Lý do chọn vấn đề nghiên cứu Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước nói chung chỉ có thể thiết lậpđược một cách đích thực và tồn tại vững chắc trong hoạt động thực tiễn của bộmáy công quyề
Trang 1HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TP HCM, năm 2021
Trang 2HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Ngành, chuyên ngành: Luật Hình sự Giảng viên: PGS TS HỒ SỸ SƠN
TP HCM, năm 2021
Trang 3PHỤ LỤC
CHƯƠNG 1: LỜI MỞ ĐẦU……… 1
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG……… 3
1.CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN ………… ……… 3
1.1 Khái niệm tư pháp hình sự……….…….3
1.2 Hoạt động tư pháp………4
1.3 Cơ quan tư pháp……… 4
2 THỰC TRẠNG TƯ PHÁP HÌNH SỰ TRONG PHÁP LUẬT VN 7
3 HƯỚNG TĂNG CƯỜNG HOÀN THIỆN CẢI CÁCH TƯ PHÁP………8
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN……… 19
CHƯƠNG 4: DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 20
Trang 4CHƯƠNG 1: LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn vấn đề nghiên cứu
Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước (nói chung) chỉ có thể thiết lậpđược một cách đích thực và tồn tại vững chắc trong hoạt động thực tiễn của bộmáy công quyền ở mức cao nhất khi nó được đảm bảo một cách đồng bộ bằng
sự hiện diện của 6 yếu tố - đòi hỏi cơ bản sau đây: Cơ chế kiểm soát quyền lựcnhà nước (nói chung) và chế định kiểm tra Hiến pháp (nói riêng) bằng nhánhquyền tư pháp hoặc nhánh quyền kiểm tra Hiến pháp độc lập thứ tư; Sự độc lậpđích thực và sự kiểm tra của nhánh QTP đối với các nhánh quyền lực khác trongNhà nước; Sự giải thích Hiến pháp và pháp luật mang tính chung thẩm củaTAHP; Sự giám sát của Tòa án đối với việc áp dụng các biện pháp cưỡng chếtrong lĩnh vực TPHS và; Sự phối hợp và chế ước lẫn nhau một cách đồng bộ,hữu hiệu và với thiện chí hợp tác giữa các cơ quan thuộc tất cả các nhánh quyềnlực trong NNPQ Toàn bộ các lợi ích xã hội nêu trên sẽ góp phần đắc lực vàđáng kể cho thành công của công cuộc CCTP nói riêng và thắng lợi cuối cùngcủa sự nghiệp xây dựng một NNPQ đích thực ở Việt Nam
Hoạt động tư pháp hình sự là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước(quyền tư pháp), do vậy, hoạt động này cũng phải chịu sự kiểm tra, giám sát củanhiều cơ chế khác nhau (trong đó có cơ chế tự kiểm tra từ bên trong của mỗi hệthống và cơ chế giám sát từ bên ngoài hệ thống) Tác giả đã chọn nội dung
"Thực trạng Tư pháp hình sự ở nước ta và hướng tăng cường hoàn thiện cảicách" làm vấn đề nghiên cứu kết thúc học phần môn học Tư pháp hình sự nhằmtạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệuquả; góp phần bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền công dân,bảo vệ lợi ích của Nhà nước và tổ chức; thúc đẩy kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của tiểu luận là tìm hiểu, nghiên cứu về thực trạng Tư pháp hình
sự ở nước ta và hướng tăng cường hoàn thiện cải cách; đi sâu vào việc đánh giá,
Trang 5nhìn nhận về hoạt động tư pháp hình sự Việt Nam dưới nhiều góc độ với mongmuốn có được một cách nhìn nhận tổng quát nhất về lĩnh vực này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận là thực trạng Tư pháp hình sự ởnước ta và hướng tăng cường hoàn thiện cải cách
- Phạm vi nghiên cứu: Bài giảng Tư pháp hình sự: Những vấn đề lý luận
và thực tiển của PGS.TS Trần Văn Độ; “Chính sách hình sự: Những vấn đề lýluận và thực tiển” của GS.TS Võ Khánh Vinh, Hiến pháp 2013, Bộ luật Hình sự
2015, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
4 Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận sử dụng phương pháp: Trình bày, phân tích, nghiên cứu, tổnghợp để làm sáng tỏ chính sách hình sự hướng thiện coi trọng tính phòng ngừa
Trang 6CHƯƠNG 2: NỘI DUNG
1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1 Khái niện tư pháp hình sự
Trong thuật ngữ quyền tư pháp, trọng tâm được đặt vào “tư pháp” nênquyền tư pháp có lẽ cần được giải thích từ khái niệm tư pháp
Về khái niệm tư pháp, trong khoa học pháp lý cũng như thực tiễn đời sốngchính trị-pháp luật ở Việt Nam đang tồn tại khá nhiều cách hiểu khác nhau.Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam, thuật ngữ tư pháp được giải thích ở nghĩarất rộng Theo đó, tư pháp là “khái niệm dùng để chỉ các cơ quan tòa án, việc xét
xử các hành vi vi phạm pháp luật và các vụ kiện tụng trong nhân dân, hoạt độngcủa các cơ quan điều tra, kiểm sát, truy tố, xét xử và thi hành án” Khái niệm tưpháp như vậy chưa thật chuẩn xác, bởi nó vừa chỉ chủ thể (các cơ quan tòa án),vừa chỉ hoạt động xét xử của cơ quan đó và hoạt động của các cơ quan khác như
cơ quan điều tra, kiểm sát, truy tố, xét xử và thi hành án
Hẹp hơn nhận thức trên, thuật ngữ “tư pháp” trong cuốn Từ điển Luật họcđược định nghĩa là công việc tổ chức giữ gìn, bảo vệ pháp luật
Trong ngôn ngữ hàng ngày, quyền tư pháp thường được sử dụng đồngnghĩa với quyền lực tư pháp Thuật ngữ quyền tư pháp được dùng như là cáchnói ngắn gọn của quyền lực tư pháp
Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam, quyền tư pháp được giải nghĩa là mộttrong ba bộ phận của quyền lực nhà nước: quyền lập pháp, quyền hành pháp vàquyền tư pháp Quyền tư pháp thuộc về tòa án Ở Việt Nam, quyền tư phápthuộc tòa án nhân dân và viện kiểm sát nhân dân
Quan niệm tư pháp là xét xử và việc xét xử chỉ do Tòa án thực hiện đãđịnh hình khá sớm trong nhận thức và trong thực tiễn lập pháp, thực hiện phápluật củaNhà nước Việt Nam mới Điển hình là Hiến pháp 1946, ở Chương Tưpháp ghi nhận việc xét xử và cơ quan xét xử Theo Hiến pháp 1946, quyền lực
tư pháp mặc nhiên được thừa nhận là quyền lực độc lập và do Tòa án thực hiện.Tuy nhiên, thời gian gần đây,trong nhận thức và thực tiễn tổ chức và hoạt động
Trang 7củaNhà nướcCộng hòa XHCN Việt Nam có khuynh hướng mở rộng phạm viquyền tư pháp, coi xét xử chỉ là mắt xích, là khâu trọng tâm của hoạt động tưpháp, là một bộ phận chứ không phải là toàn bộ quyền tư pháp Theo đó, một sốquyền tố tụng trước và sau xét xử và cả quyền bổ trợ tư pháp cũng được coi làquyền tư pháp Hiển nhiên, cơ quan được giao thực hiện các quyền này cũngđược mệnh danh là cơ quan tư pháp Khuynh hướng này- theo chúng tôi - làcóhại không chỉ trong "phân công rành mạch”, mà nguy hiểm hơn là hạ thấp vị trí,vai trò của quyền tư pháp với tư cách là một loại quyền lực đặc biệt, độc lập vàchỉ do cơ quan xét xử thực hiện
1.2 Hoạt động tư pháp
Quyền tư pháp chỉ trở thành quyền lực thực tế thông qua các hoạt động cụthể của các chủ thể xác định Đây là quá trình chuyển quyền tư pháp được ghinhận trong các văn bản pháp luật vào thực tiễn đời sống xã hội và hoạt động nàyđược gọi là hoạt động thựchiệnquyền tư pháp hay là hoạt động tư pháp
Do quyền tư pháp là quyền xét xử nên hoạt động tư pháp cũng chính làhoạt động xét xử Có nhiều cách giải thích, định nghĩa về xét xử (hoạt động xétxử) Theo cách hiểu của người viết thì hoạt động xét xử là việc cơ quan chuyênbiệt được pháp luật chỉ định tiến hành xem xét, đánh giá và kết luận về một sựkiện mang tính tranh chấp, xung đột Mục đích của hoạt động xét xử là nhằmphục hồi các quan hệ xã hội bị xâm phạm, bảo đảm ổn định trật tự xã hội, trật tựpháp luật trên tất cả các phương diện của đời sống xã hội, phục vụ sự tiến bộ xãhội
Song hành với khái niệm hoạt động tư pháp là khái niệm tố tụng tư pháp
Tố tụng tư pháp thực chất là hoạt động tư pháp được sắp xếp theo trình tự, lớplang định sẵn Sở dĩ có quy trình này là do nhà làm luật đúc kết, tính toán theophương án tối ưu, bảo đảm vừa đạt được mục đích của tư pháp, vừa không gâyhại cho lợi ích lớn hơn của xã hội
1.3 Cơ quan tư pháp
Cơ quan là một thiết chế thực hiện quyền lực Nhấn mạnh điều này có ýnghĩa quan trọng không chỉvềphương pháp luận mà còn là thực tiễn Nhiều
Trang 8người trong số chúng ta đến nay vẫn lấy làm khó hiểu khi ai đó trình bày, đạiloại: Bản án hình sự số X, ngày Y, do thẩm phán Z xét xử Trong trường hợpnày, thẩm phán Z chính là thiết chế thực hiện quyền lực, là cơ quan tư pháp cụthể Thiết tưởng, trong lĩnh vực tư pháp, rất cần những định danh chính xác như:Bản án của Hội đồng xét xử doThẩm phán X làm chủ tọa, Quyết định truy tố củaPhó Viện trưởng Y, Viện kiểm sát nhân dân huyện Z Là những chức danh tốtụng do luật định, các vị này không cần nhân danh cơ quan mà tự thân đã là cơquan độc lập.
Cơ quan tư pháp là cơ quan nhân danh quyền lực nhà nước thực hiệnquyền tư pháp Do quyền tư pháp đồng nghĩa với quyền xét xử nên cơ quan tưpháp cũng chính là cơ quan xét xử Thực hiện quyền xét xử, cơ quan xét xửđược quyền phán quyết, ra bản án về một sự kiện có tính xung đột, tranh chấp vàvấn đề chính yếu là phán quyết của cơ quan xét xử lại có hiệu lực pháp lý nhưmột quy phạm pháp luật, bắt buộc mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quannghiêm chỉnh thi hành
Cơ quan xét xử thông dụng là Tòa án Ở Việt Nam, kể từ khi có Hiến phápnăm1946 đến nay, cơ quan xét xử là Tòa án nhân dân các cấp, Tòa án quân sự và
có thể thêm Tòa án đặc biệt Một số thiết chế như Trọng tài, tổ chức hòa giải ở
cơ sở tuy thực hiện chức năng na ná như xét xử,nhưng không thể gọi là cơ quanxét xử Như vậy, chỉ có Tòa án là cơ quan xét xử vàdo vậy, làcơ quan tư phápđúng nghĩa
Hiện nay, ngoài hệ thống Tòa án, hàng loạt cơ quan khác tuy không thựchiện quyền tư pháp, nằm ngoài hệ thống tư pháp nhưng vẫn được gọi, được coi
là cơ quan tư pháp Cùng với Bộ Tư pháp của Chính phủ, Ủy banTư pháp củaQuốc hội, ngay cả cơ quan điều tra, cơ quan công tố, Viện kiểm sát, cơ quan thihành án cũng được liệt vào danh sách cơ quan tư pháp Đây là một sự gán ghéptai hại mà bất cứ ai tham gia vào cuộc thảo luận về cải cách tư pháp ở Việt Namcũng đều thấy rõ
Liên quan đến cơ quan tư pháp, thiết tưởng cũng cần làm rõ các chứcdanh tư pháp vốn cũng đang được sử dụng lẫn lộn và tùy tiện ở Việt Nam Đã
Trang 9đến lúc không chỉ khẳng định cơ quan tư pháp đích thực là Tòa án mà còn giớihạn phạm vi chức danh tư pháp chỉ là thẩm phán và hội thẩm nhân dân Đâychính là những chức danh có thẩm quyền tiến hành xét xử Còn những cán bộ,công chức, viên chức khác trong các cơ quan tố tụng, kể cả những cán bộ, côngchức trong cơ quan Tòa án đều không thể tùy tiện cho rằng đó là cán bộ tư pháp,nhân viên tư pháp, công chức tư pháp…Tóm lại là không gán cho họ chức danh
tư pháp vì họ không trực tiếp thực thi quyền lực tư pháp
Tư pháp với nghĩa pháp lí chung nhất, tư pháp được quan niệm như là một
ý tưởng về một nền công lí, đòi hỏi việc giải quyết những tranh chấp xảy ratrong xã hội phải đúng pháp luật, phù hợp với lẽ công bằng, bảo đảm lòng tincủa nhân dân và xã hội vào pháp luật, góp phần duy trì trật tự pháp luật, bảođảm sự an toàn pháp lí cho cá nhân, sự ổn định và phát triển của xã hội
Theo ngữ nghĩa Hán Việt thì tư pháp là trông coi, bảo vệ pháp luật
Xét theo khía cạnh thể chế nhà nước, ở các nước thực hiện nguyên tắcphân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước, thì tư pháp được hiểu là một trong
ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, trong đó quyền tư pháp được hiểuđồng nghĩa với quyền xét xử chỉ do toà án thực hiện Vì vậy, ở các nước này, nóiđến cơ quan tư pháp tức là nói đến toà án
Ở nước ta, quyền lực nhà nước thống nhất nhưng có sự phân công và phốihợp giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Như vậy, quyền tư pháp làmột trong ba quyền hợp thành quyền lực nhà nước, được hiểu là hoạt động xét
xử của các toà án và những hoạt động của cơ quan nhà nước khác trực tiếp liênquan đến hoạt động xét xử của toà án như điều tra, truy tố, bổ trợ tư pháp nhằmbảo vệ chế độ, pháp chế xã hội chủ nghĩa, lợi ích hợp pháp của công dân, tôntrọng và duy trì công lí Để thực hiện quyền tư pháp đó, hệ thống cơ quan tưpháp Việt Nam bao gồm: toà án, viện kiểm sát, cơ quan điều tra, cơ quan thìhành án và các tổ chức tư pháp bổ trợ (như luật sư, công chứng, giám định tưpháp, tư vấn pháp luật ) Trong đó, toà án nhân dân là nơi biểu hiện tập trungquyền tư pháp, sử dụng công khai các kết quả của hoạt động điều tra, công tố,bào chữa, giám định tư pháp thông qua các thủ tục tố tụng do luật định để đưa ra
Trang 10phán quyết cuối cùng thể hiện quyền lực nhà nước, Hoạt động xét xử của toà ánnhân dân cũng là nơi thể hiện chất lượng hoạt động và uy tín của hệ thống cơquan tư pháp nói riêng và của toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước nói chung.
2 THỰC TRẠNG TƯ PHÁP HÌNH SỰ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Cho đến nay, trong khoa học pháp lý cũng như thực tiễn đời sống chínhtrị – pháp luật ở Việt Nam về cơ bản đã đạt được sự thống nhất chung khi quanniệm hoạt động tư pháp hình sự là hoạt động thực hiện quyền tư pháp Tuynhiên, khi quan niệm về phạm vi quyền tư pháp và hoạt động tư pháp hình sự,chủ thể tiến hành hoạt động tư pháp hình sự, lại đang tồn tại nhiều ý kiến khácnhau Khái quát lại có 4 loại ý kiến sau đây: Loại ý kiến thứ nhất quan niệm vềquyền tư pháp theo nghĩa hẹp Những người ủng hộ ý kiến này lập luận rằngquyền tư pháp là lĩnh vực quyền lực nhà nước được thực hiện thông qua hoạtđộng phân xử và phán xét tính đúng đắn, tính hợp pháp của các hành vi, cácquyết định pháp luật khi có sự tranh chấp về các quyền và lợi ích giữa các chủthể pháp luật Do vậy, chủ thể thực hiện quyền tư pháp chỉ là Tòa án và hoạtđộng tư pháp hình sự chỉ là hoạt động xét xử Loại ý kiến thứ hai quan niệm vềquyền tư pháp và hoạt động tư pháp hình sự theo một nghĩa rộng rãi nhất.Những người ủng hộ ý kiến này cho rằng, tư pháp là xét xử Để giải quyết cáctranh chấp pháp luật, các vi phạm pháp luật thì ngoài Tòa án là cơ quan đượcgiao chức năng thay mặt Nhà nước ra phán quyết, còn có sự tham gia của nhiều
cơ quan, tổ chức khác Các cơ quan, tổ chức này có vai trò quan trọng trong việcbảo đảm cho phán quyết của Tòa án được chính xác, khách quan Vì vậy, việcthực hiện quyền tư pháp, tức là quyền thay mặt Nhà nước phán quyết về xungđột pháp lý, vi phạm pháp luật là của Tòa án, nhưng để đi đến phán quyết đó lạikhông chỉ là nhiệm vụ của riêng Tòa án Do vậy, hoạt động tư pháp hình sự làhoạt động của các cơ quan, tổ chức và cá nhân tham gia vào việc giải quyết vụ
án hình sự Hoạt động tư pháp hình sự là hoạt động của các cơ quan điều tra,Viện kiểm sát, Tòa án, cơ quan thi hành án, các cơ quan được giao thực hiện một
số nhiệm vụ tố tụng, các cơ quan bổ trợ tư pháp (giám định tư pháp, công chứng
tư pháp, luật sư) Loại ý kiến thứ ba cho rằng, hoạt động tư pháp hình sự là hình
Trang 11thức thực hiện những thẩm quyền tương ứng do luật định của hệ thống Tòa án
mà thông qua đó, các chức năng của nhánh quyền lực thứ ba trong Nhà nướcpháp quyền biến thành hiện thực Có bốn hình thức hoạt động tư pháp hình sựtương ứng với bốn chức năng của quyền tư pháp Hình thức hoạt động tư phápthứ nhất là thực hiện thẩm quyền giải thích các quy phạm pháp luật (mà trướchết là giải thích Hiến pháp) Hình thức hoạt động tư pháp thứ hai là thực hiệnthẩm quyền xét xử bằng hoạt động tố tụng tư pháp (tài phán) Hình thức hoạtđộng tư pháp thứ ba là thực hiện thẩm quyền giám sát của Tòa án đối với tínhhợp pháp và có căn cứ của việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước cótính chất tố tụng, tức là thực hiện sự kiểm tra của Tòa án trong việc áp dụng cácchế tài về tố tụng hình sự và hình sự của các cơ quan bảo vệ pháp luật Hìnhthức hoạt động tư pháp thứ tư là thực hiện thẩm quyền xác nhận chính thức các
sự kiện (hành vi) có ý nghĩa pháp lý trong các lĩnh vực của đời sống xã hội hoặchạn chế quyền chủ thể tương ứng của các công dân trong quá trình giải quyếtcác mối quan hệ xã hội Loại ý kiến thứ tư cho rằng, hoạt động tư pháp hình sự
là tập hợp những việc làm cụ thể do cơ quan tư pháp thực hiện trong tố tụnghình sự liên quan trực tiếp đến việc giải quyết các vụ án và hướng tới mục đíchgiải quyết các vụ án một cách đúng đắn, khách quan Do vậy, hoạt động tư pháphình sự bao gồm hoạt động điều tra của cơ quan điều tra, hoạt động công tố củaViện kiểm sát, hoạt động xét xử của Tòa án và hoạt động thi hành án của cơquan thi hành án
3 HƯỚNG TĂNG CƯỜNG HOÀN THIỆN CẢI CÁCH TƯ PHÁP
Trong hơn 60 năm qua, công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình
sự đã từng bước được kiện toàn và phát triển, đáp ứng ngày càng cao yêu cầucủa cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong từng giai đoạn của lịch sử cáchmạng nước ta; tăng cường khả năng chống bỏ lọt tội phạm và người phạm tội,chống làm oan người vô tội; đáp ứng ngày càng tốt yêu cầu bảo đảm các quyền
tự do dân chủ của công dân đã được Hiến pháp và pháp luật quy định Trongnhững năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước công cuộc cải cách toàn diện
và sâu sắc dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đạt đến những bước phát triển mới, tạo
Trang 12nên những tiền đề và cũng là những thách thức lớn về kinh tế, chính trị, xã hội,đòi hỏi phải có những điều chỉnh mang tính cải cách đối với tư pháp hình sự từnhiệm vụ, thẩm quyền của các chủ thể tố tụng, trình tự, thủ tục, thời hạn cũngnhư mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết
vụ án hình sự
Cải cách kinh tế với những kết quả đạt được thời gian qua đã và đang tạo ranhững tiền đề quan trọng cả về vật chất và tư duy cho các cuộc cải cách khác,trong đó có cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung, cảicách hệ thống tư pháp và tư pháp hình sự nói riêng Công cuộc cải cách kinh tế
đã tạo ra những lực đẩy quan trọng cho giải phóng sức sản xuất, phát triển mạnh
mẽ lực lượng sản xuất, lợi ích của cá nhân người lao động, của các chủ thể sảnxuất, kinh doanh ngày càng được coi trọng, đời sống nhân dân không ngừngđược cải thiện, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần đượchình thành Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng kinh tế, tình hình tội phạm cũng
có những diễn biến hết sức phức tạp, tội phạm tham nhũng xảy ra khá trầm trọng
và phổ biến, xuất hiện mới những hành vi nguy hiểm cho xã hội trong quá trìnhphát triển kính tế, đặc biệt là trong các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, môitrường v.v mà chưa được tội phạm hoá Đặc điểm của các loại tội phạm mới đặt
ra yêu cầu phải đổi mới các thủ tục tố tụng, ví dụ vấn đề áp dụng biện pháp ngănchặn, vấn đề giám định tư pháp liên quan đến việc xác định quy mô của hành viphạm tội và mức độ thiệt hại (giám định tài chính, kế toán, mức độ ô nhiễm môitrường v.v.)
Thực tế này đang đặt ra những thách thức lớn đối với Nhà nước ta, với các
cơ quan tư pháp trong việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, tạo môitrường thuận lợi, an toàn cho công cuộc đối mới và phát triển kinh tế, đáp ứngyêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhậpquốc tế
Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ đã và đang tạo ranhững tiền đề quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, hàng ngày, hàng giờphát huy tác dụng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống đất nước Bên cạnh