Đồng thời điều 6 quy định Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước không những bằng dân chủ đại diệnthông qua Quốc hội, Hội đồng Nhân dân và các cơ quan khác của nhà nước mà còn bằng dân ch
Trang 1Câu 1 Bằng kiến thức về pháp luật, anh, chị hãy làm rõ quy định: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Quyền lực nhà nước là quyền lực của giai cấp thống trị và nó được thực hiện bằng cả một hệ thốngchuyên chính do giai cấp đó lập ra
Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung phát triển năm2011), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Hiến pháp năm 2013) đã bổ sung một nguyên
tắc mới về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta Đó là “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” Đây vừa là quan điểm vừa là nguyên tắc chỉ đạo công cuộc tiếp tục, xây dựng và hoàn thiện
bộ máy nhà nước ta trong thời kỳ mới - Thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới cả về kinh tế lẫnchính trị
*Quyền lực nhà nước là thống nhất:
Một là, quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân
Điều 2 Hiến pháp năm 2013 ghi: NN CHXHCN VN là NN pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhândân, vì nhân dân Nước CH XHCN VN do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
mà nền tảng là liên minh giữa GCCN với GC ND và đội ngũ trí thức
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (bổ sung và phát triển năm 2011), Hiến pháp năm
2013 đã khẳng định quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơquan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp (Điều 2) Tất cả quyền lực nhà nước thuộc
về Nhân dân được Hiến pháp quan niệm Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, Nhân dânthông qua quyền lập hiến giao quyền lực nhà nước của mình cho Quốc hội, cho Chính phủ và cho cơ quan tưpháp như các Hiến pháp trước đây
Theo điều 70 Hiến pháp năm 2013, Nhân dân chỉ trao cho Quốc hội ba nhóm quyền hạn và nhiệm vụ:quyền hạn và nhiệm vụ về lập hiến, lập pháp; quyền hạn và nhiệm vụ về giám sát tối cao và quyền hạn vànhiệm vụ về quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước Dân chủ đại diện là phương thức thực hiệnquyền lực nhà nước cơ bản và phổ biến nhất của nhân dân Theo đó, nhân dân thông qua các cơ quan đại biểu
do mình bầu ra và ủy thác quyền lực như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; rồi đến lượt mình Quốc hội,Hội đồng nhân dân các cấp tiếp tục lập ra các cơ quan khác của Nhà nước để thực hiện ý chí, nguyện vọngcủa nhân dân Như vậy, hiểu một cách đầy đủ, cơ quan nhà nước được nhân dân ủy quyền không chỉ là các
cơ quan dân cử như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp mà còn bao gồm cả các cơ quan trong hệ thốnghành pháp và tư pháp; các cơ quan này thay mặt nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước để điều hành, quản lý
xã hội và chịu sự giám sát của nhân dân
Đồng thời điều 6 quy định Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước không những bằng dân chủ đại diệnthông qua Quốc hội, Hội đồng Nhân dân và các cơ quan khác của nhà nước mà còn bằng dân chủ trực tiếpthông qua việc thực hiện quyền biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân, trong đó có trưng cầu ý dân
về Hiến pháp (điều 29 và điều 120)…
Có như vậy, nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mới đúng, mới bảo đảm thựchiện đầy đủ, không hình thức Như vậy, thống nhất quyền lực nhà nước được hiểu là toàn bộ quyền lực nhànước thuộc về Nhân dân, tập trung thống nhất ở Nhân dân chứ không phải tập trung ở Quốc hội Do vậy, nóiquyền lực nhà nước là thống nhất trước tiên là sự thống nhất ở mục tiêu chính trị, nội dung chính trị của nhànước Cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tuy có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau
nhưng đều thống nhất với nhau ở mục tiêu chính trị chung là xây dựng một nhà nước “đảm bảo và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của Nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” như Điều 3 Hiến pháp 2013 đã quy định
Như vậy, quyền lực nhà nước là thống nhất và tập trung ở Nhân dân, chủ thể tối cao và duy nhất củaquyền lực nhà nước là quan niệm có ý nghĩa chỉ đạo tổ chức quyền lực nhà nước trong điều kiện xây dựng
Trang 2nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân Mọi biểu hiện xa rời quan điểm quyền lực nhà nướcthuộc về Nhân dân theo Hiến pháp năm 2013.
Hai là, đảm bảo sự lãnh đạo của ĐCS VN đối với NN và XH ĐCS VN trở thành đảng cầm quyền, làhạt nhân của hệ thống chính trị
* Sự phân công:
Hiến pháp năm 2013 đã tiến một bước mới trong việc phân công quyền lực nhà nước Lần đầu tiêntrong Hiến pháp nước ta chỉ rõ Quốc hội thực hiện quyền lập hiến (không còn là duy nhất có quyền lập hiếnnhư Hiến pháp năm 1992), quyền lập pháp (Điều 69), Chính phủ thực hiện quyền hành pháp (Điều 94), Tòa
án nhân dân thực hiện quyền tư pháp (Điều 102) Việc xác nhận các cơ quan khác nhau thực hiện các quyềnlập pháp, hành pháp và tư pháp là một sự đổi mới quan trọng, tạo điều kiện để làm rõ vị trí, vai trò, nhiệm vụ,quyền hạn của mỗi quyền
Một là, đối với quyền lập pháp là quyền đại diện cho nhân dân thể hiện ý chí chung của quốc gia.
Quyền này được phân công cho Quốc hội Thuộc tính cơ bản, xuyên suốt mọi hoạt động của quyền này là đạidiện cho nhân dân, bảo đảm cho ý chí chung của nhân dân được thể hiện trong các đạo luật mà mình là cơquan duy nhất được nhân dân giao quyền biểu quyết thông qua luật Quyền biểu quyết thông qua luật làquyền lập pháp, chứ không phải là quyền đưa ra các mô hình xử sự cho xã hội Vì vậy, quyền lập pháp khôngđồng nghĩa với quyền chỉ làm ra luật Đồng thời, là người thay mặt nhân dân giám sát tối cao mọi hoạt độngcủa Nhà nước, nhất là hoạt động thực hiện quyền hành pháp, để góp phần giúp cho các quyền mà nhân dângiao cho các cơ quan nhà nước không bị lạm quyền, lộng quyền hay bị tha hóa Quyền hạn và nhiệm vụ củaQuốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp được quy định ở Điều 70 và Điều 120 của Hiến pháp hiện nay
Hai là, quyền hành pháp là quyền tổ chức thực hiện ý chí chung của quốc gia do Chính phủ đảm trách.
Thuộc tính cơ bản, xuyên suốt mọi hoạt động của quyền này là đề xuất, hoạch định, tổ chức soạn thảo chínhsách quốc gia và sau khi chính sách quốc gia được thông qua là người tổ chức thực hiện và quản lý nhà nước
mà thực chất là tổ chức thực hiện pháp luật để bảo đảm an ninh, an toàn và phát triển xã hội Thực tiễn chothấy, không có một chính phủ thực hiện quyền hành pháp một cách hữu hiệu, thông minh thì không thể cómột nhà nước giàu mạnh, phát triển ổn định cả về mặt kinh tế lẫn mặt xã hội Thực hiện quyền này đòi hỏiChính phủ và các thành viên của Chính phủ cần nhanh nhạy, quyết đoán kịp thời và quyền uy tập trung,thống nhất Quyền hạn và nhiệm vụ của Chính phủ - cơ quan thực hiện quyền hành pháp được quy định mộtcách khái quát ở Điều 96 Hiến pháp hiện nay
Ba là, quyền tư pháp là quyền xét xử, được nhân dân giao cho Tòa án thực hiện Độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật là nguyên tắc xuyên suốt và cao nhất trong tổ chức thực hiện quyền này; nghiêm cấm cơ quan,
tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của thẩm phán và hội thẩm nhân dân (khoản 2, Điều 103) Đâythực chất là quyền bảo vệ ý chí chung của quốc gia bằng việc xét xử các hành vi vi phạm Hiến pháp, phápluật từ phía công dân và cơ quan nhà nước Vì vậy, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân
là nhiệm vụ hàng đầu của quyền tư pháp (khoản 3, Điều 102) Mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân có nghĩa vụtôn trọng, giữ gìn và bảo vệ tính pháp quyền và công lý trong các phán quyết của Tòa án
Mục đích của việc phân công quyền lực nhà nước là để nhằm kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảmcho tính pháp quyền của Nhà nước và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải là để thỏa hiệp haychia rẽ quyền lực nhà nước giữa các quyền Ý nghĩa của sự phân công quyền lực nhà nước là để phân địnhnhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, để Nhà nước hoạt động có hiệu lực và hiệuquả, quyền lực nhà nước ngày càng thực sự là quyền lực của nhân dân, tính pháp quyền của Nhà nước ngàycàng thực sự là quyền lực của nhân dân và ngày càng được đề cao Nội dung và tinh thần của các quy định vềviệc phân công nhiệm vụ, quyền hạn cho Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân nhìn chung đáp ứng các yêucầu nói trên và là cơ sở để tiến hành kiểm soát quyền lực nhà nước
Như vậy, xuất phát từ đặc điểm của quyền lực nhà nước, việc phân định thành ba quyền nói trên là mộtnhu cầu khách quan Ngày nay, xu hướng phân định rành mạch ba quyền đó ngày càng được coi trọng trong
tổ chức quyền lực nhà nước Vì, xã hội càng phát triển, phân công lao động càng phải chuyên môn hóa cao đểphát triển vừa thống nhất, vừa hiệu quả Đồng thời, thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa ở nước ta chỉ ra rằng, việc phân định mạch lạc ba quyền là cách thức tốt nhất để phát huy vai trò củaNhà nước trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Trang 3* Sự phối hợp
Như đã nói ở trên, trong Nhà nước ta, quyền lực nhà nước là thống nhất Đó là sự thống nhất về mụctiêu chính trị chung Vì vậy, việc phân định quyền lực nhà nước không chứa đựng và bao quát việc phân lậpmục tiêu chính trị chung của quyền lực nhà nước Do vậy, mặc dù có sự phân định ba quyền nhưng cả baquyền lập pháp, hành pháp và tư pháp không hoàn toàn tách biệt nhau, mà “ràng buộc lẫn nhau”, cả ba quyềnđều phải phối hợp với nhau, hoạt động một cách nhịp nhàng trên cơ sở thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn
mà nhân dân giao cho Mục đích của việc phân công quyền lực nhà nước là để nhằm kiểm soát quyền lực nhànước, bảo đảm cho tính pháp quyền của Nhà nước và phát huy dân chủ XHCN
- Phối hợp thực hiện quyền lập pháp: Hiến pháp năm 2013 quy định “Quốc hội thực hiện quyền lậphiến, lập pháp” Tuy nhiên, các cơ quan nhà nước khác, đặc biệt là Chính phủ cũng có quyền tham gia vàoquy trình lập hiến, lập pháp Trong quy trình làm luật tại Quốc hội, Chính phủ đóng vai trò trình bày, tiếpnhận các phản hồi và thảo luận để hoàn thiện dự án luật Quốc hội có quyền đề xuất và quyết định các sửa đổi
dự án luật do Chính phủ trình, nhưng Chính phủ có quyền thảo luận các đề xuất, ý kiến của Quốc hội đểthuyết phục cho dự án luật do Chính phủ trình Thậm chí, Chính phủ cũng có thể từ bỏ việc tiếp tục trình dự
án luật do ý kiến phản đối của Quốc hội
- Phối hợp thực hiện quyền hành pháp: Hiến pháp năm 2013 đã không chỉ quy định Chính phủ có thẩmquyền, nhiệm vụ “tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội” như trước đây, mà còn bổ sungnội dung “đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định hoặc quyếtđịnh theo thẩm quyền để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn tại Điều này”, cùng với thẩm quyền “trình dự ánluật, dự án ngân sách nhà nước và các dự án khác trước Quốc hội” Các nhiệm vụ, quyền hạn khác của Chínhphủ được quy định tại Hiến pháp năm 2013 cũng đều thể hiện quyền hành pháp của Chính phủ: Thống nhấtquản lý về mọi mặt của đời sống xã hội; thống nhất quản lý nền hành chính quốc gia; bảo vệ quyền và lợi íchcủa Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; tổ chức đàmphán, ký kết điều ước quốc tế theo thẩm quyền Như vậy, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp với tư cách
là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, cơ quan chấp hành của Quốc hội
- Phối hợp thực hiện quyền tư pháp: Tòa án nhân dân phải có trách nhiệm trong việc phán xử các hành
vi vi phạm pháp luật đã được Quốc hội - cơ quan lập pháp thông qua, theo đề nghị của cơ quan hành pháp
* Sự kiểm soát
Trong chế độ dân chủ và pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì quyền lực nhà nước không phải là quyền lực
tự có của Nhà nước mà quyền lực được nhân dân ủy quyền và giao quyền Vì thế, tất yếu nảy sinh đòi hỏi tựnhiên và chính đáng là phải kiểm soát quyền lực nhà nước Mặt khác, khi ủy quyền cho Nhà nước, quyền lựcnhà nước lại có nguy cơ thường vận động theo xu hướng tự phủ định mình, trở thành đối lập với chính mìnhlúc ban đầu (từ của nhân dân là số đông chuyển thành số ít của một nhóm người hoặc của một người) C.Mác gọi hiện tượng này là sự tha hóa của quyền lực nhà nước Hơn nữa, quyền lực nhà nước là của nhân dângiao cho các cơ quan nhà nước suy cho cùng là giao cho những người cụ thể thực thi Không thể khẳng địnhngười được ủy quyền luôn luôn làm đúng, làm đủ những gì mà nhân dân đã ủy quyền
Vì vậy, kiểm soát quyền lực nhà nước là một nhu cầu khách quan từ phía người ủy quyền đối với ngườiđược ủy quyền Hơn thế nữa, quyền lực nhà nước không phải là một đại lượng có thể cân, đong, đo, đếm,phân chia được một cách quá rạch ròi; vì nó là một thể thống nhất, như nói ở trên Điều đó lại càng đòi hỏiphải kiểm soát quyền lực nhà nước, hạn chế hiệu lực và hiệu quả thực thi quyền lực nhà nước được nhân dân
ủy quyền
Về kiểm soát quyền lực nhà nước, ngoài việc phân công mạch lạc nhiệm vụ, quyền hạn của các quyền
để tạo cơ sở cho kiểm soát quyền lực; Hiến pháp sửa đổi năm 2013 còn tạo lập cơ sở hiến định để hình thành
cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định (Điều 119) Đồng thời, Hiến pháp giao cho: Quốc hội, các cơ quan củaQuốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhànước có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp Như vậy, Hiến pháp sửa đổi lần này tuy chưa hình thành cơ chế bảo
vệ Hiến pháp chuyên trách như Nghị quyết của Đảng đã đề ra, nhưng với quy định của Điều 119 đã tạo cơ sởhiến định để xây dựng một cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định
Kiểm soát quyền lực nhà nước gồm:
Trang 4+ Giám sát của Quốc hội là hoạt động giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước, màtrước hết là Chủ tịch nước, Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC, Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốchội nhằm đảm bảo sự tuân thủ hiến pháp, pháp luật và hiệu lực tham gia hoạt động của các cơ quan này.+ Giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp đối với hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, TAND,VKSND cùng cấp nhằm đảm bảo cho các quy định của pháp luật và nghị quyết HĐND được thi hành nghiêmchỉnh tại địa phương
+ Giám sát của MTTQVN và các thành viên của Mặt trận là quyền giám sát của một tổ chức mang tínhliên minh chính trị, liên hiệp, phối hợp và thống nhất hoạt động của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -
xã hội đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước đại biểu dân cử và CBCC nhà nước thông qua việc độngviên nhân dân thực hiện quyền giám sat, thực hiện quyền giám sát với cơ quan nhà nước và tổng hợp ý kiếncủa nhân dân cũng như của các thành viên để kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết.+ Quyền giám sát của nhân dân là quyền của nhân dân khi xem xét, đánh giá hoạt động của nhà nướcvới tư cách của các đại biểu dân cử, trực tiếp tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, thực hiện quyềnkhiếu nại tố cáo hoặc thông qua hoạt động của các tổ chức thanh tra nhân đân do mình bầu ra
- Hoạt động thanh tra, kiểm tra:
Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy địnhcủa cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của
cơ quan, tổ chức, cá nhân Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổchức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao
Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnhvực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn
- kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó
- Kiểm toán nhà nước là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật,thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công, giúp tài chính nhà nước minh bạch, hạnchế tham nhũng
Hiến pháp 2013 bổ sung một nguyên tắc mới về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta: “Quyềnlực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thựchiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Điều 2) là bước tiến bộ quan trọng trong việc hoàn thiện cơchế thống nhất, phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực, bảo đảm cho bộ máy nhà nước hoạt động cóhiệu quả hơn Đồng thời, đây vừa là quan điểm, vừa là nguyên tắc chỉ đạo công cuộc, xây dựng và hoàn thiện
bộ máy nhà nước ta trong thời kỳ mới
Câu 2 Hệ thống chính trị Việt Nam vận hành theo cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ Anh, chị hãy làm rõ quy định trên.
Hệ thống chính trị là một tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chế chính trị (các cơ quan quyền lực nhànước, các đảng chính trị, các phong trào xã hội, các tổ chức chính trị xã hội…) được xây dựng theo một kếtcấu chức năng nhất định, vận hành trên những nguyên tắc, cơ chế và quan hệ cụ thể nhằm thực thi quyền lựcchính trị
Hệ thống chính trị ở nước ta bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước CHXHCN Việt Nam, Mặttrận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội Các tổ chức trong hệ thống này vận hành theo cơ chế “Đảnglãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, được gắn kết với nhau theo những quan hệ, cơ chế vànguyên tắc nhất định trong một môi trường văn hóa chính trị đặc thù
Thứ nhất, “Đảng lãnh đạo”
Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội Đảng lãnh đạo bằng cươnglĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục,vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên Đảng thống nhất lãnh
Trang 5đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chấtvào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng vàđảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất làngười đứng đầu Đảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo, đồng thời phát huymạnh mẽ vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị.
Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, do đó giữ vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị vàtrong xã hội: đảng không chỉ là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị mà còn là lực lượng lãnh đạotoàn hệ thống chính trị và lãnh đạo toàn bộ xã hội Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huyquyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt độngtrong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
Điều 4, Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định: Đảng “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội” Như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ thể lãnh đạo Nhà nước và xã
hội
Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là hệ thống các phương pháp, các hình thức, cácbiện pháp mà Đảng tác động vào Nhà nước để hiện thực hóa ý chí và mục tiêu của Đảng Về nguyên tắc, mụctiêu cao nhất của Đảng lãnh đạo Nhà nước là tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước, phát huyquyền làm chủ của nhân dân bằng Nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước trong quá trình xâydựng xã hội mới, nhằm làm cho mục tiêu của toàn bộ sự nghiệp cách mạng nói chung, của từng thời kỳ nóiriêng được thực hiện có hiệu quả cao Theo đó, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước bị quy địnhbởi đặc tính khách quan và chức năng cơ bản của hệ thống tổ chức nhà nước và tính chất lãnh đạo của Đảngđối với Nhà nước Nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước phản ánh mối quan hệ giữamục tiêu và phương tiện, điều kiện đạt mục tiêu, hay nói rộng ra, đó là mối quan hệ giữa chức năng của hệthống và cơ chế thực hiện
Sự lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức chính trị - xã hội (Mặt trận Tổ quốc, Công đoàn, Đoàn Thanhniên cộng sản, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Cựu chiến binh) là tất yếu và quan trọng để các tổchức này hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, phát huy chức năng giám sát và phản biện xã hội, tham gia xâydựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh
Mỗi đối tượng lãnh đạo của Đảng vừa có những điểm chung, vừa có những điểm riêng trong phươngthức lãnh đạo của mình Tuy có những điểm khác nhau trong phương thức lãnh đạo nhằm phù hợp với từngđối tượng cụ thể và cũng là để phát huy cao nhất sức mạnh của từng lực lượng trong tiến trình phát triển đấtnước; nhưng mục tiêu cao nhất và duy nhất của Đảng là lãnh đạo đất nước, lãnh đạo xã hội thực hiện thắnglợi sự nghiệp đổi mới, vì “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Thứ hai, “Nhà nước quản lý”
Nhà nước quản lý là đề cập đến chức năng quản lý xã hội của bộ máy quyền lực - Nhà nước Nội dungquản lý bao gồm: xây dựng kế hoạch, sắp xếp tổ chức, chỉ đạo điều hành và kiểm soát tiến trình hoạt động…dưới sự lãnh đạo của Đảng Để có thể thực hiện chức năng quản lý của mình, Nhà nước phải được tổ chứcthành các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp để bảo đảm quyền lực được phân công và phối hợp thựchiện có hiệu quả
Nhà nước quản lý xã hội trước hết bằng hệ thống quy phạm pháp luật, bằng hệ thống các cơ quan quản
lý nhà nước từ các bộ phận đến các cơ sở, trong đó không loại trừ các biện pháp cưỡng chế để đảm bảo thựchiện sự nghiêm minh của pháp luật Nhà nước quản lí trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội quản lýtheo ngành theo lãnh thổ theo cấp độ vĩ mô hoặc vi mô Nhà nước thực hiện quản lí bằng cả chính sách vàcác công cụ đòn bẩy khác Bên cạnh đó cũng tăng cường việc kiểm tra, giám sát, kiểm toán, thanh tra việcthực hiện các quy định của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân nhằm phát hiện để điều chỉnh, ngăn ngừanhững tiêu cực đồng thời xử nghiêm để làm gương Đồng thời tuyên dương, khen thưởng kịp thời đối vớinhững việc làm tốt có lợi cho dân, có lợi cho xã hội Vì mục tiêu của quản lý nhà nước là phát huy tiềm năngsáng tạo của nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đảm bảo cho nhân dân được tất cả những gì màpháp luật không cấm đồng thời phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế, nhằm phát triểnnhanh và mạnh mẽ lực lượng sản xuất của đất nước
Trang 6Thứ ba, về nhân dân làm chủ: Đây là yếu tố trung tâm của cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý,
nhân dân làm chủ Tầm quan trọng đặc biệt của yếu tố này biểu hiện ở chỗ: Quyền lực của Đảng và Nhànước đều từ quyền lực của nhân dân
Nhân dân làm chủ: là đề cập đến quyền lực của nhân dân Quyền lực thuộc về nhân dân thể hiện tính
ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa Tầm quan trọng đặc biệt của yếu tố này biểu hiện ở chỗ: quyền lực củaĐảng và làm chủ của mình không chỉ thông qua bộ máy nhà nước, mà họ còn tự mình thực hiện quyền ấy.Những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có quan hệ trực tiếp đến đờisống của quần chúng nhân dân đều là nội dung mà người dân cần biết, cần bàn, cần thực hiện và cần kiểmtra, giám sát việc thực hiện, đặc biệt, trong công tác xây dựng, thực thi Hiến pháp và pháp luật
Nhân dân làm chủ, trước hết được xác định ở địa vị chủ thể quyền lực nhà nước, chỉ có nhân dân mới
có quyền đối với quyền lực nhà nước Điều 2 Hiến pháp 2013 ghi rõ: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Do dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Nhưng nhân dân ủy quyền cho các đại biểu của mình và giám sát đại biểu
đó trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước
Điều 6 Hiến pháp 2013 ghi: "Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước" Ngày
nay quyền làm chủ của nhân dân ở nước ta không chỉ được đảm bảo bằng Hiến pháp, pháp luật, mà bằng hệthống truyến thông, các phương tiện thôn tin đại chúng, các cuộc vận động, thông qua thực hiện quy chế dânchủ cơ sở, thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, thông qua vai trò của Mặt trận Tổ quốc ViệtNam và các đoàn thể nhân dân
Trong lịch sử Việt Nam, ông cha ta luôn đề cao và đặt lên hàng đầu vai trò của nhân dân trong cấu tạoquyền lực nhà nước và quyền lực xã hội Đảng ta ra đời, tồn tại, phát triển không vì mục đích tự thân mà vìhạnh phúc của nhân dân Điều này được thể hiện nhất quán hơn 87 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, từ
quan điểm lý luận đến thực tiễn cuộc sống Vì vậy, Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động
và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Mục đích duy nhất của Đảng ta là đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, đồng bào được sống trong tự do, ấm no, hạnh phúc Nhờ vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn phát huy được sức mạnh của nhân dân để tiến hành đấu tranh giành và giữ vững độc lập, tự do
và tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua QH, HĐND và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước
Nhà nước của ta là nhà nước của Dân, do Dân và vì Dân Từ Hiến pháp năm 1946 đến nay đều thốngnhất quan điểm đó Hiến pháp năm 2013 một lần nữa khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân do Nhân dân làmchủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giaicấp nông dân và đội ngũ trí thức”
Hiến pháp không chỉ quy định Nhân dân là chủ thể của Nhà nước, tất cả quyền lực Nhà nước thuộc vềNhân dân mà còn quy định phương cách Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước của mình Điều 6 Hiếnpháp 2013 ghi: "Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thôngqua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước"
Dân chủ trực tiếp là hình thức dân chủ với những quy chế, thiết chế để nhân dân thảo luận, biểu quyết,
tham gia trực tiếp quyết định công việc của cộng đồng nhà nước
Đây là hình thức tham gia của mọi công dân một cách bình đẳng và trực tiếp vào các quyết định trongcác lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,… theo biểu quyết đa số, là sự thể hiện một cách trực tiếp ý chícủa chủ thể quyền lực về những vấn đề quan trọng nhất
Ví dụ: Tất cả công dân đủ điều kiện trực tiếp đi bỏ phiếu bầu ra những người mình tin tưởng, đủ đức đủtài vào trong Hội đồng nhân dân các cấp và các đại biểu quốc hội
Trang 7Dân chủ trực tiếp là việc Nhân dân trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước.Tức là Nhân dân thể hiệnmột cách trực tiếp ý chí của mình (với tư cách là chủ thể quyền lực nhà nước) về một vấn đề nào đó màkhông cần thông qua cá nhân hay tổ chức thay mặt mình và ý chí đó có ý nghĩa bắt buộc phải thi hành Hìnhthức biểu hiện cụ thể của dân chủ trực tiếp như ứng cử, bầu cử Quốc hội, HĐND, thực hiện quy chế dân chủ
cơ sở, trưng cầu dân ý Các cuộc đối thoại trực tiếp của nhân dân với cơ quan Nhà nước hiện nay cũng làhình thức biểu hiện của dân chủ trực tiếp
Ưu điểm của hình thức dân chủ trực tiếp là Nhân dân trực tiếp quyết định, phản ảnh đúng ý chí, nguyệnvọng của mình nhưng hạn chế của hình thức này là nhhững vấn đề mà Nhân dân trực tiếp quyết định khôngnhiều vì điều kiện không cho phép
Dân chủ trực tiếp được mở rộng đến đâu còn phụ thuộc vào điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,trình độ dân trí, nhận thức chính trị, trình độ pháp lý của nhân dân của một nước Ở nước ta do trải qua cuộcchiến tranh kéo dài và hiện nay đang trong quá trình xây dựng nên dân chủ trực tiếp trên thực tế mới thựchiện mức độ nhất định Hiến pháp năm 1946, tại Ðiều 21 có quy định: "Nhân dân có quyền phúc quyết vềHiến pháp và những việc có quan hệ đến vận mệnh quốc gia " và Ðiều 32 quy định: "Những việc có quan hệđến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba số nghị viên đồng ý " Các Hiếnpháp 1959, 1980, 1992 và 2013 đều có đề cập đến việc trưng cầu dân ý Tuy nhiên đến nay chúng ta chưa tổchức được cuộc trưng cầu dân ý nào
Nhận thức được hạn chế nói trên nên điều 6 Hiến pháp năm 2013 đã sửa đổi so với điều 6 của Hiếnpháp năm 1992, quy định rõ hơn các phương cách Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước, không chỉ bằngdân chủ đại diện thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân mà còn bằng các hình thức dân chủ trực tiếp.(Điều 6 Hiến pháp năm 1992 quy định:Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hộiđồng nhân dân là các cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân, do Nhân dân bầu ra và chịutrách nhiệm trước Nhân dân) Để hiện thực hóa quy định nói trên, và rút kinh nghiệm trước đây do thiếu cơchế cụ thể nên quy định của Hiến pháp về Trưng cầu dân ý - Một nội dung của dân chủ trực tiếp - chưa đượcthực hiện
Dân chủ đại diện là hình thức Nhân dân thông qua các cơ quan nhà nước, các cá nhân được Nhân dân
ủy quyền để thực hiện ý chí của Nhân dân Dân chủ đại diện là phương thức chủ yếu để thực hiện quyền lựcnhân dân Dân chủ đại diện có ưu điểm là với hình thức này chúng ta quản lý được mọi mặt đời sống xã hội,nhưng có hạn chế là ý chí, nguỵen vọng của người dân phải qua trung gian của ngừoi đại diện, có thể bị méo
mó bởi nhiều lý do như trình độ nhận thức, quan điểm, lợi ích
Dân chủ gián tiếp là hình thức dân chủ thông qua những quy chế, thiết chế để nhân dân bầu ra nhữngngười đại diện thay mặt mình quyết định các công việc chung của cộng đồng, đất nước
Là hình thức nhân dân thể hiện quyền làm chủ của mình, tham gia quản lí nhà nước và xã hội thôngqua hoạt động của những người đại diện, cơ quan đại diện của mình ở các cấp chính quyền như ở Mặt trận tổquốc, các đoàn thể nhân dân
Là hình thức thực hiện hóa quyền làm chủ của người dân Cơ cấu tổ chức của hình thức dân chủ giántiếp cho phép bao quát toàn bộ lãnh thổ từ địa phương đến trung ương, cho phép người dân làm chủ trên mọilĩnh vực của cuộc sống
Ví dụ: Đại biểu quốc hội là người đại diện cho nhân dân, được sự ủy thác của nhân dân, thay mặt nhândân tham gia xây dựng các đạo luật để quản lí xã hội
Khi nói đến tính đại diện người ta hay nghĩ đến các cơ quan dân cử, theo tôi điều đó đúng nhưng chưa
đủ Quyền lực nhà nước bao gồm quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Khi nói quyền lực nhà nước thuộc
về nhân dân thì chúng ta hiểu quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp là thuộc về nhân dân Nhưnói ở trên, do điều kiện không cho phép nên số lượng vấn đề nhân dân quyết định trực tiếp không nhiều, bởivậy nhân dân lập ra và trao quyền cho các cơ quan nhà nước để thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực củamình; các cơ quan này phải chịu sự giám sát của nhân dân và chỉ được thực hiện quyền lực trong giới hạncho phép Như vậy, cơ quan được nhân dân ủy quyền không chỉ là cơ quan dân cử mà bao gồm cả cơ quanhành pháp và tư pháp, khi hoạt động các cơ quan này với tư cách là nhân dân, đại diện nhân dân để thực thinhiệm vụ Nhận thức điều này có ý nghĩa trong thực tế là các cơ quan nhà nước kể cả lập pháp, hành pháp và
tư pháp phải thấy rằng quyền mà các cơ quan này có được là do nhân dân trao, phải chịu trách nhiệm trước
Trang 8nhân dân Không chỉ có Quốc hội, HĐND các cấp lắng nghe ý kiến nhân dân khi ban hành luật, nghị quyết,
mà các cơ quan hành pháp, tư pháp cũng phải thu thập, lắng nghe ý kiến nhân dân trong quá trình thực thinhiệm vụ của mình
Dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện là hai hình thức cơ bản để thực hiện quyền lực của nhân dân, đều
có vai trò quan trọng trong nền dân chủ Nền dân chủ phát triển thì dân chủ trực tiếp được mở rộng, ngược lạiđẩy mạnh thực hiện dân chủ trực tiếp thì sẽ thúc đẩy nền dân chủ phát triển Để Nhân dân thực sự là chủ thểcủa Nhà nước thì phải thực hiện tốt cả dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện Trưng cầu dân ý, một nội dungquan trọng của hình thức dân chủ trực tiếp phải được luật hóa, trong đó quy định những việc gì phải do nhândân bàn và quyết định, quy định rõ trình tự, thủ tục, cách thức tiến hành Các cơ quan được Nhân dân traoquyền phải thực hiện tròn trách nhiệm của mình Các đại biểu Quốc hôi, HĐND phải thường xuyên tiếp xúcvới nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân Quốc hội và HĐND các cấp khi quyết định một vấn đề nào đóphải phù hợp với ý chí, nguyện vọng của nhân dân Các cơ quan hành chính và tư pháp từ trung ương xuốngđịa phương, người có thẩm quyền trong các cơ quan đó phải tận tụy phục vụ nhân dân, tiến hành cải cáchhành chính để tạo thuân lợi cho nhân dân, không được cửa quyền hách dịch với nhân dân
Theo quy định tại Điều 9 Hiến pháp năm 2013; khoản 1, Điều 12 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thìđối tượng giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội gồm: hoạt động của cơ quan nhà nước; cán bộ, côngchức nhà nước và đại biểu dân cử Những quy định trên cho thấy phạm vi, đối tượng giám sát của các tổ chứcnày là rất rộng Thực tế, cho đến nay, các tổ chức chính trị - xã hội và các đoàn thể nhân dân thực hiện vai trògiám sát chủ yếu ở hai lĩnh vực “dân chủ” và “dân sinh”; lựa chọn những vấn đề mà người dân đang quantâm và còn bức xúc
Kết quả giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội
Thứ nhất, thực hiện vai trò tham gia giám sát cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhândân)
Thực hiện quyền và trách nhiệm của mình, trong những năm qua, các tổ chức chính trị - xã hội thôngqua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã cố gắng, chủ động tổ chức nhiều hoạt động giám sát như giám sát thựchiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo củacông dân; giám sát việc thực hiện dân chủ ở cơ sở; giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư; giámsát đầu tư của cộng đồng,
Trong các kỳ họp định kỳ của Hội đồng nhân dân các cấp (6 tháng và cuối năm), các tổ chức chính trị
-xã hội thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã kiến nghị chính quyền cùng cấp quan tâm giải quyết nhữngvấn đề thuộc về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa và cả quyền dân sự, chính trị của người dân như: giải tỏađền bù, tái định cư, vấn đề việc làm, xóa đói giảm nghèo, khám, chữa bệnh, học phí, bầu các chức danh chủchốt của chính quyền cấp xã, Ngoài ra, các tổ chức này còn giám sát việc giải quyết những kiến nghị củacác thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đặt ra trong kỳ họp Hội đồng nhân dân trước và nhắc lại tại kỳhọp Hội đồng nhân dân tiếp theo nếu chính quyền chưa giải quyết (hoặc đã và đang giải quyết, nhưng chưaphản hồi cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam)
Một trong những nội dung giám sát được quan tâm thực hiện trong thời gian vừa qua là việc giải quyếtkhiếu nại, tố cáo của công dân đối với các cơ quan nhà nước mà chủ yếu là Ủy ban nhân dân các cấp Các tổchức chính trị - xã hội các cấp đã nghiên cứu kỹ để thực hiện chức năng giám sát và thể hiện chính kiến củamình khi kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền giải quyết những khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực hoạtđộng của từng tổ chức
Ngoài việc xử lý bình thường như nghiên cứu, lập phiếu chuyển, tại một số địa phương, như Thành phố
Hồ Chí Minh, Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thành phố còn tổ chức phòng tiếp dân với sự tham giacủa một số luật sư nhằm trợ giúp pháp lý, giải thích pháp luật, hướng dẫn người dân khiếu nại đúng nơi cóthẩm quyền Lãnh đạo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố còn trực tiếp tiếp dân để nghe ngườidân trình bày nội dung muốn khiếu nại, tố cáo mà không thể trình bày đầy đủ trong đơn, trên cơ sở đó có ýkiến, kiến nghị với chính quyền hoặc giải thích lại cho người dân nếu chính quyền đã giải quyết đúng theoquy định của pháp luật Với những trường hợp chưa “thấu tình, đạt lý”, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổquốc mời Ủy ban nhân dân đến làm việc và nghe trình bày trực tiếp để có ý kiến giải quyết cụ thể từngtrường hợp
Trang 9Đặc biệt trong giám sát việc bảo đảm quyền của người nghèo và của các nhóm yếu thế khác (người già,người khuyết tật, ), các tổ chức chính trị - xã hội thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn đóng vaitrò nổi bật, kể cả trong việc đề xuất chủ trương, tổ chức thực hiện, như xây dựng những căn nhà “Đại đoànkết” cho các hộ nghèo, lớp học tình thương, hay trạm y tế thôn, bản, , nhất là tại 62 huyện nghèo.
Thứ hai, thực hiện vai trò tự giám sát
Các tổ chức chính trị - xã hội thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổ chức giám sát nhiều côngtrình, dự án tại các địa phương mang tính chất phản biện xã hội, chẳng hạn việc giám sát dự án lọc nước HồTây ở Hà Nội và dự án cổ phần hoá bệnh viện Bình Dân tại thành phố Hồ Chí Minh(1), Ở Hà Nội, sự giámsát và phản biện của Liên hiệp các hội khoa học - kỹ thuật Việt Nam đã phát hiện các yếu tố không hợp lýcủa Dự án lọc nước Hồ Tây Kết quả là Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã không tiến hành thực hiện dự
án tốn kém và không hợp lý này Tại Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốcthành phố đã mời các chuyên gia, bác sĩ từng công tác trong ngành y tế tham gia phản biện Kết quả, đề ánnày phải dừng lại do khó có thể đáp ứng được nhu cầu chữa bệnh của đại đa số người dân, nhất là dân nghèo
Trong những năm gần đây, cùng với việc phát triển kinh tế, việc bảo vệ các quyền kinh tế, xã hội, vănhóa của người dân ngày càng trở nên bức thiết Trước tình hình trên, các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thểnhân dân đã chủ động và tích cực thực hiện giám sát đối với những việc như giải tỏa đền bù, tái định cư,chăm lo đời sống của người dân tại nơi ở mới trong quá trình thực hiện các dự án giao thông, dự án côngnghiệp và đô thị, Vai trò giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội cũng được đề cao và giữ vị trí ngàycàng quan trọng trong việc giải quyết tình trạng gây ô nhiễm môi trường của các doanh nghiệp tại các khucông nghiệp - khu chế xuất; thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh; giải quyết các vụđình công của công nhân tại các khu công nghiệp và công tác thi hành án dân sự của cơ quan thi hành án dân
sự,
Thứ ba, thực hiện vai trò vận động nhân dân giám sát ở cơ sở
Quy chế giám sát đầu tư của cộng đồng(2) quy định: người dân được khuyến khích theo dõi, đánh giáviệc chấp hành các quy định về quản lý đầu tư của cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư, chủ đầu tư, banquản lý dự án, các nhà thầu và đơn vị thi công dự án trong quá trình đầu tư Một trong những hoạt động giámsát cơ bản của các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức đoàn thể trong giai đoạn hiện nay, như các quy địnhtrong Chương II của Quy chế - là tổ chức thực hiện giám sát đầu tư của cộng đồng (Điều 7 đến Điều 11) ởcấp xã
Các tổ chức chính trị - xã hội thông qua tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có quyền: hướng dẫn,động viên cộng đồng tích cực thực hiện quyền giám sát đầu tư theo quy định của quy chế trên; tổng hợp,phản ánh, kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền về các nội dung giám sát Có hai cách thức thực hiện vaitrò của các tổ chức chính trị - xã hội trong việc giám sát đầu tư cộng đồng là: Thứ nhất, giám sát thông quaBan Giám sát đầu tư của cộng đồng theo yêu cầu của cộng đồng; Thứ hai, giám sát thông qua Ban Thanh tranhân dân
Nhìn chung, hiệu quả nổi bật trong việc tham gia giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội là:
- Bảo vệ quyền có nhà ở, quyền chăm sóc y tế, quyền học tập của một bộ phận người nghèo, người cócông với nước, người dân tộc thiểu số; bảo vệ quyền an sinh xã hội của phần lớn người dân thuộc diện thuhồi đất để xây dựng các công trình giao thông, khu công nghiệp, đô thị
- Làm rõ việc gây cản trở, thậm chí xâm phạm đến quyền công dân, quyền con người do lợi dụng chức
vụ, quyền hạn của một bộ phận cán bộ, công chức, nhất là ở cơ sở; thu chi các loại quỹ, thuế, lệ phí; cấp các
Trang 10loại giấy phép, chứng thực xác nhận hồ sơ, tài liệu, văn bằng, chứng chỉ; sử dụng ngân sách và các khoảnđóng góp của nhân dân.
- Phát hiện những nội dung còn thiếu, chưa sát, chưa đúng, chưa phù hợp trong một số văn bản dự thảocủa các cơ quan Đảng, Nhà nước; kiến nghị một số nội dung thiết thực, góp phần bảo đảm tính đúng đắn, phùhợp với thực tiễn đời sống xã hội và tính hiệu quả trong việc hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân
- Phát hiện, kiến nghị khắc phục những sai sót, yếu kém trong quá trình tổ chức thực hiện và sửa đổi,
bổ sung đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước cho phù hợp với thực tiễn củađời sống xã hội
- Góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm và chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức đảng và củachính quyền các cấp, nhất là các tổ chức giải quyết những công việc trực tiếp liên quan đến quyền con người,quyền công dân
- Giúp cấp ủy đảng, chính quyền các cấp nắm chắc hơn tình hình cán bộ, công chức, đảng viên thuộcdiện quản lý về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, quan hệ với dân, trên cơ sở đó có hướng bồi dưỡng, sửdụng cán bộ tốt hơn; phòng ngừa, ngăn chặn những hành vi tiêu cực, quan liêu xa dân, không tôn trọng dân,thiếu trách nhiệm với dân; kịp thời giáo dục, xử lý những cán bộ, công chức, đảng viên có sai phạm, gópphần đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, làm trong sạch đội ngũ cán bộ,công chức, đảng viên
- Nâng cao trách nhiệm của các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể nhân dân trong việc tham gia xâydựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữaĐảng, Nhà nước với nhân dân, và trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân
Hạn chế, nguyên nhân và giải pháp
Về hạn chế, tuy có nhiều văn bản pháp luật đề cập đến vai trò và trách nhiệm giám sát của Mặt trậnnhưng vẫn thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể, chưa có biện pháp chế tài thích hợp với việc tiếp nhận và xử lý,giải quyết kết quả giám sát do Mặt trận Tổ quốc kiến nghị; thậm chí nếu có giải quyết thì chỉ mang tính chiếu
lệ, từ đó làm cho người dân mất niềm tin vào nơi gửi gắm tâm tư, nguyện vọng, các ý kiến, kiến nghị củamình là Mặt trận Tổ quốc
Nguyên nhân của hạn chế: Một mặt, trong hầu hết các văn bản pháp luật hiện nay, vai trò giám sát củaMặt trận Tổ quốc Việt Nam chỉ mới dừng ở quy định có tính nguyên tắc về quyền năng giám sát, chưa có quyđịnh cụ thể và đầy đủ về cơ chế, chính sách, về quyền và trách nhiệm của chủ thể bị giám sát và chủ thể giámsát, về điều kiện bảo đảm cho hoạt động giám sát, cơ chế tiếp nhận, giải quyết, xử lý vi phạm và trả lời chochủ thể giám sát Mặt khác, ở những lĩnh vực hoạt động giám sát tuy có cơ chế đầy đủ, rõ ràng, hoặc phápluật quy định cụ thể trình tự, thủ tục thực hiện, nhưng việc xem xét, xử lý của cơ quan đối tượng giám sátkhông thực hiện đúng các quy định về thời hiệu giải quyết vụ việc, về việc trả lời kiến nghị
Về giải pháp
- Quốc hội sớm ban hành Luật về giám sát của nhân dân, nhằm tạo hành lang pháp lý để nhân dânthông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, thực hiện quyền và trách nhiệm giámsát hoạt động của Đảng, Nhà nước
- Chính phủ phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức chỉ đạo thựchiện tốt các nghị định, nghị quyết liên tịch giữa hai bên nhằm thực hiện Quy chế về giám sát và phản biện xãhội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân Trong đó cần có cơ chế bảo vệ những tổchức chính trị - xã hội, đoàn thể nhân dân và người dân thực hiện giám sát nhằm bảo đảm quyền công dân
- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các tỉnh, thành phố cần tăng cường các hoạt động giám sát; chỉđạo, hướng dẫn cấp dưới thực hiện tốt Luật Thanh tra nhân dân, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường,thị trấn, Quyết định số 80 của Thủ tướng Chính phủ về giám sát đầu tư của cộng đồng, Nghị quyết liên tịchgiữa Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về giám sát cán bộ, công chức, đảng viên
ở khu dân cư Quá trình thực hiện cần được tổng kết kinh nghiệm, có kiến nghị với Đảng, Chính phủ, Ủy banTrung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn nhằm thực hiện tốt các