn từ cái tâm do trời phú để cho con người ta biết suy nghĩ, phân biệt phải trái đúng sai để ứng xử với con người và vạn vật
Dựa trên thuyết tính thiện và tư tưởng đức trị của Khổng Tử, Mạnh Tử đưa ra thuyết “Nhân chính”, tức là cái trị là chính, phải vì nhân chứ không phải vì lợi Chủ trương của thuyết này là lấy đức để thu phục lòng người, phản đối việc cai trị bằng bạo lực
Trên cơ sở tư tưởng nhân nghĩa và chủ trương nhân chính, Mạnh Tử đã đề ra một quan điểm rất độc đáo đó là dân bản Ông coi dân là quan trọng nhất, kế đến là giang sơn xã tắc, vua là thường thôi “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” Và ông giải thích là có dân mới lập nên nước, có nước mới lập nên vua, chứ vua không thể sinh ra dân Quan hệ vua tôi là quan hệ hai chiều, tôn trọng lẫn nhau
Tóm lại, triết học của Mạnh Tử tuy còn mang yếu tố duy tâm và thần bí (hạn chế) nhưng trong học thuyết về CT-XH với tư tưởng “nhân chính”, “dân bản” có ý nghĩa tiến bộ, phù hợp với yêu cầu và xu thế phát triển của lịch sử XH
* Quan điểm CT - XH của Tuân Tử:
Tuân Tử là người phát triển học thuyết của Khổng Tử, đề cao nhân, nghĩa, lễ nhạc và chính danh Tuy nhiên, ông phản đối quan niệm của Khổng Tử và Mạnh Tử về những vấn đề chính trị và đạo đức Tuân Tử đứng trên quan điểm duy vật và vô thần (tích cực), ông cho rằng tự nhiên gồm 3 bộ phận: trời, đất và người Trời chỉ là một bộ phận của tự nhiên, bản thân tự nhiên là cơ sở hình thành
và biến hoá của vạn vật Như vậy, trời không quyết định vận mệnh của con người, con người là sản phẩm cao nhất của giới tự nhiên Việc trị hay loạn, lành hay dữ là do con người làm ra chứ không phải tại trời Nếu con người hành động thuận với lẽ tự nhiên thì lành, trái lại sẽ gặp loạn “Lấy sự trị
mà đối phó với đạo thì lành, lấy sự loạn mà đối phó với đạo ấy thì dữ”
Không chỉ hành động phù hợp với tự nhiên mà con người có thể cải tạo tự nhiên và XH để làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn Ông phê phán mê tín dị đoan, việc tôn thờ trời, ỷ lại trời, khuyên con người nên tin ở sức mình, ra sức phát triển sản xuất, thực hành tiết kiệm, ăn ở điều độ, giữ gìn sức khoẻ thì trời sẽ không để cho nghèo khó và bệnh tật
Về đạo đức ông đưa ra thuyết tính ác cho nên ông chủ trương sửa trị việc nước, giáo dục đạo đức,
lễ nghĩa làm cho XH tiến bộ, văn minh hơn Ông đề cao “lễ trị”, ông cho rằng lễ nghĩa và đẳng cấp trong XH là cần thiết để duy trì trật tự XH
2 Sự khác nhau trong đường lối chính trị của Nho gia, Đạo gia và Pháp gia
* Nho gia
Đường lối chính trị: “đức trị” hay “nhân trị”
- Coi trọng giáo dục, phản đối bạo lực và chiến tranh
- Khổng Tử coi XH là tổng hợp các mối quan hệ giữa người với người, đó là Ngũ luân và Tam cương
Trang 10Các phạm trù cơ bản trong học thuyết của Khổng Tử là Nhân-Nghĩa-Lễ-Chính danh:
- Đường lối nhân trị của Khổng Tử có tính chất điều hòa mâu thuẫn giai cấp, phản đối đấu tranh Ông khuyên giai cấp thống trị phải thương yêu, tôn trọng, chăm lo cho nhân dân Đồng thời, ông cũng khuyên dân phải an phận, lấy nghèo làm vui, nghèo mà không oán trách Ông coi việc oán trách cảnh nghèo hèn, ưa dùng bạo lực là mầm mống của loạn Tuy nhiên những kế sách chính trị của ông chỉ dừng lại ở tính chất cải lương và duy tâm chứ không phải phải bằng cách mạng hiện thực
* Đạo gia
Đường lối chính trị: sử dụng học thuyết “vô vi”, có nghĩa là sống, hoạt động theo lẽ tự nhiên, thần phái, không làm trái với tự nhiên, không can thiệp vào trật tự của tự nhiên, chỉ làm cho dân no bụng, xương cốt mạnh mà lòng hư tĩnh, khiến cho dân không biết, không muốn
- Không dùng luật pháp, không cần giáo dục nhân, lễ, nghĩa, trí
- Lão Tử chủ trương hạn chế quyền lực của Nhà nước và hoạt động của dân đến mức tối đa, để cho dân sống chất phác thời nguyên thủy, duy trì tình trạng nước nhỏ, dân ít
- Thế là địa vị, thế lực, quyền uy của người cầm đầu
- Thuật là phương pháp mưu trí, thủ đoạn trong việc trị dân
Câu 2: Triết học Ấn Độ cổ đại
* Điều kiện ra đời và nét đặc thù của triết học Ấn Độ cổ, Trung đại
- Về địa lý Ấn Độ Cổ đại là một bán đảo rộng lớn ở phía Nam châu Á, có điều kiện tự nhiên rất phức tạp: địa hình có nhiều núi non trùng điệp, có nhiều sông ngòi với những đồng bằng trù phú; Khí hậu
có vùng nóng, ẩm, mưa nhiều, có vùng lạnh giá quanh năm tuyết phủ, lại có những sa mạc khô khan
- Về phương diện lịch sử Xã hội Ấn Độ cổ đại là một xã hội ra đời từ rất sớm: Khoảng thế kỷ XXV trCN trong lưu vực sông Ấn đã nảy nở một nền văn minh cao, được gọi là nền văn minh Sông Ấn hay Harappa
Khoảng thế kỷ XV trước CN, các bộ lạc du mục Arya đã từ phía Bắc xâm nhập vào đất Ấn Độ Họ dần định cư, rồi đồng hóa với dân bản địa Dravida, tạo thành cơ sở cho sự xuất hiện quốc gia, nhà nước lần thứ hai Từ thế kỷ VII trCN đến thế kỷ XVI CN đất nước Ấn Độ phải trải qua hàng loạt biến
cố lớn, đó là những cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau giữa các vương triều trong nước và sự xâm lăng của các quốc gia bên ngoài Vào thế kỷ XVIII, Ấn Độ bị đế quốc Anh đô hộ, từ đó Ấn Độ bước sang thời kỳ thống nhất về chính trị thúc đẩy sự kết hợp giữa văn hóa cổ truyền với văn hóa phương Tây
- Về kinh tế - xã hội Nét nổi bật của Ấn Độ cổ đại là sự tồn tại sớm và kéo dài kết cấu kinh tế xã hội theo mô hình "công xã nông thôn" Trong kết cấu này, ruộng đất thuộc về nhà nước, dân công xã canh tác ruộng đất công và nộp tô cho nhà nước, nô lệ không có vai trò trong sản xuất Trên cơ sở
mô hình ấy, trong xã hội Ấn Độ cổ trung đại đã tồn tại rất dai dẳng sự phân chia đẳng cấp, sự phân biệt chủng tộc, dòng dõi, nghề nghiệp, tôn giáo làm cho kết cấu xã hội rất phức tạp
- Về văn hóa Ấn Độ Cổ đại được hình thành trên cơ sở điều kiện tự nhiên và hiện thực xã hội Người Ấn Độ đã biết quả đất tròn quay xung quanh một trục, đã biết sáng tạo ra lịch pháp, đã có hệ thống số đếm thập phân, đã biết đến số không, đã có những thành tựu trong đại số, hình học, khai căn, các phép tính lượng giác, đường tròn, số ., y học và hóa học phát triển Các tập sử thi vĩ đại như Mahabharata và Ramayana cũng hình thành trong thời kỳ này Đây cũng là thời kỳ phát triển tư duy trừu tượng, thời kỳ ra đời của các hệ thống tôn giáo, triết học
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và văn hoá luôn tác động mạnh đến con người Ấn độ, và để lại dấu ấn đậm nét, tạo nên cơ sở ra đời và quy định nội dung tính chất cuả nền triết học Ấn Độ Cổ, Trung đại Nét đặc thù của tư tưởng triết học này chịu ảnh hưởng lớn của tư tưởng tôn giáo có tính chất "hướng nội" Xu hướng lý giải và thực hành những vấn đề nhân sinh quan dưới góc độ tâm linh tôn giáo nhằm đạt tới sự "giải thoát" là xu hướng trội của nhiều học thuyết triết học - tôn giáo Ấn Độ
cổ , trung đại
Trang 11* Những đặc điểm cơ bản:
- Tính thống nhất và đa dạng - đặc điểm nổi bật của triết học Ấn Độ cổ đại
Tính thống nhất và đa dạng của triết học Ấn Độ cổ đại, được biểu hiện ở chỗ: trên cùng một đặc điểm điều kiện và yêu cầu của thực tiễn lịch sử - xã hội Ấn Độ cổ đại, đó là điều kiện tự nhiên, điều kiện khí hậu hết sức đa dạng, khắc nghiệt cùng với sự chi phối; và đặc biệt là chế độ nô lệ mang tính chất gia trưởng hà khắc, lại bị kìm hãm bởi công xã nông thôn, với sự khép kín về địa bàn cư trú, về dân cư, về tổ chức hành chính và nền kinh tế tự nhiên, tự cung, tự cấp, bảo thủ, trì trệ và chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội - chế độ varna, là sự phân biệt về chủng tính, sắc tộc, về hôn nhân, nghề nghiệp, về tôn giáo và cả về sự giao tiếp hết sức khắt khe; với cùng một mục đích là tìm kiếm câu trả lời cho vấn đề căn bản nhất của nhân sinh, đó là vấn đề về bản chất, giá trị và ý nghĩa tối cao của cuộc đời con người; là vấn đề giải thoát con người khỏi nỗi khổ của cuộc đời và mưu cầu hạnh phúc cho nhân sinh; và cùng bị chi phối bởi một truyền thống và tín ngưỡng cổ truyền (từ Veda qua Upanishad đến Vedànta) như là một sợi chỉ đỏ xuyên suốt, làm nền tảng cho tư tưởng triết lý, tôn giáo Ấn Độ; nhưng các trường phái triết học tôn giáo Ấn Độ lại phát triển theo các khuynh hướng và tính chất khác nhau, trong thế giới quan, nhân sinh quan và nhận thức luận, như: có những trường phái thuộc hệ thống triết học - tôn giáo chính thống nhưng cũng có những trường phái thuộc hệ thống triết học - tôn giáo không chính thống; có trường phái có tính chất nhị nguyên, thậm chí đa nguyên, nhưng cũng có trường phái có tính chất nhất nguyên về bản thể luận; có trường phái có tính chất duy tâm triệt để, nhưng cũng có trường phái có tính chất duy vật vô thần triệt để trong lập trường thế giới quan; có trường phái có khuynh hướng bảo thủ, nhưng cũng có trường phái có khuynh hướng tiến bộ trong tính chất và ý nghĩa triết lý
- Triết học Ấn Độ cổ đại kế thừa tư tưởng văn hoá dân gian của người Ấn Độ tối cổ biểu hiện ở kinh Vêđa Mỗi trường phái triết học thường kế tục và tìm cách làm sáng tỏ một học thuyết đã có mà không gạt bỏ hệ thống triết học có trước (C Mác nhận định rằng do đặc điểm này của triết học Ấn
Độ mà dẫn đến sự trì trệ của xã hội Ấn Độ Sách” Triết học Mác-Lênin.t1 Học viện Nguyễn Ái Quốc nxb.Tư tưởng vh1991 tr57)
- Nền triết học Ấn Độ cổ đại có nội dung cốt yếu là bàn về nguồn gốc của thế giới và mối quan hệ giữa linh hồn và thề xác, về sự giải thoát của tâm linh Điều này cho thấy xu hướng “hướng nội” rất
* Các trường phái:
- Trường phái chính thống
+ Samkhya: Tư tưởng trung tâm của phái này là vấn đề bản nguyên của vũ trụ Phái Samkhya sơ
kỳ cho rằng mọi vật có nguyên nhân vật chất “Vật chất đầu tiên” là thể thống nhất của 3 yếu tố bao hàm sự đối lập Đó là: Sattva (nhẹ, sáng, tươi vui) Rajas (kích thích, động), Tamas (nặng, ỳ) Ba yếu
tố này ở trạng thái cân bằng thì “vật chất đầu tiên” chưa biểu hiện - tức là trạng thái không thể trực quan được Nhưng khi trạng thái cân bằng đó bị phá vỡ thì đây là lúc khởi đầu của sự sinh thành vạn vật Tuy nhiên phái Samkhya hậu kỳ có khuynh hướng nhị nguyên luận
+ Mimansa: Vạn vật có nguyên nhân của nó Thế giới là một quá trình liên tục của các sự vật hình thành và tiêu diệt Tri thức của con người dựa vào cảm giác mà cảm giác không thể nhận ra thần
Do vậy không có chứng cứ nào để nói rằng có thần hay thượng đế sinh ra vạn vật (Phái Mimansa rất tôn trọng nghi lễ và thừa nhận sự đúng đắn của kinh Vêda,mà Vêda gồm nhiều tập nói về thần, nhưng Mimansa phủ nhận thần vì họ cho rằng tên các thần trong Vêda chỉ là những âm thanh cần thiết để đọc thần chú trong nghi lễ mà thôi) Tuy nhiên phái Mimansa hậu kỳ thừa nhận có thần + Vedànta: Vedànta có nghĩa là kết thúc Vêda, mà tác phẩm kết thúc Veda là Upanisad Đây là học thuyết của đạo Bà la Môn Thuyết này cho rằng “Tinh thần thế giới “là nguồn gốc sinh ra vạn vật Linh hồn con người là hiện thân của tinh thần thế giới và tồn tại vĩnh viễn theo luật luân hồi Muốn sống được hạnh phúc thì linh hồn con người phải được siêu thoát, nghĩa là linh hồn con người phải hòa nhập với tinh thần thế giới Để đạt được như vậy thì con người phải từ bỏ cuộc sống trần tục xấu xa, phải dựa vào sự linh báo của kinh Vêda
Trang 12+ Yoga: Thừa nhận có thần nhưng cho rằng thần cũng là một dạng linh hồn cá thể mà thôi Phái Yoga, Minansa, Vedanta đều có xu hướng giải quyết vấn đề nhân sinh quan theo mục đích đạt tới
sự giải thoát “hoà đồng cái tôi“, tiểu ngã” với cái “đại ngã, vũ trụ” Bằng phương pháp luyện tập và tu luyện,con người có thể làm chủ mình và đạt được sự giải thoát
+ Trường phái Nyàya - Vaisesika: Phái Nyaya -Vaisesika cho rằng thế giới được hình thành từ nguyên tử, nguyên tử là bản nguyên của vũ trụ Nguyên tử gọi là Anu Linh hồn nằm bên ngoài vật chất và phụ thuộc vào vật chất, linh hồn được thể hiện ra như ước vọng, ý chí, tình cảm vui buồn Về mặt nhận thức trường phái triết học này cho rằng sự nhận thức của con người bao giờ cũng lấy thế giới khách quan làm đối tượng; đề cao vai trò của kinh nghiệm Hơn nữa phái này còn cho rằng cần kiểm tra tính đúng đắn của nhận thức bằng thực tế Về lôgic, họ đã nêu được cách suy luận qua ngũ luận đoạn (1/ Đồi có lửa cháy; 2/ Vì bốc khói; 3/ Tất cả cái gì bốc khói đều có lửa cháy; 4/ Đồi bốc khói thì không thể không có lửa cháy; 5/ Do đó đồi có lửa cháy.) Đây là một trường phái triết học duy vật trong nền triết học Ấn Độ cổ đại Tuy nhiên phái này còn thừa nhận có thần linh làm cầu nối giữa nguyên tử và linh hồn Thần cũng là một nguyên tử để xây dựng nên thế giới
- Trường phái không chính thống
+ Jaina: Tư tưởng căn bản của phái này là thuyết tương đối: thế giới vừa biến đổi, vừa không biến đổi Cái vĩnh hằng là vật chất, cái không vĩnh hằng là các dạng của vật chất Nhưng phái này cũng thừa nhận mọi vật có linh hồn (Có thể xem tư tưởng của họ là nhị nguyên luận)
+ Phật giáo (Buddha): Người sáng lập Phật giáo tên là Buddha (Trung Quốc dịch là Phật) Tên thật là Siddharta (Tất Đạt Đa) là người sáng lập nên Phật giáo, Siddharta sinh năm 623 và mất năm
543 trước CN, sống khoảng 80 năm
Kinh điển của Phật giáo gồm 3 bộ, gọi là Tripitaka (Tam Tạng)
+ Kinh là bộ sách mà học trò của Thích ca ghi chép những lời truyền giảng của Thích ca + Luật là bộ sách hàm chứa những điều giới của nhà Phật mà những người tu hành phải tuân theo
+ Luận là sự tổng hợp tư tưởng của các bậc cao tăng bàn luận về những nguyên lý căn bản của Phật
Bản thể luận (vũ trụ quan, thế giới quan): Về mặt bản thể luận tư tưởng của Phật đã vượt ra khỏi những quan điểm của tư tưởng đương thời Phát triển học thuyết về mối quan hệ nhân quả nên Phật giáo phủ nhận sự tồn tại của Brahman
Tư tưởng biện chứng: Phật nhìn thế giới trong trạng thái vận động biến đổi không ngừng nên Phật cũng phủ nhận “cái Tôi” Từ đó Phật giáo nêu hai khái niệm vô thường, ngô ngã
+ Vô thường: “là không thường còn”, mà vạn vật đều biến đổi trong từng giây từng khắc theo chu trình sinh - trụ - dị - diệt, không có bất kì một thực thể nào vĩnh hằng không sinh diệt
+ Vô ngã: là không có cái gọi là “ta”, vì vạn vật trong vũ trụ chỉ là sự “giả hợp” do hội đủ nhân duyên nên thành ra “có” (tồn tại) Ngay cả bản thân con người cũng là do ”ngũ uẩn” hội tụ lại (sắc-vật chất, thụ-cảm giác, tưởng-ấn tượng, hành-suy lý, thức- biết) Từ các quan niệm trên cho thấy rằng về mặt vũ trụ quan thì tư tưởng của Phật là vô thần và biện chứng
Nhân sinh quan của Phật giáo: Tư tưởng bao trùm trong nhân sinh quan Phật giáo là tư tưởng
“giải thoát” được thể hiện trong “tứ Diệu đế”
(i) Khổ đế: chân lý về sự khổ Phật cho rằng kiếp người là khổ, nỗi khổ ấy được biểu hiện ở quy luật sinh - lão - bệnh - tử Ngoài ra, nỗi khổ của kiếp người còn được biểu hiện ở các khái niệm sau:
Ái biệt ly: nỗi khổ của sự chia xa, thương nhau mà phải xa nhau
Oán tăng hội: nỗi khổ được hình thành từ chỗ ghét nhau mà chung sống với nhau
Sở cầu bất đắc: muốn mà không được
Thủ ngũ uẩn: khổ do thân xác con người tạo nên (Sắc, thụ, tưởng, hành, thức)
Nói một cách khái quát theo triết học Phật giáo thì nổi khổ của con người là do con người tạo ra, quan điểm này là đúng nhưng chưa thoả đáng bởi con người có quan hệ với thiên nhiên và với xã hội và chính thiên nhiên cũng như quan hệ xã hội là nguyên nhân làm cho con người khổ
(ii) Nhân đế: Về nguyên nhân của sự khổ Theo Phật sự khổ của kiếp người là do 12 nguyên nhân tạo nên (gọi là thập nhị nhân duyên: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử) Trong các nguyên nhân ấy thì “Vô minh”, tức sự ngu tối là nguyên nhân đầu tiên Ngoài
ra có những nguyên nhân rất hiện thực, cụ thể trong đời sống hằng ngày, nhưng cũng có những điều rất thần bí
(iii) Diệt đế: Cho rằng sự khổ của kiếp người là có thể diệt đi được
Trang 13(iv) Đạo đế: là chân lý về con đường giải thoát Đó là thực hiện bát chánh đạo
Chánh kiến: nhìn cho đúng, thấy cho đúng, hiểu cho đúng về sự thật nhân sinh
Chánh tư duy: suy nghĩ đúng
Chánh ngữ: nói năng cho đúng
Chánh nghiệp: bỏ tà nghiệp đi theo con đường chân chính
Chánh mệnh: phải biết tiết chế dục vọng
Chánh định: phải biết định tâm hướng về sự giải thoát
Chánh niệm: phải luôn tâm niệm, có niềm tin vững chắc vào sự giải thoát
Chánh tinh tiến: phải hăng say truyền bá tư tưởng của Phật, để đạt được sự tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn
Thực hiện đúng tám chánh Đạo thì sẽ đến được cõi Niết Bàn Niết Bàn là trạng thái thanh thản của tâm linh, mục đích cuối cùng của sự giải thoát
Phật giáo không thừa nhận thượng đế sáng tạo ra thế giới nhưng vẫn thừa nhận linh hồn bất
tử, độc lập với thể xác, trải qua nhiều kiếp luân hồi do nghiệp báo Phật cũng hướng con người đến niết bàn - một trạng thái tâm linh thanh thản Muốn vậy con người phải khổ hạnh tu luyện Có thể nói rằng triết học phật giáo là triết học hướng nội,chú trọng đến đời sống tâm linh của con người Triết học Phật giáo là một trường phái triết học có địa vị lớn trong lịch sử tư tưởng của Ấn Độ và của nhân loại nói chung, dù nội dung của nó có những mặt hạn chế như bi quan, thoát tục Tuy nhiên có những luận điểm triết học của nó giàu tính minh triết, đặc biệt là tư tưởng biện chứng về thế giới có tác dụng trực tiếp trong quá trình con người điều chỉnh hành vi để đạt được chân, thiện, mỹ
+ Lokàyata
Bản thể luận:
Đại biểu rõ rệt nhất của đường lối duy vật trong Triết học Ấn Độ cổ đại là học thuyết Lokayata Những người theo học thuyết này cho rằng thế giới là vật chất Họ khẳng định rằng mọi cái trên thế giới đều do 4 yếu tố là lửa, không khí, nước và đất hợp thành Các sinh vật, kể cả người cũng là từ những yếu tố vật chất ấy mà ra Nói về vật chất là cơ sở của mọi cái tồn tại, thuyết này có câu “Sự sống đã sinh ra từ vật chất “ Phái này giải quyết vấn đề quan hệ giữa ý thức và vật chất một cách duy vật mộc mạc Họ hiểu ý thức là một thuộc tính cố hữu của cơ thể; ý thức sinh ra do sự phối hợp tất cả 4 yếu tố ấy trong cơ thể con người Người không phải là gì khác mà chỉ là cơ thể có ý thức Như thế, đối với phái Lokayata, không có linh hồn tách khỏi cơ thể, không có linh hồn đạt tới thế giới thiên đình hay là năng lực siêu thoát, không có linh hồn bất tử
Họ phủ nhận sự tồn tại của thần và thừa nhận thế giới vật chất là đối lập với ý chí của thần mà tuân theo quan hệ nhân quả nội tại của nó: “Lửa nóng; nước lạnh và cái mát mẻ của gió sớm mai Sự khác nhau ấy đã được tạo ra như thế nào? Nó xuất phát từ bản chất riêng của chúng “ Nhận thức luận: Phái này đã chú ý đến những vấn đề của nhận thức luận và lôgic học Nguồn gốc của sự nhận thức chân lý là tri giác, cảm giác Tri thức chân thực sinh ra từ tri giác Họ cho rằng
sự suy lý để đi đến kết luận, dù rằng không xác thực hoàn toàn nhưng vẫn có ích cho hoạt động thực tiễn
Về nhân sinh quan: Phái này cũng phê phán tôn giáo cả trên lĩnh vực đạo đức Họ cho rằng tuyên truyền cho sự chấm dứt đau khổ bằng cách kiềm chế mọi dục vọng thực ra là tuyên truyền cho cái chết Họ coi sự hưởng thụ những thú vui của cuộc sống là quyền tự nhiên của con người
Câu 3: Triết học Hy Lạp cổ đại
* Điều kiện kiện lịch sử ra đời:
Hy lạp cổ đại là quốc gia có khí hậu ôn hòa rộng lớn bao gồm miền nam bán đảo Bancang, miền ven biển tây Tiểu Á v à nhiều hòn đảo ở biển Ê giê Có điều kiện tự nhiên rất thuận lợi với nhiều dãy núi ngang dọc, đồng bằng rộng lớn, trù phú phì nhiêu với vùng bờ biển phía đông khúc khuỷu với nhiều vịnh v à đảo thuận lợi cho ngành hàng hải phát triển giao thương với các nước Tiểu Á và Bắc Phi
Hy Lạp cổ cũng bước qua những bước thăng trầm lịch sử cũng đấu tranh và phát triển; cũng chuyển
từ thời đại đồ đồng sang đồ sắt từ đó năng suất lao động được tăng cao, của cải vật chất dồi dào cộng với điều kiện thuận lợi Hy Lạp cổ đại sớm trở thành quốc gia chiến hữu nô lệ có nền công th ương nghiệp phát triển, có chế độ dân chủ có nền văn hóa phát triển rực rở lúc bấy giờ Suốt trong 4 thời kỳ phát triển từ Thời kỳ Cờrét Mixen(Crète-Micens)-thời kỳ Home(Homère), thời kỳ thành bang
và đặc biệt trong thời kỳ Maxeđôin(Macédoine) kéo dài đến thế kỷ IV, Người Hy Lạp đã xây dựng
Trang 14nền văn minh vô cùng sán lạn với những thành tựu rực rở trong các lĩnh vực khác nhau Chúng là cơ
sở hình thành nên văn minh phương tây hiện đại, vì vậy Ăngghen đã nhận xét: “không có cơ sở văn minh Hy Lạp và Đế quốc La Mã thì không có nền văn minh Châu Âu hiện đại được”
Người Hy Lạp đã để lại một kho tàng thần thoại rất phong phú, những tập thơ chứa chan tình cảm, những vở kịch hấp dẫn, phản ánh cuộc sos61ng sôi động, lao động bền bỉ, cuộc đấu tranh kiên cường chống lại tự nhiên – xã hội…của người Hy lạp Về nghệ thuật, Người Hy lạp đã để lại các công trình kiến trúc điêu khắc, hội họa có giá trị, về luật pháp đã xây dựng một nền pháp luật và thực hiện khá nghiêm ở thành bang Aten, về thành tựu toán học, thiên văn, vật lý được các nhà khoa học như Talet, Pytago, Ácximet, ƠcLit … sớm phát hiện ra đặc biệt Người Hy lạp để lại một di sản triết học đồ sộ và sâu sắc
- Hai là trong triết học Hy Lạp cổ đại có sự phân chia v à đối lập rõ rang giữa trào lưu duy vật, duy tâm, biện chứng và siêu hình, hữu thần và vô thần Trong đó, điển hình là cuộc đấu tranh giữa trào lưu duy vật của Đêmôcrit và trào lưu duy tâm của Platon, giữa trường phái siêu hình của Pácmênit
và trường phái biện chứng của Hêcraclit
- Ba là triết học Hy lạp cổ đại gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về lĩnh vực khác nhau nhằm xây dựng bức tranh về thế giới như một hình ảnh chỉnh thể thống nhất mọi
sự vật hiện t ượng xảy ra trong nó Do tr ình độ mổ xẻ, phân tích tự nhiên chưa đạt trình độ mỗ xẻ, phân tích tự nhiên để đi sâu vào bản chất sự vật, mà nó chỉ nghiên cứu tự nhiên trong tổng thể để dựng nên bức tranh tổng quát về thế giới Vì vậy các nhà triết học đồng thời là các nhà khoa học tự nhiên, họ quan sát trực tiếp các hiện tượng tự nhiên để rút ra kết luận triết học
- Bốn là, triết học Hy Lạp cổ đại đã xây dựng nên phép biện chứng chất phác Các nhà triết học đã xây dựng phép biện chứng để nâng cao nghệ thuật h ùng biện, để bảo vệ những quan điểm triết học của mình, để tìm chân lý Họ phát hiện ra phép biện chứng nhưng chưa trình bày chúng như một hệ thống lý luận chặt chẽ
- Năm là, triết học Hy Lạp coi trọng vấn đề con người Các nhà triết học Hy lạp cổ đại đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về con ng ười, cố lý giải linh hồn và thể xác, về đạo đức - chính trị - xã hội củ họ Tuy còn nhiều bất đồng nhưng nhìn chung, các triết gia đều khẳng định con người là tinh hoa cao nhất của tạo hóa
* Các trường phái triết học của Hy Lạp cổ đại:
Các trường phái triết học Hy Lạp cổ đại rất đa dạng, song nh ìn chung thể hiện rõ khuynh hướng nhất nguyên(chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm) hay khuynh hướng nhị nguyên rỏ ràng và nhất quán
- Trường phái duy vật:
Milê: Talét, Anaximăng drơ, Anacimen
+ Họ xem bản nguyên vật chất là nước, apeiron, không khí
+ Quan niệm của họ mộc mạc nhưng vô thần, chống lại thế giới quan thần thoại đương thời
và chứa đựng những yếu tố biện chứng chất phác
Hêraclit:
Bản nguyên vật chất là lửa:
+ vạn vật sinh ra từ lửa, khi mất đi quay về với lửa
+ Vũ trụ đã và đang là ngọn lửa vĩnh hằng, không ngừng b ùng cháy, tàn lụi; tàn lụi, bùng cháy theo logốt nội tại của mình
Bản tính thế giới là biện chứng:
+ Vạn vật cả linh hồn chứa trong mình các mặt đối lập luôn đấu tranh với nhau
+ Vạn vật vừa tồn tại, không tồn tại, luôn sinh th ành, biến đổi, chuyển hóa“ không ai tắm hai lần trên một dòng sông”
Nhận thức thế giới: Là phát hiện ra cái lôgốt, tính hài hòa xung đột của những mặt đối lập tồn tại trong sự vật đa dạng bằng lý tính
Trang 15NX: Hecraclit có những phỏng đoán thiên tài về quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Nhiều luận điểm về c ơ bản của phép biện chứng được ông đề cập đến dưới dạng danh ngôn tỷ dụ Phép biện chứng chất phát l à đóng góp của ông vào kho tàng tư tưởng của nhân loại
- Trường phái đa nguyên:
+ Vũ trụ tồn tại trải qua 4 giai đoạn
+ Sự sống hình thành trong đại dương
- Trường phái nguyên tử của Đêmôcrit:
Thuyết nguyên tử của Đêmôcrit:
+ Nguyên tử -hạt vật chất không phân chia hay biến đổi, luôn vận động giống nhau về chất khác nhau về lượng
+ Chân không – không có kích thước và hình dáng vô tận duy nhất là điều kiện để nguyên tử vận động
+ Nguyên tử vận động theo luật nhân quả, tất nhiên tuyệt đối; khi chúng tụ lại thì sự vật(sự sống, linh hồn)được tạo thành khi chúng tách ra thì sự vật biến mất
Quan niệm về nhận thức: có 2 dạng nhận thức li ên hệ với nhau
+ Nhận thức mờ tối dựa trên cảm tính, mang lại hiểu biết bề ngo ài
+ Nhận thức sáng suốt dựa trên lý tính, giúp nắm bắt bản chất thế giới
+ Nhận thức sáng suốt phải dựa tr ên nhận thức mờ tối để đào sâu nó
Quan niệm về đạo đức-chính trị-xã hội:
+ Đạo đức duy lý: Hiểu biết là cơ sở của hành vi đạo đức; sống có đạo đức là sống đúng mực, ôn hòa, không hại mình, không hại người; hạnh phúc là trạng thái mà trong đó con người sống hưởng lạc với tâm hồn thanh thản
+ Nhu cầu vật chất của con người là động lực phát triển xã hội
+ Chế độ tốt là chế độ dân chủ chủ nô, gắn với nền th ương mại và sản xuất thủ công, với tình thân ái, ôn hòa và l ợi ích chung của công dân tự do
+ Nhà nước cộng hòa là nền tảng của dân chủ chủ nô, tự điều h ành chuẩn mực và pháp lý Quản lý nhà nước là nghệ thuật mang tính hạnh phúc, vinh quang tự do và dân chủ cho con người
Nô lệ phải tuân theo lệnh của ông chủ
NX: Là đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật, tư tưởng của Đêmôcrit sau này xung đột mạnh với CNDT của Platon
- Trường phái duy tâm
Trường phái của Pythago
Con số là bản chất của vạn vật: Trật tự thần thánh của những con số quy định trật tự của vạn vật(TN), trật tự của những điều thiện - ác(XH).Điều ác xảy ra khi con người không thực hiện đúng trật tự thần thánh
+ Linh hồn bất tử: tồn tại độc lập với thể xác, chịu sự chi phối bởi luật nhân hồi
+ Mục đích của cuộc sống là giải thoát linh hồn ra khỏi thể xác
+ Nhận thức là chức năng của linh hồn, bằng chi êm nghiệm tâm linh, qua sự mách bảo của thần linh mà chân lý xuất hiện
Trường phái Pytago đặt nền móng cho trào lưu duy tâm thời cổ Hy lạp
Trường phái Êlê
Pácmênit:
+ Tồn tại là bản chất chung của vạn vật
Trang 16+ Không có gì được sinh ra từ hư vô(không tồn tại); không có gì mất đi mà không để lại dấu vết-tồn tại
+ Trong thế giới vạn vật biến đổi nhưng bản thân tồn tại luôn bất biến, đồng nhất với chính nó + Bản chất của tồn tại là bất biến, vĩnh hằng và đơn nhất
+ Tồn tại ( chân lý) chỉ được nhận thức bằng lý tính, cảm tính chỉ mang lại ảo giả
Dênông: Xây dựng các apôri để đào sâu tư duy lý luận và chứng minh tồn tại là đồng nhất, duy nhất và bất biến; còn tính phức tạp đa dạng và vận động của vạn vật là ảo
Apôri được Aritốt ghi lại : Asin và rùa, mũi tên bay và không bay, phân đôi, cái đa tạp
- Trường phái duy tâm khách quan:
Thuyết ý niệm và linh hồn
+ Thế giới ý niệm( lý tính) tồn t ại trên trời mang tính phổ biến, chân thực tuyệt đối, bất biến, vĩnh hằng và duy nhất
+ Thế giới sự vật( cảm tính) tồn tại dưới đất mang tính cá biệt, ảo giả, tương đối, khả biến thoáng qua và đa tạp
+ Ý niệm là cái có trước, là nguyên nhân, bản chất, khuôn mẫu của sự vật
+ Sự vật là cái có sau, là cái bóng được mô phỏng, sao chép lại từ ý niệm, xuất hiện từ ý niệm
và sao chép từ ý niệm, xuất hiện từ ý niệm v à có quan hệ ràng buộc với ý niệm
+ Sự ra đời của thế giới vật chất gắn liền với 4 yếu tố c ơ bản : Tồn tại ( ý niệm), không tồn tại(vật chất), con số (tỷ lệ), sự vật cảm tính
+ Con người là sự kết hợp của thể xác khả tử ( đất, n ước, lửa, không khí là nơi trú ngụ tạm thời của linh hồn) với linh hồn bất tử
+ Linh hồn con người là sản phẩm của linh hồn vũ trụ được thượng đế tạo ra từ lâu; chúng ngự trị trên các vì sao, sau đó dùng cánh bay xuống ngự trị vào thể xác con người Khi đó nó quên hết mọi quá khứ Linh hồn con người gồm 3 bộ phận: cảm giác, ý chí và lý trí bất tử
Quan niệm về nhận thức:
+ Nhận thức là sự hồi tưởng( trực giác, thần bí) của linh hồn bất tử về những gì nó nó chiêm ngưỡng trong thế giới ý niệm nhưng bị lãng quên
Quan niệm về đạo đức, chính trị, xã hội
+ Sống hạnh phúc là sống có đạo đức, hướng thiện: Hành vi hướng thiện là dùng lý trí khám phá ý niệm tuyệt đối khách quan tr ên trời
+ Linh hồn có 3 phần đưa đến xã hội có 3 loại người ( triết gia, chiến binh, thợ thủ công, thương gia) làm các việc khác nhau
+ Nhà nước đảm bảo sự phân công tr ên được thực hiện, tuy nhiên chế độ tư hữu tư nhân đã làm cho nhà nước bị tha hóa Chế độ xã hội tốt nhất là chế độ cộng hòa quý tộc do vị vua là nhà triết học tài ba nhất lãnh đạo
- Chủ nghĩa nhị nguyên của Arixtôt:
Thuyết nguyên nhân- cơ sở siêu hình học:
+ Tồn tại xuất phát từ 4 nguyên nhân: vật chất-hình thức-vận động và mục đích, trong đó hình thức và vật chất là cơ bản nhất Mọi vật tồn tại đều có nguyên nhân
+ Tồn tại cả vật chất ban đầu phi hình thức lẫn hình thức ban đầu phi vật chất
+ Hình thức quan trọng hơn vật chất
+ Vật chất chỉ là bản thể thụ động
+ Hình thức là lý tính thuần túy, thượng đế, động cơ đầu tiên Nguyên nhân tận cùng, mục đích tối thượng, là bản chất tích cực của tồn tại, l àm cho sự vật vận động theo mục đích sắp đặt trước
Quan niệm về sinh thể, con người và linh hồn:
+ Sinh thể con người được cấu thành từ thể xác vật chất và linh hồn
+ Linh hồn con người chỉ tồn tại trong thể xác sống
+ Linh hồn có 3 loại( linh hồn thực vật, linh hồn động vật và linh hồn lý trí), khi con người chết linh hồn thực vật và linh hồn động vật cùng thể xác tan rã Nhưng linh hồn lý trí chứa tri thức vẫn bất diệt
+ Con người là sinh thể có lý trí, luôn khao khát nhận thức
+ Bản chất con người sinh ra là nhận thức, kẻ nào không nhận thức kẻ ấy không là người Thuyết vận động-cơ sở của vật lý học:
+ Vũ trụ giới tự nhiên hữu hạn, liên tục, khép kín, vĩnh viễn
Trang 17+ Vạn vật trong giới tự nhiên được cấu thành từ đất, nước, lửa, không khí và ether Chúng vận động và liên hệ với nhau
+ Vận động không bị tiêu diệt hay tách khỏi sự vật: có 6 hình thức vận động ( sinh, diệt, biến trạng, tăng, giảm, chuyển vị)
+ Nguồn gốc của mọi sự vận động trong giới tự nhi ên là cú hích đầu tiên( thượng đế) nằm ngoài giới tự nhiên
+ Vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ: Mỗi yếu tố có xu hướng vận động riêng, chiếm vị trí trong cấu trúc vũ trụ
Quan niệm về nhận thức:
+ Nhận thức là quá trình : thực tại khách quan, cảm giác, biểu t ượng và tư duy lý luận
+ Nhận thức là hoạt động bản tính của linh hồn, nh ưng con người mới sinh ra linh hồn như một tấm bảng trắng
+ Chỉ có nhận thức lý tính mới phát hiện ra chân lý( cái phổ biến, cái tất yếu) Khám phá ra các quy luật, bản chất của sự vật, xây dựng các khoa học
+ Khoa học là một hệ thống tri thức hướng tới 3 mục đích: đời sống, sáng tạo và tự biện vì vậy có 3 nhóm khoa học tương ứng
+ Muốn đạt chân lý, tâm hồn lý tính phải đ ược trang bị các phương pháp suy nghĩa đúng Arixtốt đã xây dựng môn logic học
Quan niệm về đạo đức, chính trị, xã hội
+ Lý trí lẽ phải con người là cơ sở của điều thiện cơ sở là phẩm hạnh; có phẩm hạnh lý trí( theo lý trí) và phẩm hạnh luân lý ( theo lẽ phải)
+ Hạnh phúc gắn liền với cuộc sống trần gian, với bản tính tự nhi ên của con người, bị chi phối các yếu tố chủ quan( sự khôn ngoan, đức hạnh v à sự khoái lạc…) và các điều kiện khách quan( tiền bạc, sức khỏe, tình bạn và sự công bằng)
+ Con người là sinh thể lý trí, sống đạo đức, vừa là động vật chính trị sống theo cộng đồng thuộc về nhà nước Nhà nước hoạt động lập pháp, hành chính xét xử nhằm đảm bảo hạnh phúc cho con người
+ Chủ nô trung lưu lãnh đạo xã hội, xây dựng chế độ cộng hòa quý tộc
+ Trật tự xã hội hiện giờ là xấu nhưng cần thiết, phải bảo vệ công bằng trong sự trao đổi sản phẩm là nền tảng của công bằng xã hội, bình đẳng giữa các cá nhân
Câu 4: Quan điểm triết học của các nhà triết học Tây Âu (Về quan hệ giữa triết học và tôn giáo, về vấn
đề bản thể luận, nhận thức luận con người và xã hội)
* Trung cổ
Xã hội Tây Âu từ thế kỷ IV - XV là xã hội phong kiến Thiên chúa giáo trở thành tôn giáo chính thống
và cùng với thế lực phong kiến trở thành lực lượng thống trị xã hội Triết học trong thời kỳ này chịu
sự chi phối và thống trị của tôn giáo và thần học Triết học trở thành tôi tớ của tôn giáo
Về quan hệ giữa triết học và tôn giáo các nhà triết học giai đoạn này đề cao vai trò niềm tin tôn giáo
so với lý trí Chẳng hạn Tômat Đacanh cho rằng đối tượng của triết học là chân lý của lý trí, đối tượng của thần học là chân lý của niềm tin và niềm tin cao hơn lý trí Còn Đơnxcôt lại cho rằng đối tượng của thần học là thượng đế, đối tượng của triết học là tự nhiên Vì vậy các nhà triết học thời kỳ này đã đưa thần học đặt niềm tin lên trên hết, đề cao niềm tin hơn lý trí và khoa học phải phục tùng tôn giáo
Về bản thể luận các nhà triết học cho rằng Thượng đế sáng tạo ra thế giới và quyết định mọi trật tự trong tự nhiên và xã hội, là cơ sở của tri thức và đạo đức con người Tômat Đacanh cho rằng mọi trật tự trong tự nhiên, từ sự vật không có linh hồn đến con người rồi đến thần thánh và sau cùng là Chúa trời đều do Thượng đế sắp xếp Mọi cái trong tự nhiên và xã hội đều có mục đích do Thượng
đế an bày, mọi đẳng cấp trong xã hội đều do Thượng đế quy định
Về nhận thức áp dụng học thuyết về hình dạng của Arixtôt, ông chia hình dạng thành hình dạng cảm tính và hình dạng lý tính, trong đó hình dạng lý tính cao hơn hình dạng cảm tính
Trang 18Về con người và xã hội theo quan điểm thần học các nhà triết học cho rằng con người là thực thể yếu đuối, do Thượng đế tạo ra và có tự do trong giới hạn tiền định của Thượng đế Vì vậy cuộc sống trần gian là tạm bợ, tội lỗi chỉ có cuộc sống vĩnh cửu ở thế giới bên kia Mục đích của nó là để bảo vệ quyền lực tối cao của nhà thờ hay của nhà vua, giai cấp thống trị
* Thời kỳ Phục hưng
là thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến lên chế độ tư bản, là thời kỳ của những cuộc cách mạng tư sản Trong giai đoạn này sự phát triển của lực lượng sản xuất mới làm quan hệ sản xuất phong kiến trở nên lỗi thời và mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trở nên gay gắt hơn Đồng thời đây là thời kỳ phát triển mạnh của khoa học kỹ thuật, khoa học tự nhiên có bước tiến nhảy vọt đặc biệt là cơ học Tất cả cái đó làm tiền đề cho sự phát triển triết học với nhiều thành tựu và hạn chế như sau:
+ Thành tựu:
- Về bản thể luận, các nhà triết học đứng trên lập trường duy vật vô thần, chống lại thế giới quan duy tâm, tôn giáo của Nhà thờ Họ khẳng định vật chất, tự nhiên là thực thể duy nhất, Thượng đế cũng chính là giới tự nhiên "Trong vũ trụ chỉ có một thực thể - cả con người lẫn động vật đó là vật chất" (Đ Diđơrô) Họ cũng thừa nhận vật chất luôn luôn vận động bao gồm cả đứng im hay vận động tương đối Và quá trình vận động do nguyên nhân bên trong của vật chất, từ đó làm tiền thân cho thuyết tiến hóa sau này
- Về con người: Con người là sản phẩm của tự nhiên, là thể thống nhất giữa cơ thể và ý thức Họ bác bỏ linh hồn bất tử, linh hồn tách rời cơ thể Đ.Diđơrô quan niệm về linh hồn tách rời cơ thể cũng
vô lý như: “có thể nhìn mà không cần mắt, có thể nghe mà không cần tai….” Theo họ, nhân cách con người là sản phẩm của hoàn cảnh và giáo dục
- Về nhận thức: Các nhà triết học duy vật chia nhận thức thành nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Trong đó cảm tính là giai đoạn thứ nhất của nhận thức, lý tính là giai đoạn thứ hai nhận thức và giai đoạn kết hợp chúng dùng thực nghiệm khoa học để kiểm tra
- Về chính trị-xã hội: Họ chống lại tư tưởng và trật tự phong kiến, tuyên truyền tư tưởng chính trị của giai cấp tư sản Họ đề cao hình thức nhà nước dân chủ; chống quyền lực phong kiến và Nhà thờ
- Về vấn đề tôn giáo, họ vạch trần bản chất tôn giáo và tính chất phản động, phản tiến bộ của nó Theo Hôpxơ nguồn gốc của tôn giáo là sự sợ hãi và ngu dốt của quần chúng Theo họ, không phải tôn giáo sáng tạo ra con người mà chính con người sáng tạo ra tôn giáo
- Về chính trị-xã hội: họ cho rằng nhà nước là do sự thỏa thuận giữa các tầng lớp nhân dân lập ra
Họ chưa nhận ra được bản chất của nhà nước là công cụ của giai cấp thống trị
- Về tôn giáo: họ chỉ thấy nguồn gốc nhận thức, chưa thấy được nguồn gốc xã hội của tôn giáo Vì vậy họ chủ trương xóa bỏ tôn giáo bằng cách giáo dục quần chúng và tiêu diệt giới tu hành
Câu 5: Triết học cổ điển Đức
Hoàn cảnh ra đời và những đặc điểm chính của triết học cổ điển Đức
Triết học cổ điển Đức là giai đoạn phát triển mới về chất trong lịch sử tư tưởng Tây Âu và thế giới cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX Đây là đỉnh cao của thời kỳ triết học cổ điển phương Tây, đồng thời có ảnh hưởng to lớn tới triết học hiện đại
Đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã được thiết lập ở một số nước Tây Âu như Italia, Anh, Pháp, v.v., đem lại một nền sản xuất phát triển chưa từng có trong lịch sử, tỏ ra ưu việt hơn hẳn so với tất cả các chế độ xã hội trước đó Những thành tựu kinh tế và văn hoá thời nay mà đỉnh cao là Cách mạng công nghiệp ở Anh càng khẳng định sức mạnh của con người trong nhận thức và cải tạo thế giới Cùng với Cách mạng tư sản Pháp làm rung chuyển cả châu Âu, chúng đánh dấu sự mở đầu của nền văn minh công nghiệp trong lịch sử nhân loại
Trong khi ở nhiều nước Tây Âu đang có những thay đổi nhảy vọt như vậy, thì nước Đức cho đến đầu thế kỷ XIX vẫn là một quốc gia phong kiến lạc hậu Liên bang Đức chỉ tồn tại về hình thức, thực
Trang 19tế đất nước còn phân thành nhiều tiểu vương quốc tách biệt nhau Tình trạng đó gây nhiều trở ngại đối với sự phát triển của đất nước Năm 1822, cả nước Đức mới chỉ có 2 máy hơi nước Nông nghiệp bị đình đốn Triều đình vua Phổ Phriđrích Vinhem (1770 - 1840) vẫn ngoan cố tăng cường quyền lực và duy trì chế độ quân chủ phong kiến thối nát, cản trở đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa, cả đất nước bao trùm bầu không khí bất bình của đông đảo quần chúng Như Ph.Ăngghen nhận xét, có thể coi đây là một trong những thời kỳ yếu hèn nhất trong lịch sử nước Đức
Tuy lạc hậu về kinh tế và chính trị, nước Đức thời kỳ này đạt được sự phát triển chưa từng có về triết học, văn hoá và nghệ thuật Đây là quê hương của nhiều nhà tư tưởng, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thế giới như Hécđơ, Gớt, Sinlơ, Cantơ V.V Họ, một mặt, tiếp thu những di sản tư tưởng và văn hoá Đức truyền thống, kế thừa các quan niệm của Nicôlai Kuzan, Lépnít, v.v mặt khác, được cổ
vũ to lớn của tư tưởng Khai sáng và văn hóa Pháp thế kỷ XVIII Cách mạng tư sản Pháp (1789 - 1794) là hậu thuẫn thực tiễn thức tỉnh giai cấp tư sản Đức đấu tranh vì một trật tự xã hội mới ở Đức Thể hiện nguyện vọng đó của giai cấp tư sản, các tác phẩm của Gớt, Sinlơ, Cnatơ Phíchtơ V.V., đều toát lên một tinh thần phẫn nộ chống lại sự trì trệ và bất công của xã hội Đức thời đó
Thêm vào đó, những tiến bộ đáng kể của khoa học, nhất là các ngành khoa học tự nhiên ngày càng chứng tỏ sự hạn chế của phương pháp tư duy siêu hình thống trị trong tư tưởng Tây Âu suốt thế kỷ XVII - XVIII Việc phát minh ra điện và cách sử dụng điện năng góp phần tạo ra bước nhảy vọt trong
sự phát triển của sản xuất từ công trường thủ công tới công nghiệp cơ khí, đồng thời chứng thực những phát triển đầu tiên của khoa học về sự bảo toàn và biến hoá năng lượng và vật chất của vũ trụ Phát minh của Lavoarê ra ôxy và bản chất của sự cháy đã đánh đổ thuyết nhiên tố, mở ra giai đoạn phát triển mới của hoá học Những công trình nghiên cứu của Lamác, Linnơ, việc phát hiện ra
tế bào của Lơvenhúc v.v đòi hỏi phải có cách lý giải mới về bản chất của sự sống
Bối cảnh lịch sử đó ở Tây Âu và nước Đức đặt trước các nhà triết học nhiều vấn đề: Siêu hình học thế kỷ XVII (với các đại biểu chính như Đềcáctơ, Xpinôza, Lépnít v.v.) từng đóng vai trò to lớn trong việc phát triển tư duy lý luận và hệ thống hoá tri thức con người đã không còn đáp ứng được nhu cầu phát triển của thực tiễn và tư tưởng Tây Ẩu thế kỷ XVIII, khi mà hàng loạt các khoa học đã đủ sức phát triển tách ra khỏi cái nôi triết học của mình, trở thành những lĩnh vực nghiên cứu độc lập Ngay từ cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, xuất hiện nhiều xu hướng xét lại siêu hình học và các giá trị tư tưởng truyền thống Tuy nhiên, triết học Tây Âu Phục hưng và cận đại (ngay cả triết học Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII) từng là ngọn cờ lý luận của giai cấp tư sản trong thời kỳ bình minh đầy tính cách mạng của nó, về cơ bản, vẫn chưa thoát khỏi quan niệm cơ học về thế giới, đồng thời bất lực trong việc lý giải bản chất của thực tiễn xã hội đang diễn ra cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX
Tóm lại, giờ đây cần có cách nhìn mới về các hiện tượng tự nhiên và tiến trình lịch sử nhân loại, cần
có quan niệm mới về khả năng và hoạt động của con người Và triết học cổ điển Đức ra đời nhằm đáp ứng với những sứ mạng lịch sử đó của không chỉ riêng nước Đức, mà cả phương Tây nói chung
Có những đặc điểm chính như sau:
- Thứ nhất đây là thế giới quan và ý thưc hệ của giai cấp tư sản Đức cuối thế kỷ XVII - nửa đầu thế
kỷ XIX Hầu hết các đại biểu của nó như Cantơ, Hêghen V.V., đều xuất thần từ những tầng lớp thượng lưu trong xã hội Nhận thấy sự trì trệ của xã hội Đức phong kiến thời đó, được sự cổ vũ của giai cấp tư sản nhiều nước nhất là cách mạng tư sản Pháp (1789 - 1794), họ thể hiện nguyện vọng tiến bộ của giai cấp tư sản đấu tranh vì một trật tự xã hội mới ở Đức, nhằm đem lại sự thịnh vượng, phồn vinh và thống nhất đất nước Cho nên “cũng giống như ở Pháp hồi thế kỷ XVIII, cách mạng triết học Đức hồi thế kỷ XIX cũng đi trước cuộc cách mạng chính trị” Nhưng khác với giai cấp tư sản Pháp vốn triệt để cách mạng, giai cấp tư sản Đức ngay từ đầu đã muốn thoả hiệp với tầng lớp phong kiến quý tộc Phổ đang thống trị thời đó, giữ lập trường cải lương trong việc giải quyết những vấn đề phát triển đất nước Phản ánh sự nhu nhược đó của giai cấp tư sản, chẳng hạn, Hêghen, bất chấp phương pháp biện chứng của mình khẳng định sự phát triển tất yếu của hiện thực, vẫn ca ngợi, tô
vẽ cho nhà nước Phổ phong kiến đang thối nát, với những bất công và tệ nạn xã hội của nó Và nói chung, trong thế giới quan của các nhà triết học cổ điển Đức thể hiện khá rõ mâu thuẫn giữa tính cách mạng và khoa học về tư tưởng với sự bảo thủ, cải lương về lập trường chính trị - xã hội
- Đặc điểm thứ hai của nó là đặc biệt đề cao vai trò tích cực của hoạt động con người, thực hiện bước ngoặt trong lịch sử tư tưởng triết học phương Tây từ chỗ chủ yếu bàn về những vấn đề bản thể luận, nhận thức luận đến chỗ coi con người như một chủ thể hoạt động là nền tảng và điểm
Trang 20xuất phát của mọi vấn đề triết học Dĩ nhiên, để tài con người đã được bàn đến ngay từ triết học cổ đại Xôcrát đã hiểu triết học là tự ý thức của con người về chính bản thân mình Kế tục tư tưởng đó
và khuynh hướng đề cao con người từ thồi Phục hưng, Cantơ, nhà sáng lập ra triết học cổ điển Đức, lần đầu tiên hiểu con người là chủ thể, đồng thời là kết quả quá trình hoạt động của mình, khẳng định hoạt động thực tiễn cao hơn lý luận Bản thân lịch sử là phương thức tồn tại của con người Mỗi
cá nhân hoàn toàn làm chủ vận mệnh của mình Tư tưởng đó được Hêghen phát triển thêm, khẳng định con người là sản phẩm của một thời đại lịch sử nhất định, vì vậy, mang bản chất xã hội
- Đặc điểm thứ ba của triết học cổ điển Đức là nó dựa trên một cách nhìn biện chứng về thế giới hiện thực Trước những bước phát triển như vũ bão của khoa học và thực tiễn xã hội ở châu Âu cuối thế
kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX cho thấy hạn chế của bức tranh cơ học về thế giới, các nhà triết học cổ điển Đức tiếp thu những tư tưởng biện chứng trong các di sản triết học truyền thống từ thời cổ đại, xây dựng phép biện chứng trở thành một phương pháp luận triết học trong việc nghiên cứu các hiện tượng tự nhiên và xã hội Với giả thuyết vân tinh nổi tiếng về sự hình thành vũ trụ và cách nhìn mới
về con người, Cantơ, theo nhận xét của Ph.Ăngghen, là người chọc lỗ thủng đầu tiên vào quan niệm siêu hình về tự nhiên thống trị trong khoa học và triết học suốtt thế kỷ XVI - XVII Hêghen đã phát hiện ra những quy luật và các phạm trù cơ bản của phép biện chứng, xây dựng nó trở thành một khoa học về sự phát triển của tất thảy mọi sự vật và tư tưởng Ý nghĩa thực sự và cách mạng của triết học Hêghen “là ở chỗ nó đã vĩnh viễn kết liễu tính tối hậu của những kết quả của tư tưởng và của hành động con người Theo Hêghen, chân lý mà triết học có nhiệm vụ phải nhận thức, không còn là một tập hợp những nguyên lý giáo điều có sẵn , từ nay, chân lý nằm trong chính ngay quá trình nhận thức, trong sự phát triển lịch sử lâu dài của khoa học” Dù dưới hình thức duy tâm, triết học cổ điển Đức đã đưa lại cho chúng ta phương pháp tư duy biện chứng, một phương pháp tư duy
mà sau này, khi đã được C.Mác và Ph.Ăngghen cải tạo, thì nó trở thành "linh hồn của chủ nghĩa Mác”
đặc điểm thứ tư của triết học cổ điển Đức là Với cách nhìn biện chứng bao quát toàn bộ hiện thực, nhiều nhà triết học cổ điển Đức có ý đồ hệ thống hoá toàn bộ những tri thức và thành tựu mà nhân loại đạt được từ trước tới giờ Tiếp thu những tinh hoa của siêu hình học thế kỷ XVII trong việc phát triển tư duy lý luận và hệ thống hoá toàn bộ tri thức con người, các nhà triết học, từ Cantơ tới Hêghen đều có ý đồ xây dựng một hệ thống triết học vạn năng của mình làm nền tảng cho toàn bộ thế giới quan con người, khôi phục lại quan niệm coi triết học là khoa học của các khoa học Họ thể hiện sự uyên bác không chỉ về triết học mà còn về các lĩnh vực khoa học tự nhiên, pháp quyển, lịch
sử V.V Dĩ nhiên, quan niệm đó hiện nay không phù hợp, nhưng về phương diện lịch sử, nó đáp ứng nhu cầu của khoa học cần hệ thống hoá toàn bộ tri thức con người mà các nhà Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII là những người khởi xướng trong bộ Bách khoa toàn thư của mình
Trên đây là những đặc điểm cơ bản của triết học cổ điển Đức Luận điểm của C.Mác coi đây là "lý luận của người Đức về cách mạng tư sản Pháp”, một mặt, cho thấy đặc trưng riêng của triết học Đức so với triết học Pháp thế kỷ XVIII, dù giữa chúng có sự kế thừa to lớn; mặt khác, khẳng định giá trị tư tưởng vĩ đại của triết học cổ điển Đức Phân tích từng đại biểu cụ thể của nó giúp ta hiểu thêm điều đó
Một số nhà triết gia tiêu biểu
a Cantơ (1724 -1804)
Vũ trụ quan của Kant: Ở thời kỳ đầu, trong tác phẩm “Lịch sử tự nhiên đại cương và thuyết bầu trời” (1755), Kant đã lý giải nguồn gốc hình thành vũ trụ trên lập trường duy vật biện chứng Ông cho rằng không chỉ trái đất mà cả vũ trụ được hình thành từ các khối tinh vân vận động và biến hoá trong không gian và thời gian Tư tưởng này chứng tỏ rằng thế giới hình thành từ vật chất và thống nhất ở tính vật chất của nó Đây là những tư tưởng duy vật biện chứng về tự nhiên được Mác, Ăngghen và Lênin đánh giá cao
Nhận thức luận: Kant thừa nhận có thế giới “vật tự nó” ở bên ngoài con người, lúc này ông là người duy vật Nhưng ông cho rằng cái thế giới vật thể xung quanh con người mà ta thấy được chỉ là hiện tượng biểu hiện của thế giới vật tự nó Con người cảm giác được hiện tượng đó, còn bản chất “vật
tự nó” là siêu nghiệm, muốn hiểu được bản chất của “vật tự nó” phải nhờ tri thức tiên thiên (tiên nghiệm) Ở tư tưởng này ông đã ngã sang lập trường duy tâm Vì vậy, người ta gọi học thuyết của ông là thuyết “bất khả tri”
b Hêghen (1770 -1831)
Trang 21Sinh trong một gia đình quan lại cao cấp, giáo sư ở các trường Đai học lớn của Đức (Insenbec, Berlin).Hegel đã để lại cho nhân loại nhiều tác phẩm triết học đồ sộ ở 3 bộ sách: Hiện tượng học tinh thần, Lôgíc học, Bách khoa toàn thư các khoa học
Vũ trụ quan của Hegel:
Hegel kế thừa tư tưởng của Platon, thừa nhận có một ý niệm tuyệt đối (Platon: ý niệm) độc lập với ý thức con người Ý niệm vận động như một dòng sông chảy, đến một lúc nào đó nó sinh ra tư nhiên Giới tự nhiên sinh ra con người Con người có ý thức, ý thức con người trở lại nhận thức cái ý niệm, lúc đó đạt đến “Tinh thần tuyệt đối” Từ các quan niệm trên chứng tỏ Hegel là một triết gia duy tâm khách quan
Tuy nhiên Hegel đã giải thích được nguồn gốc của sự vận động là mâu thuẫn bên trong của ý niệm Chính Hegel cũng vạch ra con đường phát triển của ý niệm Đó là hạt nhân hợp lý của phép biện chứng Nhưng biện chứng của Hegel là bản chất của ý niệm nên biện chứng của ông là biện chứng duy tâm Có thể nói Hegel là nhà biện chứng lỗi lạc, là bậc tiền bối của triết học Mac, là đỉnh cao của nền triết học cổ điển Đức Engels đã viết về Hegel như sau: ông không chỉ là một thiên tài sáng tạo
mà còn là một nhà bác học có tri thức bách khoa nên trên mọi lĩnh vực, ông xuất hiện ra là một người vượt thời đại
Tư tưởng biện chứng của Hegel: Ông là người đầu tiên xây dựng tư tưởng biện chứng thành hệ thống, phép biện chứng của Hegel hàm chứa các vấn đề cơ bản sau đây
+ Hegel cho rằng sự phát triển của các sự vật hiện tượng gắn liền với sự phủ định biện chứng + Theo Hegel mâu thuẫn nội tại là động lực của mọi quá trình phát triển
+ Hegel còn chỉ ra rằng mọi quá trình phát triển còn được diễn ra bằng quá trình những thay đổi về lượng dẫn đến những biến đổi về chất ngược lại
c Lutvích Phoiơbắc (1804 -1872)
Sinh trong gia đình luật sư năm 1823 vào Đại học, tốt nghiệp đại học 1828, làm giảng sư đại học nhưng Feuerbach ủng hộ cách mạng nên ông bị đuổi khỏi giảng đường Năm 1836 ông về nông thôn
25 năm liền Năm 1870 ông tham gia Đảng Dân chủ xã hội
Về bản thể luận: Feuerbach thừa nhận giới tự nhiên là cơ sở đầu tiên duy nhất, không có gì sinh ra
nó cả, đồng thời ông quan niệm giới tự nhiên bao gồm cả con người Con ngừơi là một bộ phận của
tự nhiên Đối với triết học Feuerbach, xuất phát điểm là giới tự nhiên nhưng Feuerbach không dám
tự xưng mình là người duy vật mà chỉ dám gọi triết học của mình là triết học nhân bản vì lúc này chủ nghĩa duy vật tầm thường đang phát triển ở Đức
Về lí luận nhận thức: Ông cho rằng con người có thể nhận thức được thế giới thông qua giác quan của mình Ông nêu mối quan hệ biện chứng giữa cảm tính và lý tính Feuerbach viết: “Năm giác quan của con người là hoàn toàn đủ để nhận thức thế giới” Tuy nhiên Feuerbach không hiểu vai trò của thực tiễn đối với nhận thức (Feuerbach hiểu thực tiễn là đi buôn, là gian lận)
Về chính trị, xã hội: Feuerbach có công khôi phục địa vị của chủ nghĩa duy vật thế kỷ 18 Trên cơ sở
kế thừa và phát triển triết học Feuerbach mà Mác và Anghen đã đi đến chủ nghĩa duy vật biện chứng (Mác viết “không có con đường nào khác để chúng ta đi tới chân lý và tự do ngoài con đường băng qua suối lửa”, suối lửa là nghĩa của chữ Feuerbach)
Hạn chế của triết học Feuerbach là ở chỗ ông phủ nhận sạch trơn phép biện chứng của Hegel đồng thời ông còn duy tâm về lĩnh vực xã hội (Ông ca ngợi tình yêu giữa người và người không phân biệt giai cấp Ông coi tình yêu nam nữ như một thứ tôn giáo, xem đó là cái thiêng liêng cao quý mà con người phải tôn thờ và coi đó là một động lực của sự phát triển lịch sử)
Ý nghĩa lịch sử của triết học cổ điển Đức là ở chỗ nó là một trong những nguồn gốc lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin Triết học Cổ điển Đức đã đặt ra những vấn đề chủ yếu của quan niệm biện chứng
về tự nhiên, xã hội và nhận thức nhưng chưa giải quyết được đúng đắn vì còn duy tâm và siêu hình Nội dung chủ yếu của triết học Mác cũng là sự tiếp tục giải quyết những vấn đề đó nhưng trên cơ sở mới Khi tổng kết sự phát triển lịch sử của triết học cổ điển Đức thì càng thấy sự cần thiết phải đem lại cho chủ nghĩa duy vật một hình thức mới, hình thức biện chứng
Phân tích những giá trị và hạn chế của triết học cổ điển Đức Lấy dẫn chứng để minh họa.
* Đặc điểm của triết học cổ điển Đức:
* Một là, triết học cổ điển Đức thời kỳ này biểu hiện khá rõ mâu thuẫn giữa tính cách mạng về tư tưởng với sự bảo thủ cải lương về lập trường chính trị xã hội của các nhà triết học
Trang 22* Hai là, trước đây triết học phương Tây chủ yếu bàn về những vấn đề thuộc về bản thể luận, nhận thức luận, thì triết học cổ điển Đức, bên cạnh những vấn đề bản thể luận, họ còn bàn đến con người, coi con người vừa là kết quả của quá trình hoạt động của mình vừa là chủ thể của quá trình ấy Đó
là một thành tựu mới đáng được ghi nhận
* Ba là, triết học cổ điển Đức có một cách nhìn mới, biện chứng về thế giới hiện thực Nếu gạt bỏ những yếu tố duy tâm thì cách nhìn này là một đóng góp lớn cho nền triết học của nhân loại
* Giá trị:
* Phép biện chứng của Hêghen là một thành tựu vĩ đại của triết học cổ điển Đức
trù như: chất, lượng, phủ định, mâu thuẫn mà ông còn là người diễn đạt được các quy luật của phép biện chứng như “lượng đổi dẫn đến chất đổi và ngược lại”, “phủ định của phủ định” với tư cách là sự phát triển diễn ra theo hình “xoáy ốc” và quy luật mâu thuẫn với tư cách là nguồn gốc của động lực của sự phát triển
bao quát nhất
để xây dựng nên PBC duy vật và các ông coi Hêghen là người có nhiều công lao trong việc phát triển PBC
* Chủ nghĩa duy vật của Phơbách
có khả năng phản ánh thế giới vật chất
thần và thể xác
• Phơbách khẳng định: không gian và thời gian tồn tại khách quan, không có vật chất tồn tại bên ngoài không gian và thời gian
nhân quả, thừa nhận sự vận động và phát triển của giới tự nhiên, diễn ra một cách khách quan, trong những điều kiện nhất định dẫn tới sự xuất hiện của đời sống hữu cơ và xuất hiện con người
và của triết học nói riêng là giới tự nhiên và con người
với mỗi người là có hạn, nhưng đối với toàn bộ loài người là vô hạn
Ông cho rằng, chúng ta đọc cuốn sách tự nhiên bằng giác quan nhưng chúng ta không dùng giác quan để hiểu nó được
triết học vì vậy chủ nghĩa duy vật của ông được gọi là chủ nghĩa duy vật nhân bản
• Trong quá trình đi sâu nghiên cứu con người ông cho rằng con người có 2 nguồn gốc: con người vừa có nguồn gốc tự nhiên vừa có nguồn gốc xã hội Bởi vì con người là sản phẩm của quá trình tiến hóa lâu dài của sinh vật, con người là thực thể tự nhiên Đồng thời con người sống thành cộng đồng do đó con người có bản chất xã hội là tình yêu thương Ông lấy tình yêu thương nam và
nữ làm kiểu mẫu của bản chất yêu thương của con người
nhân và bản chất con người dưới hình thức thần bí, tôn giáo thể hiện sự mềm yếu, bất lực của con người đối với các vấn đề về tự nhiên và xã hội
• Những quan niệm nói trên của Phơbách về cơ bản đã vạch ra được nguồn gốc tâm lý con người đối với tôn giáo, đồng thời cho thấy nội dung nhân bản trong các quan niệm thần thánh
* Hạn chế:
Trang 23* Khi trình bày các quy luật của phép biện chứng Hêghen lại cho rằng, tất cả những quy luật đó chỉ là sản phẩm của sự vận động và sáng tạo của ý niệm tuyệt đối Do đó, phép biện chứng (PBC) của Hêghen là phép biện chứng duy tâm, hệ thống triết học của ông là hệ thống triết học duy tâm
Mác- Ănghen đã phê phán một cách triệt để tính chất duy tâm trong PBC của Hêghen
* Phơbách:
tâm khách quan không thoát khỏi giới hạn của tư duy và vẫn xa lạ với hiện thực Có thể nói, đặc điểm của thế giới quan duy vật của Phơbách là lòng tin vào sức mạnh của lý trí con người
nằm trong khuôn khổ của chủ nghĩa duy vật siêu hình
Chúa”, tôn giáo tình yêu Vì theo ông chỉ có tín ngưỡng, niềm tin mới an ủi được chúng ta khỏi những nỗi bất hạnh trong cuộc đời con người Phơbách là nhà duy vật trong tự nhiên, nhưng ông lại
là nhà duy tâm trong những vấn đề xã hội Ông khẳng định rằng, những thời kỳ lịch sử của loài người sở dĩ khác nhau chỉ là do những thay đổi các hình thức tôn giáo
xã hội loài người
- Không thấy được phương diện xã hội của con người Con người mà ông quan niệm là con người trừu tượng, bị tách khỏi những điều kiện kinh tế-xã hội và lịch sử của con người Bởi vậy, khi Phơbách nghiên cứu những vấn đề về đời sống xã hội, ông đã rơi vào quan điểm duy tâm, không tưởng, phi xã hội phi lịch sử
Câu 6: Thực chất của cuộc cách mạng trong triết học do C.Mác và Ph.Ăngghen thực hiện, V.I.Lênin phát triểnTrả lời:
Triết học Mác-Lênin là sự kế thừa có phê phán và chọn lọc những tư tưởng triết học của nhân loại trong quá trình lịch sử Đồng thời sự ra đời của triết học Mác-Lênin là một bước ngoặt vĩ đại trong sự phát triển tư tưởng triết học của nhân loại Triết học Mác có những cái mới về chất so với các hệ thống triết học trước đó:
+ C Mác và Ph Ăngghen phát triển chủ nghĩa duy vật lên hình thức cao của nó là chủ nghĩa duy vật biện chứng và phát triển phép biện chứng lên hình thức cao của nó là phép biện chứng duy vật Trước Mác, chủ nghĩa duy vật vẫn còn mang tính chất siêu hình, máy móc Nó chưa đưa được quan điểm phát triển vào trong lý luận của nó; nó lấy quy luật cơ học để giải thích sự vận động của thế giới, dùng quy luật cơ học và quy luật sinh học để giải thích bản chất con người Còn phép biện chứng trước Mác mà đỉnh cao của nó là phép biện chứng Hêghen thì lại là duy tâm, tức ông đã xuất phát từ quy luật vận động, phát triển của một ý niệm tuyệt đối nào đó có trước thế giới để giải thích tất cả những gì đang tồn tại Cho nên phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng duy tâm, ngược đầu và đóng khung trong một một kết cấu tư biện, gượng gạo
Trên cơ sở kế thừa có phê phán và chon lọc những thành tựu mà mà các nhà duy vật đã đạt được cũng như kế thừa hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng của Hêghen, C Mác và Ph Ăngghen sáng lập ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật Từ khi triết học Mác ra đời, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất
+ Việc sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử là biểu hiện quan trọng nhất của bước ngoặt cách mạng trong sự phát triển tư tưởng triết học của nhân loại
Trước Mác, các nhà triết học, đều không tránh khỏi duy tâm khi giải thích các hiện tượng xã hội Họ đều cho rằng tinh thần, tư tưởng (ý niệm tuyệt đối, tinh thần thế giới, trời, thượng đế, hoặc ý thức chủ quan của con người) là yếu tố quyết định trong lịch sử Họ không thấy được vai trò quyết định của hoạt động sản xuất vật chất, của đời sống vật chất
C Mác và Ph Ăngghen đã vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng vào nghiên cứu đời sống xã hội Triết học Mác coi xã hội như là một cơ thể sống, một cấu trúc phức tạp bao gồm những cá nhân, gia đình, giai cấp, dân tộc với vô số những mối quan hệ xã hội chằng chịt được hình thành trên cơ sở hoạt động thực tiễn của họ Triết học Mác coi sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội; vạch ra những quy luật khách quan của sự phát triển xã hội không phụ thuộc ý muốn chủ quan của con người; lấy cơ sở hạ tầng để giải thích kiến trúc thượng tầng, lấy tồn tại xã hội để giải thích ý thức xã hội
Chính vì thế, triết học Mác là chủ nghĩa duy vật cân đối, hoàn chỉnh và triệt để; nó bao quát cả tự nhiên, xã hội và tư duy