1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Thạc sỹ luật chính sách hình sự

30 285 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 194 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận chính sách hình sự 1.1. Khái niệm chính sách hình sự: Hiện nay có nhiều định nghĩa, cách tiếp cận khác nhau về chính sách hình sự. + Các định nghĩa về chính sách hình sự. > GS.TSKH. Đào Trí Úc cho rằng, chính sách hình sự, một mặt, đó là chính sách nhằm thể hiện phản ứng của Nhà nước, của xã hội đối với các hành vi phạm tội và người phạm tội, mặt khác đó là chính sách, đường hướng cho việc tổ chức đấu tranh phòng và chống tội phạm. Nói cách khác chính sách hình sự là chính sách về tội phạm và về tổ chức phòng, chống tội phạm. > GS. TSKH. Lê Văn Cảm quan niệm rằng, chính sách hình sự trong giai đoạn xây dựng NNPQ là một phần của chính sách xã hội nói chung, đồng thời là chính sách pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói riêng và bao gồm tổng thể bốn chính sách – chính sách phòng ngừa tội phạm, chính sách PLHS, chính sách pháp luật TTHS và chính sách pháp luật THAHS với tư cách là những phương hướng có tính chất chỉ đạo, chiến lược của Nhà nước trong cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm nhằm bảo đảm thực hiện tốt đường lối xử lý về hình sự, góp phần đưa các nguyên tắc của NNPQ vào đời sống thực tế, giáo dục công dân ý thức tôn trọng, tuân thủ và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tiến tới xây dựng thành công NNPQ ở Việt Nam. Nói một cách ngắn gọn hơn, chính sách hình sự trong giai đoạn xây dựng NNPQ là những phương hướng có tính chất chỉ đạo, chiến lược của Nhà nước trong lĩnh vực tội phạm và hình phạt nhằm xây dựng và hoàn thiện PLHS, pháp luật TTHS và pháp luật THAHS, cũng như thực tiễn áp dụng chúng, đồng thời soạn thảo và triển khai các biện pháp đấu tranh phòng và chống tội phạm. > Quan điểm khác cho rằng, chính sách hình sự là chính sách xã hội trong lĩnh vực đời sống xã hội chính trị pháp lý xã hội, là hệ thống những quan điểm, tư tưởng chiến lược, tổng thể về tội phạm như một hiện tượng lịch sử xã hội của xã hội có giai cấp và về những vấn đề cơ bản nhất (mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc, phương hướng và tổ chức lực lượng) bảo đảm cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả trên tất cả các phương diện chính trịxã hội, pháp luật và kinh tế được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước. > GS.TSKH. Kovalev M.I, Voronhin Ju.A cho rằng, chính sách hình sự là phương hướng hoạt động của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện các biện pháp chính trị xã hội, kinh tế và soạn thảo các phương pháp tối ưu về mặt pháp luật hình sự nhằm mục đích xoá bỏ tình hình tội phạm trong đất nước. > GS.TSKH, Viện sĩ Kuddriacev quan niệm rằng, chính sách hình sự là chính sách trong lĩnh vực đấu tranh chống tội phạm bao gồm chính sách pháp luật hình sự, chính sách xét xử, chính sách cải tạo lao động, chính sách phòng ngừa xã hội các vi phạm pháp luật. > GS. TSKH. Naumov A. V. cho rằng, chính sách hình sự là một bộ phận cấu thành của chính sách xã hội gắn liền với việc sử dụng các khả năng và phương tiện của luật hình sự để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, của xã hội và của Nhà nước. + Tiếp cận chính sách hình sự ở nghĩa hẹp. > Chính sách hình sự ở nghĩa hẹp được hiểu là tổng thể tất cả các nguyên tắc, mục đích, khuynh hướng và biện pháp hoạt động của Nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ các quan hệ xã hội bằng pháp luật hình sự. Chính sách hình sự ở nghĩa hẹp được hiểu là chính sách pháp luật hình sự: xây dựng và sử dụng pháp luật hình sự. > Theo quan niệm hẹp, nội dung của chính sách hình sự bao gồm:•Những luận điểm chung và các nguyên tắc của luật hình sự, khả năng sử dụng luật hình sự để đấu tranh với tình hình tội phạm •Soạn thảo các tiêu chuẩn để coi một hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm (tiêu chuẩn tội phạm hóa)•Xác định khuynh hướng hoạt động của các cơ quan xây dựng pháp luật hình sự•Xác định khuynh hướng hoạt động của các cơ quan áp dụng pháp luật hình sự + Tiếp cận chính sách hình sự ở nghĩa rộng. > Chính sách hình sự ở nghĩa rộng được hiểu là tổng thể tất cả các nguyên tắc, mục đích, khuynh hướng sử dụng pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật điều tra hình sự và pháp luật thi hành án hình sự để đấu tranh với tình hình tội phạm. > Theo quan niệm rộng, nội dung chính sách hình sự bao gồm: . Chính sách pháp luật hình sự. . Chính sách pháp luật tố tụng hình sự. . Chính sách pháp luật điều tra hình sự. . Chính sách pháp luật thi hành án hình sự. . Chính sách phòng ngừa tình hình tội phạm. > Sự chuyển dịch từ quan điểm hẹp sang quan điểm rộng. > Sự thay đổi các quan điểm về chính sách hình sự. Tiếp cận hiện nay đến khái niệm về chính sách hình sự + Chính sách hình sự là khái niệm rộng lớn và nhiều khía cạnh hơn. + Chính sách hình sự là một loại chính sách pháp luật, một loại chính sách xã hội, một loại chính sách công, một loại chính sách đối nội.1 + Khách thể tác động của chính sách hình sự là tình hình tội phạm, tức là một hiện tượng pháp luật xã hội, được thay đổi về mặt lịch sử, tiêu cực, phổ biến, bao gồm hệ thống các tội phạm đã được thực hiện ở một quốc gia ( vùng, thế giới) trong một giai đoạn nhất định, được đặc trưng bởi các chỉ số về lượng và chất. + Chính sách hình sự tác động đến tình hình tội phạm thông qua hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật và các thiết chế, tổ chức tham gia phòng ngừa và đấu tranh với tình hình tội phạm. + Bản chất của chính sách hình sự thể hiện ở việc soạn thảo và thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của Nhà nước trong lĩnh vực phòng ngừa và đấu tranh với tình hình tội phạm; ở việc xác định các phương tiện, các giải pháp, các hình thức và các phương pháp hoạt động của Nhà nước và các cơ quan nhà nước (trước hết của các cơ quan bảo vệ pháp luật) trong lĩnh vực phòng ngừa và đấu tranh với tình hình tội phạm. + Mục tiêu cơ bản của chính sách hình sự là tính định hướng xã hội của nó, là một trong những định hướng của chính sách xã hội, là chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực đấu tranh với tình hình tội phạm. Chính sách hình sự xác định chiến lược và chiến thuật của cuộc đấu tranh đó nhằm hạn chế, khắc phục, thu hẹp và từng bước giảm thiểu tình hình tội phạm, nói cách khác là phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả với tình hình tội phạm.1.2. Quan niệm về nguyên tắc của chính sách hình sự: Trong mọi lĩnh vực hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn, các nguyên tắc được gọi là các tư tưởng chỉ đạo nền tảng xác định nội dung cơ bản của hoạt động đó, các nhiệm vụ và các định hướng cơ bản của nó. Quan niệm về các nguyên tắc của chính sách hình sự. + Dưới dạng khái quát nhất, các nguyên tắc của chính sách hình sự được hiểu là những luận điểm cơ bản, các tư tưởng chỉ đạo làm cơ sở cho cuộc đấu tranh với tình hình tội phạm. + Các nguyên tắc của chính sách hình sự và các nguyên tắc của luật hình sự: hai phạm trù độc lập với nhau, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, rộng hẹp khác nhau. + Các nguyên tắc của chính sách hình sự là các đòi hỏi mang tính chất đạo đức, tư tưởng và chính trị được quy định bởi chế độ nhà nước và xã hội mà dựa vào đó các quan điểm (quan niệm) và các mệnh lệnh của Nhà nước được xác định mang tính hệ thống, việc soạn thảo các quy phạm pháp luật điều chỉnh đấu tranh với tình hình tội phạm được hình thành và việc áp dụng các quy phạm đó trên thực tiễn được thực hiện. + Các nguyên tắc đó có nội dung được xác định trước bởi các nhu cầu và quy luật phát triển của xã hội, hướng đến việc thực hiện các nhiệm vụ của pháp luật hình sự, (đạo luật hình sự) là bắt buộc cả đối với các cơ quan lập pháp lẫn đối với các cơ quan áp dụng pháp luật và thực hiện các chức năng điều chỉnh và bảo vệ trực tiếp và trung gian các quan hệ xã hội. + Các nguyên tắc của chính sách hình sự còn bao gồm cả các nguyên tắc được thể hiện trong Bộ luật hình sự và các nguyên tắc không thể ghi nhận trong Bộ luật hình sự (hạn chế sự trừng trị hình sự, không thoát khỏi và phân hoá trách nhiệm hình sự và hình phạt, tối ưu hoá việc phòng ngừa tình hình tội phạm bằng pháp luật hình sự). + Các nguyên tắc của chính sách hình sự “thâm nhập” vào toàn bộ cấu trúc của chính sách hình sự, là hạt nhân và định hướng hoạt động phòng ngừa và đấu tranh với tình hình tội phạm. + Đặc điểm đặc trưng của các nguyên tắc của chính sách hình sự là tính quy phạm của chúng. Các nguyên tắc đó được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam, trong các văn bản luật điều chỉnh lĩnh vực phòng ngừa và đấu tranh với tình hình tội phạm, hoặc được lấy ra từ các văn bản đó. + Tính bắt buộc của các nguyên tắc của chính sách hình sự. Các nguyên tắc của chính sách hình sự là bắt buộc đối với tất cả các chủ thể của chính sách hình sự. Do vậy, các nhà lý luận về chính sách hình sự, những người soạn thảo chính sách hình sự, những nhà làm luật và những người áp dụng pháp luật đều phải tuân thủ vô điều kiện các nguyên tắc của chính sách hình sự, phải giải thích chính xác nội dung các nguyên tắc của chính sách hình sự và phát triển các nguyên tắc đó khi có cơ sở, căn cứ. + Vi phạm các nguyên tắc của chính sách hình sự là không hợp pháp, là rất nghiêm trọng. + Như vậy, các nguyên tắc của chính sách hình sự đó là các tư tưởng mà dựa vào đó các đạo luật, các văn bản dưới luật được soạn thảo, ban hành và hoạt động của các cơ quan nhà nước và của những người có chức vụ, quyền hạn trong lĩnh vực phòng ngừa và đấu tranh với tình hình tội phạm được tiến hành.2. CÁC NGUYÊN TẮC CỦA CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ:2.1. Nguyên tắc pháp chế của chính sách hình sự. > Sự phù hợp của chính sách hình sự với Hiến pháp Việt Nam; sự phù hợp của toàn bộ các văn bản dưới luật và các quyết định trong lĩnh vực chính sách hình sự với các luật; sự phù hợp của việc áp dụng đạo luật với tư tưởng chính xác của nó. > Đòi hỏi phải giải quyết đúng đắn những vấn đề: tính tội phạm và tính phải chịu hình phạt của hành vi và những vấn đề khác, chẳng hạn như, tính nhân đạo của trách nhiệm hình sự và hình phạt, việc áp dụng các biện pháp trách nhiệm hình sự, tính công bằng của thủ tục tố tụng, việc áp dụng các biện pháp điều tra nghiệp vụ phải dựa vào luật, tính hợp pháp của chứng cứ, v.v… > Tính hợp pháp và tính hợp lý: không cho phép đối lập pháp chế với tính hợp lý, tính hợp pháp cần phải hợp lý, cần phải được lập luận cả ở giai đoạn xây dựng pháp luật lẫn ở giai đoạn áp dụng pháp luật. Đến lượt mình, tính hợp lý bao giờ cũng phải hợp pháp, ví dụ, quy định những phương án khác nhau trong luật, lựa chọn phương án cụ thể khi áp dụng. Tính hợp lý thực chất, chân chính bao giờ cũng hợp pháp, được dựa trên đạo luật hiện hành. Tính hợp pháp và tính hợp lý và nguyên tắc tôn trọng, công nhận, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân.Chính sách đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa được thể hiện trong các nguyên tắc sau đây:a. Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự:

Trang 1

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Đồng Nai, năm 2019

Trang 2

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Đồng Nai, năm 2019

Trang 3

CHƯƠNG 1: LỜI MỞ ĐẦU

Chính sách hình sự là một khoa học, có lịch sử của mình Lịch sử của khoahọc này bắt đầu từ các công trình nghiên cứu của các nhà khai sáng và cácnhà cải cách thế kỷ XVIII: Chenzare, Bekharija, Vol’ter, Mongtexkio vànhững người khác

Chính sách hình sự là hướng nghiên cứu mang tính chất chính trị hình sự

+ Pheierbakh là người đầu tiên nói về chính sách hình sự và đưa ra định

nghĩa về nó đặt trong mối quan hệ với pháp luật hình sự Theo ông, chínhsách hình sự đưa ra các chỉ dẫn cho nhà làm luật để tổ chức tốt hơn công việcxét xử hình sự

+ Bentam nghiên cứu và đã đưa ra các nhiệm vụ chính trị hình sự rất quan

trọng của khoa học chính sách hình sự là nghiên cứu các tội phạm và cácphương thức đấu tranh với các tội phạm Theo ông, chương trình chính sáchhình sự rộng lớn không chỉ bao gồm trừng phạt mà còn cả việc phòng ngừatội phạm

+ Bemer gọi chính sách hình sự là “khoa học tuyệt vời” phục vụ công việc

đấu tranh với tình hình tội phạm Ông cho rằng chính sách hình sự đưa ra đòihỏi về sự trừng phạt và phòng ngừa thích đáng, nghiên cứu các nguyên nhân

và điều kiện của tình hình tội phạm

+ Khenke cho rằng chính sách hình sự cần phải làm thoả mãn các đòi hỏi

phức tạp và hoá giải được một cách khó khăn hai vấn đề: một mặt, chính sáchhình sự phải nhìn thấy con người trong người phạm tội và người có khả năngkhông có lỗi trong từng người bị tình nghi, còn mặt khác, chính sách hình sựphải làm thoả mãn các nhu cầu xã hội trong việc bảo đảm an ninh khỏi các tộiphạm và bải bỏ sự bất công

+ Líst cho rằng, chính sách hình sự phải trở thành “người lãnh đạo” đối

với nhà lập pháp hình sự Chính sách hình sự nghiên cứu luật hình sự hiệnhành, nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, phát triển các nguyên

Trang 4

luật hình sự và bằng cách như vậy hổ trợ cho đấu tranh một cách hợp lý vớitình hình tội phạm.

+ M.P Chubinskij là nhà khoa học xây dựng lý luận khá hoàn chỉnh về

môn khoa học này Theo ông, chính sách hình sự là một ngành khoa học vềluật hình sự, có nhiệm vụ soạn thảo ra các hướng dẫn cho việc tổ chức mộtcách tốt nhất xét xử hình sự bằng cách tiến hành cả các cuộc cải cách xã hộilẫn việc xây dựng pháp luật hình sự tốt nhất, làm thoả mãn nhu cầu của trí tuệcon người trong việc phê phán cái đang tồn tại và mong muốn điều tốt đẹphơn, cần phải đưa các quan điểm chính trị hình sự vào khoa học luật hình sự + Trong các công trình khoa học Xô viết thuật ngữ chính sách hình sự lầnđầu tiên xuất hiện vào những năm 70 của thế kỷ XX Chính sách hình sự làmột lĩnh vực độc lập tương đối, đặc thù cần được tiến hành nghiên cứu vàthuộc chính sách xã hội của Nhà nước Sự hồi sinh nghiên cứu chính sáchhình sự ở nước Nga

+ Hội nghị tội phạm học quốc tế lần thứ IV ở Madrid năm 1970 đã dành

sự quan tâm cơ bản đến những vấn đề về khái niệm, bản chất và nội dung củachính sách hình sự của các quốc gia

Những vấn đề cơ bản của chính sách hình sự được bàn luận vào nhữngnăm đầu của thập niên 90 thế kỷ XX Những tác giả quan tâm đến chủ đề đó

là GS.TS Võ Khánh Vinh, GS.TSKH Đào Trí Úc, GS.TSKH Lê Cảm,GS.TS Hồ Trọng Ngũ và những tác giả khác

Trong phạm vi của bài viết này, học viên chỉ đề cập đến những nội dungchính các nguyên tắc của chính sách hình sự được nêu cụ thể ở phần nội dungcủa Tiểu luận này

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG

1 KHÁI NIỆM

1.1 Khái niệm chính sách hình sự:

Hiện nay có nhiều định nghĩa, cách tiếp cận khác nhau về chính sách hình

sự

Trang 5

+ Các định nghĩa về chính sách hình sự.

> GS.TSKH Đào Trí Úc cho rằng, chính sách hình sự, một mặt, đó làchính sách nhằm thể hiện phản ứng của Nhà nước, của xã hội đối với cáchành vi phạm tội và người phạm tội, mặt khác đó là chính sách, đường hướngcho việc tổ chức đấu tranh phòng và chống tội phạm Nói cách khác chínhsách hình sự là chính sách về tội phạm và về tổ chức phòng, chống tội phạm > GS TSKH Lê Văn Cảm quan niệm rằng, chính sách hình sự trong giaiđoạn xây dựng NNPQ là một phần của chính sách xã hội nói chung, đồng thời

là chính sách pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói riêng và bao gồmtổng thể bốn chính sách – chính sách phòng ngừa tội phạm, chính sách PLHS,chính sách pháp luật TTHS và chính sách pháp luật THAHS- với tư cách lànhững phương hướng có tính chất chỉ đạo, chiến lược của Nhà nước trongcuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm nhằm bảo đảm thực hiện tốt đườnglối xử lý về hình sự, góp phần đưa các nguyên tắc của NNPQ vào đời sốngthực tế, giáo dục công dân ý thức tôn trọng, tuân thủ và chấp hành nghiêmchỉnh pháp luật, tiến tới xây dựng thành công NNPQ ở Việt Nam Nói mộtcách ngắn gọn hơn, chính sách hình sự trong giai đoạn xây dựng NNPQ lànhững phương hướng có tính chất chỉ đạo, chiến lược của Nhà nước tronglĩnh vực tội phạm và hình phạt nhằm xây dựng và hoàn thiện PLHS, pháp luậtTTHS và pháp luật THAHS, cũng như thực tiễn áp dụng chúng, đồng thờisoạn thảo và triển khai các biện pháp đấu tranh phòng và chống tội phạm > Quan điểm khác cho rằng, chính sách hình sự là chính sách xã hội tronglĩnh vực đời sống xã hội chính trị- pháp lý xã hội, là hệ thống những quanđiểm, tư tưởng chiến lược, tổng thể về tội phạm như một hiện tượng lịch sử

xã hội của xã hội có giai cấp và về những vấn đề cơ bản nhất (mục tiêu,nhiệm vụ, nguyên tắc, phương hướng và tổ chức lực lượng) bảo đảm cho cuộcđấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả trên tất cả các phương diệnchính trị-xã hội, pháp luật và kinh tế được ghi nhận trong các văn kiện của

Trang 6

> GS.TSKH Kovalev M.I, Voronhin Ju.A cho rằng, chính sách hình sự làphương hướng hoạt động của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện các biệnpháp chính trị - xã hội, kinh tế và soạn thảo các phương pháp tối ưu về mặtpháp luật hình sự nhằm mục đích xoá bỏ tình hình tội phạm trong đất nước > GS.TSKH, Viện sĩ Kuddriacev quan niệm rằng, chính sách hình sự làchính sách trong lĩnh vực đấu tranh chống tội phạm bao gồm chính sách phápluật hình sự, chính sách xét xử, chính sách cải tạo lao động, chính sách phòngngừa xã hội các vi phạm pháp luật.

> GS TSKH Naumov A V cho rằng, chính sách hình sự là một bộ phậncấu thành của chính sách xã hội gắn liền với việc sử dụng các khả năng vàphương tiện của luật hình sự để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cánhân, của xã hội và của Nhà nước

+ Tiếp cận chính sách hình sự ở nghĩa hẹp

> Chính sách hình sự ở nghĩa hẹp được hiểu là tổng thể tất cả các nguyêntắc, mục đích, khuynh hướng và biện pháp hoạt động của Nhà nước trong lĩnhvực bảo vệ các quan hệ xã hội bằng pháp luật hình sự Chính sách hình sự ởnghĩa hẹp được hiểu là chính sách pháp luật hình sự: xây dựng và sử dụngpháp luật hình sự

> Theo quan niệm hẹp, nội dung của chính sách hình sự bao gồm:

• Những luận điểm chung và các nguyên tắc của luật hình sự, khảnăng sử dụng luật hình sự để đấu tranh với tình hình tội phạm

• Soạn thảo các tiêu chuẩn để coi một hành vi nguy hiểm cho xãhội là tội phạm (tiêu chuẩn tội phạm hóa)

• Xác định khuynh hướng hoạt động của các cơ quan xây dựngpháp luật hình sự

• Xác định khuynh hướng hoạt động của các cơ quan áp dụng phápluật hình sự

+ Tiếp cận chính sách hình sự ở nghĩa rộng

> Chính sách hình sự ở nghĩa rộng được hiểu là tổng thể tất cả các nguyêntắc, mục đích, khuynh hướng sử dụng pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng

Trang 7

hình sự, pháp luật điều tra hình sự và pháp luật thi hành án hình sự để đấutranh với tình hình tội phạm.

> Theo quan niệm rộng, nội dung chính sách hình sự bao gồm:

> Sự chuyển dịch từ quan điểm hẹp sang quan điểm rộng

> Sự thay đổi các quan điểm về chính sách hình sự

-Tiếp cận hiện nay đến khái niệm về chính sách hình sự

+ Chính sách hình sự là khái niệm rộng lớn và nhiều khía cạnh hơn

+ Chính sách hình sự là một loại chính sách pháp luật, một loại chính sách

xã hội, một loại chính sách công, một loại chính sách đối nội.1

+ Khách thể tác động của chính sách hình sự là tình hình tội phạm, tức là

một hiện tượng pháp luật - xã hội, được thay đổi về mặt lịch sử, tiêu cực, phổbiến, bao gồm hệ thống các tội phạm đã được thực hiện ở một quốc gia( vùng, thế giới) trong một giai đoạn nhất định, được đặc trưng bởi các chỉ số

về lượng và chất

+ Chính sách hình sự tác động đến tình hình tội phạm thông qua hoạt độngcủa các cơ quan bảo vệ pháp luật và các thiết chế, tổ chức tham gia phòngngừa và đấu tranh với tình hình tội phạm

+ Bản chất của chính sách hình sự thể hiện ở việc soạn thảo và thực hiện

các mục tiêu và nhiệm vụ của Nhà nước trong lĩnh vực phòng ngừa và đấutranh với tình hình tội phạm; ở việc xác định các phương tiện, các giải pháp,các hình thức và các phương pháp hoạt động của Nhà nước và các cơ quannhà nước (trước hết của các cơ quan bảo vệ pháp luật) trong lĩnh vực phòngngừa và đấu tranh với tình hình tội phạm

+ Mục tiêu cơ bản của chính sách hình sự là tính định hướng xã hội của

nó, là một trong những định hướng của chính sách xã hội, là chính sách của

Trang 8

Nhà nước trong lĩnh vực đấu tranh với tình hình tội phạm Chính sách hình sựxác định chiến lược và chiến thuật của cuộc đấu tranh đó nhằm hạn chế, khắcphục, thu hẹp và từng bước giảm thiểu tình hình tội phạm, nói cách khác làphòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả với tình hình tội phạm.

1.2 Quan niệm về nguyên tắc của chính sách hình sự:

Trong mọi lĩnh vực hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn, các nguyêntắc được gọi là các tư tưởng chỉ đạo nền tảng xác định nội dung cơ bản củahoạt động đó, các nhiệm vụ và các định hướng cơ bản của nó

Quan niệm về các nguyên tắc của chính sách hình sự

+ Dưới dạng khái quát nhất, các nguyên tắc của chính sách hình sự đượchiểu là những luận điểm cơ bản, các tư tưởng chỉ đạo làm cơ sở cho cuộc đấutranh với tình hình tội phạm

+ Các nguyên tắc của chính sách hình sự và các nguyên tắc của luật hìnhsự: hai phạm trù độc lập với nhau, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, rộng hẹpkhác nhau

+ Các nguyên tắc của chính sách hình sự là các đòi hỏi mang tính chất đạođức, tư tưởng và chính trị được quy định bởi chế độ nhà nước và xã hội màdựa vào đó các quan điểm (quan niệm) và các mệnh lệnh của Nhà nước đượcxác định mang tính hệ thống, việc soạn thảo các quy phạm pháp luật điềuchỉnh đấu tranh với tình hình tội phạm được hình thành và việc áp dụng cácquy phạm đó trên thực tiễn được thực hiện

+ Các nguyên tắc đó có nội dung được xác định trước bởi các nhu cầu vàquy luật phát triển của xã hội, hướng đến việc thực hiện các nhiệm vụ củapháp luật hình sự, (đạo luật hình sự) là bắt buộc cả đối với các cơ quan lậppháp lẫn đối với các cơ quan áp dụng pháp luật và thực hiện các chức năngđiều chỉnh và bảo vệ trực tiếp và trung gian các quan hệ xã hội

+ Các nguyên tắc của chính sách hình sự còn bao gồm cả các nguyên tắcđược thể hiện trong Bộ luật hình sự và các nguyên tắc không thể ghi nhậntrong Bộ luật hình sự (hạn chế sự trừng trị hình sự, không thoát khỏi và phân

Trang 9

hoá trách nhiệm hình sự và hình phạt, tối ưu hoá việc phòng ngừa tình hìnhtội phạm bằng pháp luật hình sự).

+ Các nguyên tắc của chính sách hình sự “thâm nhập” vào toàn bộ cấu trúccủa chính sách hình sự, là hạt nhân và định hướng hoạt động phòng ngừa vàđấu tranh với tình hình tội phạm

+ Đặc điểm đặc trưng của các nguyên tắc của chính sách hình sự là tínhquy phạm của chúng Các nguyên tắc đó được ghi nhận trong Hiến pháp ViệtNam, trong các văn bản luật điều chỉnh lĩnh vực phòng ngừa và đấu tranh vớitình hình tội phạm, hoặc được lấy ra từ các văn bản đó

+ Tính bắt buộc của các nguyên tắc của chính sách hình sự Các nguyêntắc của chính sách hình sự là bắt buộc đối với tất cả các chủ thể của chínhsách hình sự Do vậy, các nhà lý luận về chính sách hình sự, những ngườisoạn thảo chính sách hình sự, những nhà làm luật và những người áp dụngpháp luật đều phải tuân thủ vô điều kiện các nguyên tắc của chính sách hình

sự, phải giải thích chính xác nội dung các nguyên tắc của chính sách hình sự

và phát triển các nguyên tắc đó khi có cơ sở, căn cứ

+ Vi phạm các nguyên tắc của chính sách hình sự là không hợp pháp, là rấtnghiêm trọng

+ Như vậy, các nguyên tắc của chính sách hình sự - đó là các tư tưởng màdựa vào đó các đạo luật, các văn bản dưới luật được soạn thảo, ban hành vàhoạt động của các cơ quan nhà nước và của những người có chức vụ, quyềnhạn trong lĩnh vực phòng ngừa và đấu tranh với tình hình tội phạm được tiếnhành

2 CÁC NGUYÊN TẮC CỦA CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ:

2.1 Nguyên tắc pháp chế của chính sách hình sự.

> Sự phù hợp của chính sách hình sự với Hiến pháp Việt Nam; sự phù hợpcủa toàn bộ các văn bản dưới luật và các quyết định trong lĩnh vực chính sáchhình sự với các luật; sự phù hợp của việc áp dụng đạo luật với tư tưởng chínhxác của nó

Trang 10

> Đòi hỏi phải giải quyết đúng đắn những vấn đề: tính tội phạm và tínhphải chịu hình phạt của hành vi và những vấn đề khác, chẳng hạn như, tínhnhân đạo của trách nhiệm hình sự và hình phạt, việc áp dụng các biện pháptrách nhiệm hình sự, tính công bằng của thủ tục tố tụng, việc áp dụng các biệnpháp điều tra nghiệp vụ phải dựa vào luật, tính hợp pháp của chứng cứ, v.v… > Tính hợp pháp và tính hợp lý: không cho phép đối lập pháp chế với tínhhợp lý, tính hợp pháp cần phải hợp lý, cần phải được lập luận cả ở giai đoạnxây dựng pháp luật lẫn ở giai đoạn áp dụng pháp luật Đến lượt mình, tínhhợp lý bao giờ cũng phải hợp pháp, ví dụ, quy định những phương án khácnhau trong luật, lựa chọn phương án cụ thể khi áp dụng Tính hợp lý thựcchất, chân chính bao giờ cũng hợp pháp, được dựa trên đạo luật hiện hành.Tính hợp pháp và tính hợp lý và nguyên tắc tôn trọng, công nhận, bảo đảm vàbảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Chính sách đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa được thể hiện trong cácnguyên tắc sau đây:

a Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự:

Điều 7 BLTTHS 2015 quy định “Mọi hoạt động tố tụng hình sự phảiđược thực hiện theo quy định của Bộ luật này Không được giải quyết nguồntin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình

tự, thủ tục do Bộ luật này quy định”

Pháp chế là một nguyên tắc Hiến định, theo đó Nhà nước được tổ chức

và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp vàpháp luật” (Điều 8 Hiến pháp 2013) Nội dung quy định tại Điều 7 BLTTHS

2015 là sự cụ thể hóa yêu cầu đó của Hiến pháp

Trong tố tụng hình sự, khi mà quan hệ tố tụng chủ yếu là quan hệ quyềnlực thì yêu cầu bảo đảm pháp chế được đặt ra trước hết và chủ yếu là đối vớicác cơ quan có thẩm quyển tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến

Trang 11

hành tố tụng Vì vậy, ngay sau khi đặt ra yêu cầu chung về việc thực hiện cácquy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì liền theo đó Điều 7 của Bộ luật này

đã xác định: “Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định”.

Trong bất kỳ lĩnh vực nào thì pháp chế đều có nghĩa là bảo đảm tính hợphiến, hợp pháp, nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật Trong tố tụng hình sự, tuântheo những căn cứ, thẩm quyển và trình tự, thủ tục, tố tụng là yêu cầu số một.Thủ tục pháp lý chặt chẽ luôn luôn được coi là yếu tố cốt lõi của chế độ phápquyền bởi đó là lá chắn hữu hiệu để bảo vệ quyền con người trong tố tụng

hình sự, bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật Yêu cầu chỉ được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo những căn cứ

và trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định được bảo đảm thực

hiện bởi nhiều quy định xuyên suốt Bộ luật tố tụng hình sự, trong đó cónhững quy định về hậu quả bất lợi của việc vi phạm yêu cầu này Có thể thấy

rõ điều đó qua một số quy định như: Theo Điều 86 BLTTHS 2015: “Chứng cứ

là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quyđịnh ”; “Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” (điểm d khoản 1 Điều 245)

là căn cứ cho việc Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định trả hồ sơ cho Cơ quanđiều tra để điều tra bổ sung; …

b Nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng hình sự

Trong các giai đoạn của tố tụng hình sự, Viện kiểm sát co trách nhiệmkiểm sát mọi hoạt động tố tụng hình sự

Viện kiểm sát thực hiện bằng các biện pháp được luật tố tụng hình sựquy định như: Điều tra, hủy bỏ các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng,

tự mình tiến hành một số hoạt động hoặc ra các quyết định cần thiết trongviệc giải quyết vụ án, kháng nghị các bản án và quyết định của Tòa án

Trang 12

c Nguyên tắc kiểm tra, giám sát trong tố tụng hình sự (nguyên tắc mới)

Đây là nguyên tắc mới được tạo thành trên cơ sở kết hợp hai nguyên tắcgiám đốc việc xét xử và nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chứ, đại biểu dân

cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.Việc kiểm tra giám sát trong tố tụng hình sự góp phần kiểm tra tính đúngđắn trong hoạt động tố tụng hình sự

2.1.2 Chính sách bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích của công dân được thể hiện rõ trong các nguyên tắc sau đây:

a Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân

Điều 8 BLTTHS 2015 quy định “Khi tiến hành tố tụng, trong phạm vi

nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết”.

Đây là một nguyên tắc Hiến định quan trọng của tố tụng hình sự Việt

Nam Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Ở nước Cộng hòa

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” Điều 8 BLTTHS 2015 đã xác định: trách

nhiệm tôn trọng và bảo vệ quyền con người, các quyền và lợi ích hợp phápcủa cá nhân là thuộc về cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.Đối tượng của việc tôn trọng và bảo vệ trong tố tụng hình sự là quyền conngười, các quyền và lợi ích họp pháp của tất cả những người tham gia tố tụng:

bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại; nguyên đơn dân sự; người tố giác, báotin về tội phạm; người kiến nghị khởi tố; người bị tố giác; người bị kiến nghị

Trang 13

khởi tố; người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; người bị bắt trong trườnghợp phạm tội quả tang hoặc theo quyết định truy nã: người bị tạm giữ; bị can;

bị cáo; bị đơn dân sự; người bào chữa; người bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố hoặc của bị hại, đươngsự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng; ngườichứng kiến việc tiến hành hoạt động tố tụng do cơ quan có thẩm quyền tiếnhành tố tụng yêu cầu; người giám định; người định giá tài sản; người phiêndịch; người dịch thuật

Trách nhiệm tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợppháp của cá nhân là thuộc về các cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành

tố tụng và nội dung trách nhiệm đó bao gồm: Thông báo, giải thích cho nhữngchủ thể nêu trên về các quvền và nghĩa vụ của họ cũng như thực hiện nhữngviệc cần thiết bảo đảm cho việc thực hiện các quyền đó; Tạo đầy đủ các điềukiện để công dân sử dụng đầy đủ và tiện lợi các quyền và nghĩa vụ tố tụng của

họ, trước hết là quyền bào chữa; quyền trình bày lời khai, chứng cứ mà không

bị sức ép hay sự đe dọa nào, quyền khiếu nại, tố cáo các việc làm sai trái, xâmphạm quyền của họ hay của người khác trong quá trình tố tụng, quyền đượcTòa án xét xử kịp thời; Bảo đảm sự bất khả xâm phạm về thân thể, bí mậtđiện thoại, điện tín, dữ liệu điện tử, … cũng như sự bất khả xâm phạm vềdanh dự và nhân phẩm, tài sản, chỗ ở, đời sống riêng tư; Bảo vệ và bảo đảm

an toàn về tính mạng và tài sản của những người tham gia tố tụng.

Để thực hiện được nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền

và lợi ích hợp pháp của cá nhân, Điều 8 BLTTHS 2015 đặt ra yêu cầu đối vớicác cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến

hành tố tụng phải “Thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của

những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp

đó nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không cần thiết”

Trang 14

b Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người

Điều 10 BLTTHS 2015 quy định “Mọi người có quyền bất khả xâm

phạm về thân thể Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc giữ người trong trưòng hợp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ, tạm giam người phải theo quy định của Bộ luật này Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của con người”

Sự bất khả xâm phạm về thân thể là giá trị cao nhất của mỗi con người,

là một trong những quyền hiến định đầu tiên của con người Hiến pháp năm

2013 khẳng định: Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, đượcpháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạolực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thânthể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm

Quyền bất khả xâm phạm về thân thể là một chế định quan trọng của tốtụng hình sự bao gồm một loạt các quy phạm quy định sự tự do thân thể,nhằm ngăn ngừa những trường hợp bắt, giam, giữ cũng như việc áp dụng tráipháp luật các biện pháp cưỡng chế khác đe dọa sự bất khả xâm phạm vể thânthể con người Cùng với các chế định tương tự như quyền bất khả xâm phạm

về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình; chế định về antoàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tinriêng tư khác của cá nhân; chế định về quyền bất khả xâm phạm thân thể hợpthành cơ sở pháp lý tố tụng vững chắc bảo đảm sự tự do và an toàn cho conngười khi rơi vào những bối cảnh phải đối diện với các cơ quan có thẩmquyển tiến hành tố tụng hình sự

c Nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân

Trang 15

Điều 11 BLTTHS 2015 quy định “Mọi người có quyền được pháp luật

bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản Mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân đều bị xử lý theo pháp luật Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho Nhà nước khác”.

Nguyên tắc này có cơ sở hiến định tại Điều 19 của Hiến pháp 2013:

“Mọi người có quyền sống Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” Bảo đảm cho việc thực hiện quy

định của Hiến pháp, BLTTHS 2015 đã có những bổ sung quan trọng nhằmtăng cường tính chặt chẽ của thủ tục về thi hành bản án tử hình trong đó cóhai loại thủ tục, gồm: thủ tục xem xét bản án tử hình trước khi thi hành và thủtục của việc không ra quyết định thi hành án tử hình và xem xét để chuyểnhình phạt tử hình thành tù chung thân cho người bị kết án (khoản 2 Điều 367)

d Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống

riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện

thoại, điện tín của cá nhân

Điều 12 BLTTHS 2015 quy định “Không ai được xâm phạm trái pháp

luật chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân Việc khám xét chỗ ở; khám xét, tạm giữ và thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng

tư khác phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này”

Yêu cầu đặt ra trong nội dung của nguyên tắc này xuất phát từ quy địnhcủa Hiến pháp năm 2013 với những điểm mới quan trọng So với quy địnhtrước đây của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, thì quy định của Điều 12 nêutrên có mấy điểm đáng lưu ý sau đây:

Ngày đăng: 29/10/2019, 16:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w