Trong cơ chế điều hành lãi suất, Ngân hàng nhà nước có thể sử dụng các biện pháp mang tính hành chính như quy định trực tiếp các mức lãi suất huy động và cho vay, quy định lãi suất trần-sàn, quy định mức chênh lệch lãi suất, quy định lãi suất cơ bản cộng biên độ khống chế hoặc các công cụ mang tính kinh tế tác động đến cung–cầu vốn trên thị trường tiền tệ để định hướng lãi suất thị trường biến động phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG KHOA KINH TẾ VÀ QTKD
BÀI TIỂU LUẬN
THỰC TRẠNG LÃI SUẤT TÁC ĐỘNG ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY.
Nhóm thực hiện : Nhóm 2 Thành viên thực hiện :
Đoàn Kim Ngân.
Nguyễn Thị Mai Phương.
Quyền Thị Lan Phương.
Lê Thị Hồng Vân.
Giảng viên hướng dẫn: Ths Nguyễn Thị Yến.
Trang 2CHƯƠNG 1 : LÃI SUẤT VÀ TÁC ĐỘNG CỦA LÃI SUẤT
ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ NƯỚC TA
GIAI ĐOẠN 1986 ĐẾN NAY1.1 Một số nét cơ bản về cơ chế điều hành lãi suất
Trong cơ chế điều hành lãi suất, Ngân hàng nhà nước có thể sử dụng các biện pháp mang tínhhành chính như quy định trực tiếp các mức lãi suất huy động và cho vay, quy định lãi suấttrần-sàn, quy định mức chênh lệch lãi suất, quy định lãi suất cơ bản cộng biên độ khống chếhoặc các công cụ mang tính kinh tế tác động đến cung–cầu vốn trên thị trường tiền tệ để địnhhướng lãi suất thị trường biến động phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ
Từ những năm cuối thập kỉ 80–đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX, Việt Nam đã bắt đầu “cuộc thửnghiệm” chuyển đổi nền kinh tế từ vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang vận hànhtheo cơ chế thị trường Cùng với quá trình chuyển đổi, thể chế kinh tế thị trường có sự điềutiết vĩ mô của Nhà nước từng bước được thiết lập, theo đó mối quan hệ giữa Nhà nước-Thịtrường cũng từng bước được định hình và dần rõ nét
Hiện tại, dù đã trải qua hơn 20 năm chuyển đổi, giá cả một số hàng hóa và dịch vụ (đặc biệtnhững hàng hóa, dịch vụ thiết yếu đối với đời sống dân sinh) vẫn còn chịu sự kiểm soát trựctiếp bằng các quy định hành chính Cơ chế điều hành chính sách tiền tệ nói chung và điềuhành lãi suất nói riêng nằm trong tình trạng chung là có sự đan xen giữa các biện pháp thịtrường và biện pháp hành chính, có thời điểm biện pháp thị trường được sử dụng trội hơn, cóthời điểm biện pháp hành chính được chú trọng hơn tạo nên hình ảnh thiếu nhất quán Quyluật cạnh tranh chưa phát huy hiệu quả cho sự phát triển bền vững của hệ thống tài chính–Ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung
Dù vậy, hơn 20 năm chuyển đổi vừa qua dường như cơ chế điều hành lãi suất đã được triểnkhai theo một lộ trình đơn thuần bằng các biện pháp mang tính hành chính, từng bước nới lỏngtiến tới tự do hóa hoàn toàn, phù hợp với từng giai đoạn của công cuộc chuyển đổi nền kinh tếnói chung, quá trình thành lậpvà phát triển thị trường tài chính – tiền tệ nói riêng Và có lẽ đócũng được xem như một trường hợp cụ thể, điển hình phản ánh chiều hướng và thực chất mốiquan hệ Nhà nước–Thị trường trong suốt thời kì chuyển đổi
1.2 Chính sách lãi suất giai đoạn đầu đổi mới (năm 1986 đến 1990)
Trang 31.2.1 Thực trạng và tính hình quản lý lãi suất giai đoạn này
Chúng ta hãy nhìn nhận lại sự ra đời của Ngân hàng từ trước năm 1986, trong thời kỳ này chỉ
có sự hoạt động duy nhất của Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam hay Ngân hàng Nhà Nước ViệtNam Ngân hàng Quốc gia ra đời thực hiện nhiệm vụ chủ yếu cung cấp tín dụng cho các tổchức kinh tế quốc doanh và hợp tác xã theo sự chỉ đạo trực tiếp của Nhà nước Ngân hàng thựchiện nhiệm vụ phân bổ Ngân sách Nhà nước chủ yếu là cho các doanh nghiệp Quốc doanh,chưa có khái niệm kinh doanh và chủ động theo nguyên tắc thị trường Vai trò công cụ lãi suấttrong giai đoạn này là không có
Từ 1986, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước ra khỏi chức năng tiền tệ, tín dụng, chuyểnhoạt động Ngân hàng sang hạch toán Do những nguyên nhân như chiến tranh kéo dài tàn phá
để lại những hậu quả nặng nề cho nền kinh tế Xét trên khía cạnh tài chính, giai đoạn này hệthống tài chính không phát triển do chưa nhìn nhận được vai trò của chính sách lãi suất theotín hiệu thị trường dẫn đến nền kinh tế đã trì trệ lại càng trì trệ hơn Nhận thấy tình hình trên,Đại hội Đảng VI tháng 12-1986 quyết định đổi mới nền kinh tế chuyển sang kinh tế thịtrường, trong đó đổi mới quản lý đối với hoạt động Ngân hàng
Nhìn chung, hoạt động của Ngân hàng vẫn nằm trong sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước vềcung cấp tín dụng cho tổ chức kinh tế Quốc doanh và hợp tác xã Tuy nhiên, với nhiệm vụ cấpphát, quản lý vốn kiến thiết cơ bản thuộc Ngân sách cho vay với các dự án, cho vay với mứclãi suất do Nhà nước quản lý chặt chẽ đã có tác động tới việc nâng cao trách nhiệm cho cácngành trong việc sử dụng nguồn vốn có hiệu quả
Cũng trong giai đoạn này, lạm phát rất cao Đỉnh điểm là năm 1986, chỉ số lạm phát lên tới774,7%, sản xuất đình trệ nền kinh tế rơi vào tình trạng khủng hoảng, đời sống nhân dân hếtsức khó khăn Việc tăng lãi suất không đáng kể với mức lạm phát quá cao lúc bấy giờ Thời kỳlãi suất thực âm kéo dài tự 1986 đến 1989, có thể nói trước 1989 do chưa áp dụng triệt đểchính sách lãi suất theo cơ chế thị trường, cùng với mức lạm phát phi mã khiến cho lãi suấtthực tế ở mức âm
Trước tình hình trên, đến năm 1988, cùng với quá trình chuyển đổi của nền kinh tế, hệ thốngNgân hàng Việt Nam bắt đầu chuyển đổi từ hệ thống Ngân hàng 1 cấp sang hệ thống Ngânhàng 2 cấp bao gồm có 4 Ngân hàng quốc doanh Lãi suất tiền gửi và cho vay của các Ngânhàng do Ngân hàng nhà nước quy định, mức lãi suất được áp dụng khác nhau tùy theo đốitượng Bên cạnh đó, Chính phủ áp dụng chính sách lãi suất mới nâng dần mức lãi suất lên theo
Trang 4kịp chỉ số lạm phát, đối phó với tình hình lạm phát cao lúc bấy giờ Tuy nhiên, mức lãi suấthuy động thực tế vẫn âm, thể hiện năm 1982, lãi suất huy động là 1,5%/năm kỳ hạn 3 thángvới mức lạm phát 7,95%/năm dẫn đến lãi suất thực âm 5,45%/năm.
1.2.2.Đánh giá những tác động của chính sách lãi suất đến nền kinh tế
Trong giai đoạn đầu đổi mới, nền kinh tế nhìn chung đang trong giai đoạn khủng hoảng, sảnxuất còn trì trệ, đời sống nhân dân còn khó khăn
Xét trên khía cạnh chính sách tiền tệ nói chung và chính sách lãi suất nói chung cũng có nhữngbước đổi mới lớn Nhìn chung, trong giai đoạn này, Chính phủ duy trì chính sách lãi suất cốđịnh Tuy đây là chính sách chưa mang tính chất tự do hoạt động theo tín hiệu thị trườngnhưng với nền kinh tế còn nhiều yếu kém thì nó đã đem lại hiệu quả nhất định Việc Ngânhàng Nhà nước đã chỉ định mức lãi suất có tác dụng ổn định thị trường vốn, bảo vệ nhiềungành kinh tế còn non yếu mới ra đời trong thời kỳ này
Việc nâng mức lãi suất huy động được thực hiện nhưng chưa theo kịp được lạm phát, mức lãisuất thực âm còn kéo dài từ những trước năm 1986 cho đến đầu những năm 1992 Tuy nhiên,chính sách này cũng đã có những ảnh hưởng tới đời sống nhân dân trước tình trạng lạm phátlúc bấy giờ Nhờ tăng lãi suất mà việc huy động vốn trở nên có hiệu quả hơn, lạm phát từngbước được đẩy lùi Cũng trong thời gian này, hoạt động huy động vốn cũng diễn ra hết sức sôiđộng làm cho lãi suất tăng nhanh, các quý tín dụng đua nhau mọc lên nhưng do thiếu sự kiểmsoát nghiêm ngặt nên nhanh chóng đổ bể Đến năm 1990, nhiều quỹ tín dụng huy động vốnvới lãi suất cao đồng loạt đổ bể, hậu quả đánh mất lòng tin của dân chúng
1.3 Cơ chế lãi suất tín dụng giai đoạn từ 1991 đến 1995
1.3.1 Diễn biến quản lý lãi suất thời kỳ này
Đại hội Đảng VII tháng 6/1991 đã đề ra chiến lược: ổn định và phát triển kinh tế xã hộiđến năm 2000 đồng thời đề ra phương hướng cho kế hoạch 5 năm 1991 - 1995 Khó khăn lớnlúc này là nền kinh tế vẫn bị bao vây, cấm vận trong bối cảnh các nước Đông Âu và các nướcthuộc Liên Xô (cũ) rơi vào khủng hoảng trầm trọng Song thuận lợi lúc này là đổi mới đã pháthuy tác dụng, các cơ sở kinh tế thích nghi dần với cơ chế quản lý mới
Tháng 6/1992 được coi là mốc quan trọng đánh dấu một bước chuyển quan trọng nhất
về chất trong cơ chế lãi suất tín dụng NHNN đã chuyển từ cơ chế lãi suất thực âm sang cơ chếlãi suất thực dương và được quản lý theo khung lãi suất Những điểm cơ bản của chính sáchlãi suất mới là như sau:
Trang 5 Một là, NHNN quy định khung lãi suất của NHTM đối với nền kinh tế (lãisuất tối thiểu đối với tiền gửi và lãi suất tối đa đối với tiền cho vay).
Hai là, lãi suất cho vay bình quân phải lớn hơn lãi suất huy động bình quân,chấm dứt sự bao cấp về vốn qua kênh tín dụng ngân hàng
Ba là, đối với lãi suất ngoại tệ, NHNN quy định lãi suất cho vay tối đa bằngngoại tệ Lãi suất huy động bằng ngoại tệ do các NHTM quyết định trên cơ sởlãi suất thị trường tiền tệ quốc tế và cung - cầu vốn ngoại tệ trong nước
Từ thág 6/1992 đến cuối năm 1993, NHNN đã 5 lần điều chỉnh giảm lãi suất cho phùhợp với chỉ số lạm phát và hiệu quả sản xuất kinh doanh của nền kinh tế Lãi suất cho vay tối
đa bằng ngoại tệ được điều chỉnh tăng từ 6,5%/năm lên 7,5%/năm, phù hợp với lãi suất trênthị trường quốc tế Kết quả là vốn huy động hàng năm tăng hơn 20%, tín dụng đối với nềnkinh tế tăng gần 50%
Trong 2 năm 1994 - 1995, cơ chế lãi suất tiếp tục được điều chỉnh theo hướng thíchứng với cơ chế thị trường, phù hợp với quan hệ cung - cầu vốn, đồng thời hạn chế sự can thiệptrực tiếp của NHNN vào hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng NHNN chỉ khống chếmức lãi suất cho vay tối đa của các tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế Các mức lãi suất tiềngửi và cho vay cụ thể do tổ chức tín dụng ấn định Cho phép các tổ chức tín dụng điều chỉnhlãi suất tiền gửi của các tổ chức kinh tế lên gần sát với mức lãi suất tiền gửi dân cư Tăng lãisuất cho vay trung và dài hạn lên 1,7%/tháng Lãi suất ngoại tệ được điều chỉnh 3 lần từ 7,5%/năm lên 9,5%/năm phù hợp với sự biến động của lãi suất thị trường quốc tế
Các mức lãi suất tiền gửi và cho vay của các tổ chức tín dụng được thể hiện ở bảngsau:
Diễn biến lãi suất cho vay và tiền gửi bình quân các năm
Đơn vị: %/ tháng
Thời điểm
1986-1990
1991 1992 1993 1994 1995
Trang 6Lãi xuất
Cho vay bình quân tháng 4,3 2,5 2,5 1,8 1,6 1,7
Tiền gửi bình quân tháng 6,0 2,9 1,9 1,4 1,3 1,4
Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế, NHNN
1.3.2 Đánh giá những tác động của chính sách lãi suất tới nền kinh tế
a) Như vậy, điểm nổi bật của cơ chế điều hành lãi suất tín dụng thời kỳ 1992 - 1995 sovới thời kỳ trước 1992 có thể được nhìn nhận dưới các mặt sau:
Cơ chế lãi suất thực dương, lãi suất cho vay bình quân lớn hơn lãi suất tiền gửi,lãi suất tiền gửi lớn hơn tỷ lệ lạm phát NHNN chỉ quy định khung lãi suất tạođiều kiện cho các tổ chức tín dụng linh hoạt hơn Mặt khác, NHNN còn chophép các TCTD huy động và cho vay theo lãi suất thoả thuận đối với các dự án
có hiệu quả, chủ yếu là đối với các Doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hộ nôngdân Đây là bước khởi đầu đánh dấu tiến trình tự do hoá lãi suất trong các lầnđiều chỉnh cơ chế lãi suất sau này
Xoá bỏ quy định lãi suất phân biệt giữa các thành phần kinh tế, các ngành kinh
tế, đưa lãi suất biến động tiến sát với lãi suất thị trường phù hợp với quan hệcung - cầu về vốn; rút ngắn khoảng cách chênh lệch bất hợp lý giữa lãi suất chovay ngắn hạn với lãi suất cho vay trung và dài hạn, giữa lãi suất nội tệ với lãisuất ngoại tệ
Bỏ bao cấp qua lãi suất, thúc đẩy các TCTD chuyển sang hạch toán kinh doanh,hạn chế việc ngân sách phải cấp bù lỗ lãi suất cho ngân hàng, đồng thời giúpcác doanh nghiệp có cơ sở xác định thực chất trong hoạt động sản xuất kinhdoanh của mình
b) Tuy nhiên, cơ chế lãi suất tín dụng thời kỳ này cũng bộc lộ những tồn tại chủ yếusau:
Trang 7 Quá trình điều hành cơ chế lãi suất còn thiếu linh hoạt, chưa điều chỉnh kịp thờikhung lãi suất để phù hợp với tăng trưởng kinh tế và lạm phát Tăng trưởngkinh tế thời kỳ này bình quân hơn 8%, lạm phát được kiềm chế ở mức 2 con số,riêng năm 1993 ở mức 1 con số (5,2%) nhưng lãi suất vẫn giữ nguyên ở mứcquá cao.
Lãi suất cho vay còn cao so với hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp.Điều này được dễ ràng nhận thấy khi tỷ suất lợi nhuận bình quân của các ngànhCông - Nông nghiệp và Dịch vụ từ 1992 - 1995 chỉ ở mức 5,15 - 12%, trongkhi lãi suất cho vay bình quân ở mức 12 - 21%/năm
Lãi suất cho vay trung và dài hạn còn thấp hơn lãi suất cho vay ngắn hạn, tổchức tín dụng không mạnh dạn mở rộng cho vay trung và dài hạn do lo rủi ro.Điều này không phù hợp với cơ chế thị trường
Lãi suất đồng Việt Nam và ngoại tệ còn khoảng cách chênh lệch khá lớn Điềunày gây bất lợi đối với các doanh nghiệp xuất khẩu vì họ phải vay đồng ViệtNam với mức lãi suất cao trong khi lãi suất tiền gửi ngoại tệ thấp, xuất hiện tìnhtrạng vay vốn ngoại tệ lòng vòng giữa các doanh nghiệp, NHTM với nhau đểhưởng chênh lệch lãi suất, đẩy cầu ngoại tệ tăng cao
Bên cạnh cơ chế khung lãi suất là cơ chế cho vay theo lãi suất thoả thuận bằngnguồn vốn huy động kỳ phiếu, trái phiếu của NHTM Do vậy, nhiều tổ chức tíndụng, nhất là các NHTMCP cho vay bằng các nguồn vốn khác cũng áp dụng cơchế lãi suất thoả thuận, do đó đẩy mặt bằng lãi suất lên cao vượt quá khung lãisuất cho vay quy định của NHNN
1.4.Chính sách lãi suất giai đoạn từ 1996 đến 2000
1.4.1 Thực trạng chính sách lãi suất thời kỳ này
Trong giai đoạn này, Ngân Hàng Nhà Nước đã đưa ra nhiều quyết định quan trọng vềlãi suất, nhằm từng bước tự do hóa lãi suất theo cơ chế thị trường Tuy nhiên, Nhà nước vẫnđóng vai trò rất quan trọng Chính sách lãi suất trần và chính sách lãi suất sàn từng bước đượcđổi mới để thích ứng với sự phát triển kinh tế
Năm 1996, chính sách lãi suất có sự thay đổi lớn, mức lãi suất đã được hạ xuống còn2,1% - 1,75% tháng, kèm theo quy định mức chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiềngửi tối đa không vượt quá 0,35%
Trang 8Năm 1997-1998, Ngân Hàng Nhà Nước đã không siết chặt kiểm soát lãi suất mà lại có
vẻ nới lỏng chính sách lãi suất, trần lãi suất được nâng lên, các Ngân hàng Thương mại có thểtăng lãi suất tiền gửi để huy động vốn và quy định giới hạn chênh lệch kais suất cho vay và lãisuất tiền gửi ở mức 0,35%/tháng Giảm lãi suất cho vay bình quân tối thiểu là 0,35%/tháng đểtạo điều kiện cho các doanh nghiệp vay vốn mở rộng sản xuất, tạo nguồn thu cho ngân sáchnhà nước
Thực hiện chủ trương của Quốc hội, theo chỉ đạo của chính phủ ngày 28/12/1997Thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước đã ký quyết định số 381/QĐ-NH1 về việc điều chỉnh lãisuất tín dụng với nội dung bắt đầu được thực hiện từ ngày 1/1/1998, theo đó quy định trần lãisuất cho vay ngắn hạn là 1,75%/tháng, và trần lãi suất cho vay chung dài hạn là 1,7%/tháng,lãi suất huy dộng của các ngân hàng thương mại quy định trên cơ sở chênh lệch lãi suất huyđộng bình quân và lãi suất cho vay bình quân không quá 0,35%/tháng
Quyết định này đạt được một bước tiến quan trọng về quản lý lãi suất, giao quyền chủđộng cho các ngân hàng thương mại trong việc điều hành lãi suất theo tín hiệu của thị trường,theo quan hệ cung cầu về vốn trên thị trường, hoàn cảnh riêng của từng ngân hàng thương mại,từng khu vực kinh tế Qua việc thực hiện quyết đinh số 381/QĐ-NH, hầu hết Ngân hàngThương mại đã thực hiện tốt trần lãi suất cho vay là 1,75%/tháng, nguồn vốn huy động và dư
nợ tín dụng tiếp tục tăng lên, đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế Tuy nhiên, chúng tacũng thấy một điều rằng, nguồn vốn của các ngân hàng thương mại tăng mạnh, chủ yếu là giatăng nguồn vốn ngắn hạn và dẫn đến một hiện tượng là một số ngân hàng thương mại quốcdoanh thừa vốn ngắn hạn trong khi vốn trung và dài hạn lại bị thiếu một cách nghiêm trọng Năm 1998, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục ba lần điều chỉnh giảm mức lãi suất trần.Quyết định số 191/QĐ-NH ban hành ngày 15/7/1998 theo đó trần lãi suất cho vay ngắn hạngiảm xuống còn 1,65%/tháng, trung dài hạn xuống 1,65%/tháng
Quyết định số 225/QĐ-NH ban hành ngày 27/8/1998 hạ trần lãi suất cho vay ngắn hạnxuoogs còn 1,5%/tháng, trung dài hạn 1,55%/tháng
Quyết đinh số 226/QĐ-NH1 ban hành ngày 27/9/1998 giảm trần lãi suất cho vay ngắnhạn xuống 1,25%/tháng, trung dài hạn là 1,35%/tháng
Như vậy, chúng ta thấy trần lãi suất cho vay ngắn hạn của các tổ chức tín dụng khôngngừng điều chỉnh giảm cùng với sự giảm xuống của tỷ lệ lạm phát lãi suất cho vay chung dàihạn giảm nhưng tăng trưởng đới với lãi suất ngắn hạn, điều này là hoàn toàn phù hợp với
Trang 9thông lệ quốc tế và nguyên lý chung Các quyết định đảm bảo được cả ba lợi ích: lợi ích củanền kinh tế quốc dân nói chung, quy định gửi tiền và các tổ chức tín dụng Đặc biệt, đáng chú
ý là lần đầu tiên việc quy định chênh lệch lãi suất đã thúc đẩy các tổ chức tín dụng đi vào cạnhtranh trong kinh doanh tiền tệ, thay vì quy định từng lãi suất cụ thể đối với từng nguồn cụ thểnhư trước đây, Ngân hàng Nhà nước chỉ khống chế chênh lệch lái suất giữa lãi suất cho vaybình quân và lãi suất huy động bình quân, các tổ chức tín dụng được tự chủ ấn định các mứclãi suất huy động cụ thể Chính sách này đã khuyến khích hoạt động tín dụng phát triển tăngtrưởng kinh tế cao, tạo việc làm và kiềm chế lạm phát ở mức thấp
Cho đến tháng 1 năm 2000 Ngân hàng Nhà nước có thêm hai lần điều chỉnh lãi suất đólà:
- Quyết định số 179/QĐ-NH ban hành ngày 28/5/1999 hạ trần lãi suất xuống 1%/tháng,trung dài hạn là 1,1%/tháng
- Quyết đinh số 39/QĐ-NH ban hành ngày 17/1/2000 tăng trần lãi suất cho vay ngắn hạnlên 1,2%/tháng, trung và dài hạn là 1,25%/tháng
Cùng với Quyết định trên, Ngân hàng Nhà nước còn quy định các mức lãi suất ưu đãi chovay phục vụ người nghèo (0,8%/tháng) cho vay với các tổ chức kinh tế và dân cư thuộc vùngnúi cao 0,5-0,6%/tháng, cho vay học sinh, sinh viên 0,7%/tháng, lãi suất nợ quá hạn 150%mức lãi suất trần cho vay cùng loại Quy định ;ái suất tiền gửi tối đa của các tổ chức kinh tế tạicác tổ chức tín dụng không thời hạn là 1,5%/năm, kỳ hạn 6 tháng là 4%/năm, kỳ hạn trên 6tháng là 3,5%/năm
Mặt khác do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực, nền kinh tếtăng trưởng thấp Nhưng về chính sách lãi suất chưa áp dụng hoàn toàn theo cơ chế thị trườngnên lãi suất VNĐ vẫn cao hơn nhiều so với tỷ lệ lạm phát Năm 2000 do có thiểu phát nên lãisuất đã được điều chỉnh giảm chút ít, nhưng xem xét lãi suất thực dương thì lại không phảigiảm mà tăng lên Tỷ lệ lãi suất dương chia cho tỷ lệ lạm phát năm 1996 là 120%, năm 1997 là175%, năm 1998 là 11,6%, năm 1999 là 5350% và năm 2000 thì quá cao trên 6000% Điềunày lý giải vì sao giai đoạn này thiểu phát
1.4.2 Đánh giá những tác động của chính sách lãi suất tới nền kinh tế
a Những mặt tích cực
- Đảm bảo sự phù hợp, ổn định giữa lãi suất huy động và chỉ số lạm phát giữa lãi suất dầu ravới lãi suất huy động do đó, lãi suất thực dương đảm bảo lợi ích cho người gửi tiền
Trang 10- Trần lãi suất cho vay tối đa liên tục được điều chỉnh giảm kết hợp với từng bước nới lỏngcác điều kiện vay vốn (cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, công chứng ) nhằm tạo điều kiện cho cácdoanh nghiệp giảm chi phái kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh, hiệu quả kinh tế và nền kinhtes tăng trưởng cao Đồng thời, lãi suất phù hợp hơn với chỉ suất lợi nhuận của doanh nghiệp.
- Chính sách lãi suất kết hợp với nhiều biện pháp nhanh tăng nhanh khối lượng vốn huy động
và cho vay, để tạo ra vốn đầu tư phát triển kinh tế, xã hội
- Điều chỉnh các mức lãi suất ưu đãi phù hợp để ưu tiên phát triển kinh tế những vùng khókhăn như: vùng núi, hải đảo, tầng lớp khó khăn như nông dân, học sinh đi học
- Chính sách lãi suất tiếp tục được điều chỉnh theo hướng tự do hóa, quyền chủ động cácngân hàng thương mại ngày càng được nới lỏng Nhà nước giảm dần sự can thiệp quá sâu tạođiều kiện ban đầu cho việc lãi suất được hình thành theo quy luy luật cung cầu trên thị trường
b Những mặt hạn chế
- Lãi suất thực thường xuyên biến đổi do lạm phát thay đổi thường xuyên Nhưng lãi suất huyđộng lại không được điều chỉnh kịp thời Do đó, thu nhập thực tế của người gửi tiền thườngbấp bênh, không ổn định
- Chính sách lãi suất vẫn còn mang tính chính sách xã hội nên ảnh hưởng nhiều đến hiệu quảkinh doanh của các Ngân hàng thương mại, chưa xem xét đến mức độ rủi ro của các tổ chứctín dụng khi gặp phải trong hoạt động kinh doanh tiền tệ
- Trong suốt thời gian dài vẫn tồn tại chênh lệch giữa lãi suất nội tệ và lãi suất ngoại tệ và gâykhó khăn trong việc thu hút vốn ngoại tệ từ lưu thông về, tạo trục trặc cho người vay vốnngoại tệ từ ngân hàng
1.5 Giai đoạn chính sách lãi suất có nhiều đổi mới theo hướng tự do hóa (Năm 2000- đến nay)
1.5.1 Cơ chế lãi suất trần – sàn
Lãi suất trần (sàn) là mức lãi suất cao nhất (thấp nhất) trong một khung lãi suất nào đó
mà Ngân hàng trung ương quy định để can thiệp vào hoạt động tín dụng nhằm bảo vệ quyềncủa người cho vay và người đi vay
1.5.1.1 Cơ chế điều hành lãi suất trần–sàn
Đến tháng 5-2001, Ngân hàng nhà nước từng bước chuyển sang áp dụng hình thức chovay bằng ngoại tệ Và kể từ sau tháng 5-2002, cơ chế lãi suất thỏa thuận được áp dụng trongcác hoạt động tín dụng Trước sự vận động bất lợi của thị trường chứng khoán và lạm phát
Trang 11tăng cao ngay từ đầu năm 2008, Ngân hàng nhà nước thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ, sửdụng đồng thời các công cụ lãi suất và hoạt động thị trường mở Công cụ lãi suất được pháthuy tối đa, liên tục có điều chỉnh và triển khai quyết liệt Từ giữa tháng 1-2008, dự trữ bắtbuộc đã tăng thêm 1% với tiền gửi nội tệ và ngoại tệ từ không kỳ hạn tới dưới 12 tháng Lãisuất tái cấp vốn cũng tăng gấp 2 lần trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 6-2008 Mứclãi suất chiết khấu so với cuối năm 2007 tăng thêm 8,5%, ở mức 13%/năm kể từ ngày 10-6-2008.
Thời điểm này, Ngân hàng nhà nước điều chỉnh lãi suất cơ bản lên 14%/năm Với quy chếđiều hành là cho phép tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh không vượt quá 150% lãisuất cơ bản, trần lãi suất cho vay lên tới 21%/năm Đặc điểm đáng chú ý trong giai đoạn cácNgân hàng gặp khó khăn thanh khoản này là lãi suất huy động ngắn hạn bằng, thậm chí caohơn lãi suất huy động dài hạn Năm 2008 chứng kiến sự biến động mạnh của lãi suất với sựđiều hành chính sách tiền tệ linh hoạt và uyển chuyển của Ngân hàng nông nghiệp Nghiệp vụthị trường mở được thực hiện theo cả hai hướng mở rộng và thắt chặt tiền tệ đã không tạo tácđộng đáng kể nào tới lãi suất Trong tuần thứ ba của tháng 2-2008, Ngân hàng nhà nước bổsung 33000 tỷ đồng vào lưu thông nhưng các Ngân hàng thương mại vẫn tiếp tục tăng lãi suấthuy động tiền gửi Tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn- Hà Nội (SHB), lãi suất huyđộng điều chỉnh 3 lần chỉ trong vòng 10 ngày và tăng lên 12,5%/năm với kỳ hạn 1 tháng.Thông báo phát hành 20300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc được đưa ra vào giữa tháng 2-2008 vàthực hiện một tháng sau đó Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất đang đi lên, rất khó xác địnhảnh hưởng của nghiệp vụ này tới lãi suất Trong tháng 6-2008, lãi suất huy động của cácNgân hàng thương mại tiến gần tới trần lãi suất cho vay Ngày 30-6-2008, Ngân hàng KiênLong áp dụng lãi suất huy động tiền đồng cao kỷ lục là 20%/năm cho khách hàng gửi tiền kỳhạn 12 tháng Hiệu lực không thật rõ ràng của các nghiệp vụ thị trường mở vào kỳ hạn lạmphát gia tăng là tín hiệu sự tồn tại bẫy thanh khoản trong hệ thống tín dụng tại thời điểm đó.Nếu đúng vậy, điều chỉnh tăng dần các công cụ lãi suất là giải pháp hợp lý và sớm mang lạikết quả bình ổn thị trường tiền tệ Cuối tháng 6-2008, 2 tỷ đồng trái phiếu chính phủ kỳ hạn 2năm với lãi suất 11%/năm đã được huy động thành công Mặc dù khối lượng không lớnnhưng dấu hiệu này gợi mở khả năng tiếp tục duy trì các chính sách tiền tệ - tài chính vĩ mô.Lưu ý rằng, chỉ hai tuần trước đó, phiên đấu thầu hai loại trái phiếu chính phủ ngày 13-6-
2008 có kỳ hạn 2 năm và 3 năm đã không thu hút được bất kỳ thành viên nào tham gia Trên
Trang 12thị trường, có tổ chức tài chính sẵn sàng chuyển nhượng lượng trái phiếu đang sở hữu vớimức chiếu khấu lên tới 40% mệnh giá, nhưng vẫn không tìm được đối tác quan tâm.
So với giai đoạn khủng hoảng tiền tệ khu vực 1997-1998, chính sách tiền tệ của Việt Namtrong năm 2008 sử dụng nhiều công cụ hơn và cường độ điều chỉnh dồn dập hơn Nhằm hỗtrợ các đơn vị kinh doanh vượt qua khó khăn trong bối cảnh khủng hoảng tài chính khu vực,chính sách tiền tệ được mở rộng trong các năm từ 1997 đến 1999 Với mức lãi suất thựcdương, các liệu pháp tiền tệ đã phát huy tác động ổn định kinh tế vĩ mô Chi phí lãi cao kếthợp với tăng giá đầu vào tạo ra áp lực lớn với sự vận hành sản xuất, kinh doanh trong năm
2008 Chấp nhận chi phí đầu vào tăng cao, hạn chế mở rộng tín dụng là những dấu hiệu chothấy hệ thống Ngân hàng thương mại cũng gặp khó khăn với vấn đề thanh khoản Điều này
có thể là kết quả của những khoản tín dụng chất lượng thấp đã cung cấp trong thời gian trước,với tỷ lệ không nhỏ dành cho các dự án bất động sản và đầu tư tài chính
1.5.2.2 Tác động của cơ chế điều hành lãi suất trần-sàn
a) Chính sách lãi suất trần tác động đến các NHTM.
* Tích cực:
- Việc tổ chức quản lý lãi suất trần cho phép các tổ chức tín dụng được tự do ổn địnhcác mức lãi suất cho vay và tiền gửi trong phạm vi trần do NHNN cho phép, chính sách lãisuất trần đã chấm dứt thị trường NHNN qui định các mức dư nợ lãi suất cụ thể, xoá bỏ lãi suấtcho vay theo thoả thuận và từng bước tiến hành tự do háo lãi suất
- Để nâng cao lợi nhuận các NHTM phải nâng cao mức dư nợ cho vay và huy độngvốn gấp nhiều lần
*Hạn chế:
Do lãi suất cho vay và lãi suất huy động (ngắn, trung, dài hạn) liên tục giảm, nhiềuNHTM không lường trước được đã huy động vốn có thời hạn 1-3 năm để cho vay trung và dàihạn Năm 1999 NHNN 5 lần cắt giảm lãi suất cho vay tối đa, có lần NHNN còn buộc NHTMgiảm ngay cả lãi suất dư nợ đã cho vay khi đó vốn lao động theo lãi suất thời kỳ trước vẫnđược giữ nguyên cho tới khi hết hạn, đồng thời lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốnnhỏ(= 0 hoặc thấp hơn) Vậy rủi ro lãi suất luôn đặt gánh nặng lên các NHTM
b) Chính sách lãi suất trần đối với các doanh nghiệp
Trang 13*Tích cực:
- Đáp ứng tốt nhu cầu vốn sản xuất cho doanh nghiệp
- Doanh nghiệp không phải vay với mức lãi suất vượt trần, tức là các doanh nghiệpkhông bị các ngân hàng ép khi đi vay tiền
- Trong thời kỳ cả nước có 6000 doanh nghiệp nhà nước hơn 1000 doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài, 230000 doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty TNHH hầu hếtcác doanh nghiệp này được vốn ngân hàng hỗ trợ 80-90 % trong sản xuất kinh doanh cải tiến
và đổi mới công nghệ
* Hạn chế:
- Việc giảm lãi suất là điều kiện cần nhưng không đủ để tạo vốn cho doanh nghiệp
- Lãi suất còn cao, khó khăn trong thủ tục vay NH Cho dù lãi suất cho vay đã giảmkhá mạnh song các DN vẫn không dám vay tiền vì tỷ lệ lãi suất cho vay ngân hàng vào khoảng10%-11% năm
- Nhiều DN làm ăn không có hiệu quả do trang thiết bị cũ kỹ, công nghệ lạc hậunhưng muốn cơ cấu vốn lớn, bắt buộc phải đi vay, với số vốn lớn DN phải trả lãi lớn trong khilợi nhuận thu được lại chưa ổn định do vậy lãi suất giảm DN vẫn không dám vay
- Các NH cạnh tranh dẫn đến tăng mức lãi suất tiền gửi các DN cắt giảm tất cả nhữngkhoản đầu tư không đưa lại lợi nhuận cao bằng gửi tiếp vào NH
- Việc vay vốn trung và dài hạn của các DN không thuận lợi vì các NH cho vay dễ gặprủi ro từ việc huy động vốn NH cho vay trung và dài hạn trong khi mức chênh lệch giưã lãisuất cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn bị xoá bỏ
*NHNN liên tục điều chỉnh trần lãi suất theo hướng giảm cơ cấu trần và mức khống chế Cácnghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá cho NHTM cũng được đưa vào sử dụng
để bổ sung them công cụ điều chỉnh lãi suất Lãi suất tái chiết khấu được quy định ở mức0.05%/tháng so với lãi suất tái cấp vốn Từ tháng 7/2000, nghiệp vụ thị trường mở được hìnhthành qua nhiều phiên giao dịch (Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động ngân hàng trungương mua vào hoặc bán ra những giấy tờ có giá của chính phủ trên thị trường) Thông quahoạt động mua bán giấy tờ có giá, ngân hàng trung ương tác động trực tiếp đến nguồn vốn khả
Trang 14dụng của các tổ chức tín dụng, từ đó điều tiết lượng cung ứng tiền tệ và tác động gián tiếpđến lãi suất thị trường.
Mức lãi suất dương và lạm phát năm 2000-2008
Mức lãi suất dương (%) 5.05 -6.0
Lãi suất dương/ lạm phát (%) 6000 -30
Cơ chế trên đã góp phần tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, ổn định sức mua của đồngtiền Việt Nam trong tương quan với các đồng tiền trong khu vực vào lúc khủng hoảng tiền tệxảy ra
* Trong thời gian qua, NHNN đã sử dụng trần lãi suất như một công cụ điều hành chính sáchtiền tệ Ở một khía cạnh nào đó nó cũng đã có tác dụng nhất định trong việc bình ổn thịtrường Tuy nhiên, việc lạm dụng trần lãi suất cũng có thể dẫn đến những ngộ nhận nguy hiểm
về tác dụng của công cụ này Với điều kiện kinh tế vĩ mô hiện nay đã đến lúc NHNN nên bỏtrần lãi suất
*Nên bỏ trần lãi suất và tiếp tục giảm lãi suất chính sách
Quyết định hạ trần lãi suất ngắn hạn mới đây của NHNN mang ý nghĩa tích cực khôngchỉ đáp ứng kỳ vọng về việc hạ nhiệt mặt bằng lãi suất chung của thị trường, mà còn đượcxem là bước đi thận trọng nhằm hướng đến mục tiêu đưa lãi suất vận hành theo cung cầu thịtrường
Sau hơn 1 tuần quyết định giảm trần lãi suất huy động VND kỳ hạn từ 1 đến dưới 6tháng về mức 7%/năm và bỏ trần lãi suất có kỳ hạn từ 6 tháng trở lên có hiệu lực, hoạt độnghuy động vốn của các ngân hàng vẫn diễn ra bình thường.Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, hiện lãi suất huy động của tổ chức tín dụng phổ biến
ở mức 1- 1,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng, kỳ hạn từ 1tháng đến dưới 6 tháng khoảng 6-7%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng 7-7,5%/năm,
kỳ hạn từ 12 tháng trở lên khoảng 8-9%/năm.Thị trường không xuất hiện những hiện tượng cạnh tranh lãi suất không lành mạnh để thu hút
Trang 15vốn giữa các ngân hàng như trước đây Còn theo Phó Tổng giám đốc một ngân hàng thươngmại cổ phần tại Hà Nội, tình hình huy động của ngân hàng vẫn diễn ra rất tốt, không có dấu
Chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh cho rằng, thời điểm này có thể tính toán bỏ được trần lãisuất Bởi lẽ, trần lãi suất hiện nay chỉ áp dụng cho các kỳ hạn huy động vốn dưới 6 tháng, còntrên 6 tháng lãi suất huy động đã được để các ngân hàng thương mại tự quyết định theo cung
Tuy nhiên, khi bỏ trần lãi suất có thể cũng có một số điểm cân nhắc như: khi bỏ trần lãi suất sẽ
có tác động như thế nào đến huy động vốn của các ngân hàng thương mại, tác động như thếnào đến hoạt động cạnh tranh giữa các ngân hàng, liệu có ảnh hưởng đến tiến trình cơ cấu lại
hệ thống ngân hàng khi đánh giá được những điểm này thì có thể tính đến việc bỏ trần lãisuất huy động
1.5.2 Cơ chế lãi suất thỏa thuận.
1.5.2.1 Cơ chế điều hành lãi suất :
a) Định nghĩa :
- Lãi suất thỏa thuận có thể hiểu là lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng đối với kháchhàng Là lãi suất được thỏa thuận giữa người đi vay và cho vay nhưng không trái với các quyđịnh của pháp luật hiện hành
- Là việc NHTW để các NHTM tự thỏa thuận lãi suất huy động và lãi suất cho vay với kháchhàng
b) Nguyên nhân chuyển sang cơ chế lãi suất thỏa thuận :
- Việc khống chế lãi suất trần cho vay như thời gian qua là 1 biện pháp can thiệp hành chínhkhông phù hợp với nền kinh tế thị trường, làm hạn chế sự chủ động và linh hoạt của cácNHTM trong vấn đề huy động vốn và cho vay
- Việc khống chế lãi suất trần cho vay là đánh đồng lãi suất của các loại hình tín dụng, làm chocác ngân hàng rấ khó đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ
- Để kiểm soát sự biến động bất thường của lãi suất trên thị trường tiền tệ, NHNN đã có cáccông cụ để kiểm soát như: lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cập vốn, nghiệp vụ thị trườngmở
Trang 16- Vấn đề phát sinh bộc lộ chỉ ít ngày sau khi mức trần lãi suất huy động được công bố NH khólòng hút vốn khi trong đời sống còn nhiều kênh đầu tư hấp dẫn, sinh lời lớn hơn như chứngkhoán, bất động sản
- Để hoạt động được NH tìm cách này hay cách khác để khuyến mãi, thưởng thêm đưa lãi suấtthực trả cho khách hàng vượt qua mức trần
- Vì vậy cần 1 cơ chế để nới lỏng hơn cho các NH giúp các NH dễ dàng huy động được nhiềuvốn hơn mà không phải dùng mọi hình thức để vượt lãi suất trần nữa
Từ năm 2008 các NH đã chủ động xác định LSHĐ và LSCV từ thời điểm áp dụng lãi suất
cơ bản
Từ ngày 11/6/2012, lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kì hạn và có kì hạn dưới
1 tháng là 2%/năm, lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kì hạn từ 1 tháng đến dưới 12tháng là 9%/năm
NHNN cho biết, việc điều chỉnh các mức lãi suất nêu trên là phù hợp với xu hướng giảmcủa lạm phát, thanh khoản của các tổ chức tín dụng dồi dào, thị trường tiền tệ diễn biến theo
xu hướng tích cực và ổn định Mức lãi suất tiền gửi tối đa theo quy định hiện nay (11%/năm)
ở mức cao so với lạm phát dự báo và lạm phát kì vọng của cả năm khoảng 7-8%
(NHNN cũng cho rằng, các mức lãi suất trên sẽ duy trì tương đối ổn định trên cơ sở nhậnđịnh lạm phát năm 2012 khoảng 7-8%/năm, nấu phải điều chỉnh để phù hợp với điều kiện cụthể thì mức điều chỉnh sẽ nhỏ và tổng mức điều chỉnh không lớn )
Bảng 1: Cơ chế điều hành lãi suất thỏa thuận
Văn bản pháp luật Cơ chế lãi suất thỏa thuận
Ngày Số hiệu Lãi suất huy động Lãi suất cho vay
Được thỏa thuậnnhưng khống chếkhông vượt quá 150%lãi suất cơ bản23/01/09 Thông tư
01/2009/TT-NHNN
Được thỏa thuận nhưngkhống chế không vượt quá150% lãi suất cơ bản
Được thỏa thuậnnhưng khống chếkhông vượt quá 150%lãi suất cơ bản Riêngđối với cho vay phục
Trang 17vụ đời sống và chovay thông qua pháthành thẻ tín dụng thìđược thỏa thuận lãi
suất26/02/10 Thông tư
07/2010/TT-NHNN
Được thỏa thuận nhưngkhống chế không vượt quá150% lãi suất cơ bản
Được thỏa thuậnnhưng đối với chovay ngắn hạn phục vụSXKD thì vẫn bịkhống chế khôngvượt quá 150% lãisuất cơ bản14/04/10 Thông tư
12/2010/TT-NHNN
Được thỏa thuận nhưngkhống chế không vượt quá150% lãi suất cơ bản
Được thỏa thuận đốivới tất cả các khoản
vay03/03/11 Thông tư
02/2011/TT-NHNN
Được thỏa thuận nhưng tối
đa không được vượt quá14%/năm (bao gồm khuyếnmại dưới mọi hình thức)
Được thỏa thuận đốivới tất cả các khoản
vay
Những điều chỉnh của NHNN, cùng với động thái tích cực của lãi suất huy động vốn mới nhất cận kề trung tuần tháng 4/2010 thấy tốc độ tăng huy động vốn của hệ thống
NH được cải thiện tốt
Đến ngày 09/04,tốc độ tăng huy động vốn của hệ thống NH đã lên tới 4,18% so đầu năm.Riêng 9 ngày đầu tháng 04/2010, vốn huy động tăng 0,68% so với cuối tháng 3, trong đố tiếtkiệm dân cư tăng 10,2% so với đầu năm và 1,2% so với cuối tháng 3/2010 Cùng thời gian, tốc
độ tăng dư nợ lên 3,84% so với đầu năm (9 ngày đầu tháng 4/20110 tăng 0.48%) Quan trọng
là tốc độ tăng vốn huy động mới nhah hơn tăng trưởng dư nợ
Khảo sát nhanh ngày 16/4/2010 tại NHTM ghi nhận mức lãi suất huy động phổ biến daođộng từ 11.5%/năm đến 11.9%/năm Kết quả thống kê cho thấy:
Việc tăng lãi suất đồng loạt chứng tỏ các ngân hàng thực chất đang chuẩn hóa lại mứclãi suất công bố minh bạch, mặc dù trước đó có thể đã phái thực hành nhiều cách thứckhông chính thức để thỏa mãn mức bù rủi ro khách gửi tiền muốn (như khuyến mãi)
Trang 18 Áp lức cạnh tranh để thu hút nguồn thanh khoản gia tăng, có thể do dự báo rằng khảnăng NHNN can thiệp sâu để bù thanh khoản cho hệ thống sẽ giảm đi đáng kể theonhững động thái chính sách tiền tệ cuối quý I/2010
Mức giảm chênh lệch do xu hướng đồng thuận giảm lãi suất cho vay xuống mức 15%(từ mức cao 17-18%) và xu hướng tăng lãi suất mới chớm xuất hiện này cho thấyNHTM còn phải giải quyết bài toán tương phản giữa tăng thanh khoản và suy giảm lợinhận từ hoạt động tín dụng
Đối chiếu khảo sát ý kiến người dân về lựa chọn kênh đầu tư trong năm 2009 và 2010cũng phản ánh sự thay đổi có thể giải thích hiện tượng thu hút vốn ngân hàng khó thờigian vừa qua và dẫn tới tình trạng sức ép tăng lãi suất tiền gửi cao hơn, ít nhất là về xuhướng giảm tiền gửi ngân hàng Sự sẵn sàng cho đẩu tư chứng khoán cũng cao hơn,cùng xu hướng với đầu tư bất động sản Riêng nhóm sản xuất kinh doanh không cónhiều cải thiện về xu hướng, nếu điều chuyển đầu tư khác và bảo hiểm (thường có liênquan tới sản xuất kinh doanh) vào nhóm này của điều tra Để đảm bảo hấp dẫn, mứchuy động lãi suất của các ngân hàng phải rơi vào khoàng trên 11,5%/năm trở lên vớilãi suất kì hạn 3 tháng Để có thêm chi tiết, có thể xét lãi suất tiết kiệm kì hạn 3 thángtheo công bố của Vietcombank ngày 13/3 là 10,49% (VND) và 3,2% (USD) Ở mức kìvọng lạm phát thấp lãi suất VND 3 tháng phải đạt 11,79% và ở mức cao nhất ( củaphép tính giả định tại đây ): 12.78% Rõ ràng không thấy sức hấp dẫn với lãi suất tiềnđồng của ngân hàng,vì ở dưới các cận này, tình trạng đô la hóa sẽ gia tăng vì lợi íchngười gửi tiền
Việc NHNN cho phép áp dụng lãi suất thỏa thuận cho các khoản vay trung hạn vàdài hạn, nhiều chuyên gia nhận định một mặt bằng lãi suất cho vay thỏa thuận mới
sẽ được xác định Tuy nhiên trong thới điểm hiện nay các NHTM vẫn dè dặt trongviệc thực hiện điều chỉnh mức lãi suất cho vay
Bằng phép tính cơ học và cúng theo như nhiều ý kiến, với lãi suất đầu vào10.5%/năm cộng thêm khoảng 3-4%/năm chi phí kinh doanh, lãi suất cho vay mớikhông thể thấp hơn mức 13,5-14,5%/năm
1.5.2.2 Tác động của cơ chế lãi suất thỏa thuận
Trang 19Ngay sau khi cơ chế này được thực hiện, nó đã nhanh chóng tạo nên những hiệu ứngtích cực đối với nền kinh tế, đó là:
Hình thành mặt bằng lãi suất cho vay minh bạch rõ ràng và phản ánh đúng tín hiệu củathị trường
Tạo điều kiện cho các NHTM chủ động xác định mức lãi suất cho vay dựa trên các yếutố: chi phí vốn đầu vào của ngân hàng, mức độ rủi ro của từng khách hàng, lĩnh vựcngành nghế kinh doanh và các yếu tố liên quan khác
Tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng mở rộng mạng lưới để huy động vốn với mứclãi suất phù hợp, đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu vốn của nền kinh tế
* Việc áp dụng cơ chế lãi suất cũng nảy sinh 1 số khó khăn, bất cập như:
Thứ nhất, chưa gỡ bỏ trần lãi suất huy động trong khi thực hiện cơ chế lãi suất cho vaythỏa thuận làm xuất hiện nhiều vấn đề phát sinh:
Lãi suất “đầu ra” không có trần (cả ngoài tệ và nội tệ), nhưng “đầu vào” lại có trần (đốivới nội tệ), như vậy lợi ích sẽ nghiêng về phía NHTM, chứ không nghiêng về ngườigửi tiền cũng như người vay tiền
Người vay tiền mới được “giải cứu” khi được cấp bù lãi suất, nhiều người chưa hết khókhăn, nay vay vốn ngân hàng với lãi suất cao hơn khá nhiều thì sản xuất kinh doanh sẽkhó khăn hơn, tác động không nhỏ tới tăng trưởng kinh tế vừa mới thoát đáy,đang vượtdốc đi lên
Nguy cơ tái lạm phát cao đã được nhiều chuyên gia cảnh báo nay đã đến gần thậm chí
đã có dấu hiệu xuất hiện
Thứ hai, cạnh tranh giữa các ngân hàng khi không còn kiểm soát lãi suất sẽ dẫn tới tìnhtrạng các ngân hàng nhỏ khó có khả năng cho vay với lãi suất thấp để cạnh tranh vớicác ngân hàng lớn
Thứ ba, tăng trưởng tín dụng sẽ tăng lên do các NHTM đẩy mạnh cho vay nhằm tìmkiếm lợi nhuận hoặc tiến hành các hoạt động kinh doanh mạo hiểm do sức ép phải chovay với lãi cao Điều này có nghĩa sẽ tạo sự cạnh tranh thiếu lành mạnh
Thứ tư, chính sách lãi suất thỏa thuận làm tăng sức ép lên việc đổi mới cách thức điều hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả nhà quản lí nhà nước trên thị trường tài chinh – ngânhàng Việt Nam
1.5.3 Lãi suất cơ bản
Trang 201.5.3.1 Chính sách lãi suất cơ bản của NHNN trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay:
a) Chính sách lãi suất cơ bản trong giai đoạn từ năm 2000 – 2007 :
- Sau khủng hoảng tài chính Châu Á 1997, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu phục hồi nhưng chưabền vững
+ Năm 2001,tốc độ tăng trưởng cao : 6,75%
+ Từ 2002 – 2004 tăng trưởng trên 7%
+ Năm 2005 và 2006, tăng trưởng trên 8,2%
- Lạm phát phức tạp : Sau thời kỳ giảm lạm phát 1999 – 2001 và đi vào ổn định từ 2002 –
2003 thì đến 2005 – 2006, lạm phát bất ngờ tăng mạnh xấp xỉ 10% Năm 2006,giảm xuống là trên 7%
- Trong giai đoạn 2003 – 2004 Mục tiêu CSTT lúc này là nới lỏng thận trọng để vừa đảm bảo
ổn định giá trị đồng tiền, vừa kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế, thực hiện chủ trươngchính sách kích cầu của Chính Phủ ổn định hệ thống ngân hàng
- Trong giai đoạn 2004 – 2007, lạm phát quay trở lại thì nguồn vốn ngoại tệ vào nhiều, trên thịtrường ngân hàng bắt đầu xuất hiện dấu hiệu dư thừa vốn khả dụng của cả VNĐ và ngoại tệ ->NHNN áp dụng thắt chặt thận trọng
Cụ thể : Trong 4 tháng cuối năm 2000,NHNN đã áp dụng lãi suất cơ bản 0,75%/tháng, thìđến 2001, để kích cầu chống giảm lạm phát NHNN điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản đối với cho vay giảm từ 0,75%/tháng xuống 0,6%/tháng vào giữa năm
Trong 2000 – 2001,cạnh tranh giữa các ngân hàng đã dẫn tới tăng lãi suất huy độngvốn,nhưng lãi suất cho vay vẫn không tăng và nằm vào trong biên độ lãi suất cơ bản -> làmgiảm đi chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn.Cho nên 1/6/2002, thống đốcNHNN Việt Nam đã co thấy LSCB trước đây khống chế biên độ trên LSCV là 0,3%/tháng vớivay ngắn hạn là 0,5%/tháng với khoản vay trung, dài hạn làm cho lãi suất nhiều khi phản ánhđúng cung – cầu trên thị trường Vì vậy, NHNN đã ban hành quyết định 546/2002/QĐ thay cơ
Trang 21chế điều hành lãi suất tong qua LSCB và biên độ bằng: Thực hiện cơ chế lãi suất tỏa thuậntrong hoạt động tín dụng đối với khách hàng Tổ chức tín dụng xác định LSCV bằng đồngViệt Nam trên cơ sở cung – cầu vốn thị trường và mức độ tín nhiệm đối với khách hàng vay làcác pháp nhân và cá nhân Việt Nam, pháp nhân và cá nhân nước ngoài hoạt động tại ViệtNam.
- Việc này có tác dụng định hướng lãi suất thị trường, kiểm soát biến động của thị trường, đảmbảo yêu cầu và mục tiêu của CSTT tăng trong kỳ
Cụ thể là: Trong 6 tháng đầu năm 2002, tốc độ tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàngcao gấp đôi tốc độ tăng trưởng huy động vốn:
+ Năm 2000, tăng trưởng tín dụng là 31,8%
+ Năm 2001, tăng trưởng tín dụng là 21,4%
+ Năm 2002, tăng trưởng tín dụng là 22,2%
- Lãi suất huy động vốn của NHTM quốc doanh đã cao hơn lãi suất vay cơ bản 0,62%
- Mức 0,625%/tháng được giữ nguyên trong 2 năm Đến tháng 1/2005, NHNN không thay đổilãi suất chủ đạo trong việc thực thi CSTT Tuy nhiên vì theo nguyên tắc lãi suất thỏa thuận thìcác tổ chức tín dụng đã căn cứ vào nhu cầu huy động vốn và khả năng cho vay mà quyết định
LS HVD của NHTM cổ phần đã tăng lãi suất
Do đó trong năm 2005, NHNN đã đưa ra giải pháp trọng tâm nhằm kiểm soát tăngthưởng tín dụng để mức tăng trưởng tín dụng cả năm không vượt quá 25% Để điều chỉnhCSTT linh hoạt, thận trọng bám sát diễn biến thị trường tiền tệ NHNN đã 2 lần hiệu cỉnh
Trang 22- Việc tăng lãi suất cho thấy tín hiệu tăng lãi suất trên thị trường tiền tệ Mặc dù, LS HDV vàLSCV của NHTM vẫn liên tục biến động Cụ thể là: Tổng huy động năm 2005 chỉ tăng 22,8%
so với năm trước Trong khi dư nợ cho vay tăng 24,6% -> làm cho thị trường tiền tệ thườngxuyên tăng trưởng nóng
- Việc tăng lãi suất giữa các NHTM là do tốc độ tăng trưởng tín dụng trong thời gian qua quáthấp, đi kèm với tốc độ lạm phát còn cao và cũng do động thái tăng LSCB của NHNN (đặcbiệt là sau khi FED nâng lãi suất cơ bản của USD lên 4,5%, lại cùng lúc người dân rút và vaytiền tiêu trong dịp tết mạnh nhất vào tháng cuối năm 2005 Dẫn đến các ngân hàng phải chạyđua nâng LS HDV tiền gửi để cân đối lãi suất vay
Như vậy biểu lãi suất của các NHTM Việt Nam đã phản ứng nhanh nhạy với động tháităng LSCB của FED hơn là của NHNN Việt Nam
Trước cuộc chạy đua lãi suất nóng khởi nguồn từ các NHTM cổ phần đến cuộc chạy đualãi suất của NHTM quốc doanh (12/2005) thì chính sách LSCB dường như tỏ ra kém nhạybén
Cụ thể là: mức lãi 7,8%/năm vẫn được giữ nguyên từ đầu năm Đến tận tháng 11/2005thấp rất xa so với LSCV cao nhất của NHTM và cũng không có tác động chi phối lãi suất thịtrường
- Với quy định này:
+ Nếu áp dụng trong các giao dịch bên ngoài ngân hàng có thể hạn chế tình trạng cho vaynặng lãi trong xã hội
+ Còn nếu áp dụng đối với lĩnh vực ngân hàng -> nảy sinh nhiều khó khăn cho ngân hàng,không khuyến khích ngân hàng phát triển dịch vụ mới, nhất là những mảng có tỷ lệ rủi ro cao.-> Như vậy, với cơ chế thực hiện lãi suất thỏa thuận -> LSCB mất đi giá trị điều hành dùNHNN vẫn tiếp tục công bố hàng tháng
Trang 23- Trong điều kiện thị trường tài chính tương đối ổn định chính sách LSCB của NHNN vẫnđược điều chỉnh theo hàng tháng thận trọng và giữ nguyên ở mức 8,25%/năm.
-> Điều này cho thấy lãi suất tăng trái quy luật:
- Trước hết, vốn khả dụng dư thừa trong khi lãi suất vẫn tăng -> điều bất bình thường
- Chỉ số đánh giá tiêu dùng tháng 1/2006 là 8,8%, tháng 2/2006 là 8,4%, tháng 3/2006 là 7,7%,tháng 4,2006 là 7,4% -> đều giảm và thậm trí lãi suất ngiệp vụ thị trường mở liên tục giảm từmức 6,4% - 6,8%/năm Đến tháng 5/2006 còn giảm xuống còn 1,9% - 4,4%/ năm, trong khi đólãi suất vẫn tăng
- Trong 2007, NHNN điều hành CSTT theo hướng “thắt chặt” để rút mạnh tiền từ lưu thông
về, giảm độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng nhằm kiểm soát lạm phát và thúcđẩy tăng trưởng kinh tế Chính vì vậy, NHNN đã giữ ổn định LSCB là 8,25%,năm với mụcđích định hướng ổn định lãi suất thị trường, hạn chế tác động tăng lãi suất cho vay và cộnghưởng làm tăng CPSX kiềm chế lạm phát
- Trước động thái này, LS HDV của NHTM với khách hàng có biến động tăng Tuy có giảmnhẹ ở một số thời điểm do tác động yếu tố cung – cầu, nhưng mặt bằng lãi suất năm 2007 vẫn
ổn định so với năm 2006
- Về mặt lý thuyết với thị trường tiền tệ: Lãi suất huy động ngắn hạn của NHTM phải thấp hơnlãi suất trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất liên ngân hàng phải xoay quang LSCB Tuynhiên, trong năm 2007 mức biến động lãi suất không tuân theo quy luật này:
Cụ thể là: LS HDV đã vượt mức lãi suất liên ngân hàng trong thời gian từ tháng 3 –9/2007
Điều này chứng tỏ: LSCB của NHNN chưa hiệu quả Đồng thời, với quy định lãi suất cho vaykhông vượt quá 150% LSCB, nếu giữ được nguyên mức LSCB thì rất nhiều hợp đồng tíndụng sẽ có nguy cơ vi phạm quy định pháp luật về mức cho vay tối đa
b) Đánh giá chính sách LSCB trong giai đoạn 2000 – 2007
* Giai đoạn 2000 – 2003: LSCB đạt hiệu quả
- Việc thay đổi cơ chế trần lãi suất bằng mức LSCB cộng với biên độ -> tính linh hoạt, hiệuquả trong việc điều chỉnh lãi suất thị trường cho phù hợp với mục tiêu CSTT và điều kiện kinh
tế tiền tệ của NHTM trong nước
Trang 24- LSCB do NHNN quy định -> hoạt động tín dụng của các NHTM sẽ trực tiếp liên quan đếnlạm phát Cho nên trong giai đoạn này tình trạng lạm phát được kiểm soát, tốc độ tăng trưởngkinh tế cao.
* Giai đoạn 2004 – 2007: LSCB chưa hiệu quả
- Tuy được điều chỉnh nhưng tác động không tích cực -> tốc độ tăng trưởng tín dụng trong nềnkinh tế: Tăng trưởng tín dụng năm 2007 đạt trên 50% > hạn mức là 30% NHNN quy định,tăng gần 37,8% so với cuối năm 2006 Trong khi đó tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,5% mứccao nhất từ 1997 – 2007
Như vậy trong giai đoạn này LSCB tỏ ra kém hiệu quả trong việc kiềm chế lạm phát,mức lạm phát liên tục tăng qua các năm (đỉnh cao là năm 2007 lạm phát ở mức 2 con số:12,63%)
BẢNG 3.2: Tình trạng lạm phát so với tăng trưởng từ 1998 – 2007
Năm 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007Lạm
-> Như vậy, LSTT được điều chỉnh bởi quan hệ cung – cầu của ngân hàng cổ phần chứ khôngphụ thuộc vào LSCB
c) Chính sách LSCB của NHNN Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 3/2010
* Năm 2008
Đầu năm 2008 :
- Kinh tế tăng trưởng quá nóng, sự bùng nổ của thị trường chứng khoán và lạm phát ở 2 con sốnăm 2007 -> khiến các NHTM đối mặt với sự thiếu hụt vốn khả dụng và nguy cơ rủi ro tíndụng Thị trường tín dụng dường như đóng băng -> NHTM hoạt động chỉ bảo đảm tính thanhkhoản chứ không đem lại lợi nhuận
Trang 25- Các NHTM chạy đua tăng LS HĐV để giữ chân khách hàng Cụ thể là : Tăng từ 0,6% ->3,36%/năm, lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm cao nhất : 13,8%/năm, lãi suất cho vay VNĐ18,5% -> 19%/năm -> gây khó khăn cho doanh nghiệp.
- Ngày 16/5/2008, NHNN ra quyết định về cơ chế điều hành LSCB bằng Đồng Việt Namkhông quá 150% LSCB
- Từ 5 – 9/2008, NHNN điều hành CSTT “ thắt chặt” đã điều chỉnh tăng LSCB từ 12% lên14%/năm Theo đó NHTM điều chỉnh tăng LS HĐV từ 3 – 3,5% ngăn chặn việc giảm vốn huyđộng
Kết quả : Từ giữa 7/2008-> quý 3 năm 2008, vốn khả dụng của NHTM đã bớt căng thẳng, dầndần LS HĐV có xu hướng giảm từ 0,1% -> 0,9%/năm và đi vào ổn định Từ 6/2008 –10/2008, NHTM điều chỉnh lãi suất cho vay sát mức tối đa 21%/năm,ngừng thu tất cả các loạiphí có liên quan đến khoản vay
Từ cuối tháng 7/2008 -> 12/2008, lãi suất liên ngân hàng và LSCB có xu hướng giảm
Như vậy, với LSCB = 12%/năm thì LSCV tối đa của tổ chức tín dụng là 18% -> Phù hợp vớimặt bằng thị trường, không gây xáo trộn trong thị trường tiền tệ và tín dụng Tạo ra lực hútmạnh thu hút tiền từ lưu thông, làm giảm mạnh tính cấp tín dụng từ NHTM ra thị trường.Kết quả : Lạm phát đã bị chặn đứng và đẩy lùi đỉnh điểm 3,91%/tháng Tỉ lệ lạm phát cả năm
2008 chỉ còn 19,89%/năm Tốc độ tăng trưởng tín dụng vẫn cao hơn tốc độ tăng trưởng huyđộng vốn (Tín dụng trong quý 1 là 10,8% còn tăng trưởng huy động vốn quý 1 là 5,48%) Cuối năm 2008 :
- Tỷ lệ lạm phát so với cùng kỳ 2007 vẫn cao nhưng đã từng bước được kiểm soát Khủnghoảng tài chính thế giới -> Việt Nam lại rơi vào khó khăn : Tăng trưởng GDP chỉ đạt 6,23% sovới kế hoạch là 6,5% - 6,7% nền kinh tế có dấu hiệu thiếu vốn
- NHNN đã nới lỏng CSTT và lãi suất : LSCB liên tục điều chỉnh giảm trong 3 tháng cuối năm
2008 Các NHTM được bán tín phiếu bắt buộc trước hạn và tiếp tục thực hiện CSTT “Thắtchặt nhưng linh hoạt” -> vừa kiềm chế lạm phát,ổn định kinh tế vĩ mô,vừa thúc đẩy sản xuất
Cụ thể là :
-Giảm LSCB từ 14% ( 1/10/2008) xuống 8,5%/năm (22/12/2008), tạo điều kiện để các ngânhàng giảm LSCV đầu ra hỗ trợ DN vay vốn Việc giảm lãi suất cũng xuất phát từ nhu cầuthực tế của NHTM trong kế hoạch thúc đẩy tăng trưởng tín dụng